Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





BÍ NGÔ




Bà vẫn ngồi ở góc chợ Đình Lưu. Ngày mới đến, tóc bà vài sợi lốm đốm, nay đã bạc trắng một dải mây. Chợ đã nhiều sự thay đổi. Những phiến đá xanh cập kênh trên sân cửa đình đã kê lại phẳng phiu. Hai dãy lều quán dọc hai bên đã xây tường lợp ngói cho những sạp vải, quầy thực phẩm vào bày bán. Bãi rác ngập ngụa, ruồi muỗi kêu như ong đã được thay bằng sân lát bê tông mở rộng chợ xuống bến sông. Nhiều người đã đi vắng hoặc về nơi thiên cổ. Nhiều kẻ đến thế chỗ bày hàng hoá mới. Nhưng chỗ ngồi góc chợ của bà vẫn y nguyên. Hai phiến đá to, phẳng để đặt mẹt hàng gồm các loại rau, củ gia vị, nào rau ngổ, rau răm, húng chó... nào gừng nghệ, hành tỏi, me chua... Một phiến đá nhỏ thay cho cái đòn ghế. Túp lều lợp bằng hai tấm phên nứa đan nẹp và quét nhựa đường thủng lỗ chỗ. Trông góc chợ lọt thỏm giữa không gian xung quanh ngồn ngộn nhà cửa tầng thấp tầng cao thời đổi mới, người ta chợt nhớ nét đặc trưng của một góc chợ quê thời xa lắc. Có điều lạ là mặc mọi người ngồi bán hàng xoay tứ lung tung các hướng, riêng bà bao giờ cũng ngồi quay mặt về cửa đình, quay lưng lại đằng sông. Đến nỗi hòn đá nhỏ nhẵn thín, chỗ mông ngồi mòn vẹt, lũm xuống. Mỗi lần mưa, chỗ ngồi ấy nước đọng lại như hai vũm vỏ vạng. Hai vũm vỏ vạng bất di bất dịch.

Vào một buổi chiều, có một người khách đến trước lều hàng mua ít gia vị. Ông ta ngả chiếc mũ lá cũ khoắc vào mép phên, cúi xuống chọn mấy mớ rau, mấy củ riềng, cùng mấy quả ớt, gói lạc nhân, rồi nhấn giọng: -Bà còn nhiều gừng không? Bán cho tôi. Gừng cay muối mặn. Sự đời nó thế. Gừng cay thì người đời mới thấm thía nỗi đau!

Theo thói quen, thường ngày bà chỉ thoáng qua bóng khách và nhặt hàng cho họ một cách tự nhiên, nhưng tiền nào của ấy rất chính xác. Lần này, nghe ông khách nói, bà giật mình ngước lên: Một người đàn ông gầy guộc trong bộ quần áo nâu sồng rộng lượt thượt, nhưng dáng vẻ rắn chắc với khuôn mặt sạm đen, khắc khổ. Mái tóc hoa râm. Đôi đuôi mắt nhăn nheo, nhưng ánh nhìn rất lanh lợi. Bà nghĩ: Thời buổi bây giờ mà vẫn có người ăn mặc thế này ư? Ông ta nhìn bà như cười, pha chút giễu cợt và sự thương hại:  -Tôi cần mua nhiều gừng. Còn ít nào bà cứ bán hết cho tôi! Ngừng một lát, ông đột ngột hỏi: -Dạo này bà không bán bí ngô nữa à?   -Tôi có bán bí ngô bao giờ đâu! Ông ở đâu đến? -Bà đừng giấu. Thời bên kia sông bà vẫn bán bí ngô! Tôi còn biết ông bà nổi tiếng trồng loại bí này! Chẳng qua bà cố quên cái thời bí ngô đó thôi, nên giờ mới bán toàn đồ chua cay, đắng đót... -Cay đắng gì đâu! Dăm ba mớ gừng mớ nghệ. Mũi dòm miệng. Chứ có buôn to bán lớn nỗi gì! Bà càng ngạc nhiên: -Nom ông không phải người vùng này? -Thì cũng trong cõi giời đất, cõi nhân sinh ta cả. Thôi, bà gói hàng cho tôi còn về! Ông khách hắng giọng, nói một hơi: -Bà này, bà không thể biết tôi. Nhưng tôi lại biết bà. Tôi từng đứng xa... từng theo dấu chân bà... Bà là người tốt, rất tốt. Nhưng số bà vất vả lắm. Vất vả mà nào có được của, được con. Đã vậy, còn phải gánh tội cả đời cho người khác. Tuổi Giáp Tuất... không được giờ sinh. Trong héo ngoài tươi... Bà chưa qua được nỗi khổ này đâu! Thôi, chào bà!     

Quá bất ngờ, bà ngẩn người, trân trân nhìn ông khách. Ông ta nhanh nhẩu xách túi hàng. Thoắt cái, đã biến mất trong lao xao chợ chiều. Quái lạ cái ông này. Đang ở chốn nào lại đến đây khéo bày trò bói toán? Nhưng sao ông ta lại biết rõ tông tích mình? Trong khi cả chợ chưa ai hề biết. Cứ như ma xó trong nhà người ta!...

Ông khách nói đúng. Bà là người bên kia sông. Bà đã bỏ nhà cửa ruộng vườn cho người em họ đông con lít nhít, lần hồi sang đây ẩn giấu cuộc đời vào phiên chợ. Bà là người từng bán bí ngô, thật ra là chuyên trồng bí ngô, một nghề do bố mẹ chồng để lại. Đấy là cái nghề đầu tiên cả dải làng Cát bên dòng sông Chanh chưa ai có được. Về sau, người  làng cũng bắt chước trồng, nhưng chỉ lèo tèo dây đực dây cái. Riêng ruộng bí ngô nhà bà mùa nào cũng đậu sai và to quả nhất. Bí ngô đã cho gia đình bà thoát cảnh đứt bữa thời gạo châu củi quế. Kể ra đâu đến nỗi bà phải bỏ ruộng bí ngô, bỏ cái xóm Bãi Dài làng Cát sang góc chợ này bám lấy một chỗ ngồi! Tưởng mọi sự đi qua, cuộc sống nơi kẻ chợ đủ thứ tạp nham sẽ vùi lấp hộ bà những gì đau đớn của quá khứ. Bà sẽ như hạt cát lẫn vào thiên hạ một cách êm ả! Không ngờ lại xuất hiện ông khách lạ. Bà cố lục trong trí nhớ. Hồi ở làng cũ, bà thuộc mặt cả làng, có bao giờ thấy cái ông này đâu. Vậy ông ta là ai? ở đâu đến? Ông ta vô tình hay cố ý đào lật ra cái hố thời gian sâu thẳm bấy lâu?...

Ngày ấy, Phái và Manh mới lấy nhau. Cặp vợ chồng trẻ được cha mẹ dựng cho một căn nhà nhỏ bên bờ ao. Cái ao quanh năm đầy nước do đào cạnh con ngòi đón nước ngọt từ những khe lạch trên dãy núi An Lập chảy qua. Trên vùng đất cát pha nằm miên man dưới nắng, có được cái ao này quả là rất quí. Nước ngay cạnh nhà như phúc đầy trước mặt. Phái không phải đi xa như các nàng dâu các nhà khác sớm sớm chiều chiều phải mỏi bước kẽo kẹt đôi thùng, đòn gánh trên vai. Trước cửa nhà còn có một thửa ruộng chỉ trồng khoai lang, khoai sọ. Củ khoai mỗi ngày một săn lại như hòn đá cuội. Trong một chuyến đi Bắc Giang, ông Khâm đem về một nắm hạt giống bí ngô cho vợ con trồng thử. Bí lên rất tốt, cho sai quả và quả to. Ăn sống ngọt không kém đu đủ. Chỉ cần một miếng bổ sáu nấu với dúm tôm kéo vó ngoài ngòi cũng được nồi canh ngon. Mùa ươm trồng, dây bí lan nhanh như nằm mơ. Đáo xứ, ra hái mấy nắm ngọn về luộc cũng được cho cả nhà trừ bữa. Mùa thu hái, bí nằm lăn lóc như những chiếc đèn lồng phết phấn hồng dưới lớp lá vàng luốm đuốm. Những quả bí tròn dẹt, đẫy cái thúng con xuống thuyền trẩy về các nơi. Vợ chồng Manh từng sang cả chợ Đình Lưu bán cho dân vùng làng đảo Hà Nam, Cát Hải, Cát Bà... Khi về già, ông Khâm gọi hai vợ chồng lại dặn: “Giống bí ngô này hợp với thung thổ, đất cát nhà ta. Các con cố giữ lấy nghề mà làm kế sinh nhai!”

Làng Cát vào hợp tác xã. Vị nể ông Khâm là cán bộ phòng Nông Nghiệp huyện, Manh được cất nhắc làm đội trưởng đội sản xuất xóm Bãi Dài. Tuy trẻ tuổi, ít học, chỉ lớp bốn, nhưng Manh sớm cứng cỏi, khôn ngoan và giảo hoạt. Manh tính toán rất thông minh, tháo vát. Đi thăm đồng, chủ nhiệm và kế toán còn lúi húi sách bút thì Manh đã nhẩm xong năng suất, sản lượng. Vụ này cả đội bao nhiêu công chính, bao nhiêu công phụ, bao nhiêu công trâu, bao nhiêu công nhổ cỏ... Ngày công lao động được mấy kilôgam thóc... Manh áng chừng rất nhanh và y rằng sát đúng với phương án ăn chia. Manh giúp ban quản trị hợp tác xã được khá nhiều việc.

Làm đội trưởng, Manh dấm dúi nhặt nhạnh được nhiều thứ về cho vợ. Dạo ấy, xi măng, phân đạm thuộc hàng độc. Nhưng góc bếp nhà Manh vẫn rấm hàng bao. Mỗi lần đi nhận vật tư cho đội, Manh đem theo một chiếc bi đông đựng nước vối. Liệu cơ chỗ đường vắng, Manh cho xe cải tiến vào gốc cây trú nắng. Anh ta lấy trong túi ra một ống nứa ngắn vót vát nhọn một đầu, đâm nhẹ vào bao phân đạm. Những hạt đạm theo ống chảy tuồn tuột vào miệng bi đông. Cứ thế mỗi bao một ít, mỗi lần một chiếc bi đông. Lượt đi là chiếc bi đông nước uống. Lượt về... Chả ai biết đấy là đâu. Kiến tha lâu, đầy tổ. Hợp tác có thứ gì, nhà Manh có thứ đó. Manh bảo Phái: -Đem “phốt phát” ngâm với phân chuồng, lá mắm, lá xoan băm, ủ cho ngấu, rồi hẵng bón vào gốc bí và hàng ngày tưới nước đẵm lên. Nhớ chăm sóc vào cơ mờ sáng hay xẩm tối!... Ruộng bí của Phái như một ốc đảo xanh om trên đồng đất làng Cát. Manh còn luôn dặn: -Kin kín cái miệng! Đừng ngồi lê mách lẻo. Trong nhà chưa rõ ngoài ngõ đã tường, dễ rách việc! Thời buổi cha chạ tội gì không tranh thủ. Phải biết cách mà lựa chiều moi vào các kẽ hở!...  

Hằng năm, thường đến kỳ khám miễn nghĩa vụ dân công là Manh lại nổi cơn đau bụng. Đi đào mương làm thuỷ lợi, đi đắp đê biển, đoán việc khó gặm là anh ta bỗng ôm bụng rên rẩm: -ối giời ơi! Đau quá! Tháng trước đi bệnh viện, bác sĩ cho cái giấy dặn đau dạ dày phải kiêng! Bà con thông cảm. Lúc nào đỡ tôi lại ra!... Nhưng kỳ thực, Manh về xê la chăm bẵm ruộng bí ngô. Nhiều lần như vậy, xã viên cũng đâm quen với căn bệnh “đau bụng kinh niên” của đội trưởng và chẳng thèm để ý hoặc ganh tị. Họ chỉ cần anh ta đừng quên chấm “gọng vó”, cốt có ngày công là được.

Năm đó, hạn hán kéo dài. Khoai lúa mất mùa. Ruộng bí ngô nhà Manh Phái vẫn sai quả. Manh cắt bí cất dưới gầm giường và cho Phái đem ra chợ bán dần. Bí đắt như tôm tươi, gánh nào hết gánh ấy. Hai vợ chồng lại đạp xe sang Thuỷ Nguyên đong gạo, đong mỳ về ăn. Đang độ thu hoạch thì Manh phát hiện ra bí bị mất trộm. Rõ ràng hôm nọ đếm, nhớ như ghi văn sách mà sáng nay lại mất tới năm, sáu quả. Toàn quả to, sắp chín. Nốt cuống bị vặn còn tươi nhựa. Tiên sư nó. Đứa nào dám hớt tay trên?  Manh tức lắm. Anh ta bàn với vợ: -Phải rình bằng được. Quyết cho bọn “Đạo Chích” một trận! -Mất thì thôi anh ạ. Quả bí chẳng đáng bao nhiêu. Ví như sào lúa, gặt cũng phải để con chuột con sẻ nó kiếm vài hột! –Đồ ngu! Nói thế mà cũng há miệng ra? Đây là hành động ăn cắp, bóc lột sức lao động. Chứng tỏ từ trước bí mất nhiều mà mình không biết. Phải trừng trị! 

Phái cười tủm tỉm, sẽ sàng: -Mình ơi! ở đời... dòng sông khúc lở khúc bồi, được bên này mất bên kia! Thì mình cũng từng “tẹo nhó” của hợp tác một tẹm đấy thôi! Manh trợn mắt: -Ai cho phép cô nói năng như vậy? Tôi khác, chúng nó khác! Được đằng chân lân đằng đầu. Dễ chừng nó hiếp, cô cũng để yên chắc?

Nói là làm. Đống rơm dưới bụi tre mé bờ ao được rút rỗng thành một lỗ hổng. Manh chui vào trong bó gối ngồi thử, rồi lấy tấm liếp nứa che lại. Thánh cũng không biết! Rình ở đây xem đứa ăn trộm đàn ông hay đàn bà mà dám to gan vuốt râu hùm! Manh cất công ém ba, bốn đêm liền... Đêm thứ năm. Mảnh trăng lưỡi liềm treo chếch ngọn tre toả ánh sáng non dịu xuống xóm quê. Gió đồng thổi vào ruộng bí xào xạc. Trong hổng rơm, Manh lấy hẳn quả ớt chấm muối, cắn miếng một cho khỏi buồn ngủ. Gần nửa đêm. Bỗng có tiếng chân người động mặt đất. Manh nín thở nhìn ra. Hai bóng đen xuất hiện. Hai thằng nhãi con. Chúng chụm đầu thì thào với nhau. Một bóng đen đứng trên bờ nhìn quanh quất đây đó. Một bóng cao hơn bước xuống men theo rãnh luống, bò vào ruộng bí. Không rõ nó là con cái nhà ai. Ăn trộm quen tay, ngủ ngày quen mắt. Mày sẽ chết với ông! Chiếc roi tre này nhỏ quá. Phải dùng cây gậy song để xử! Nghĩ vậy, Manh bèn khẽ lách khe liếp trở vào nhà, dò dẫm tìm góc buồng. Không thấy gậy đâu. Chỉ có tiếng vạt giường cọt kẹt. Phái dậy khêu tỏ ngọn đèn dầu, xi đái cho đứa con gái. Manh vội che đèn, ghé tai vợ thì thào: -Có một thằng ăn trộm bí. Cây gậy song đâu? -Thế hả? Em không biết! -Nằm yên! Để anh đi tìm. Phải cho nó một trận! Chợt Phái níu áo Manh: -Thôi anh ơi! Xua nó chạy thôi. Đừng đánh người ta. Phải tội chết! Có thiếu họ mới ăn trộm. No nê ai lấy làm gì! -Im ngay!

Manh mò xuống nhà bếp. Chân đụng phải chiếc thớt gỗ nghiến. Manh cầm luôn và lướt nhẹ như một con mèo. Tên trộm vẫn còn. Nó đang vạch vòi đám lá tìm một quả bí to. Manh rón rén bò tới, mỗi lúc một gần. Đích thị một thằng chừng mười ba, mười bốn tuổi. Cu cậu nâng quả bí vừa cắt khỏi luống, đứng dậy khệ nệ bê ra ngoài. Quả bí to và nặng quá, nó phải hạ xuống, cố hỹ lăn về phía nơi thằng kia đang đợi. Bóng nó cúi lom khom, hình một con tôm nổi cong trên nền đêm mờ ảo. Con tôm đẩy quả bí từng bước một. Nó không biết Manh đang tư thế vồ tới. Vừa lúc trong nhà có tiếng cái tí khóc thét cùng tiếng Phái gọi “Anh ơi, lấy hộ cái tã!” thì Manh vụt dậy. Chác! Chiếc thớt gỗ đập thẳng cánh xuống lưng thằng trộm. Nó kêu “ối” một tiếng rồi gục tại chỗ. Cho mày chết! Đi đêm lắm có ngày gặp ma! Ai bảo mày dám ăn trộm của ông! Manh đạp nó một nhát cho bõ tức và xộc tới ôm quả bí...

Nghe bên ngoài có tiếng va đập mạnh, Phái biết ngay là có sự. Mặc dù chị đã nhanh trí cấu con bé cho nó khóc, hòng ngăn hành động của chồng. Nhưng không kịp. Chị hốt hoảng buông con chạy ra. Vừa đến sân thì Manh bê quả bí vào, thở dốc: -Nài. Quả bí to thế này mà nó khuân được. Hai thằng choai choai. Bọn này ăn trộm quen mất rồi. Tiên sư nó. Anh vừa cho một thằng chết giấp tại ruộng... -Khổ quá! Đánh người ta làm gì hở anh? Đâu? Anh dẫn tôi ra xem con cái nhà ai, nó có bị làm sao không?

Hai vợ chồng ra ruộng thì không thấy thằng trộm đâu. Chỉ có vết chân, vết thân thể giãy giụa xéo nát đám lá bí và đám cỏ sò, lẫn cả mùi phân thối chỗ Manh vừa đánh nó.

-Nó vọt cả cứt đái ra đây này! Phái thốt lên, lo sợ: Không khéo lại oan gia! 

-Tham thì chết! Anh đập chiếc thớt trúng lưng. Không gẫy cũng vỡ hông! Có sống thằng này cũng bán thân bất toại. Từ nay chừa cái thói ăn trộm. Chắc chúng nó dìu nhau bỏ chạy rồi! Mai khắc biết con cái nhà nào! Đi một đoạn nữa, thấy lỗ lội cạnh con ngòi còn ngầu đục. Manh quệt mồ hôi, hổn hển, vẻ còn say cơn tức chưa thoả: -Đáng kiếp! Kể phải bắt sống đem ra uỷ ban, chúng nó mới kinh!...

Suốt đến sáng, Phái không sao chợp mắt. Hình ảnh thằng trộm cứ lởn vởn trong đầu. Chị mường tượng ra nó: một thằng bé gầy gò, bụng đói giáp xương sống bò vào ruộng bí. Chiếc thớt gỗ nghiến bất ngờ giáng xuống. Chị nhắm mắt. Chao ôi! Tấm lưng xương xẩu non nớt ấy làm sao chịu nổi? Chắc sẽ gẫy mất! Liệu có lết được về nhà không? Thằng bé kia có cõng được nó, hay lại ngã, lại chết đuối chỗ nào ngoài sông? Trời ơi! Có đánh thì cũng nhẹ tay thôi. Sao lại có thể ác đến như vậy? Hú vía. May, nó còn chạy được, chứ không sẽ rầy rà to!

Ngày nào Phái cũng lắng tai nghe ngóng xem trong làng có đồn đại gì về con cái nhà ai đi ăn trộm bị đòn. Tịnh không thấy. Tạm yên lòng. Nhưng thỉnh thoảng chợt nhớ, tim chị lại giật thót. Phải rồi, đấy là đêm mồng Bốn tháng Năm âm lịch. Qua đêm ấy, sáng mai là mồng Năm tết Đoan Ngọ, tết của trẻ mục đồng! Hồi bé, Phái cũng thường theo đám trẻ chăn trâu trong xóm vặt trộm xoài, mít, bới trộm khoai, lạc, chặn cướp quà bánh của người đi chợ để sáng mồng Năm tập trung các thứ lại làm lễ cúng rước Thần Đồng và chơi trò tập trận cờ lau. Chắc thằng bé này cũng thế?

Phái có chửa lần thứ hai. Hình ảnh thằng trộm vẫn hiện lên len vào giấc ngủ, dằn vặt. Nhất là vào những đêm đầu tháng. Một thằng bé người không ra người, vật không ra vật cứ nhe nanh múa vuốt, quằn quại, mờ mờ ảo ảo dưới ánh trăng lễnh loãng. Ra ruộng hái bí, về nhà cầm chiếc thớt băm rau, quên thì thôi, chợt nhớ là chị lại nôn thốc nôn tháo. Cơ thể, mạch máu rần rật như bị cấu véo.

Bụng to vượt mặt, Phái nằm trạm xá ba ngày trời mà đứa bé vẫn gan lì. Chị cắn răng chịu đựng những cơn đau dữ dội. Lần trước, ọc ạch một lúc, con tí gái ra ngay. Lần này, buộc phải cáng lên bệnh viện huyện, Phái mới đẻ được. Chị dồn một hơi mạnh, như trút một gánh nặng. Nhưng khi nhìn xuống đứa con chưa rõ trai hay gái thì bỗng Phái ngất lịm. Nó không ra người. Nó là một cục thịt biết cựa, lèo khoèo và đen đúa. Lúc tỉnh dậy, chị nhận rõ: Một thằng con trai. Nhưng  không hoàn chỉnh. Chân tay nó nghều ngoào. Lưng nó gù, gãy gập như một nhành cây bị bẻ. Mặt nó xệu xọ giống một chiếc mặt nạ. Nó khóc, tiếng khè khè khạc khạc như tiếng con vịt bị cầm cổ. Phái thất kinh: Trời ơi! Sao lại thế này? Con ơi là con ơi!  

Dư luận làng nước ồn ã: Nhà Manh Phái đẻ ra một thằng người quái đản! Bế con về, Phái thụt ngay vào buồng. ấn vú vào miệng con, chị phải vội quay mặt đi. Nước mắt giàn giụa, cay xót. Thằng bé mê mết bú. Nó bú mà như rút hết cả ruột gan chị, đau quặn. Cứ thế, bú khoẻ, ăn khoẻ, nó mập mạp y một quả bí ngô không hề bệnh tật, sâu si. Chỉ khốn nỗi mặt mũi xấu xí, bung bủng với cái mồm méo mó, cái lưỡi thè lè đầy hết cả ra ngoài đôi môi dày như hai quả chuối mắn. Tóc đen mọc dựng đứng. Vành tai to chảy xệ. Đôi mắt thô lố, ai nhìn cũng không dám nhìn lâu. Đặc biệt cái lưng. Cái lưng gù gãy gập xuống. Chỗ gập u lên một cục xương. Dần dà người ta quen gọi nó là “thằng Gù”. Thằng Gù lớn lên bao nhiêu, vợ chồng Manh Phái càng lo lắng, rầu rĩ bấy nhiêu. Ngày nở nụ cười hạnh phúc ôm đứa con gái đầu lòng trong tay quá ngắn ngủi. Xâm chiếm vào đó là chuỗi năm tháng lê thê nửa mê nửa tỉnh nuôi đứa con trai tật nguyền, dị dạng. Manh trở nên lạnh lùng, ít nói. Anh ta ngồi thừ hàng giờ. Đầu óc lộn xộn không đâu vào đâu. Đang đàng hoàng lại đẻ ra của nợ! Bỏ thì thương vương thì tội! Biết làm sao bây giờ? Quái! Sao chỗ lưng gãy nó lại đúng cái chỗ lưng thằng trộm mình đập chiếc thớt? Chả lẽ sau đó thằng trộm bị chết, hồn nó ám vào thằng bé này? Vô lý! Vô lý! Chết là hết. Làm gì có ma với quỉ!... Còn Phái, lòng chị đau đớn, tê dại không kể xiết. Đêm đêm, chị nâng giấc đứa con trong bao nỗi day dứt, mộng mị.

Cái đêm trăng mờ ảo ấy cứ nhoang nhoáng... Đúng cái lưng... Đúng cái thớt... Cái thớt, vài hôm sau Phái đang băm rau cho lợn thì bỗng nhiên bửa đôi. Xem kỹ, là do vết nứt bị rớm sẵn. Cái thớt bằng gỗ nghiến từ đời bố mẹ chồng, rắn đanh vậy mà đến ngày vỡ được? Chắc anh ta phải đập rất mạnh, không biết kinh tay? Trời ơi! Sao lại gieo nỗi khổ này cho con? Con có trêu ghẹo chi đâu mà Trời lại đầu thai nó vào cửa nhà con? Khổ, thì mấy con cũng chịu được. Nhưng còn thằng bé, nó sẽ sống thế nào đây? Nhiều khi cơn ức chế nghẹn chững cổ, Phái bật trách chồng:  -Tại ngày ấy anh đánh người ta! Quả báo đấy, anh biết không? -Báo hổ gì? Chẳng qua không may... số nó không được làm người... Manh bao biện: Của đau con xót. Mất của, ai chịu được?

Thằng Gù là thần giữ của. Đố ai lấy được của nhà nó thứ gì. Bắt đầu từ cái hôm bà cụ Diệu sang mượn chiếc sàng gạo. Đang lê la vày đất ở góc sân, nó lao theo đòi lại. Cái lưng gù, mà tay nó cứ vít chặt lấy cái sàng không buông ra. Bà cụ Diệu còn cố trêu: -Của bà chứ! Bà cho mượn nay bà lấy về! Nó liền lăn đùng ra sân, giãy đành đạch. Phái phải dỗ mãi mới xuôi. Từ dạo đó, hàng xóm mượn cái liềm cái cuốc, con dao con rựa, dù bố mẹ nó cho, cũng phải qua nó. Khi nào đầu nó ngẩng lên, gật xuống, cái lưỡi không lè ra, ấy là được. Gù, nhưng nó lại tài leo trèo, bám cây cối dính như thạch sùng và nhanh như sóc. Lưng nó là chiếc thước góc di động. Nó dám ngồi vắt vẻo đầu cành, buông cành này đu sang cành khác. Đám trẻ con trong xóm cũng phải phát khiếp. Khách đến nhà, đang ở đâu, loáng cái nó đã xuất hiện, ra sân múa may quay cuồng, dẩu mồm, lè cái lưỡi dài ngoẵng ú ớ nát nộ người ta. Rồi nó leo thoăn thoắt lên cây cau, bám vào buồng quả. Lại tụt xuống tăm tắp như một con ròng rọc. Cạnh chạn rửa bát có cái cọc ba chạc bằng cành xoan cắm xuống để gác chậu, gác rá vo gạo hoặc gác cái gáo dừa múc nước. Nó thường trèo lên đó ngồi thu lu, xoay mấy vòng trêu ngươi khách. Người yếu bóng vía mới gặp, ít ai chịu nổi, đều lẳng lặng rút lui khỏi ngôi nhà như có ma hiển hiện. Đi đâu còn bơn bớt. Về tới nhà là lòng Manh nặng trĩu như đeo đá. Anh ta cũng chẳng thèm nhìn xem thằng Gù ra sao. Mặc xác mẹ con nó với nhau. Giá có phép mầu biến nó khỏi căn nhà, Manh cũng sẵn sàng đánh đổi cả gia tài cơ nghiệp này cho nhẹ thân.

Càng ngày thằng Gù càng bách chách, leo trèo tứ tung, không ngơi chân ngơi tay. Chốc chốc lại loảng xoảng tiếng những chồng bát đĩa, những xoong nồi bị nó đánh vỡ, đánh rơi. Ban ngày, nhà động có khách là nó quăng mọi thứ đang chơi và nhảy ra trước sân nhăn nhở đe nát. Ban đêm nó thức tròng tròng. Khi buồn ngủ nó nằm lăn bất cứ chỗ nào, mặt mũi nhểu đầy dớt dãi. Dậy là rống ông ổng, ư ử một hơi chẳng ra khóc chẳng ra kêu. Lắm đêm đang ngủ nó nhảy phốc khỏi giường, ỉa đái lênh láng nền nhà. Phái dở khóc dở mếu, vừa dọn vừa lưng tròng nước mắt. Thoắt cái, đã nghe soàn soạt bên ngoài. Nó đã leo lên tít ngọn cau, rồi thả mình xuống tận gốc. Phái hết cả hồn vía. Còn Manh lẩm bẩm: “Không chết quách đi cho rồi!”

Một lần, vợ chồng gánh phân xuống thuyền chở ra đồng bón lúa. Phái vừa chống sào rời bến, Manh kêu buồn đi ngoài, bèn chạy về nhà. Ra ao đứng nghĩ một lát, Manh hí húi xếp ba hòn gạch trên bờ và cắm một cây cọc gỗ lập lờ dưới mặt nước. Rồi anh ta lấy chiếc ghế đẩu đặt ba chân lên ba hòn gạch, một chân lên cây cọc. Thoạt trông, chiếc ghế có vẻ chắc chắn dưới tán cây. Xong đâu đấy, Manh bế thằng Gù đặt ngồi lên và trừng mắt trỏ tay vào cành cam trĩu quả la đà mặt ao: -Ngồi đây trông cam kẻo trộm nó lấy. Chiều bố về cho ăn cơm cá nướng, nghe chưa? Anh ta chắc mẩm thế nào nó cũng ngã xuống ao. Có đau cũng chỉ đau một lúc... Không ngờ chiều về, vẫn thấy nó ngồi nguyên chỗ cũ. Hình như có người, nó mới được dịp trổ tài “biểu diễn”? Nó lè lưỡi, xoay một vòng đít trên mặt ghế rất điệu nghệ, không hề suy suyển. Lạ thật. Chênh vênh thế kia đến mình sơ ý một tý cũng té nhào cả ghế. Đằng này... Nó là ma chắc? Thấy con làm trò mạo hiểm, Phái quăng quang gánh, te tái chạy ra: -ối giời ơi là giời ơi! Sao con tôi lại nghịch thế này? Vào với mẹ đi... Nào... vào đây! Mẹ lấy cơm con ăn...

Năm ấy, máy bay giặc Mỹ bắn phá rất dữ dội. Bom nổ ùng oàng suốt ngày đêm. Khói đít máy bay ngoằn ngoèo trên bầu trời xanh rợn. Tên lửa của ta rạch những đường lửa sáng chói đuổi theo. Làng Mai Đông dưới chân núi An Lập có một trung đội dân quân trực chiến trên đỉnh đồi để đón lõng bọn máy bay từ biển bay vào. Một buổi chiều mùa hè. Phái đi chợ. Manh cõng thằng Gù vượt mấy cánh đồng ra trận địa. Tới nơi thì mặt trời sắp lặn. Manh nói khó: “Bố con tôi ở làng bên kia đi ăn giỗ về qua. Tối mất rồi, tôi ghé vào đây xin các cô các chú cho nghỉ nhờ. Nằm dưới gốc cây cũng được!” Đám dân quân ái ngại. Biết Manh với thằng bé là người trong huyện, sau họ cũng dành cho chỗ ngủ trong một căn hầm chữ A dưới mé đồi... Nửa đêm về sáng, lừa thằng bé ngủ say, Manh bí mật lẻn khỏi trận địa. Trong sâu thẳm chán chường, Manh muốn bỏ thằng Gù ở đó với hy vọng ngấm ngầm: nếu máy bay giặc bắn phá trận địa, trận địa sẽ trúng bom. Thằng Gù sẽ... Thực chất, anh ta muốn mượn tay máy bay Mỹ để thằng Gù có làm sao thì sự đã rồi. Nhưng trớ trêu thay, suốt một tuần lễ lại không hề có chiếc máy bay nào bén mảng tới. Thằng Gù ở đâu bỗng thập thò đầu ngõ. Nó ú ớ đầy mồm lưỡi: -ố... ố uơi... u u... uơi... ú uờ... Những ngày đó, biết dã tâm của chồng, Phái khóc cạn nước mắt: -Dù sao nó cũng là giọt máu của anh do tôi dứt ruột đẻ ra. Anh nỡ thế ư? Không nuôi thì để tôi nuôi! Manh đứng phắt dậy, bỏ đi: -Thà đau một lần còn hơn để nó hành hạ cả đời!

Không chỉ là gánh nặng về nuôi nấng, hầu dọn, thằng Gù còn là cái gai, cái nêu bêu riếu sĩ diện gia đình Manh. Người đời cũng đâm mặc cảm, xa lánh. Bạn bè, khách khứa thưa vắng. Uy tín ông đội trưởng cũng nhạt dần. Cô con gái lấy chồng trên Phú Thọ mải làm ăn cũng ít lui về thăm hỏi. Manh bỏ chức đội trưởng, sinh nghiện rượu, lấy rượu giải sầu. Ông ta đi lang thang khắp nơi trong xóm, ngoài làng. Lúc ra ruộng vần vò những quả bí, lúc bơi xuống sông, lội xuống ngòi quẫy đạp thùm thùm, lúc lặn ngụp dưới ao như tìm một thứ gì, mãi không thấy. Thằng Gù đã là một anh chàng tròn như con gấu cuộn gập cái lưng trên bờ vỗ tay ú ớ: “Oan... ô... oan ô...” Trăm con mắt cùng nhìn: Nhà Manh Phái mắc mứu chỗ nào? Đẻ con dị tật. Giờ lại đến chồng hoá dại thế kia!... Một ngày, người đi làm đồng chạy về hô hoán:  -Ôi làng nước ơi... Ông Manh chết đuối... trên cạn... Mặt úp xuống ruộng... Ngoài cánh đồng Ao Lấp...

Gánh nặng dồn lên đầu bà Phái. Hai mẹ con, hai cái bóng trong căn nhà trống huếch, lạnh lẽo, âm u. Thửa ruộng không trồng bí ngô nữa. Thay vào đó, bà trồng những luống rau gia vị, hành tỏi và rất nhiều gừng, giềng đem bán cho các quán thịt chó, thịt mèo. Dù sao bà cũng phải cố nuôi thằng Gù, được đến đâu thì đến. Rồi một hôm, bà đi chợ vắng. Cơn mưa rào đầu mùa đổ xuống. ở nhà một mình, thằng Gù đẵm nghịch cả buổi ngoài sân, ngoài vườn. Nó thích chí leo cây, lăn lộn cái lưng gù dưới mưa. Tạnh mưa, bà mới về. Bước vào ngõ, bà giật mình thấy con nằm gục còng khoeo vắt nửa thân gù lên hiên nhà, còn thân dưới co quắp hứng giọt gianh còn lã chã. Bà rú lên gọi hàng xóm. Bị nhiễm nước mưa mới, thằng Gù sốt như lửa, mê man, giãy đạp. Nó hét cả đêm. Một thứ âm thanh reo réo, khàng khạc, ghê rợn. Gà gáy, không thấy thằng Gù rên la, bà vột dậy. Nó đã cứng từ lúc nào. Cái lưng thước góc mấp mé ngoài thành giường. Nó không còn trên cõi trần để leo trèo, đe nát được nữa. Bà vật vã, khóc rũ rượi. Vậy là hết! Ông Manh ơi! Ông cố giữ ruộng bí... Được bí, mất người! Đành mất giống... thế này đây!... 

Quẩy quang gánh sang nẻo chợ bên này sông, bà buôn bán lặt vặt mớ rau mớ củ kiếm sống qua ngày. Thương cảnh độc thân từ nơi khác đến, cán bộ địa phương cắm cho bà một miếng đất cuối xóm để bà lợp túp nhà nhỏ. Mỗi lần ra chợ, nhìn thấy quả bí ngô người ta bán, bà lại rùng mình, co rúm như bị cảm rét. Hình ảnh thằng bé nào đó trong thiên hạ và hình ảnh thằng Gù con bà lại hiện lên, lúc mờ lúc tỏ. Thằng bé kia thì không rõ mặt. Mặt nó chập chờn, dao động, thoắt xa thoắt gần. Còn thằng Gù, bóng nó vẫn gù dính vào cây cau, cây ổi. Miệng nó vẫn đầy lưỡi gọi u uơi... u uơi!... Nếu còn, thằng Gù cũng suýt soát tuổi bốn nhăm. Chao ôi, bốn mươi nhăm năm bà lầm lũi sống, chịu đựng cơn ác mộng. Bốn mươi nhăm năm đau đớn, tiếc nuối và ân hận. Bốn mươi nhăm năm, kể ra nó là một cục vàng!

Sáng sáng ra chợ, việc đầu tiên bà thắp nén nhang, chắp tay lễ vọng cửa đình, rồi mới bày những mẹt hàng. Mùi nhang khói khiến lòng bà phần nào vợi bớt nỗi niềm. Ban đầu dân chợ cũng để ý: -Cái bà này hay thật! Ngày nào cũng thắp hương! –Dạ, nhà em quen mất rồi! Có thờ có thiêng, có kiêng có lành. Năng vái năng lạy, Phật Thánh sẽ phù hộ độ trì, các bá ạ! Trong thâm tâm bà muốn chuộc lỗi, cầu mong quỉ thần hai vai chứng giám cho bà. Thực tình ngày đó bà đã cố can chồng, nhưng không kịp. Bà đành lặng lẽ gánh lấy tội này...

Ngày tết Đoan Ngọ năm nay đã đến. Bà Phái đang nhắm mắt tư lự với nén hương trên tay, thì tiếng một người đàn ông vang lên: -Chào bà! Tôi đến mở hàng, mua gừng cho bà đây! Bà choàng tỉnh: -Ôi! Chào ông! Bà dụi mắt: Lại cái ông chết tiệt! Trước mặt bà, sau ông ta còn có một người đàn ông già nua, khắc khổ với tấm lưng gù vuông góc, nổi một u xương trong lần áo nâu sồng, miệng lưỡi đầy lè ra phía trước... Bà sửng sốt, hét lên: -Ôi! Ai như... Thằng Gù con tôi! Bà nhao tới cầm chụp lấy đôi tay người gù và chụm lại: -Tôi mơ hay tỉnh đây? Ma hay người thực đây hở giời? Sao lại thế này? Ông khách mua hàng vỗ vỗ vai bà, giọng nghẹn ngào, xúc động:

-Bà ơi! Bà không thể biết được! Làm sao bà có thể biết được! Thời trẻ con... ai chả có lúc dại dột! Bốn mươi nhăm năm qua anh em tôi phải dắt díu nhau để sống. Ông bà không thể hiểu anh tôi đã vượt lên cái chết như thế nào đâu. Ngày ấy chúng tôi ở một làng khác. Đói quá phải mò đến ruộng bí ngô trộm bí về nuôi cha ốm...

-Trời ơi! Ông tha tội cho chúng tôi! Tha tội cho tôi! Đây chính là thằng bé... là ông ấy ư? Người lấy trộm bí ngô đấy ư?      

     

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 01.03.2014.