TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





NGUYỄN HIỆP


















NGÔI NHÀ MÙ

T ôi bước giật lùi khỏi căn nhà đó, mắt dán vào hai khung cửa kính màu xanh nửa như ve chai nửa như mắt mèo nổi bật trên lầu hai, giờ đây chợt bàng bạc vô cảm, vô hồn. Tôi ôm lấy đầu, hai bên thái dương tê buốt, câu nói của Dạt như khoan xoáy vào óc não tôi:
“- Không tin, từ lâu tôi đã không tin vào điều gì nữa, đạo với hạnh là cái quái gì. Thầy đi ra khỏi đây ngay! Tôi không cần thấy, không cần nhìn gì cảû. Tôi thích tiền, đó là sự thật, ai làm gì tôi. Thầy không thích à? Hay không dám thích? Chỉ được cái… Đi đi! Đi hết đi!”. Căn nhà to lớn trước mắt tôi nhoè nhoẹt, hai khung cửa sổ ấy đã biến hình thành hai con mắt, nó trơ ra, dày dày đục thủy tinh thể, mí mắt mang hình tấm đan bê tông lạnh cứng, căng sượng như vừa tháo dỡ cốt pha. Dạt ơi là Dạt! Em sống không có niềm tin, bất chấp như vậy… Em đã mù tinh thần thật rồi, em đã nhầm lẫn giữa cái em “có” và cái em “là”, sự khát khao thoả mãn vật chất sẽ dẫn em đến hố thẳm, em có biết không. Căn nhà của em, biểu tượng thành đạt của em … Em tưởng tôi là nô lệ của căn nhà mù này sao? Em tưởng ai cũng là kẻ cầu cạnh và lợi dụng đồng tiền của em sao? Chính em mời tôi đến dạy, tôi không tự ý mà, em biết rõ đấy chứ! Tôi … Tôi… Chẳng hiểu tại sao tôi lại bước vào ngôi nhà này? Tôi cần gì chứ? Tôi vẫn biết muốn có được tự do tối đa thì nhu cầu phải tối thiểu, tôi đã chọn nghề giáo là chọn cách sống như vậy mà. Tôi phẩy tay rồi lao đi. Đêm đó, trong cơn mê man mệt mỏi rã rời, tôi đã nằm mơ thấy từ ngôi nhà to lớn ấy những hình nhân mang cặp mắt đục thủy tinh thể bước ra quýnh quáng quờ quạng tay chân, đôi môi bặm lại, nhân trung phẳng lì, mũi hít hít bám theo mùi hăng hắc nồng nồng của những tờ giấy bạc vàng nâu xanh đỏ ảo mờ trong đám mây chợt hiện chợt tan trên bầu trời xám xịt, rồi tất cả chợt bò, chợt đi đầu xuống đất, chợt lửng lơ trôi. Trong phút loạn cuồng đó, tôi ngạc nhiên thấy có cả mình cũng đang vấn vít, xen hoà, mắt nhắm nghiền vì xấu hổ, vì giận dữ với chính mình nhưng vẫn bị đám đông đẩy đi, ùn đi về phía chân trời huyễn ảo…
Hơn năm rồi, tôi cố quên đi chuyện cô học trò cũ, nhưng quả tình tôi biết mình có yếu điểm là hay mang “rác rến” về nhà, lấy chuyện đâu đâu làm chuyện của mình. Tôi vẫn mãi ray rứt: Chẳng hiểu sao tôi lại bước vào ngôi nhà ấy làm gì để rồi đánh mất sự bình an của mình. Tôi thú thật là không làm sao quên được chuyện ngôi nhà mù loà ấy, nó ám lấy, hành hạ tôi như một vết thương khó kín miệng, xót xa đeo bám ngay cả trong giấc mơ… … - Thin! Thin đâu rồi! Hỏng biết, thường… bắt thường đó, trả Thin lại đây! Thằng bé trong mùng chợt trở mình ú ớ. Dạt vẫn chăm bẳm vào mấy bảng biểu trên màn hình vi tính. Tôi hỏi:
- Thin là ai?
- Một nhân vật ảo nửa chim nửa cá heo trong trò chơi của nó.
- Sao lại mất?
- Hơi sức nào! Thằng nhỏ đó, chắc em điên vì nó mất. Dạt tiếp tục vật vã với những công cụ định dạng trong trình soạn thảo văn bản, với cách chuyển từ bảng biểu sang sơ đồ. Tôi bảo:
- Borders and shading! Em chọn trang borders. Không chọn khung lần nữa, em bỏ bớt thanh phía dưới trong cửa sổ review, xong, nối các ô lại. Dạt hoàn thành bài tập, thở phào. Tôi hỏi lại:
- Thin có trong trò chơi gì?
Dạt có vẻ bực mình:
- Hơi sức nào thầy quan tâm. Nó suốt ngày chúi mũi vào mấy cái trò gọi là sinh học sinh hiếc gì đó, hồi còn trực tiếp đi Trung Quốc, em mua về cho nó, nghe giới thiệu đó là cuộc sống số, cuộc sống ảo, em cũng không rành lắm.
- Nghe có vẻ cháu gắn bó với Thin?
- Nó gọi Thin là sư phụ, là bạn, là…
- Tội nghiệp!
- Tội nghiệp gì?
- Nó chơi một mình suốt ngày à?
- Thầy quan tâm tới trẻ con từ lúc nào vậy? Đột ngột Dạt ngước lên nhìn vào mắt tôi. Tôi quay đi rồi hỏi:
- Sao bữa giờ chưa gặp ông xã?
- Ổng coi công nhân làm rẫy ở trong thung lũng Đá Trắng.
- Ngày xưa, dân nghèo làm rẫy, bây giờ, chủ rẫy toàn đại gia và cán bộ. Em có bao nhiêu mẫu đất, Dạt?
- Thầy đoán thử?
- Mười mẫu.
- Ít.
- Mười lăm.
- Gấp đôi.
Tôi trố mắt ngạc nhiên:
- Em làm gì mà mua nhiều đất vậy?
- Trồng xà cừ, nuôi cá sấu.
- Nuôi cá sấu?
- Thầy không tin à?
- Tin chớ. Mình phải xin giấy phép?
- Thầy yên tâm đi, giấy phép nghiêm chỉnh: giấy phép nuôi và cả giấy phép bán.
- Bao nhiêu con?
- Ba trăm. Thầy muốn coi cá sấu, mai em chở thầy đi.
Đương nhiên óc tò mò không cho phép tôi từ chối.
Xe leo lên sườn đồi thứ ba thì dừng lại.
- Thầy ra đây em chỉ cho!
Tôi bước xuống xe bàng hoàng nhìn cả một vùng thung lũng rộng lớn được san ủi sạch sẽ, cây trồng điểm những chấm xanh đều đặn chạy tít tắp, giữa tấm thảm đốm xanh ấy nhô lên một căn nhà mái tôn trắng loá. Chung quanh, những đụn núi nhỏ nhấp nhô, lu lú những bãi đá màu trắng ngà, chỉ một ngọn vươn lên chẻ gãy trên gần đỉnh, phần đỉnh mang hình một cái chóp mũ mòn nhẵn. Núi rừng bị tàn phá đến sạch nhẵn, xao xác. Tôi chợt nhớ về núi Đá Trắng ở quê với bao kỷ niệm thân thương của thời niên thiếu, lòng chìm lắng trong những kỷ niệm xưa cũ và trong âm vang câu hát xa xăm:
« Trèo lên non tìm hòn đá trắng
Trách chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu… »
- Thầy thấy sao?
- Rừng đã mất.
- Em hỏi khu vườn mà.
- Không thể tưởng tượng nổi, em ạ. Tôi trở về thực tại.
- Toàn bộ khu này gần năm chục mẫu, em ba mươi, chiếm toàn bộ dải đất dọc chân núi.
- Em thực sự là “nữ hoàng” của “khu tự trị” này. Dạt cười, bước vào xe. Tôi tế nhị rút xuống ghế sau. Dạt hỏi:
- Sao vậy?
- Gần đến rồi.
Dạt hiểu ý:
- Ổng đi Sài Gòn rồi.
- Ủa! Sao hôm qua, em nói ở trong này?
- Ổng đi đi về về liên tục mà. Dạt đẩy cánh cửa trước, tôi lại lồm cồm đổi chỗ ngồi. Trong lòng tôi chẳng một chút gợn nào của tội lỗi mà sao vẫn cứ có những hành vi như là thông đồng, lén lút với cô học trò cũ này vậy, tôi bỗng bực mình vì ý nghĩ ấy.
Trong ngôi nhà giữa vườn, tôi gặp lại người quen cũ là người làm và giữ vườn cho Dạt, chú Dương Bụi Đời.
- Ủa, chú Dương làm ở đây hả?
Người đàn ông ngẩng lên chào lại không mấy nhiệt tình, tôi đoán chú ấy chưa nhớ ra mình, mà nhớ sao nỗi, tôi mải đi học rồi xa làng hơn mấy chục năm rồi. Người đàn ông có tên Dương Bụi Đời vẫn ngồi chồm hổm trên bộ ván, hai chân kềm chéo cái bàn xắt thuốc lá, một ngón cái bạnh ra như bụng con dông móc đè lên trên, cái bàn xắt bằng gỗ có một lỗ tròn, tay trái chú cầm cuộn lá thuốc ấn vào lỗ, tay phải nhịp nhàng đưa lên hạ xuống, những lát thuốc tròn mỏng lăn ra chung quanh. Hết cuốn lá thuốc, chú Dương gom lại, xởi bung lên, chồm người sang bên lấy bình toong nước hớp một ngụm rồi thổi phù thật mạnh, nước túa đều như sương, đọng những hạt nhỏ li ti trên những sợi thuốc vàng nâu. Tôi xịch mông ngồi ghé lên bộ ván, mê mẩn nhìn những động tác nhuần nhuyễn của chú. Gói ém số thuốc lá mới xắt vào lá chuối rồi cẩn thận cho vào bịch ni- lon, dáng lụm cụm, lom khom, chú Dương lấy mảnh giấy pơ- luya kẹp thuốc, hai ngón tay vàng cháy vê vê. Bấy giờ tôi mới nghe mùi thuốc lá hăng hắc từ hai ngón cái bành bạnh, từ bịch thuốc mới xắt, từ xâu lá thuốc xỏ bằng cọng mây chuốc mỏng dính treo ngang sát trần nhà và nhìn lại một lượt hình dạng con người ấy: vẫn tóc dài bù xù, thẹo vắt đầy mặt, bụi đời đã tích lại thành mảng thành khối trên con người chú. Lúc quay mặt ra sân, tôi chợt có cảm giác như đôi mắt luôn nhìn cụp xuống của chú Dương vừa ngẩng lên nhìn xoáy vào mình, tôi quay lại nhưng chỉ còn bắt gặp sự bối rối của bàn tay đang vê vê điếu thuốc bằng cỡ ngón út. Tôi móc túi mời chú điếu thuốc Craven, chú cười khẩy bảo:
- Cám ơn! Tao coi thường thứ đó.
Tôi hơi phật lòng nhưng nhanh chóng bỏ qua vì nghĩ tính người già hay vậy. Nhớ khi xưa, bọn con nít chúng tôi hay bám đuôi theo trêu chọc chú: “Híp pi choai choai, lỗ … có dòi…” Đó là thời trước năm bảy lăm, ảnh hưởng của những nhận thức méo mó do học hỏi hẹp hòi lỏm bỏm triết học phương Tây, méo mó về Heidegger, về Nietzsche, … ngoài những người vào rừng tham gia kháng chiến, những người bị bắt lính quốc gia, số thanh niên nửa tỉnh nửa quê còn lại của làng tôi đua đòi để tóc dài, mặc quần ống loe, áo in hình chim cò, sống gấp, sống bạt mạng không lí tưởng, không mục đích. Ở làng tôi, lúc đó, chú Dương Bụi Đời vừa bỏ học từ Sài Gòn trở về và nhanh chóng trở thành đại ca trong giới anh chị này. Nghĩ lại thoáng đó mà đã gần ba chục năm, bọn con nít chúng tôi ngày đó giờ đã bị gọi là chú là bác huống chi là chú Dương, trách sao không lụm cụm, hom hem.
Hồ nuôi cá sấu rộng khoảng một sào chia làm hai ngăn, lưới sắt cao bằng đầu người, những sinh vật mình đầy gai, miệng dài toác hoác, đen trũi, lúc nhúc, những cặp mắt thao láo, không mí nhấp nhô trong lớp váng nâu; trên doi đất dài ngăn giữa hồ có vài con bằng cả sải tay nằm hẵn lên đang phơi nắng, miệng ngoác ra vàng chạch, rờn rợn. Chú Dương Bụi Đời giới thiệu với tôi về giống cá sấu xiêm này, giá mỗi con giống bằng bắp chân là cả triệu bạc .
- Nguồn thức ăn từ đâu? Tôi hỏi.
- Loại cá sấu xiêm ăn uống dễ lắm. Cá vụn từ mấy tay buôn cá, lòng heo, bò từ mấy lò mổ, họ chở vào tận nơi, tao nhận, ghi sổ, tới tháng bà chủ tính tiền với họ.
- Kế hoạch làm ăn thật hoàn hảo! Tôi khen rồi chợt hỏi:
- Ông chủ mới về Sài Gòn à?
- Không, ổng ở ngoài nhà.
Tôi quá đỗi ngạc nhiên nhưng liền nghĩ: Vợ chồng nhà này có chuyện lục đục, cơm không ngon, canh không ngọt, nếu tiếp tục hỏi thì quả là không tế nhị. Tôi chợt nhớ câu tục ngữ: “Đừng nhắc dây thòng lọng trong nhà người chết!” nên tự hứa với mình tránh nói đến điều này.
Buổi trưa ăn cơm ở rẫy, gọi là ăn cơm ở rẫy nhưng Dạt có mang theo mấy lon thịt hộp, một chai rượu Tây gọi là “cho ông Dương, bù những ngày nhọc nhằn”nên tôi nhìn chẳng có gì là “ăn cơm rẫy” như trong kí ức những ngày hè xa xưa theo má đi rẫy của tôi: chỉ mắm dưa thôi sao mà ngon miệng đến nhớ đời. Trong bữa ăn, tôi nhắc lại chuyện ngày xưa, thời ở miền quê chưa có điện, người ta thắp sáng chủ yếu bằng đèn dầu, chú Dương đi mua dầu lửa ởø quán gần nhà tôi, hôm đó, con gái bà chủ quán ấy thay má bán dầu, cái ống bơm bị hư, chú làm le với cô gái ngậm ống hút mạnh cho dầu chảy chiết từ thùng lớn ra, dầu lửa ọc sặc đầy mồm đầy bụng, mặt đỏ kè, mụn đỏ nổi đầy người phải đưa đi nhờ mấy ông bên quân y chích thuốc. Chú cười khặt khặt ba tiếng rồi ngừng. “Nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng… lắm… người ơi!” Chú lên giọng rè rè nhừa nhựa hát một câu ca sến thay cho lời nói. Tôi cười, Dạt vẫn quay người, mắt đang đăm chiêu không hề nghe những lời kể của tôi. Tôi nghĩ Dạt không tập trung vào bữa ăn, có lẽ chẳng biết ngon là gì, tôi định chỉ cho Dạt xem con chim chóc quạch đang sung sướng rung lông rung cánh ăn trái chùm bao trước cửa nhà, trái chùm bao có là cao lương mỹ vị gì đâu mà sao nó ăn ngon lành vậy, vì nó biết thưởng thức cuộc sống. Định vậy nhưng lại ngại bị đánh giá là kẻ lắm lời nên thôi; mua sắm nhiều thức ăn làm gì mà chỉ ăn cho qua bữa như thế, không bù cho ngày xưa chỉ cá khô nước mắm. Ăn cơm xong, tôi khen lấy lệ:
- Đời sống của em bây giờ cao cấp quá!
- Lương thầy bao nhiêu?
- Còm lắm!
- Còm là bao nhiêu?
- Chưa tới triệu
- À, sẵn đây em gửi thầy tiền học!
Tôi cầm sấp tiền, đếm giữ ba trăm ngàn, còn lại đưa cho Dạt. Dạt giãy nãy không cầm. Tôi ấn vào tay Dạt. Dạt nhìn xoáy vào mắt tôi:
- Em cho thầy nhiều nữa còn kịp, đáng xá gì mà thầy làm vậy.
_ Không được, thầy chỉ nhận đúng công của thầy.
- Như thế nào là đúng? Đúng theo kiểu đồng lương chết đói ấy à? Em không cho thầy, em trả đúng cho thầy phải là bấy nhiêu, thầy cứ nhận.
Cách ăn nói thẳng tuột và táo tợn của Dạt làm tôi nghĩ lại về cách nghĩ của mình. Ừ, Dạt nói vậy cũng phải. Tôi cười:
- Tính tình em vẫn không thay đổi.
Vậy mà việc trả tiền dạy thêm của Dạt đã như đánh trúng huyệt làm lòng tôi trở nên bất an. Tôi cảm thấy buồn rười rượi nhưng chẳng có gì rõ ràng. Lúc quay về lại làng xóm, ngồi trên xe, tôi cố rà soát lại hết mọi chuyện xem thử mình có sai lầm ở điểm nào không: Bắt đầu từ sự xuất hiện của Dạt ở nhà tôi…Cơn mưa bất chợt đến sớm hơn mọi năm đuổi phía sau, tôi cong người đạp, những giọt mưa không nặng nhưng quất căng vào mặt đau điếng, tôi gỡ mũ xuống che vội quyển giáo án đang giắt trên sườn chiếc xe sườn đầm. Tới trước ngõ nhà chợt tôi sựng lại vì thoáng thấy chiếc xe hơi màu cánh cam sang trọng đậu dưới tán xoài trước nhà. Tôi bước vào vừa phủi những giọt nước bám bàng bạc trên áo, vừa quan sát. Dạt trong nhà tôi ào ra:
- Thầy!
- Hôm nay ngày gì mà rồng đến nhà tôm vậy cà? Này, ngôi nhà của em làm cả cái huyện này loá mắt đó. Tôi vừa cười vừa gỡ cái kính cận trên mắt xuống.
- Đáng xá gì thầy ơi! Em sẽ còn xây cái lớn hơn.
- Lâu quá! Ghé thăm thầy hay có chuyện gì vậy em?
- Em ghé thăm thầy. Khoẻ hả thầy?
- Trừ những ngày bệnh, còn lại là khoẻ.
- Thầy vẫn hay đùa như ngày xưa.
- Nói xem việc gì? Đại gia buôn bán, làm ăn bận rộn như em thời gian là vàng bạc làm gì được rảnh rỗi vậy.
- Không dấu gì thầy: Em đến, trước thăm thầy, sau em định nhờ thầy giúp em học vi tính. Em mới mua cái máy mà không biết gì cả.
- Em học làm gì cho mệt? Mướn người làm không hay hơn sao.
- Không tin tưởng nổi thầy ơi! Bạc triệu, bạc tỉ sao dám nhắm mắt giao, em phải quản từ A đến Z còn chưa ăn thầy ơi.
- Dữ vậy à! Em làm ăn giỏi thật.
- Em định đi học nhưng không có thời gian, với lại mắc cỡ lắm.
- Thầy cũng bận, năm nay, bị tay hiệu phó chơi khăm phân thời khóa biểu chéo tiết, lại đang chuẩn bị thi học kỳ, sổ sách, học bạ…mệt nhoài.
- Thầy… Em không để thầy thiệt đâu mà…
Khi Dạt ngồi lên xe, tì má lên vô-lăn còn nháy mắt với ra:
- Em không để thầy thiệt đâu mà…
Mảnh kính đen từ từ đẩy lên che kín cửa xe. Tôi quay vào nhà, đầu óc trống rỗng. Đang bẻ tư dề mì tôm bỏ vào tô, tôi chợt nhớ ra: Hôm nay, mồng ba tháng ba âm lịch, ngày rắn ra khỏi hang. Tôi chế nước sôi tràn ra sàn nhà mới giật mình. Thật sự tôi chưa hiểu nổi tại sao mình lại có sự linh tính về một điều gì đó chưa rõ, nhưng chắc là có gì đây. Dạt là một học sinh cũ của tôi, học hành nổi bật, rất thông minh nhưng tính lầm lì, rim rim. Từ thời học sinh đã nổi tiếng đàn chị. Trong một lần cùng bạn bè đi lao động ở bìa rừng, Dạt đã xô ngã một bạn gái rồi khi đưa một tay đỡ bạn dậy, một tay kia giựt phăng sợi dây chuyền.
- Sao bạn giựt dây chuyền của mình?
- Tao không lấy!
- Bạn vừa giựt xong bỏ vào túi kia kìa.
- Túi nào? Đồ vô ơn, tao đỡ mày dậy mày còn đổ thừa hả? Mày còn nói đến chuyện này nữa, tao sẽ giết mày.
Bạn kia mặt mày tái mét. Ai chớ con Dạt dám làm mọi chuyện. Vì nỗi sợ hãi ấy mà câu chuyện trong rừng cho tới giờ này vẫn là một dấu hỏi với thầy cô, bạn bè, với ai quan tâm. Tốt nghiệp cấp ba thuộc loại giỏi, không thi đại học, Dạt ở nhà phụ cha mẹ được ba năm, một buổi sáng kia, Dạt tuyên bố nó phải là tỷ phú, bằng mọi giá nó phải là tỷ phú. Và Dạt đã bắt đầu kế hoạch táo bạo của mình.
Gia đình Dạt là nông dân đặc sệt, cả nhà quanh quẩn quanh năm với mấy sào thanh long chạy dọc suối Cám, gọi là suối Cám vì dòng nước chảy từ lòng núi Tà Cú xuống này mang nhiều mụn vàng non lấp lánh, vốc tay đưa lên khỏi mặt nước vàng nhanh chóng biến thành những mẩu gỉ đen đen, có người gọi là vàng non, có người gọi là vàng cám. Dạt có ba anh em: anh cả là Cồ, anh ba là Xô, chỉ có Dạt là con gái, lại là con gái út, được cha mẹ cưng chìu nhất nhà. Cha mẹ họ đặt tên con theo trình tự phân loại thanh long: hàng cồ cao giá nhất thường là hàng xuất khẩu, có khi lên tới cả trăm ngàn đồng một ký, tiếp tới là hàng xô, hàng sa cạ, mua nguyên vườn, không lựa chọn, cũng còn có giá để bán trong nội địa và cuối cùng là hàng dạt giá rẻ như cho. Khi đặt tên đứa con gái út như vậy, cha Dạt không chịu nhưng mẹ Dạt phang ngang:
- Đặt tên xấu dễ nuôi, không bị kẻ khuất mặt khuất mày quấy rầy.
Cha Dạt cả nghĩ: “Thôi cũng được, trái thanh long không chỉ giúp họ xoá đói giảm nghèo mà còn cho gia đình họ có được đời sống đầy đủ như ngày nay, chìu vợ chút cũng chẳng hề hấn gì.” Cha Dạt là một người chịu làm ăn, do phun thuốc cho thanh long mà rụng hết tóc, chứ trước kia nhìn tướng tá cũng cao ráo cân đối dễ coi, được cái ông ta ít nói nhưng nói là làm nên rất uy tín trong khu làng mới này.
Đầu tiên, Dạt mướn thợ sắt đến làm một ngôi nhà lồng cao lớn trước nhà cha mẹ mình. Việc thu mua thanh long trả sau cho nông dân là chuyện quá đơn giản với Dạt, bởi Dạt lấy danh nghĩa cha mình ra kinh doanh nên ai cũng tin. Ngay mẻ hàng đầu tiên Dạt thuê xe đi thẳng sang Trung Quốc, thân gái dặm trường đã là đáng nể, lại chưa từng ra khỏi làng, nay đùng cái thoắt lên xe đi qua biên giới, thật cái sự táo bạo của Dạt có một không hai trên đời. Chẳng hiểu cơ trời run rủi ra sao mà chuyện làm ăn của Dạt trót lọt, cô ấy về trả tiền đủ cho nông dân rồi tiếp tục thu mua. Cô ấy mà để cái bảng giá thu hàng “cồ, xô, dạt” viết bằng sơn đỏ ấy ở trước nhà thì mấy đại lý khác héo bụng héo dạ vì bảng giá bao giờ cũng cao hơn người ta một giá, nông dân mà, cao một giá đã là quá cao, không ai gọi mà hàng cứ ùn ùn dồn về chỗ cô ấy. Vậy là nước lã khuấy nên hồ, Dạt buôn tận gốc bán tận ngọn, một ký lời từ một đến hai ngàn đồng nhưng một ngày thu mua trên chục tấn thì số tiền lời quả là đáng kể. Dạt không dừng ở đó, ba tháng kể từ ngày tuyên bố, nó lại tuyên bố thêm một nội dung khác: lấy chồng. Chú rể trong đám cưới ấy là con trai út một thương gia giàu có ở Sài Gòn, là chủ của chiếc xe lạnh mà Dạt thuê chở hàng đi Trung Quốc.
Bây giờ Dạt đã là tỷ phú thật, cô học trò lầm lì, tính khí bạo liệt, từ hai bàn tay trắng nhờ có gan đã làm giàu một cách nghênh ngang, qua mặt hết những tay làm ăn máu mặt của khu vực. Nội kho lạnh rộng mênh mông với hệ thống làm lạnh rất hiện đại đã có giá gần tỷ bạc, khu nhà đất, vựa thanh long Dạt đang chủ sở hữu gần tỷ nữa, ba chiếc xe lạnh chở hàng hơn tỷ nữa, ngôi biệt thự cửa kính xanh như mắt mèo mới xây tám trăm triệu và cuối cùng là ba chục mẫu đất trong núi… Thấy Dạt lúc nào cũng hai tay hai máy điện thoại hết gọi đi lại trả lời, bận bịu tíu tít suốt ngày, tôi khuyên thật tâm:
- Em dừng bớt bớt lại, lo củng cố gia đình, củng cố sức khoẻ, thời bây giờ đồng tiền dễ làm con người mang chứng mù loà tinh thần lắm.
Dạt cười nửa miệng:
- Thầy bảo mù là sao? Thầy thấy em mù à? Có những điều người ta không muốn thấy chứ không mù đâu thầy ơi! Có tiền là có tất, sai khiến được tất.
Tôi hơi tự ái trong bụng nhưng vẫn cố bình thản:
- Ừ, thời bây giờ là vậy, nhưng cũng còn tùy người chớ em, dù sao có được cảm quan nhiều mặt về cuộc sống cũng tốt hơn. Em xây ba ngôi nhà mới không bằng có cách nhìn mới đúng đắn.
-Thầy lúc nào cũng sĩ, thầy không chịu năng động, ôm mãi cái sĩ ấy, cuối cùng chẳng ra sao. Em nói thầy đừng buồn: Với những kẻ chưa bao giờ lớn mạnh thì móc đâu ra hạnh phúc. Còn thầy bảo dừng là sao? Em đang khuếch trương thành công ty, em sẽ nối quan hệ với các cổ đông ở nước ngoài, ai có gan thì sống giàu có, tội gì. Thước đo của em là tiền, phương pháp sống của em là tiền, nhờ vậy mà như thầy thấy đó: bao nhiêu công làm, em nói một tiếng là răm rắp nghe theo, cả cán bộ kia em còn sai được nữa là. Đó không phải là sức mạnh sao? Em không phải khoe đâu, chuyện nhan nhãn ra trước mặt.
Tôi lắc đầu tỏ ý mọi chuyện vượt khỏi tầm suy nghĩ của mình. Thật sự lúc đó tôi cảm thấy những lời khuyên của mình trở nên ngớ ngẩn và sáo rỗng trước cô học trò cũ. Làm giàu và ước mơ làm giàu là chính đáng chứ, dù Dạt sống lạnh lùng coi thường tất cả, không tin gì cả nhưng được cái sòng phẳng, có khi đó là lối tư duy, lối sống hiện đại. Tôi cũng còn ngờ vực ở điểm này, tôi tin rằng thời đại mới có thể đem lại cho con người những phương tiện sống khác, nhưng chuyện nhân tình thế thái thì muôn đời vẫn vậy, hay là Dạt đã đi lệch đường mất rồi, nghĩ là thế nhưng lại cũng có lúc tôi ngờ vực chính mình, có lẽ mình đã quá cũ.
Theo lời hẹn, cứ bảy giờ tối thứ ba, năm, bảy, tôi đến nhà để dạy cho Dạt các thao tác sử dụng phần mềm ứng dụng words và excel. Mọi chuyện đã diễn ra êm xuôi cho tới giờ … Tôi thật sự yên tâm về công việc dạy thêm này. Dạt rất rộng rãi khi trả tiền công dạy làm cho đời sống của tôi dạo này cũng đỡ hẳn. Nhưng quả thật tiếp xúc với giới làm ăn chuyên nghiệp là chuyện bất đắc dĩ với tôi. Những buổi gặp gỡ Dạt bao giờ cũng để lại trong tôi những thắc mắc, những khó chịu gần như là sự dị ứng, tôi chẳng biết do mình bất thường hay do Dạt tính khí bất thường. Có lần Dạt hẹn tôi đến vào buổi xế trưa rồi dẫn tôi ra sau nhà để khoe dòng suối Cám “bất khả xâm phạm” chảy dọc theo khu vườn thanh long và cả những khu vườn khác, được rào bằng dây kẽm gai cao quá đầu người, bây giờ là sở hữu của Dạt, Dạt chỉ cho tôi những hạt vàng non trôi lấp lánh trong dòng nước, mắt Dạt chợt trở nên đắm chìm xa xôi, Dạt nói với tôi nhưng hình như chỉ để cho mình mình nghe:
- Đây là nơi tắm của em. Từ nhỏ, em đã mơ ước mình là chủ của một suối vàng, vàng thật, vàng ròng bốn số chín, chứ không phải thứ vàng cám này.
Dạt đưa tay hớt những mụn vàng non trên tay rồi dùng ngón cái và ngón trỏ se se cho nát vụn ra vẻ bực dọc rồi nói tiếp:
- Em ghiền tắm ở suối này lắm, ngày nào cũng vậy, vào những buổi trưa nắng, lúc vàng dưới suối lấp lánh nhất, em cởi hết quần áo nhào xuống ngâm mình, em lim dim mơ tưởng vàng đang thấm vào từng tế bào của mình, cả cơ thể mình sẽ là một khối vàng, tay chân em cũng là vàng, tim phổi em cũng là vàng... Buổi tối, vàng ánh lên trong từng giấc mơ của em…
Nói chưa dứt câu, Dạt đã nhảy ùm xuống suối như bị một lực hút ghê gớm, mạnh mẽ nào đó mà Dạt không thể nào cưỡng lại được. Dạt nằm ngữa dưới nước, nhắm nghiền mắt lại như quên mất sự có mặt của tôi. Nước dán chặt làn vải mỏng vào thân thể Dạt, tôi chợt đưa mắt đến những đường cong tròn mơn mởn, những chỗ mà lẽ ra tôi không được nhìn, điều ấy làm tôi xấu hổ, quay vội mặt sang hướng khác, còn Dạt chợt cười bùng lên cùng với cái nẫy người mạnh đến nỗi khi cơ thể Dạt rơi lại xuống nước, nước văng dựng lên thành một cột hình trụ nước trong suốt lấp lánh những mụn vàng non. Dạt cười to thích thú, tôi chẳng biết Dạt thích thú vì chọc ghẹo được tôi đỏ mặt hay vì dòng suối lấp lánh những hạt “vàng non” ấy. Lần khác, bước vào nhà Dạt, tôi chứng kiến một con người nào đó xa lạ đang hiện hữu qua thân xác cô ấy, những tia mắt mắt đang long lên, đỏ dọc, cô ấy đang nghiến răng rít qua điện thoại: “ Mày biết không, ai cản trở đường đi của tao tức đã hết muốn sống rồi đó. Mày biết tính tao chớ? Không nói nhiều!” Tôi đứng nghe mà không hiểu chuyện gì nhưng da gà cứ nổi rân khắp mình mẫy…
Non tháng, sau chuyến thăm rẫy ở thung lũng đá trắng, một buổi tối tôi đến dạy thêm cho Dạt như thường lệ thì thấy ngoài khu nhà lồng, nơi làm vựa thu mua thanh long, công nhân dồn góc, xầm xì, máy đóng thùng không có người làm, nguyên khu phân loại, rửa thuốc ngày thường đông đúc, thanh long chất như một khối núi đỏ, công nhân chuyện trò rôm rả, hôm nay, không một trái thanh long, sàn trống đến ngạc nhiên. Bước qua khu kho lạnh vào ngôi nhà cửa kính xanh như mắt mèo, tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy bên bàn trà một người đàn ông đầu trọc, chỉ còn vài sợi dài dán chặt xuống vùng tiền đình trống hoác và một người đàn ông béo trùng trục, bụng phệ, mỡ chảy lấp qua sợi nịt, trên cặp mắt là đôi lông mày thưa dài phủ ra một cách bất thường, cả hai người đều đang gục đầu trên hai bàn tay, một mập ú và một gân guốc. Tôi chào, hai ông nhổm người dậy chào lại và giới thiệu là ba của Thịnh, còn ông trọc đầu thì tôi đã biết là ba Dạt. Giờ này, tôi mới biết ông xã của Dạt tên Thịnh. Khi nghe tôi giới thiệu là thầy dạy vi tính cho Dạt, ông bụng phệ thở ra thườn thượt rồi vội ngồi xuống, có lẽ có người nào đó ông ta đang chờ đợi không phải là tôi. Mặt ông trở lại căng thẳng, ông nói giật từng tiếng:
- Tưởng có tin! Thằng Thịnh nhà tôi đột ngột mất tích, công an mời con Dạt từ sáng, để làm rõ.
Tôi ngạc nhiên quá đỗi nên lần dò hỏi thăm, ông già càng lúc càng nóng ruột, ông nói:
- Lửa đang thiêu đốt tôi, tôi chỉ có mình nó, nó có bề nào làm sao tôi sống nổi.
Chẳng biết sao tôi linh tính có điều chẳng lành cho thằng Thịnh nên dàn xếp công việc vội vã ra thăm con, mà có thăm được đâu. Đến nhà thì nó bảo thằng Thịnh trong rẫy, đến rẫy, nó bảo thằng Thịnh đi hàng sang Trung Quốc, điện thoại mãi không được, thấy ba chiếc xe đang ở nhà tôi càng sinh nghi, nghi gì cũng chẳng biết nhưng nghi lắm. Tôi điện sang hỏi bên Trung Quốc, chủ ăn hàng nói cả ba tháng nay chỉ liên lạc với Dạt và người tài xế chạy công cho Dạt. Tôi tìm anh tài hỏi thì được xác nhận đúng như vậy, anh ta cứ nghĩ Thịnh đang lo công việc trong rẫy…
Nghe chuyện, chợt trong đầu tôi vang lên câu nói mớ của thằng bé:
- Thin! Thin đâu rồi! Hỏng biết, thường… bắt thường đó, trả Thin lại đây!
Tôi liên tưởng tên Thịnh phát âm gần giống Thin, chẳng biết có mối quan hệ nào trong chuyện này không. Một phần nữa trong mối liên tưởng của tôi là câu trả lời của chú Dương Bụi Đời quản vườn cây và hồ cá sấu trong thung lũng Đá Trắng. Tôi buột miệng hỏi thằng bé đang đứng giữa hai bắp chân ông nội:_ Bé! Đồ chơi sinh học của con đâu? Thằng bé móc trong túi ra một cái máy màu xanh lớn hơn nắm tay một chút, các nút phím màu vàng, nó bấm rành rẽ bằng cả hai ngón cái rồi nói:_ Thin nhát lắm, nó sợ. _ Con gọi ba Thịnh là gì?_ Ba Thịnh là Thin của con. _ Sao lại gọi vậy? Ba Thịnh bò cho con cởi, ba chu mỏ thành mỏ chim, ba uốn mình làm thân cá heo… Tôi bần thần cả người, sự liên tưởng làm tôi bàng hoàng. Vậy hoá ra Thịnh mất tích trước ngày tôi đến dạy vi tính cho Dạt. Hèn nào cô ấy cứ úp úp mở mở trong lời nói nhưng cố đóng thái độ tỉnh bơ mỗi khi nhắc tới chồng. Nhưng dẫu là như vậy thì chuyện gì xảy ra? Chợt đập vào mắt tôi những dấu trầy xước kèm những giọt nước trà vàng nâu tung toé trên bức tường mới, vậy là có những cuộc cãi vã đã xảy ra ở đây. Thằng bé liếc theo mắt tôi, nó chợt nói: “ Đó là những con nhện”. Tôi cố cười, ôm nó vào lòng, tôi hôn lên trí tưởng tượng trẻ con của nó. Tôi lại nhìn xuống nền nhà: một tấm gạch bốn mươi vuông phủ men đá có vết nứt do một vật nặng bị ném xuống, chỗ vết toác thành một dấu hoa thị lớn và những dấu hoa thị nhỏ chung quanh đã cũ mèm một phần do bụi dơ bám vào, khó mà lau sạch. Tôi hỏi nó : “Vậy đây là con gì?” Nó nói: “ Cũng là nhện nhưng là nhện sa mạc, nhện khổng lồ”. Trong trí tưởng tượng của tôi thì đó là dấu vết của một thái độ, của sự bất đồng, của phản ứng và hằn học, tuy vậy tôi vẫn cười với thằng bé.
Sau khi ông già đầu trọc xin phép về, (ông ngồi đây từ sáng, giờ đã thấm mệt), tôi nói với ba Thịnh những phán đoán về mốc thời gian mất tích của Thịnh, ông gật đầu liên tục ra vẻ nghĩ ngợi. Tôi đột ngột nhớ đến khu rẫy mênh mông, hoang vắng nên hỏi:_ Khu rẫy trong núi là của vợ chồng Thịnh mua à?_ Tôi mua cho hai đứa nó đó chớ, nói thật với thầy, tôi tên Hành, thời kháng chiến chống Mỹ, tôi nằm ở “mũi công tác” bám trụ khu vực này, đất đai ở đây tôi thuộc như lòng bàn tay mình… Ông dừng lại chế thêm nước từ chiếc phích vào bình trà. Mắt ông có vẻ đăm đắm xa xôi, ông nhắc đi nhắc lại ba lần câu “ Tôi tin thầy mới kể” rồi ông thong thả tiết lộ những bí ẩn quanh khu rẫy trong thung lũng Đá Trắng mà ông bằng mọi cách phải sở hữu:
… “ Một ngày tháng 4, 1975, khoảng gần đứng bóng, Hành được phân công của “mũi công tác” Nam Bình Thuận cùng nhóm du kích địa phương tiếp quản đồn hải quân trên núi Nghĩa. Đồn trống hoác, những kẻ chiến bại đã cao bay xa chạy từ lúc nào, những chiếc mũ hải quân lăn lóc, giấy má bay tứ tung. Trong khi nhóm du kích đang thồn mớ thịt hộp, rượu Tây và những chiến lợi phẩm khác vào ba lô, Hành cẩn thận dạo một vòng quanh đồn, chẳng động tỉnh gì, anh quay vào. Thật sự anh cảm thấy mệt mỏi khi nhớ đến trận chiến khi sáng dưới ngã ba, gọi là trận chiến cũng không đúng, nhưng anh cũng chẳng biết gọi nó là gì. Có một túi vàng khoảng mười lăm hai chục kí gì đó, vì mang trong người túi vàng ấy mà gã sĩ quan cảnh sát áo trắng ấy phóng chiếc Honda 67 như bay trên quốc lộ I A, người vợ ngồi phía sau té xuống đường, gã cũng không hề hay biết (chi tiết này tôi nghe kể lại). Thế rồi gã quẹo ngã ba định chạy theo đường Bình Tuy, băng ngang Xuyên Mộc ra bãi biển Vũng Tàu. Giờ chết của gã đã điểm, một nhóm tàn quân chặn xe gã ở ngay ngã ba Ba Tuy, một tên mặt đỏ kè nghênh ngang dùng dao găm rạch phẹt một đường dọc yên xe, hắn phát hiện ra túi vàng rồi vừa cười ha hả vừa xả nửa băng R.16 vào gã sĩ quan xấu số. Ngay lúc ấy, một tiếng súng lục đanh mạnh vì tên lính rằn ri khác đứng quá gần đột ngột dí súng bắn vào đầu tên mặt đỏ, óc phọt ra một đường trắng hếu, túi vàng và khẩu R.16 ngã ầm theo người hắn. Cứ thế hết người này đến người khác, cứ vừa cầm lấy túi vàng là ngã gục, xác chết chồng lên nhau ở ngã ba, máu đỏ, óc trắng hoà lẫn, phọt bắn ra khắp nơi, những đoàn tàn quân rùng rùng lê bước về phía Nam bị đốn ngã ở ngã ba này rất nhiều. Lúc ấy, mũi công tác của Hành vượt qua kẽ đá Kẹt Cưa xuống chặn đánh những toán địch còn mang vũ khí ở ngay chỗ quẹo thắt cổ chai hiểm yếu này, khi mai phục, họ đã chứng kiến tận mắt từ đầu mọi chuyện. Mũi trưởng của họ quyết định chấm dứt cái trò cười ra nước mắt này nên ra lệnh cả mũi công tác vừa bắn chỉ thiên vừa hô xung phong. Tàn quân đè dẫm lên nhau chạy đùn vềâ hướng biển, súng ống quân phục, ba lô quăng tung ra hai bên đường. Mũi công tác thu nhặt súng ống, còn túi vàng biến mất một cách kì lạ, không để lại dấu vết gì… Hành đang miên man nhớ lại chuyện khi sáng, Hành cũng hơi tiếc: “Chẳng lẽ kết thúc chiến tranh rồi mà mình không thủ được gì sao. Hành hình dung cảnh mình tay trắng quay về cuộc đời thường dân, túi vàng khi sáng cứ chập chờn trước mắt, Hành không để ý đến mảnh giấy vương dưới bàn chân, đến khi đứng dậy, tờ giấy lật ngữa ra, anh lơ đễnh đọc: “Hồ sơ A. 58/ HQ VNCH…”. Tò mò anh đọc sang phần nội dung rồi bò người trên đống giấy đang lả tả bay ấy mà gom hết những tờ hồ sơ cùng mã số. Bộ hồ sơ được bí mật nhét dưới ba lô, Hành nghĩ trong bụng: “ Vậy là bọn này nhận lệnh tháo chạy không kịp hủy hết các hồ sơ mật.”
Đó là hồ sơ về vụ chiếc trực thăng đang bay qua núi Đá Trắng thì đâm xuống nổ tung một cách bí ẩn. Theo kết quả ghi nhận của các chuyên gia người Mỹ thì núi Đá Trắng chứa bên trong một khối đá khổng lồ mang từ tính làm cho máy bay bị mất phương hướng và rối loạn một số bộ phận. Hành nghĩ đây chính là “kho vàng” khổng lồ mà chỉ có mình anh ta là người còn lại duy nhất ở đây nắm giữ bí mật, (có lẽ đây là mỏ khoáng sản có một không hai trên đất nước hình chữ S này). Đầu óc nhạy bén và sỏi đời của anh ta liền vạch ra một kế hoạch khai thác âm thầm về sau. Mải bươn chải với những công việc làm ăn trước mắt ở Sài Gòn, Hành tạm gác kế hoạch lớn ấy lại, tuy vẫn âm thầm nghiên cứu về giá trị của đá từ tính: từ trong các loại công nghệ điện tử đến các phương pháp trị liệu trong y học. Đột nhiên một hôm, Thịnh đi chở hàng thuê từ Trung Quốc trở về nói với cha mình “sẽ lấy vợ”. Khi hỏi ra chỗ ở, lai lịch của Dạt, kế hoạch khai thác mỏ đá mang từ tính lại cháy hừng lên trong đầu, Hành vội vàng hối thúc con trai: “Cưới vợ thì cưới liền tay…”. Hành nghĩ thật trong bụng: “ Đây là cơ hội, khi con trai ta có vợ ở đó thì việc sở hữu khu đất nói trên chỉ là vấn đề thời gian”. Chính vì vậy mà mọi chuyện mới dẫn đến ngày hôm nay. Khi mua được toàn bộ ba chục mẫu đất dưới chân núi, Hành nóng ruột cho khai thác mẻ đầu tiên, khi chiếc xe ủi cào qua lớp đất mỏng, mỏ đá liền hiện ra: những viên đá hình trụ lục giác, bát giác bám vào nhau thành từng dề, từng khối lấp lánh, Hành mừng khấp khởi nhào tới ôm một khối đá lóng lánh sáng trưng ấy vào lòng suýt soa nhưng khi nhìn kỹ thì sự thất vọng làm khuôn mặt Hành nhanh chóng héo xèo, hoá ra đó chỉ là đá thạch anh trắng, cả khối lớn thì từ tính mạnh nhưng nếu tách ra từng tảng nhỏ lẻ thì từ tính rất yếu. Giấc mơ sở hữu mỏ đá nam châm không lồ đã tan biến nhanh chóng. Hành chở mấy xe thạch anh về Sài Gòn chỉ hòng vớt vát phần nào chi phí, đi hỏi han, mời chào khắp nơi, cuối cùng thì có chỗ chịu mua nó để luyện gang, giá chẳng ra gì. Thất vọng, Hành giao hẳn cho con trai biến khu đất thành nông trại trồng xà cừ và nuôi cá sấu. Giấc mộng một thời làm say cả người ấy được chôn vùi vĩnh viễn.”… Ông già bụng phệ kể tới đó thì thở ra thườn thượt, tựa bao thứ ngán ngẩm chất chứa được dịp duy nhất này mà xì ra, trút nhẹ.
Sáng hôm sau, tôi không có tiết dạy, giữ đúng lời hứa với ba chồng của Dạt, tôi đến uống trà. Dạt đã về từ đêm qua, để nguyên bộ đồ ngủ mỏng dính, Dạt bước qua phòng khách vào nhà vệ sinh, khẽ gật chào tôi khi ngang qua. Tôi vội quay đi trong ánh mắt soi mói của ông già, tôi đọc thấy sự mệt mỏi, bất chấp và khiêu khích của Dạt, dường như dáng vẻ ấy như muốn nói:_ Ai làm gì được tôi! Khi Dạt vệ sinh buổi sáng xong, thay bộ đồ dày dặn hơn ra ngồi bó gối trên sa-long. Tôi thấy mình phải chứng tỏ mình là thầy của Dạt, ít ra là cũng phá tan sự nghi ngờ của ông già và tôi cũng linh cảm có điều gì còn hơn sự đổ vỡ bình thường đang diễn ra trong nhà này, tôi buộc miệng lặp lại lời khuyên ngày nào rồi kể thêm câu chuyện tôi nhớ đã đọc ở đâu đó: “ Con người ta, mỗi người là một thế giới riêng nhưng có cùng một ước mơ là sống hạnh phúc, tuy nhiên giàu có chưa hẳn là đạt được điều đó. Ví như hai vợ chồng ngư phủ nọ sống ở ven biển nghèo khổ, đêm đêm vợ chồng thường thủ thỉ với nhau ước mơ được nhiều tiền. Bữa nọ, anh chồng gỡ được trong lưới của mình một con trai, về mổ ra, họ sửng sốt thấy viên ngọc trai thật lớn. Họ mang lên phố, những người săn ngọc trai bu quanh, giá trả lên đến ngàn vạn đồng. Anh chồng sợ bán hớ nên gói lại mang về. Đêm này sang đêm nọ, hai vợ chồng thao thức canh giữ viên ngọc, anh chồng vác dao đi quanh nhà cảû đêm, nghe tiếng gió đập phên cũng ngỡ là trộm rình, mắt của hai vợ chồng lúc nào cũng thất sắc, dáo dác. Chị vợ quá mệt mỏi nói: “- Bán quách đi!” Anh chồng vẫn khư khư sợ bán hớ, thế rồi tiếng chì tiếng bấc qua lại, cơm không ngon, canh không ngọt. Hục hặc, bất đồng làm họ không nhìn mặt nhau được nữa, người vợ gói quần áo định bỏ đi, anh chồng biết chuyện lòng chợt đau đớn, nước mắt ròng ròng. Sáng sớm, sau một đêm vợ chồng ôm nhau khóc, họ lẳng lặng ra biển, anh chồng lấy trớn ném thật mạnh viên ngọc ra biển… Em cũng phải nhìn đó mà…” Câu nói của tôi chưa kịp dứt thì không ngờ Dạt nổi cơn thịnh nộ đuổi tôi ra khỏi nhà như tôi đã kể phần đầu truyện.
Gần năm trôi qua, thắc mắc về sự mất tích bí hiểm của Thịnh chỉ được công an địa phương đáp gọn:“không thấy tung tích, chắc là bỏ đi làm ăn xa”. Mọi việc rơi vào im lặng, ông già bụng phệ đi gõ cửa khắp nơi nhưng đâu cũng chỉ nhận được những câu an ủi giống nhau, thương nhớ con ông héo hắt dần, rồi trong một đêm nọ bỗng đột tử đầu gục xuống mặt bàn trà. Tôi lại phải vùi đầu trong bài vở giáo án của cái nghiệp phấn bảng. Chợt sáng nay, trong giờ giải lao giữa hai tiết dạy, một đồng nghiệp đưa tôi tờ báo, tôi đọc thấy dòng tít lớn: “Những người khiến bộ xương lên tiếng”. Tôi đọc mà không tin vào mắt mình nữa, có chuyện tày trời như vậy mà tôi không hề hay biết:“…Tình trạng của bộ xương đã mục nát tương đối, có khá nhiều mảnh vỡ do nằm lâu ngày dưới hồ nuôi cá sấu. Tuy nhiên, phần còn lại của bộ xương cũng đủ để các giám định viên nghiên cứu, xác định giới tính, chiều cao, tổn thương trên xương. Họ đã tìm thấy tổn thương nứt vỡ xương sọ ở vùng đỉnh đầu. Đây là vết nứt xương do tác động ngoại lực dẫn đến chấn thương sọ não khiến nạn nhân tử vong… Tên Lê Dương, tức Dương Bụi Đời, người giết thuê đã thú tội trước cơ quan pháp luật. Vợ của nạn nhân, Nguyễn Thị Dạt, chủ mưu sát nhân đã trầm mình tự vẫn ngay dòng suối Cám sau nhà” Lưới trời lồng lộng thật! Nghĩ vậy nhưng khi nhìn về hướng ngôi nhà của Dạt, ngôi nhà có hai ô cửa lắp kính màu xanh nửa như ve chai, nửa như mắt mèo ở tầng hai đó, ngôi nhà mù bên dòng suối Cám, biểu tượng của cuộc sống thiếu vắng niềm tin, của chứng mù tinh thần ấy, tôi cảm thấy nỗi lo ngại, xót xa dâng lên nghẹn ngào. Tôi nhớ lại những trực giác, những linh tính của mình từ ngày còn vào ra nhà Dạt mà ớn lạnh xương sống. Trước mắt tôi luôn hiện lên hình ảnh thằng bé lúc nào cũng bấm bấm hai ngón tay như động tác của một người đóng kịch câm. Tiếng Dạt còn văng vẳng bên tai: “…tay chân em cũng là vàng, tim phổi em cũng là vàng”. Tôi vội rảo bước vào phòng học, trong lòng tôi chợt khao khát muốn nói lên nỗi lo càng lúc càng chiếm choáng đầu óc tôi, chiếm ngập trong tâm trí, muốn gióng thành hồi chuông báo động riết róng với những học trò thương yêu của mình. Lần đầu tiên tôi phát hiện khi cầm viên phấn các ngón tay tôi run run, run run gẫy gập, run run bức xúc.


Thị trấn Thuận Nam 3/ 2005




NGUYỄN HIỆP


© Cấm trích đăng lại nếu không được sự đồng ý của tác giả .




TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC