Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





HÒN ĐẢO PHÍA CHÂN TRỜI




PHẦN THỨ HAI
LÀNG MỚI TRÊN ĐẢO



CHƯƠNG XVII


 Khoảng ba giờ chiều, nước đã rút ra xa, Ngạnh mới đến rủ Nhụ đi đào sá sùng. Mỗi đứa vác một cái mai, lưỡi mai nhỏ và dài làm bằng gỗ, loại gỗ cứng, có thớ mỏng. Bên hông đeo toòng teng cái giỏ đan bằng tre, không có nắp. Bố Ngạnh đã xuống biển, làm đội phó một đội tàu đánh cá. Ngạnh đã biết đọc, biết viết, do chú Thuận kèm cặp. Những hôm bố nó đi khơi, nó thường lên văn phòng ủy ban và nhiều đêm ngủ luôn tại đó với chú Thuận.

Bây giờ thì nó đã mặc áo, mặc quần dài, đi dép cao su. Mái tóc quăn thỉnh thoảng đã có vết lược chải. Nó bảo Nhụ:

- Trông mày lôi thôi quá đấy.

Nhụ ầm ừ cho qua chuyện.

- Thằng Đức dạo này thích chơi với mấy đứa bạn mới. Vừa nãy thấy tao, nó vẫy tay, tao cũng mặc kệ. - Giọng Ngạnh có vẻ hờn dỗi.

Nhụ vẫn chăm chăm nhìn dấu sá sùng. Nó đào vất vả mà được ít. Sá sùng khi đi tìm mồi thì luồn trong cát. Lúc đó nó nhanh đến mức không tài nào đào bắt được. Khi nằm ngủ, tự nhiên nó vẽ hoa trên mặt cát. Hoa có hình như hoa thị, từ năm đến bảy cánh. Các cánh hoa trũng xuống độ ba li, ẩm ướt nước.

- Sao con sá sùng lại dại thế, mày nhỉ?

- Dại gì? - Ngạnh bỏ một con sá sùng vào giỏ, rồi quay lại hỏi.

- Đã trốn lại còn đánh dấu chỗ trốn cho người khác biết.

Ngạnh cười, mắt nó nheo nheo nhìn vào mặt Nhụ, nhưng Nhụ biết nó vẫn theo dõi rất ráo riết vết tích của con sá sùng đang chạy trốn cách Nhụ hai ba bước.

- Đấy là hiện tượng "sụt hầm". Hầm của con sá sùng có từ năm đến bảy ngách, trông như hoa thị, để khi có động nó thoát hiểm cho nhanh, ở phía mà kẻ thù không ngờ. Nhưng mày biết không, khi nó ngủ, cát lỏng sẽ tự nhiên chảy sệ xuống...

Ngạnh khoát tay một cái, và nói chỉ có hai tiếng cụt lủn:

- Này trông!

Nó bất ngờ lao đến sau Nhụ, mau lẹ không thể tưởng tượng được, phóng lưỡi mai ở phía dưới cách hình hoa thị độ mười tám phân. Trong nháy mắt, lưỡi mai đã bẩy lên, và con sá sùng lập tức lộ mình trên cát. Trông nó mẩy như con giun ở vùng đất màu nhưng ngắn hơn nhiều, chỉ khoảng một ngón tay. Màu da đỏ nâu như nhuộm vỏ só. Nếu ở trong cát, nó nhanh nhạy biến hóa bao nhiêu, thì bây giờ, nó chậm chạp, thô thiển và ngớ ngẩn bấy nhiêu. Nó tự đánh mất mọi khả năng, khi da thịt nó trần trụi phơi ra ánh sáng.

Ngạnh nói:

- Tao phơi được đến lưng thúng sá sùng. Bố tao bảo đem tặng các đội tàu, để đêm nay mừng công.

Nhụ bèn đổ cả những con sá sùng ở cái giỏ của mình sang giỏ của Ngạnh. Ngạnh kêu lên:

- Ớ... không cần. Không cần!



CHƯƠNG XVIII


  Dường như cùng một lúc, các đội tàu đều đến và buông neo trong khoảng biển nông trước cửa trụ sở ủy ban xã. Đèn măng sông năm nghìn oát đồng loạt bật lên và dãy tàu liên kết nhau như một kinh thành ánh sáng chói chang, lộng lẫy và lung linh, trong sự phản chiếu của nước biển. Nhụ, Ngạnh và mấy người nữa theo con lẵng ra tàu, bước lên sàn tàu, ghép bằng những phiến lim, gỗ xẻ trên núi cao vào kỳ trăng khuyết. Đã thấy người ngồi vòng trong vòng ngoài, ông Trương rót ra từng chén rượu rắn, bố Ngạnh đang chuyển đến những đĩa sá sùng đã rang khô trên chảo có tráng mỡ cá thiều. Một vạc cháo rất to, một nia khoai lang luộc, loại khoai lang bột trắng, thơm như bánh phong, và nhiều khay cá hấp, toàn loại cá trắng lớn như cá ngừ, cá tráp...

Bí thư đảo uỷ Trần Quốc Hải đang tuyên dương những đội tàu xuất sắc, đưa sản lượng cá biển đã đánh bắt được lên đến một ngàn tấn trong một thời gian ngắn. Chủ tịch xã lâm thời Phạm Đăng Thuận đang xin ý kiến bà con ngư dân về kế hoạch xây dựng xã đảo, bao gồm việc tăng cường phương tiện thông tin liên lạc và kỹ thuật đánh bắt hải sản, việc nuôi trai ngọc và khai thác sá sùng, việc tiếp tục đưa dân ra đảo với các chính sách khuyến khích về đất đai, nhà cửa, xây dựng trường học, về việc phòng thủ đảo và chống tàu bè nước ngoài xâm phạm hải phận của ta...

Những ngư dân ngồi trên sàn tàu, trên sạp thuyền, ngổn ngang như sóng, tóc cứng da nâu, cánh tay trần như chão bện, từ người họ hừng hực toả ra cái hào khí của chủ quyền dân tộc, của sức sáng tạo và bản lĩnh chinh phục biển khơi, vốn là nỗi khát khao bao đời của những người dân chài. Ông Trương đề nghị phải bảo tồn các câu hò sông nước, bằng cách dạy cho trẻ con ngay từ bây giờ...

Ngạnh ngồi bên cạnh Nhụ. Nhìn ngược sáng, mấy sợi lông tơ trên má nó óng ánh lên như cước. Trong đêm nay, nó hiền lành và có phần mềm yếu, nhất là khi nghe ông Trương cất lên thăm thẳm một câu hò:

- Hờ... ơ... ơ... ơ...

Ông Trương bảo, mỗi khi hò lên như thế, giọng hò chỉ hay khi tay cầm mái chèo, con chèo phải mượn vào thế nước mà đưa đẩy, mắt phải thu hết một vùng sông nước mênh mông và trong lòng phải nghĩ toàn những điều tốt đẹp.

Và ông hò như những năm còn lái đò ngang trên sông Bạch Đằng, một mình ông hò hết một đêm hội, một tuần trăng. Những câu hò gợi lên những vùng cửa sông rất nhiều gió. Bãi cát lênh lang nước. Những cây sú vẹt vật vờ. Bên bờ sông, lập loè những đốm lửa chài. Triều lên mênh mang. Những ngôi sao rủ xuống thấp ngang với mặt sóng. Con đò cong như một vành trăng khuyết, trôi trên mây nước chơi vơi. Mái chèo dịu và mềm, vờn lên từng luồng sáng lân tinh. Hai bên mạn chèo, nổi lên hai xoáy nước như hai quả quýt. Tưởng như không phải câu ca mà chính là khói sóng và sao trời, kể lể, thở than về những mối tình thiết tha và ngang trái không biết từ những thuở nào. Tưởng như không phải con người mà chính là thiên nhiên, tự hát về hoa cỏ, trăng gió và mùa thu...

- Hờ... ơ... ơ... ơ...

Nhụ thấy Ngạnh cúi xuống lau trộm nước mắt vào đầu gối. Mẹ nó năm xưa, chắc cũng đã hát những câu này, trong đêm đậu thuyền bên bờ cỏ... Bài hát gợi lên một làng chài thân thuộc đến mức có thể nhìn thấy những vàng lưới treo nghiêng dưới rặng dừa nước mặn, những dàn phơi cá bồng bềnh trong gió thu, cao ngang mái nhà, tưởng có thể ngửi được mùi mực nướng thơm lừng, toả ra từ một ngõ hẻm lát bằng vô số vỏ sò, tưởng có thể nghe rõ tiếng xèo xèo của những con hà đang vào mẩy, căng như vú mực, bị lửa hun thuyền táp lên khẽ há miệng ra, để rơi xuống lửa giọt nước trắng như sữa... Chao ôi, những câu hò xa xưa... cái hồn của mây trời và sông nước, dường như chỉ có thể ở đó, mới có chỗ trú ngụ, mới có chỗ nuôi dưỡng...

- Hay quá, cứ hò nữa đi - Tiếng ai đó kêu lên.

- Mời! Mời các bác uống rượu...

     - Hờ ơ... ơ... ơ...
            Nước lên xâm xấp bãi hà
            Biết mặt mà chẳng biết nhà em đâu
            Nhà em cách mấy sông sâu
            Để anh bắc sợi dây trầu anh sang
            Hờ ơ... ơ... ơ...

Ngạnh đứng lên, trù trừ một lúc rồi kéo mạnh tay, lôi Nhụ ra phía sau tàu, trong khi tiếng hờ ơ... cứ ngút ngát ngân xa, man mác buồn, tưởng như lan toả đến tận cùng mây nước. Tiếng hờ ơ... không biết có từ thời nào, mà như sóng, như muối cứ chà xát vào ruột gan con người về những nỗi niềm tưởng như vu vơ mà thấm thía đến ứa nước mắt... Trong bóng rợp của mái che, Nhụ vẫn nhận ra đôi mắt Ngạnh hoe hoe đỏ, nét mặt ngậm ngùi, thoáng một nỗi sầu muộn xa xưa rất khó nắm bắt. Cảm giác như Ngạnh đã bắt đầu lớn sớm, do những đau thương và sự từng trải ở tuổi thiếu niên.

- Tao thương mẹ tao quá, mày ạ. Không biết nắm xương mẹ tao bây giờ trôi dạt ở phương nào? Rồi em tao...

Ngạnh bỗng bật khóc.

- Nhỡ mẹ mày vẫn sống thì sao?

Nhụ nói, giọng đầy niềm tin tưởng.

- Sống làm sao được. Đêm tối bão táp mịt mù... Gần một năm rồi!

- Bởi vì không có điều kiện liên hệ với nhau. Nếu mẹ và em mày dạt vào đâu đó, được cứu sống như bố con mày chẳng hạn, và giờ này cứ tưởng là mày và bố mày đã chết rồi...

- Ừ nhỉ. - Ngạnh bỗng thốt lên. - Nếu được như thế thì tao sướng lắm.

Rồi giọng nó trầm xuống, thấm thía buồn:

- Mày ạ, thỉnh thoảng tao vẫn nằm mê, gặp mẹ tao đấy, mẹ tao rách rưới, cắp cái nón bật vành, tay xách con cá đã chết thối...

- Mày nghĩ quẩn rồi, nên nó mới sinh ra như thế, nhưng thôi... Vui lên. Biết đâu vài ba tháng nữa...

Nhụ đặt tay mình vào tay Ngạnh, thấy tay nó ấm và run... Nhụ định ôm lấy vai nó nhưng rồi lại thôi, vì nghĩ có khi cứ để như thế, im lặng như thế, nó sẽ chóng khuây khoả...



... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 15.03.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn