Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





NGƯỜI NĂNG ĐỘNG






Trời chạng vạng thì ông Tùy xách cái đèn măng sông về tới nhà. Mặt ông đỏ phừng phừng. Hơi men chếnh choáng. Cẩn thận ông đứng lên mặt bàn treo đèn vào cái móc sắt trên bàn thờ. Ông lẩm nhẩm nhếch mép cười: “Đây là cần câu cơm của ta. Cái di – vu – et này mà vỡ thì ...hì...hì” ý ông muốn tâm đắc cái dịch vụ ánh sáng mà ông thường dạy các con mỗi khi nhắc chúng làm ăn.

Treo đèn xong chắc mẩm đã cẩn thận rồi, ông đi ngang buồng bên cạnh, lấy trong túi xách ra ngòi xôi  gấc và khoanh giò lụa để vào đĩa bưng đến trước mặt cụ thân sinh ra ông.

- Ông ơi con mang quà về biếu ông đây! Ông kính cẩn đưa tận tay bố già. Cụ cố Đông đã ngoài 80 tuổi đưa đôi tay xương xẩu, đón gói xôi. Cảm động cụ nói giọng run run phều phào:

- Để dành phần các cháu...chứ dành hết cho ông à?

- Vẽ, chúng nó khỏe, ăn cơm rau cũng hết veo. Ông chẳng còn sống được bao lâu nữa. Ông xơi đi xôi ngon lắm ông ạ.

Tiết trời đã dịu mà ông vẫn cảm thấy oi bức khó chịu. Ông cởi phăng cái áo sơ mi màu gạch cua, vắt vào tràng kỷ rồi lăn ra giường làm một giấc.

Vợ con đi làm về lay gọi mãi ông cũng chẳng dậy. Tính ông vẫn thế. Cứ đi ăn uống ở đâu về là ngủ mê mệt. Nằm xuống là gáy như kéo gỗ vang cả nhà.

Ở làng Sọ này, ông Tùy là người không ngoan. Chẳng thế mà ngoài năm mươi tuổi mà ông không quắt cả người. Ông có dáng hình nhỏ, tay dài như tay vượn, gầy guộc nhưng đầu to, trán rộng, mắt sâu, hàm bạnh ra đúng mặt chữ điền.

Ông Tùy có hai con trai và một con gái đầu đã ngoài hai mươi tuổi. Vợ ông là người đàn bà khỏe mạnh. Ngoài năm mươi tuổi nhưng sức vóc của bà còn vâm, da đỏ au ăn trầu thuốc đến mức môi đỏ quạch, bẹ ra cặn bã trầu. Đứng bên cạnh bà người ta ngửi thấy mùi hăng hắc cay cay.

Bà chỉ biết đồng ruộng, tính nết tuệch toạc. Trái lại các con thì khôn lanh như bố, ở cái vùng thôn quê này, trẻ con học xong cấp hai là theo đít trâu. Rất ít cháu theo lên cấp ba, hay đại học. Ruộng đất có hạn, nghề phụ cũng không thành ra bí không có tiền. Từ ngày khoán quản, nông dân thu nhập có cao hơn thì những hủ tục cũ được phục hồi. Nhất là việc cưới xin ma chay, dựng nhà, mừng thọ được dịp trỗi dậy. Nhiều người khôn ngoan đi trước thiên hạ sắm dài cassets, lao thùng, phông bạt cho thuê, cũng có đồng ra đồng vào.

Ông Tùy vốn là người năng động. Ông ngồi bóp trán suy nghĩ. Ông ra Hà Nội xem giá cả rồi về bán quách năm nồi thóc sắm cái đèn măng sông Trung Quốc ở miền quê thôn dã này không có điện. Mà đám cưới, đám ma cần ánh sáng. Thế là ông cho thuê đèn măng sông mỗi tối mười ngàn đồng. Nhà ai có việc đến hỏi thuê, ông lại xách đèn đến. Thanh niên trong làng gọi ông là Công ty di – vu – a – et ( D.V.A.S). Ông khoái trí lắm. Mà quả là đúng như thế. Cỗ bàn muốn to thế nào mặc, nhưng thiếu ánh sáng là không ổn, cứ tù mà còn ra đếch gì? Cho nên,  đèn măng sông của ông đắt đám nhất. Có lẽ ông có thề hướng dẫn qua cách sử dụng là được. Nhưng vốn tính cẩn thận, lại để họ xách đi thì ăn gì? Chi bằng cả người chủ đi theo vẫn hơn (lấy cớ là kỹ thuật ánh sáng). Bởi thế, đám cưới, đám ma nào thuê, ít nhất cũng từ chiều hôm trước đến sáng hôm sau, vị chi là ông được xơi ba bữa thịnh soạn. Lúc thì ông ngồi với mấy tay cho thuê loa đài cát sét. Lúc thì ông ngồi với mấy tay gia nhân trong nhà. Sáng hôm sau còn chén say túy lúy mới sách đèn về. Tiền bỏ túi lại có quà biếu lạng chè, bao thuốc lá thơm. Tối hôm qua có đmá cưới nhà tay Hay có con trai đi Đức về. Nó giầu mà bẩn như chó, đối xử tồi. Hay bố trí cho ông ngòi ăn chung với mấy tay trẻ ranh dựng  giạp. Các mâm thì sang trọng bầy toàn thịt gà, giò lụa, xôi gấc đầy tú hụ. Còn mâm của ông chỉ có hai đĩa thịt lợn với đĩa cổ cánh gà. Mày đã đối xử thế thì ông đối xử lại. Đời người mà như cái gương soi, khinh người người cũng chằng coi ra gì. Bọn gia nhân lấy thêm đĩa giò lụa, đĩa thịt gà để tiếp mâm khách sang, mừng toàn những phong bì dày cộp. Ông nhìn thật ngứa mắt. Vừa lúc đó ,một bà lão ăn mày đi vào đang run rảy,ngơ ngác mà chẳng có ai đoái hoài .Ông bèn đi thẳng vào đoảng cỗ lấy một đĩa xôi và đĩa thịt gà bưng ra cho bà lão: “Cụ xơi đi !”. Bà cụ xụp xuống vái lạy nhìn ông bằng đôi mắt kèm nhèm tỏ vẻ cảm ơn.   

Tay Hay và mấy người nhà nhìn thấy nhưng chẳng dám nói gì. Hắn cười tỏ vẻ thương người. Nụ cười kẻ cả ban ơn nở gượng trên gương mặt to bè. Ông chúa ghét những người như thế.  

   Khi xong công việc chủ nhà giữ ông ở lại đánh chén hạ rạp. Hắn chuốc ông say túy lúy và biếu ông gói xôi làm quà, lúc đi về qua chợ Yên ông mua thêm khoanh giò lụa biếu bố. Đối với ông cha mẹ bao giờ cũng thiêng liêng. Cụ cố phải nâng giấc, ông rất chu đáo. Đi đâu về bao giờ ông cũng có quà biếu cụ cố Đông. Dân làng ai cũng khen ông Tùy là người con hiếu thảo.

  Ông vỗ đùi tự hào:

-  Cha cần con cái đức nhân. Giầu sang mà không coi cha mẹ ra gì, khinh người bằng nửa con mắt thì vứt mẹ cái giầu, cái sang ấy đi !

   Từ ngày sắm được cái đèn măng sông, ông Tùy vào cầu. Công to, việc lớn khắp làng Mơ, làng Đoài, Khê Ngoại ai cũng thuê đèn của ông. Thành ra không tháng nào ông không có tiền tiêu và đánh chén ba bốn bữa, say khướt cò bợ. Mặt mũi ông lúc nào cũng đỏ phừng phừng. Dĩ nhiên là cụ cố Đông cũng thường xuyên có quà biếu. Tính đến nay ông cũng thu được thừa vốn bỏ ra rồi. Vợ con ông Tùy rất phấn khởi chăm chú vào đồng ruộng. Còn ông thì ở hẳn nhà chăm sóc bố già. Nếu ai đến thuê thì ông lại xách đèn đi.

   Nhưng rồi thủy điện Hòa Bình hoàn thành, quê ông có điện dùng thừa thãi, thành ra cái đèn măng sông kia trở thành vô dụng. Ông treo cái đèn trên bàn thờ đến ba bốn tháng chẳng nhắc xuống vì không có ai thuê. Một hôm nghĩ tiếc của, ông bèn đem xuống lấy dẻ lau chùi, cái đèn lại sáng choang như mới. Ông sai thằng con trai cả đem cái đèn này lên miền núi, nơi chưa có điện bán lại để kiếm ít tiền. Ông dặn :”Phải hướng dẫn bảo họ mua đèn để cho thuê như mình, để họ thấy lợi ta mới bán được”. Quả đúng như vậy, thằng cả đi Hà Giang bán được cái đèn ngon ơ. Nó lại thông minh đem về mấy tạ măng lưỡi lợn bán Tết. Thành ra ông ăn cả hai chiều.

Ông lại bóp trán suy nghĩ. Thao thức mấy đêm liền mắt ông sâu hoắm như người ốm. Bỗng ông cười tủm tỉm-Chà!Chà! Tuyệt! Tuyệt!...Ông reo lên làm vợ ngơ ngác chẳng hiểu ông nghĩ gì ? Ông nheo nheo mắt nhìn ra ngoài vẻ mơ màng. Đầu ông gật gù tâm đắc. Bí số ông đã giải ra. Đám thứ nhà ai chẳng cần chỗ ngồi ? Thường là phải đi mượn bàn ghế ở trường học, mượn trong xóm thì lôm côm nhiều loại mà phiền phức. Thế rồi khi đem trả , lại phải lạng chè Thái, bao thuốc quá tội ? Nghĩ vậy ,ông sắm hai cái bạt thật to và chặt bốn cây bạch đàn xuống đóng bàn ghế.  Nhà ông biến thành xưởng mộc. Chỉ tám ngày sau , ông đã có mười bộ bàn ghế cho thuê. Mỗi lần thuê bạt  giá hai mươi ngàn đồng. Thuê bàn ghế hai mươi ngàn. Như vậy, tiền có rủng rỉnh đấy nhưng vẫn thiệt. Chẳng lẽ cho thuê bàn ghế, bạt che, ông lại đi theo để đánh chén à ?

  Mười bộ bàn ghế đã đóng chốt, ông bảo thợ mộc tháo ra đánh số cẩn thận, khi dùng thì lắp lại có đinh vít, bulong bắt chốt chặt. Như vậy khi mang bàn ghế cho thuê, chuyên chở đồ đỡ cồng kềnh mà chù hàng cũng phải đi theo để lắp ráp. Vừa được đánh chén bữa đầu hôm, vừa bảo quản được vật dùng, hôm sau lại được ăn bữa hạ rạp, chủ hàng phải đến tháo rời bàn ghế và nhận tiền luôn. Dự định của ông quả không sai.

  Nhưng rồi khi ông Tùy đã thu xong tiền vốn mua bạt, đóng bàn ghế thì bên làng Đoài, tay Hay có con đi Đức về lắm vốn, hắn đóng toàn loại bàn rộng sơn trắng cho thuê giá rẻ. Hắn lại cho thuê luôn cả phông dù, vải bạt chén đĩa đẹp, có micro bằng sóng từ không phải dây lại có cả Karaoke, đầu Video đa hệ. Đã đầy đủ như thế tay Hay lại hạ giá xuống, khi cho thuê không cần đi theo để ăn cỗ. Thành ra ông Tùy bị ế.

  Thời buổi kinh tế thị trường làm ăn khó thật.Nhưng cái khó lại ló cái khôn ? Mắt ông sáng vụt bởi một ý hay vừa lóe trong đầu – Okê ! Không hiểu ông học ở đâu được cái tiếng Mỹ lơ lớ ấy. Ông tức tốc đi Gia Lâm mua hai hộp quả sơn son thiếp vàng dùng để dẫn cưới cho thuê. Ông lại ra Hàng Trống – Hà Nội đặt một loạt áo dài đẹp mầu lam để bán cho các bà vãi đi chùa. Lúc đầu ông mua về ba chiếc làm mẫu. Không biết ông mồi chài thế nào mà ai cũng gửi tiền nhờ ông mua giúp. Thế là , cả làng Đoài , làng Mơ đến hơn một trăm cụ bà đều mua áo dài của ông Tùy. Tính ra số lời không phải nhỏ. Hôm ấy, sau khi bán hết số áo ấy, ông dành một chiếc tặng bà vợ. Ông cởi mở :”Đây là số dư, cứ cắt bốn chiếc thì được một. Bà nó mặc vào hì... hì... thì hết ý”. Bà vợ ông tủm tỉm cười, có ông chồng giỏi nghĩ, giỏi làm nên vợ con ông mát mặt chứ đâu cứ phải phơ mặt ngoài đồng mới là giúp đỡ vợ con.

  Một hôm ông Tùy bảo với cô con gái:” Bây giờ bố cho con ra văn phòng Tâm Giao ở báo Phụ Nữ Hà Nội để học lớp trang điểm cô dâu và học làm đầu phi-dê, công việc ấy bây giờ là ăn khách nhất con ạ. Tội gì mà dãi dầu nắng mưa.” Cô con gái bằng lòng cảm ơn bố.  

Ông bán quách hai con lợn tạ đóng một tủ kính mua năm bộ quần áo cô dâu và một bộ đồ làm các kiều đầu. Ông lại xây một nhà hàng ở trung tâm xã. Cô con gái cũng học nghề xong. Sáng sáng cô ra nhà hàng làm đầu. Có ai mời đi trang điểm cô dâu, cô đánh phấn tô môi, bôi mắt xanh, cô phóng Cup vù đi ngay. Tiếng vang cả vùng. Nhà ông Tùy hái ra tiền. Của nả cứ ùm ùm kéo đến ...

  Nhưng rồi con gái ông đi lấy chồng. Đất nước mở cửa phải làm ăn lớn mới có được. Những thằng tham nhũng có nhà lầu xe hơi thì không nói làm gì. Nhìn những tay choai choai biết làm ăn do kinh doanh mà có , ông kính phục lắm. Thằng Thành toét trước kia chỉ đi buôn sắn khô mà nay có ôtô, tiền của đếm bằng cây, bằng thước. Tay Dụ chăn vịt, nay có ba biệt thự . Mình cũng là người, tại sao lại  không làm được ?

  Nghe đài báo thấy chăn nuôi gà công nghiệp có lãi. Thế là ông bắt tay vào làm thử . Ông sang trại gà Nguyên Khánh mua một trăm con gà giống loại Hibro có bộ lông mầu trắng, ông liên hệ thẳng với xí nghiệp hướng dẫn kỹ thuật. Thấy ông nhiệt tình, ông giám đốc rất khoái. Ông ta cười hề hề phô ra chiếc răng bàn cuốc to sù:

-  Bác sẽ cộng tác với chúng tôi để làm ăn lâu dài.

  Khi tiễn ông Tùy xuống cầu thang, giám đốc Dự còn đưa vào tận tay ông cuốn sách hướng dẫn nuôi gà trong gia đình.

- Chúc ông thành công !

 Giám đốc nắm chặt tay ông Tùy lắc lắc.

- Rất cám ơn, xin trông đợi sự giúp đỡ của xí nghiệp đối với gia đình chúng tôi.

  Ông hồ hởi giơ cao một cánh tay chào tạm biệt trước khi ngồi lên chiếc xe máy Simson phóng đi .

 Sau hơn hai tháng nuôi thử gà con của ông  lên cân nhanh như thổi. Ông xuất gà buổi sáng thu một lúc ngon ơ gần ba triệu sáu trăm ngàn đồng. Trừ tiền ngân hàng cho ông vay vốn, ông còn lãi được trên hai triệu đồng. Ngân hàng Nông Nghiệp mời ông đi báo cáo kinh nghiệm nuôi gà công nghiệp có lãi.

 Từ cấp huyện đến thành phố rồi trung ương, ông được nghênh tiếp trọng vọng. Từ ông Tùy chuyên cho thuê đèn măng sông đến ông Tùy chủ một trang trại nuôi hàng ngàn con gà công nghiệp, ông đã trở thành một nhân vật nổi tiếng. Mỗi khi ông mặc bộ comple mầu tiết dê, đeo kính đổi mầu gọng vàng, đứng trước ống kính các nhà quay phim, nhiếp ảnh, các nhà báo ông đều khiêm tốn nhưng vẫn không tắt được nụ cười mãn nguyện.

  Làng ông sinh những anh hùng. Những người nổi tiếng làm nghề thủ công, nhiều người học hành thành đạt. Ông đã úng hộ làm một triệu đồng để xây đường làng cho xứng với tên tuổi một làng quê truyền thống. Ông lại ủng hộ một triệu rưỡi đồng cho các cháu mồ côi , con liệt sĩ, mẹ già cô đơn.  

Năm kia còn là ông Tùy cho thuê đèn măng song thì làm gì có tiền mà giúp đỡ ? Nghĩ vậy ông mỉm cười. Các cụ nói phải,, phú quý mới sinh lễ nghĩa được .

  Gió xuân xào xạc, hoa cau thoang thoảng ông thiếp đi trong giấc ngủ. Không gian mênh mông... rồi ánh mặt trời rực rỡ. Một người ngoại quốc. Người Nhật thì phải . Ông ta chừng 50 tuổi, mập, thấp ngồi trên xe Toyota cùng với mấy người tháp tùng. Họ lái xe vào nhà ông. Người Nhật ấy có bộ ria con kiến đen nhánh. Ông ta chìa tay ra bắt tay ông và nói bằng tiếng nước họ. Cô phiên dịch cởi  mở:

- Ngài Mi-hi-bô-ta là giám đốc một công ty bên Nhật sang đây muốn ký hợp đồng nhập gà của trang trại ta.

- Okê ! Ông buột mồm theo thói quen cái tiếng Mỹ lơ lớ tôi xin nhất trí ! Ông người Nhật cười nhã nhặn nói xì xồ tỏ vẻ rất vui. Cô phiên dịch mũm mĩm như con búp bê dịch lại ý của ông.

- Mỗi tháng ngài có thể xuất cho chúng tôi 5.000 con gà công nghiệp loại 4 kg một con. Thời gian chia làm 2 đợt có được không ?

  Ông Tùy nhíu mày suy nghĩ tỏ vẻ băn khoăn:

- Chúng tôi chưa có khả năng đáp ứng được con số như thế ngài ạ.

- Chúng tôi sẽ giúp đỡ mọi phương tiện để ngài thực hiện được hợp đồng này.

Ông người Nhật bỗng nói bằng tiếng Việt khá sõi :

- O kê ! ông và vị khách Nhật bắt tay lắc thật mạnh . Cả hai cùng cười hồ hởi ...

Ông bỗng giật mình. Thì ra mình đang mơ.

-  Ừ nhỉ ? Biết đâu đấy, nay mai ăn nên làm ra trang trại của nhà ông sẽ thành một xí nghiệp tư nhân. Có khả năng lắm chứ ! Lắm chứ.

 
Viết tại làng Quan Âm 3 -1993

(Đọc truyện đêm khuya  Đài tiếng nói Việt Nam 31-3-1993
-Đã in trong tập truyện ngắn Điều Ấy Đã Xảy Ra NXB Tác phẩm mới – 1995)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 22.02.2014.