Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






VỀ MIỀN TÂY,

THĂM BẠN VĂN MỘT THỜI…







Chúng tôi “biết” nhau từ trước năm 1970, khi Trịnh Bửu Hoài, Ngô Nguyên Nghiễm và Lưu Nhữ Thụy cùng bạn văn An Giang, chủ trương tạp chí Khai Phá. Khoảng giữa năm 70 - khi Trịnh Bửu Hoài đang học Trung học ở Long Xuyên, đã cùng bạn văn chủ trương ấn hành tạp chí Khuynh Hướng. Anh đã thư cho tôi đề nghị “tiếp tay” một truyện ngắn. Tôi chia sẻ niềm vui với anh, và gởi ngay 1 truyện vừa viết xong. Tờ Khuynh Hướng số 1 được in ấn vào cuối năm 70, và phát hành đúng vào ngày Tết Dương lich (01 th1.1971). Dường như vào những năm ấy, chỉ có tờ Khai Phá, và Khuynh Hướng là làm cho tôi chú ý nhiều hơn, vì hình thức được trình bày rất trang nhã, mỹ thuật; còn nội dung thì vô cùng phong phú! Lúc đó, tôi nghĩ - Khai Phá và Khuynh Hướng là hai tờ báo độc lập duy nhất của nhóm anh em cầm bút Miền Tây Nam bộ. Đây là một nổ lực rất lớn khởi nguồn từ đam mê văn học, bất chấp mọi thử thách khó khăn trước mắt…

    Chúng tôi chờ đón tin tức và bài viết của nhau như chờ một lần được “hội ngộ” qua thư gởi đường bưu điện và các tờ báo xuất bản ở Saigon được phát hành rộng rãi, nhưng ít có cơ hội gặp nhau, bởi phương tiện đi lại rất gian nan, và ai cũng bị buột chặt một chốn, vì nhiều lý do - trong lúc, tình trạng chiến tranh ngày càng sôi sục, đe dọa tất cả mọi đời sống! Chúng tôi cảm thông và chia sẻ cùng nhau qua những sáng tác được đăng tải trên vài tuần báo, tạp chí văn nghệ …
   Tuy chỉ là “thân nhau” qua tác phẩm, nhưng cái tình thì rất bền chặt, chân thành! Khi có cơ hội dược gặp nhau, chỉ “cho biết quý danh” là đã ôm nhau như anh em ruột thịt từ xa về! Tôi nhớ lần bị động viên năm 72 - khi được đưa từ trung tâm nhập ngũ số 3 Saigon vào quân trường Đồng Đế Nha Trang, chỉ “nghe” anh Trần Huiền Ân cho biết nhà thơ Duy Năng đang công tác ở đó, tôi đã đến thăm, và đã được anh “lo lắng & chăm sóc” như một người em. Cũng thời gian nầy, có dịp về Ninh Hòa, tôi lại đến thăm nhà thơ Lâm Chương ở Quân trường Lam Sơn, vừa nghe tên và thấy mặt nhau, là chúng tôi đã ôm choàng lấy nhau, Lâm Chương “tạm nghỉ việc”, kéo tôi vào căngtin trò chuyện cho thõa, cho dầu đó là ngày cuối tháng mà…chưa có lương!
Chúng tôi rất nhiệt thành chia sẻ cho nhau những tác phẩm đã xuất bản (hay đăng báo) được - như một món quà quý rất cần cho đời sống của nhau khi còn ngăn cách! Sự thành công của một người, cũng là niềm tự hào của tất cả! Tôi đã gởi tặng tập truyện thứ 2 (Mùa Thu Trống Trải – XB năm 1970) cho Trịnh Bửu Hoài (cũng như nhiều anh em khác), khi chẳng biết mặt mũi ra sao? Sau đó, là tập “Phố Người” (1972) và …thư đi tin lại hằng tuần, ròng rã bao năm, dù tất cả đang ở vào thời điểm khó khăn nhất !
   Sau năm 1975 – chúng tôi tạm thời mất liên lạc nhau. Nhưng có lẽ từ năm 1991, tôi lại bắt đầu nhận được những tập thơ xinh xắn, đầy ắp yêu thương, từ Trịnh Bửu Hoài, cho dầu tôi vẫn ít có dịp viết thư cám ơn anh! Tuy không có điều kiện viết tiếp, nhưng tôi đã đọc các tập thơ anh (và tác phẩm của bạn văn gởi cho), đã nhận được niềm vui và an ủi – cảm thấy mình không còn cô độc! Có duyên đọc thơ Trịnh Bửu Hoài từ Phai Phá, Khuynh Hướng, trên các tạp chí văn nghệ trước 75; tôi nhận thấy dòng thơ anh mãi trong trẻo, hồn nhiên và tràn đầy sức sống yêu thương. Sau cuộc bể dâu chìm nổi, thơ anh vẫn giữ sự tươi mát mênh man như dòng sông Hậu quê nhà! Tôi đã “biết” thêm Trịnh Bửu Hoài qua những tập thơ như vậy, mà chưa bao giờ gặp nhau, để “cụng ly” như những lá thư trao đổi mong chờ (hay sau nầy là các lần phone thăm nhau).
   Qua năm 2010, Trịnh Bửu Hoài có dịp ra Trung công tác, đã ghé lại quê An Nhơn, tìm đến thăm tôi lần đầu. Vậy là sau hơn 40 năm, duyên lành mới đến! Về sau, biết rõ “nơi ăn chốn ở” của tôi, Trịnh Bửu Hoài thường “tranh thủ” ghé lại thăm nhau trên đường ngược xuôi Nam Bắc, có lúc một giờ, có khi một buổi! Tôi đã nhận ra “chân dung” một nhà thơ Miền Tây đôn hậu, cởi mở, chí tình! Tôi không có chút gì “hối hận” khi trước đây, chỉ biết Trịnh Bửu Hoài qua thơ văn. Con người anh và thơ & văn anh là một! Hễ mỗi lần được hội ngộ như vậy – Trịnh Bửu Hoài luôn nhắc tôi nên về thăm Miền Tây một chuyến: “Đơn giản thôi, anh cứ nhảy lên xe đò, đến bến xe Châu Đốc, là có tôi!”. Nghe thì đơn giản thật, nhưng mãi cho đến chiều ngày 25 tháng 2 năm 2014, tôi mới nhìn thấy “Tượng đài cá Basa” sừng sững, uy nghiêm, thân thiết nơi công viên 30/4 bên ngã ba sông Châu Đốc, giữa lòng thành phố ( đây là biểu tượng cho Thành phố Châu Đốc sông nước hữu tình, trù phú); nhờ người bạn văn ở Saigon đã hết lòng tạo điều kiện thuận tiện cho chuyến đi …
   Chiếc xe 7 chỗ ngồi khởi hành từ nhà của nhà thơ Lê Phương Châu (đường Kinh Dương Vương, quận 6) lúc 13 giờ như đã hẹn trước, chở 6 anh em đến thành phố Châu Đốc khoảng hơn 6 giờ chiều (Lê Phương Châu, Hải Âu, Nguyễn Hữu Duyên, vợ chồng nhà thơ, nhà báo Võ Chân Cửu, và tôi). Dù đã chuẩn bị ghi nhớ địa chỉ, liên lạc bằng điện thoại báo tin qua mỗi chặng đường, nhưng vào đến thành phố Châu Đốc, phải dừng xe hỏi thăm đến ba lần, mới gặp được cố nhân! (Điều thú vị, là mỗi lần dừng xe hỏi thăm người dân bên đường, ai cũng biết “nhà thơ Trịnh Bửu Hoài”, đã vui vẻ hướng dẫn đường đi cẩn thận).
   Trịnh Bửu Hoài đang đứng ở lề đường trước nhà chờ. Gặp nhau, ôi! những cái bắt tay sao mà nồng ấm đến vậy! Gần 45 năm, qua bao lần hứa hẹn, lại tình cờ được “sum họp” nơi quê nhà của anh! Với tôi, đây là một “nhân duyên” không bao giờ quên! Cuộc đời đâu có gì dài, được bên nhau vui vẻ, đầm ấm là phút giây hạnh phúc lắm rồi. Viết văn, làm thơ – làm văn nghệ nói chung, là chỉ để có phút giây sum họp vui vẻ nầy thôi! Đó là niềm an ủi rất lớn với chúng tôi…
   Tất cả đều được mời lên phòng khách, phòng làm việc của anh trên tầng 2 để “giải lao” sau hơn 6 giờ ngồi xe. Tuy vậy, không ai trong chúng tôi chịu ngồi yên mà “giải lao”, bởi bên cạnh, dọc theo vách, là những tủ sách đồ sộ, quý giá. Bên cạnh những đầu sách giá trị về văn học, nghiên cứu, dịch thuật trong và ngoài nước; anh đã lưu giữ được nhiều sách báo của thân hữu, của những năm tháng chiến tranh. Các “phóng viên” thi nhau ghi hình kỷ niệm.
   Trịnh Bửu Hoài đã cẩn thận đăng ký giúp chúng tôi 2 phòng ngủ rộng (mỗi phòng 4 giường nằm) đầy đủ tiện nghi, thoáng mát, giá rất… mềm ở khách sạn Kim Phượng. Chúng tôi theo hướng dẫn của Trịnh Bửu Hoài đến quán Bảy Bồng ăn tối gần đó. Bữa cơm đặc sản cá mắm miền Tây khiến cho chúng tôi cảm thấy không còn mệt nhọc, rất hứng khởi được ghé lại thăm vùng đất “tiền tam giang/ hậu thất lĩnh” vô cùng trù phú và nhiều di tích ghi dấu son một thời…
   Hẹn gặp lại nhau vào lúc 7 giờ sáng hôm sau, để cùng nhau nâng tách café, nhâm nhi trà sớm. Quán mà Trịnh Bửu Hoài đưa chúng tôi đến có cái tên rất thơ là “Hương Phù Sa”, được trang trí, bày biện rất tự nhiên, kín đáo, thoáng mát, với nhiều cây cảnh nên thơ. Sáng nay, có thêm nhà văn Đỗ Phu (chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật thành phố Châu Đốc), và nhà nghiên cứu – biên khảo Đỗ Văn Ngôn nên cuộc sum họp thêm ấm cúng, vui vẻ! Lúc vào, tôi thoáng đọc được 2 câu thơ được chạm nổi trên vách quán rất ấn tượng: “Hương sắc Miền Tây tình đất Lĩnh/ Phù Sa đất mẹ nghĩa sâu dày” – đúng là cuộc đất của thơ ca và tình người!
   Tại đây, chúng tôi cũng được ăn món đặc sản “Bún cá Miền Tây” đậm đà, hấp dẫn. Theo dự định của anh Trịnh Bửu Hoài, chúng tôi sẽ tranh thủ đi thăm những nơi tiêu biểu của Châu Đốc, để 4 giờ chiều, còn quay lại Saigon (theo đề nghị của chúng tôi). Thời gian ngắn quá, nhưng nhờ có sự thu xếp, hướng dẫn chí tình của Trịnh Bửu Hoài và quý anh Đỗ Phu và Đỗ Văn Ngôn; nên chỉ hơn 6 tiếng đồng hồ còn lại, mà chúng tôi “coi như” biết khá nhiều về vùng đất vùng cực Tây giàu tiềm năng của đất nước.
   Sau khi ghé lại thăm Hội Văn học nghệ thuật thành phố Châu Đốc, được tặng sách, được xem tranh ảnh triển lãm nơi phòng khách, được nhìn ngắm Bồ Đề đạo tràng trang nghiêm giữa lòng phố chợ, dược nghe anh Đỗ Văn Ngôn kể về sự tích cây Bồ Đề được mang về từ Ấn Độ năm 1952 - trải qua bao thăng trầm, vẫn uy nghiêm tỏa bóng; chúng tôi đến công viên thành phố để đón nắng sớm, hít thở những cơn gió mát từ ngã ba sông lồng lộng, để ghi hình tượng đài cá Ba sa - một tượng đài sinh vật đầu tiên ở An Giang, đã lưu lại trong tôi bao niềm cảm phục về một biểu tượng của sự trù phú và hòa bình; là niềm mơ ước chung của tất cả người dân miền Nam… Tượng đài cao khoảng 14 mét, chất liệu Inox, bệ đá granit – có bảng ghi nhớ: “Trên cột nước cao, cá Ba Sa vẫy mình, những con cá tra bu quanh họp thành bầy đàn 9 con; biểu trưng sức sống của vùng sông nước Cửu Long; làm nền vững chắc, tạo thế tung hoành, hòa nhập, lan tỏa, phóng khoáng – như tính cách người dân miền Sông Nước (…)”.
   Chúng tôi ghé thăm 2 khu vườn tượng trong quần thể du lịch núi Sam: Hai khu lưu giữ hơn một trăm bức tượng qua 2 lần An Giang tổ chức “ Trại Sáng Tác Điêu Khắc Quốc Tế” vào năm 2003 và 2005. Riêng “Dấu Ấn An Giang 2005” đã quy tụ 35 tác giả người nước ngoài của 21 nước trên thế giới, và 25 tác giả người Việt Nam, tổng cộng là 22 nước; đã lưu lại cho An Giang một gia tài nghệ thuật điêu khắc đồ sộ, vô giá! Tôi nghĩ, đây là một thành công rất lớn của An Giang, trong nổ lực xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật một cách thiết thực và hữu ích, lâu dài, mà chưa có một tỉnh thành nào trong cả nước có thể làm được! Chúng tôi thi nhau ghi ảnh kỷ niệm quanh những bức tượng mỹ thuật đa dạng, hiếm có này…
   Địa chỉ chúng tôi ghé lại tiếp theo trong cuộc du hành là Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, và lăng mộ Thoại Ngọc Hầu trong quần thể du lịch tâm linh rất phong phú và đặc trưng của Châu Đốc. Đến đây, chúng tôi mới nhìn thấy rõ, niềm tin tâm linh trong đời sống mỗi người dân nơi đây thật đáng cảm phục! An Giang nói chung, và thành phố Châu Đốc nói riêng - đã luôn có một tầm nhìn sâu rộng về miền đất của mình đang sống, cho bây giờ và mai sau. Đã bảo tồn, xây dựng, tôn tạo các di tích tâm linh và lịch sử rất cẩn trọng; coi đó là niềm tự hào chung của dân tộc. Sự lưu giữ khu chợ Nhà Lồng Châu đốc được xây dựng từ năm 1952 với biểu tượng đầu Con Cọp trên nóc cao của một thời miền đất hoang vắng, là một ví dụ đáng được các địa phương “suy nghĩ” mỗi khi “dổi mới” trong quy hoạch và xây dựng đô thị. Chúng tôi vào Miếu Bà và lăng Thoại Ngọc Hầu đãnh lễ, hòa nhập thân thiện vào dòng người bốn phương xuôi về, với niềm hân hoan và tri ân…
   Đã gần 11 giờ trưa – Trịnh Bửu Hoài và quý anh Đỗ Phu, Đỗ Văn Ngôn, đưa chúng tôi đến thăm Đông Lai Thiền Viện (chùa Phật Nằm)- còn có tên gọi dân gian rất…hấp dẫn là “Chùa Bánh Xèo” ở thị trấn Tịnh Biên. Trịnh Bửu Hoài nói: “Đã gần giờ ăn trưa rồi, chắc anh và quý vị cũng cảm thấy… sốt ruột, mình vào chùa thăm, và ăn bánh xèo no nê một bữa mà không phải trả tiền!”. Nhà chùa đã có “sáng kiến” phục vụ bánh xèo cho mọi người đến tham quan, thăm viếng từ nhiều năm nay, mà không tốn tiền! Phật tử của chùa phân công nhau, toán lặt rau, nhóm đổ bánh, người phục vụ - rất tươm tất, nhiệt tình, cho dầu có thời điểm người vào ăn lên đến cả trăm! Đặc biệt bánh xèo chay được đúc khuôn to, vàng đều, dĩa rau sạch nhiều loại quý hiếm, và nước chấm hấp dẫn! Chúng tôi mỗi người ăn no, từ 5, 6 cái, riêng tôi và Trịnh Bửu Hoài ăn đến 8 cái! (Ăn một bữa cho nhớ dai mà). Thầy Thích Thiện Chí (trụ trì), luôn hoan hỷ thăm hỏi, trò chuyện với chúng tôi, với lòng quý mến.Thầy còn đề nghị chúng tôi có dịp nào ghé lại lâu, sẽ có phòng nghỉ đàng hoàng cho tất cả…
   Điểm thăm tiếp theo sau bữa bánh xèo không bao giờ quên ở Chùa Phật Nằm của chúng tôi là Cửa khẩu Tịnh Biên – bên cạnh cột mốc biên giới Campuchia. Chỉ đi một đoạn vài chục mét nữa, là chúng tôi đã ở bên nước bạn. Ở đây, có cửa hàng miễn thuế, tha hồ mua sắm; tuy vậy du khách đến thăm cũng chỉ rải rác (có lẽ không phải là ngày nghỉ?). Nhìn xa ra cánh đồng mênh mông tràn ngập ánh nắng phía trước đã một thời khói lửa năm 1979, chúng tôi cảm nhận được sự hy sinh to lớn của những người dân ở đây, để giữ nguyên cuộc đất quê hương sâu đậm nghĩa tình nầy!
   Chuyến quay về thành phố, Trịnh Bửu Hoài còn cho chúng tôi đi dọc rừng thốt nốt bạt ngàn, cảnh trí an lành, tươi mát! Dù trời đang nắng to, đến đoạn có nhiều cây thốt nốt đẹp, Trịnh Bửu Hoài đều bảo dừng xe, để… mỗi người chụp hình, vì theo anh “lâu lắm quý bạn mới có dịp quay trở lại nơi đây”! Sự cẩn thận và nhiệt tình của anh đã khiến tất cả đều xuống xe (dầu đã hơi thấm mệt), đội nắng - chụp hình và nhìn ngắm, thư giản dưới các lùm cây xanh mát… Anh Đỗ Phu và Đỗ Văn Ngôn trên “con ngựa sắt”cũng luôn theo kịp chúng tôi trên mỗi chặng đường, để cùng chia sẻ niềm vui, trò chuyện, và ghi hình!
   Chúng tôi dừng chân trạm cuối trước khi chia tay quay lại Saigon là khu chợ trời Châu Long - cũng là nơi anh Trịnh Bửu Hoài đang sống, để thăm lại gia đình anh, giải lao, và nhất là mua “áo quần Sida” nhiều loại, đẹp, mới, không đụng hàng, rẻ nhất nước! Tôi đã tranh thủ lựa mua 3 chiếc áo ấm, chỉ có sáu chục ngàn đồng…
Chúng tôi đã bắt tay anh, các anh Đỗ Phu, Đỗ Văn Ngôn – những người bạn văn Miền Tây hồn nhiên, chí tình!
Xin được cám ơn An Giang – thành phố Châu Đốc thân yêu, hẹn ngày tái ngộ!
Quê nhà, ngày 6 tháng 3 năm 2014

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhĐịnh ngày 15.03.2014.