Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





HÒN ĐẢO PHÍA CHÂN TRỜI




PHẦN THỨ HAI
LÀNG MỚI TRÊN ĐẢO



Chương Không Đánh Số


 Nước triều đã rút xuống lưng chừng. Bãi cát chênh chếch nghiêng, ngoằn ngoèo những cái rãnh nhỏ. Nước mặn ở trên vẫn ri rỉ chảy xuống, vừa chảy vừa đào cho rãnh sâu thêm. Những con cáy lớn màu hung hung, lông cứng đỏ tía dựng lởm chởm, hoảng loạn chạy loằng ngoằng. Trông thấy Đức, chúng chợt đứng sững lại, đồng loạt giương cao cái càng lên như chào, cái càng mập mạp và đỏ quạch. Con Róc cũng đứng sững lại, và sau vài giây thăm dò, nó bèn xông đến, và lập tức bị một con cáy cắp vào mũi. Nó kêu áy, áy... áy, áy... nhảy cẫng lên. Đức cũng phát hoảng chẳng biết làm gì để cứu con chó đang đeo con cáy ở trước mũi vừa chạy vừa kêu. Cuối cùng, Đức túm lấy con cáy, vặt càng, cái càng rời ra vẫn cắp chặt vào mũi con chó, làm con chó càng đau thêm. Khi bẻ gẫy được một nhánh của cái càng, thì con chó cũng bị rách một cánh mũi. Con chó đau quá, ngồi bệt trên hai chân sau, hai chân trước vờn vờn như vái như lạy, trông thật thương tâm, nó rên ư ử như người.

Đức quyết trả thù, đuổi bắt từng con cáy nhưng không sao bắt được.

- Tớ phải bẻ càng một trăm con cho bõ tức.

Nhụ bảo:

- Tức cái con cáy làm quái gì cho mệt. Nếu mình đến sớm, mình sẽ bảo cậu cứ ấn cái mũi con chó xuống cát. Chạm cát, cáy sẽ rời càng ra và chạy biến ngay. Cậu trông đây này...

Nhụ bẻ một cành dương, móc trong túi quần ra một sợi ni-lông, buộc vào đầu cành làm cần câu, rồi thả cái đầu dây vào trước hai con mắt thô lố của con cáy. Cáy chỉ chờ cái đầu dây đến là giơ càng cắp ngay.

Nhụ nhấc cành lên, con cáy đã treo lủng lẳng.

- Nó cắp chắc lắm. Nếu cắm cành dương này xuống đất, con cáy sẽ chết khô trên dây cho mà xem. Nhưng này...

Nhụ thả con cáy xuống cát. Chạm cát, con cáy nhả càng ra và lập tức biến mất trong đám rác khô...

- Cậu thấy không, câu cáy đơn giản quá nên mình cũng chả thích. Mình thích câu cá cơ. Hôm nào mình sẽ đưa cậu đi câu cá biển

Tâm trí Đức vẫn còn luẩn quẩn với cái mũi sứt của con chó.

- Sẽ lành ngay thôi mà. Chó liền da, gà liền xương. Mai là nó chạy nhảy lung tung cho mà xem. Nhà cậu có cần câu không?

- Không.

- Tớ sẽ cho cậu một bộ xịn. Câu cá thú lắm. Có loại cá chỉ cắn khi nước lên. Có loại cá chỉ cắn khi nước xuống. Còn nước dừng và khi nào trời nổi gió tây, thì dù nước xuống hay nước lên, cá cũng không bao giờ cắn mồi.

- Thế à?

- Mồi cũng có nhiều loại, câu cá dìa thì dùng bánh dày hay bột mì, câu cá song, cá vược, thì phải có tôm sống, tốt nhất là tôm he. Còn câu các loại cá tráp thì phải lấy gan của con sam...

Gương mặt Đức đã dãn ra, tròn dần lại. Ánh trong hai con mắt hơi xa nhau, đã nheo cười, có vẻ tò mò thích thú.

- Nhà tớ có bột mì và tôm he đấy.

- Được. Mình sẽ làm cả mồi cho. Cậu phải nhớ là cá cắn mồi không giống nhau đâu nhé. Đớp mồi mà lao chúi xuống là cá song, phải giật ngay, kẻo nó lẩn vào hốc đá dưới đáy sâu là mất cả cá lẫn dây câu. Cắn mà chạy ngay, phóng cứ thẳng băng là cá vược, nếu mồi là tôm sống, hoặc cá tráp đen, nếu mồi là gan sam. Cá tráp đen thì không có thủ đoạn gì. Còn cá vược thì phải chú ý. Nó có cái mang phụ sắc như lưỡi dao bào. Dây thả cho nó phải căng, rồi khi giật cần và kéo lên, cũng phải căng. Nếu trùng dây một chút, nó lập tức quay lên, giương cặp mang phụ cắt đứt dây cước luôn đấy, thế là tong. Còn thấy mồi mà mổ, mổ, là cá tráp trắng. Cứ để cho nó mổ chán đi, rồi nó mới cắn mồi. Còn thấy mồi không động mà dây câu cứ bị hun hút kéo đi, thì đích thị cá tráp vàng rồi. Con tráp vàng thường cắp mồi vào vây, cứ thả cước cho nó, tuyệt đối không được động cần. Cước chạy chừng dăm ba mét thì thôi. Cái mồi rời ra, tráp vàng ta, tưởng con mồi chuồn mất, nên quay lại, đớp luôn. Thế là nó bị tóm.

Đức ôm con chó vào lòng và bây giờ thì quên cả vuốt ve nó. Đức đã bị lũ cá trong chuyện của Nhụ cuốn hút. Đức tháo cặp kính ra nhìn Nhụ trân trân, với vẻ thán phục không giấu giếm:

- Sao cậu biết lắm thứ thế?

- Mình là dân chã mà. Mấy năm trước, ông mình thường đưa mình đi câu. Mình câu cũng vào loại sát cá đấy. Mình còn biết lặn hà. Cạnh nhà mình, có một chị lặn xuống sông Bạch Đằng đánh hà. Con hà bám vào chân cột đèn biển, nó chỉ bằng ngón chân cái. Chị vô ý để nó kẹp chặt vào đầu một ngón tay. Chị không sao rút ra được. Thế là chị chết. Người nhà lặn xuống tìm, một đầu ngón tay chị, con hà vẫn còn cặp chặt và chị cứ thế bập bềnh lửng lơ, vạt áo phất phơ bay trong nước biển.

Nhụ thoáng thấy Đức rùng mình.



Chương XV


 - Dậy đi con, dậy! Dậy!

- Gì thế bố?

- Tàu ra! Tàu ra đấy!

Lần này thì bố đánh thức mình. Nhụ nghĩ trong lúc chân luống cuống quơ đôi dép cao su. Nhụ chạy vội ra ngoài, không biết vấp vào cái gì, ngã dúi về phía trước, làm tuột cả quai dép. Bố Nhụ đã ra khỏi sân rồi lặn vào trong ánh trăng mờ ảo không có bóng. Lô nhô những bụi cây ràng ràng và sim mua. Con đường van vát nghiêng nghiêng một vệt trắng nhạt. Tiếng còi tàu lại rúc lên một hồi dài, nóng ran cả mặt. Bộn rộn trong ngực quá. Nhụ cúi xuống cầm dép cao su lên tay, cứ thế chạy bừa xuống mép biển.

Một đống củi không biết được vun lại từ bao giờ, và ngọn lửa thình lình bùng lên. Ngọn lửa đã lôi ra từ bóng tối, những tảng đá to bằng cái bồ, nham nhở vết răng gặm của sóng, những mũi tàu cá và thuyền máy nghếch lên, ngạo nghễ và từng trải. Lố nhố biết bao nhiêu là người, ngổn ngang bao tải, sọt, quanh gánh, chai lọ. Ồn ào một hồi, vì tiếng người gọi nhau và tiếng chó cắn, tiếng lợn kêu.

Trên sườn đồi, Nhụ thấy đi xuống một nhóm bộ đội, rồi lại một nhóm nữa. Từ sân trụ sở ủy ban, hai ba tốp thanh niên đi ra, vừa đi vừa chạy gằn. Có mấy người vác trên vai những tấm ván gỗ xẻ. Họ đứng tụm lại hay tản ra xung quanh đống lửa. Bóng họ dài, ngắn, chập chờn, nghiêng ngửa, thấp thoáng in lên vạt đất sỏi của sườn đồi, trông như trong một điệu vũ thời tiền sử. Che khuất đường chân trời không có sao, những đỉnh hình răng cưa đen sẫm của núi Mõm Cá Sấu, nguệch ngoạc bóng cây đại ngàn.

- Không cập vào nữa được à? - Có tiếng ai gọi to từ trên bờ xuống.

- Cạn rồi. Cạn mất rồi! - Tiếng trả lời xôn xao.

- Có cụ già, đàn bà và trẻ con không?

- Có. Có. Có!

- Nước sâu lắm. Ái dà dà...

- Yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội...

- Không lội được đâu.

Trên bờ, những cây củi to và khô được vứt thêm vào đống lửa. Người kéo ra đông thêm. Tưởng tất cả những ai có thể có mặt được, thì đều đã có mặt. Những cụm khói thuốc lá xanh nhạt, nghi ngút tỏa lên từ mái tóc của mấy người chụm lại. Bóng họ ngổn ngang hắt xuống những bụi dứa dại, hắt xuống mặt nước thẫm đen, nhuếnh nhoáng hồng.

Đã có mấy người từ tàu cá tranh nhau nhảy xuống lẵng. Con lẵng chao đi, bập bềnh, chỉ tí nữa là ụp. Mấy chú bộ đội còn rất trẻ, nhanh nhẹn để cả quần áo dài, lội ào xuống nước, kéo mấy con lẵng khác lại. Không biết những ai đã kê nhanh những tấm ván gỗ xẻ lên.

- Buộc dây thép vào! Buộc dây thép vào cho người đi qua đã! - Ai đó nói to lên bằng một giọng ngực rất vang.

- Đồ vật hàng hóa thì để mai.

- Mai với cuốc gì?

- Vôi với gạch, ai mà chuyển bây giờ được.

- Có vôi à?

- Ối!

- Ưu tiên cụ già, phụ nữ, em bé đây.

- Ái! Xéo vào chân người ta!

- Người lên trước! Người lên trước!

Không còn phân biệt được tiếng ai với tiếng ai nữa.

Người đầu tiên đập vào mắt Nhụ là ông Trương Sần, với dáng béo lùn, nước da đỏ màu đồng điếu, tóc bạc trắng và quấn quanh người lủng củng những bi đông rượu. Nhụ nhảy lên ôm chầm lấy ông. Hơi rượu từ các bi đông bị va vào nhau tỏa ra nồng nặc.

- Cu Cõn! Cu Cõn à! Không nên! Không nên! - Ông Trương nói, vẫn bằng lối gọi tên của riêng ông.

- Lần này thì ông ở hẳn đây chứ? Có nhiều trẻ con lắm.

- Ờ... ờ... Nhà mày có thư đấy!

- Của mẹ cháu á?

- Thằng anh mày.

- Anh Thu! Trời, bố ơi, có thư của anh Thu! - Nhụ đảo mắt tìm quanh nhưng không thấy bố nó ở đâu trong đám người lố nhố, chập chờn bên đống lửa.



Chương XVI


 Suốt mấy ngày liền, ngày nào trước cửa phòng của ông Trương cũng thập thò vài ba đứa trẻ con. Dường như trên hòn đảo này, có đứa trẻ nào thì đều lần lượt có mặt ở cửa nhà ông hết. Chúng đến để xem con người ông với dáng vẻ kỳ quái được đồn thổi, xem "tập đoàn rắn" của ông, do ông chăm sóc và huấn luyện chả biết để làm gì. Kể về ông, đứa nào cũng mắt tròn mắt dẹt. Ấy là lúc chúng thấy ông ngủ trưa, trời se lạnh mà ngực ông vẫn để trần, trên vòm ngực gồ ghề màu đồng điếu, khoanh tròn một con rắn hổ mang cỡ bự, nó gác cho ông ngủ. Thấy lũ trẻ, con rắn nhô cái đầu lên và phun phì phì. Trông rất khiếp. "Tập đoàn rắn" của ông đặt "cứ điểm" ở nửa gian nhà, nửa gian còn lại, ông kê cái giường ngủ và sự ngăn cách chỉ có một hàng cót dựng. Đủ các loại rắn. Ông bước vào rất thản nhiên, lũ rắn cứ rẽ cả ra. Ông đưa tay nhẹ nhàng túm từng con. Có con sẽ ngâm rượu hoặc pha chế để làm thuốc, theo hợp đồng với công ty Dược. Có con, ông bảo, sẽ cho nó uống thuốc "cải tạo" rồi thả vào rừng. Nó sẽ không bao giờ cắn người, nếu người không tự dưng xéo vào lưng nó. Ông bảo, rắn rất yêu phụ nữ và rất kính trọng phụ nữ có thai. Gặp phụ nữ có thai, rắn sẽ nhường đường ngay. Ông bảo, rắn là nghệ sĩ, biết nghe nhạc và biết múa. Vào mà xem! Vào mà xem! Ông bảo thế, nhưng bọn trẻ chỉ dám đứng ngó nghiêng ngoài cửa.

Ông nhảy toách một cái qua lá cót chắn, vào "cứ điểm", huýt nhè nhẹ một bài sáo mồm, lũ rắn ngỏng cả đầu dậy, lắng nghe, con nào con nấy mắt long lanh, lưỡi thè ra rụt vào, có con lưỡi chẻ đôi đỏ chót như sợi dây thép vừa nung chảy. Và khi ông đi một đường quyền, đầu các con rắn đều chao đảo như lên đồng vậy. Lũ trẻ sướng lắm, bây giờ thì chúng sán vào đến gần lá cót, nhưng tim vẫn đập thình thình.

Đúng lúc ấy, ông nghe thấy có một tín hiệu không bình thường. Ấy là cái thùng phuy đựng nước ở sau nhà, không có tiếng tong tong... Ông im lặng lắng nghe. Đúng là có sự cố rồi. Chắc lại bọn rắn trêu ngươi ông đây. Ông ra khỏi nhà và bảo lũ trẻ có đi theo ông thì đi, xem ông trị cho con rắn bố láo nào đó một trận...

Bọn trẻ rồng rắn theo ông Trương. Đi hết sân cát thì gặp Nhụ. Nhụ bảo nhà nó nước cũng tắc rồi, không hiểu vì sao.

Đến chân đồi ràng ràng thì gặp Đức và con chó vàng đốm trắng, nghênh nghênh cái mũi sứt trông rất buồn cười. Con chó nhảy tâng tâng, cổ đeo một cái vòng kỳ lạ, làm bằng một trăm cái càng bên phải của những con cáy lớn đã phơi khô. Cứ tưởng Đức nói đùa hóa ra nó làm thật... Đức không đi theo ông Trương. Nó cúi xuống, nói với con chó một câu gì đó, rồi con chó vội vã chạy trước, cái đầu rúc xuống, cái đuôi cong lên, gần như không động đậy. Đức lững thững theo sau, cả hai khuất sau những bụi ỏng xanh rờn.

Ông Trương dẫn Nhụ và bọn trẻ đi ngược dòng nước chảy. Nhụ cảm nhận rất rõ những lo toan của bố nó, để hòn đảo xa lạ phía chân trời này thành một làng quê có thể sống bình thường được, như bất cứ ở đâu trên đất nước Việt Nam. Thư của anh Thu báo tin, ít lâu nữa, anh sẽ theo tàu hải quân tuần tiễu tuyến biển, và đoàn tàu của anh sẽ cập đảo Mõm Cá Sấu. Bố Nhụ muốn lúc ấy, cả nhà đã đoàn tụ ở ngoài đảo này rồi. Bác đang tính cách làm sao thuyết phục được ông Nhụ. Để từ đó, thuyết phục nhiều bà con ngư dân khác.

Nhóm người đi dưới tuyến đường ống làm bằng những cây luồng, cây trên kê nối liền với cây dưới, liên tiếp nhau hàng ki-lô-mét, qua những cái chạc. Nước từ con suối ở lưng núi ông Voi, chảy trong ruột những cây luồng đã đục rỗng đốt, chuyển từ cây cao xuống cây thấp, rơi long bong trong thùng chứa ở mỗi ngôi nhà. Từ nhà nọ sang nhà kia, người ta đi dưới những đường ống ngang dọc ở trên đầu. Nước từ những vết nứt dọc thân cây, cứ chảy từng giọt xuống mái tóc, xuống vai áo.

Ông Trương vẫn xăm xăm bước, bọn trẻ có đứa phải chạy gằn mới theo kịp. Chân ngắn, tay thô, lưng hơi gù, tóc bạc, dấu ấn của quá nửa đời người làm nghề chèo đò ngang, vậy mà lúc này mọi tì vết đều bay biến hết, chỉ còn một người đàn ông khỏe mạnh, lanh lợi, uyển chuyển, hài hòa. Chỉ còn một sức mạnh vươn tới, dẻo dai, kiên định và chắc thắng. Ông quay lại bảo Nhụ chờ các bạn.

- Từ đây, các cháu phải cẩn thận.

Ông Trương khoát tay một cái. Nhụ ngước nhìn, chỉ thấy sau vòm cây đang rụng lá, đỉnh núi Miếu Ông Voi giấu mình trong làn hơi màu xanh lam đang ngùn ngụt bốc lên. Một con đường đất, đỏ tía màu da lươn, vừa được các chú bộ đội khai phá, còn in vết cuốc chim, vắt qua sườn đồi cao, rồi mất hút trong khu rừng hoang rậm rạp, thỉnh thoảng vọng ra tiếng bìm bịp đứt quãng. Bên kia núi đã là biển Đông rồi. Những đêm biển động, Nhụ như cảm nghe được sức mạnh man dại và âm u của những con sóng lừng, liên tiếp thay nhau húc đầu vào vách đảo. Nhờ dãy núi bền vững này chở che, cả vùng biển phía tây yên tĩnh như cái ao làng, Nhụ có thể chèo ra xa đến bốn năm trăm mét bằng một con lẵng.

- Các cháu có nghe thấy gì không?

Cả nhóm lắng tai. Chợt dội lên đâu đó rất gần, tiếng chim chèo bẻo lảnh lói và chua ngoa. Rồi im lặng. Lọc dần ra những âm thanh quen thuộc thường thấy ở vùng cửa rừng, thoảng có tiếng lá lật gấp gáp, tiếng nước xối ràn rạt, không có âm vang, nghe chẳng rõ ở chỗ nào. Sau một chút định hình, mắt dõi theo những cây luồng dẫn nước nối tiếp nhau lao qua những vòm táo dại, những bụi lau, Nhụ đoán có sự cố sau tảng đá cao ở sườn dốc đồi bên kia, khuất nửa dưới màu xanh đậm của mấy bụi ỏng. Bây giờ đi theo Nhụ chỉ còn có vài ba đứa, đều là bạn mới quen. Chúng xông xáo rẽ lau, vạch cỏ, theo con đường tắt, được mở ra từ hai cánh tay vạm vỡ của ông Trương. Ông bảo chúng lên tảng đá cao, đứng xem ông "ra binh". Ngang tầm mắt, đã thấy dòng nước chảy xuống đám dong riềng, những chiếc lá to bản không còn chịu đựng nổi sức nước, đã rã ra, nước chảy thẳng xuống đất đồi. Quấn vào chạc cây cắm xuống đất để đỡ cây luồng lao qua, là một con rắn hổ mang cực to, đang nuốt một con rắn khác. Con rắn bị nuốt này chỉ còn chống cự theo bản năng: quấn cái đuôi vào một đầu ống nước, chính vì thế mà ống nước bị vênh đi, nước chảy ra ngoài.

- Ăn thịt đồng loại. Con rắn này không thể tha thứ được. - Ông Trương nói to.

Nhụ thấy con rắn có một phản ứng đặc biệt khi ánh mắt ông Trương chiếu vào nó. Nó khẽ rùng mình. Những thớ thịt chuyển động rất nhanh dưới làn da bóng nhẫy, óng ánh. Nó ngẩng cái đầu lên, nghiêng ngó, điềm tĩnh nhìn ông bằng con mắt bé tí, nham hiểm. Trong một giây, nó lưỡng lự dò xét, rồi quyết định nuốt vội con mồi để còn kịp đối phó.

Không hiểu ông Trương nghĩ gì trong khoảnh khắc đó. Có thể là một kỷ niệm nhiều năm từng ám ảnh ông. Cha ông đã bị chính loại rắn hổ mang này giết chết. Cha ông Trương làm nghề lái đò ngang qua sông Bạch Đằng. Một buổi tối, gác mái chèo, ông buộc thuyền vào cọc rồi về cái quán nhỏ dưới gốc đa nằm nghỉ. Bất giác, ông nhận ra một con rắn hổ mang lớn đang cất cao cổ, đôi mắt xanh biếc nhìn ông. Ông liền túm chặt lấy cái cổ bạnh của nó. Con rắn tinh quái lập tức tấn công lại bằng cách quấn chặt lấy người ông mà vặn xoáy, rồi cho cái đuôi vào nách ông mà cù. Ông cắn nát môi để chống cơn cười rũ ra làm ông không còn sức mạnh gì nữa. Nhưng rồi ông vẫn cứ phải cười. Tiếng cười quái đản đó, làm cậu bé Sần hoảng sợ. Cậu chạy lại thì thấy bố mình cùng với con rắn, đang quần nhau trong một tư thế rất ác liệt. Cậu tìm được một hòn đá có cạnh sắc nhưng không biết đập vào đâu. Trong đêm tối, cậu bé cứ lúng túng mãi. Bố cậu dùng hết sức mạnh bóp chặt cổ rắn và chìa cái đầu rắn ra cho cậu đập. Cậu đập cả vào tay bố. Đến khi con rắn bẹp nát đầu thì tay ông cũng đầm đìa máu tươi. Ông gỡ con rắn ra, rồi dùng dây thắt lưng treo cổ con rắn trước cửa quán. Nửa tháng sau, ông lão ho ra từng bát máu...

Những người quanh vùng bến Rừng đều biết câu chuyện tang thương ấy. Ông Trương Sần thay cha cầm lấy mái chèo và tìm mọi cách học bắt rắn. Một người thầy dạy, cảm cái tâm của ông, đã tặng ông hai viên thuốc gia truyền, hướng dẫn ông cách sử dụng và dặn ông hãy cứu người, chứ không được biến nó thành nghề chủ yếu để kiếm sống...

Vẫn chống tay vào háng, ông lặng lẽ xéo vào các bụi cây, tiến thẳng đến chỗ con rắn. Biết ý, con rắn tinh quái buông hẳn mình xuống, nó cuộn khúc lên đu đưa, để bằng một động tác thật mau lẹ, hoặc văng mình chạy thoát, hoặc quấn vào người ông. Sau một giây lưỡng lự, con rắn chọn cách thứ nhất. Nhưng ông đã mau hơn, tay phải túm ngay lấy đuôi nó, điều mà không một ai dám làm, tay trái tuốt ngược lên nhanh như chớp, nhanh đến mức con rắn không kịp phản ứng, không kịp quay cổ lại, với sức bóp của những ngón tay đã cứng như thép nguội. Con rắn, do nặng nề và cứng mình vì quá no, chính điều đó đã làm hại nó, ngay tức khắc, rão hết xương sống, thõng đuôi xuống và bắt đầu run. Ông lấy sợi dây rừng buộc cổ nó, và sau khi kê lại đầu cây luồng, nghe tiếng nước chảy trong đường ống, ông mới lững thững lôi con rắn về. Lũ trẻ đi theo khoái chí lắm. Và như cha ông, ông treo cổ con rắn trước cửa nhà, rồi cắt tiết...



... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 01.03.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn