Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





HÒN ĐẢO PHÍA CHÂN TRỜI




PHẦN THỨ HAI
LÀNG MỚI TRÊN ĐẢO



Chương XIII


 Đầu tiên, Nhụ trông thấy quả bóng chuyền, ướt sũng nước, nằm chỏng chơ trên bãi cát. Một chiếc dép cao su úp sấp bên gốc dương cằn, tán cây chỉ cao bằng đầu người, các cành nhánh co rụt cả lại. Trên đám lá xanh bạc và cứng đơ đơ, lơ thơ bay một làn khói xám, thoáng đậm, thoáng nhạt. Có cảm giác như ai đó đang hun chuột. Chợt con chó con lông vàng đốm trắng xăng xái chạy ra rồi lại rối rít chạy vào, nó lũn cũn vẫy đuôi nhưng không sủa. Đức đã ở đây rồi. Chắc nó đang chờ "Xin bát cơm nguội". Lộ ra khỏi đám dứa dại, đã thấy cái lưng cháy xạm của Ngạnh. Nó đang cúi xuống phồng mồm thổi lửa, trên cái mông đen trũi, vắt ngang một sợi dây lưng mỏng dính, bằng cao su màu nâu nhạt.

- Quỷ sứ ơi, làm gì thế?

Nhụ hỏi khi thấy Đức lộn ngược cả hai mi mắt lên, trong mi mắt đỏ lòm, chạy đi chạy lại những viên bi nhỏ, màu trắng đục, như bi xe đạp. Một nồi cháo nhỏ đang sôi, bắc trên ba hòn đá cuội. Lửa đang lom rom cháy trên đám củi mục khô, do sóng biển táp lên bờ cát mà Ngạnh đã vun lại. Con chó con đã ngồi trên hai chân sau, đầu lúc lắc, mắt long lanh, cái lưỡi thè ra...

- Chúng mày làm trò quỷ quái gì thế?

- Cróc! Cróc! Cróc!

Bây giờ con chó mới sủa. Mặt nó hồn nhiên và tươi sáng như mặt một đứa trẻ con.

- Thằng Đức nó làm xiếc đấy. - Ngạnh nói.

- Đố mày biết cái gì ở trong mắt tao?

Đức đeo cặp kính trắng lên rồi lại tháo ra, hai con mắt như càng xa nhau thêm, giờ lại bị những viên bi kê mi lên, trông rất kỳ quặc.

- Chịu. Khéo không đau mắt đấy. - Nhụ thành thật bảo.

- Đau thế nào. Ngọc trai đấy. Cho ngọc trai vào mắt thì mắt sáng như mắt ông giời. Mày để tao làm cho...

- Ối! Thôi! Trông khiếp lắm. Thế nào, trai ngọc á!

- Trông đây này! - Ngạnh cầm muôi đảo cháo lên. - Ngon không. Có đúng là trai ngọc không?

- Trời ơi! Đảo có trai ngọc!

- Chúng tao mò được đấy.

- Thế chúng mày đã báo với chú Thuận chưa?

Chú Thuận bây giờ đã rời quân hàm xanh về làng đảo Bạch Đằng Giang làm chủ tịch ủy ban nhân dân xã lâm thời của xã Yên Hưng vừa thành lập. Gọi là xã nhưng chỉ có bốn đội tàu. Mỗi đội là một thôn, có từ mười lăm đến mười bảy cặp thuyền đánh khơi. Bố Nhụ là bí thư đảo ủy, trực tiếp chỉ huy trên biển của cả bốn đội tàu, ngư dân gọi ông là Đại Tướng Cá.

- Phải báo với chú Thuận. Đây là việc lớn đấy. - Nhụ nói. - Ông mình kể rằng, cách đây hàng trăm năm, khi người dân cuối cùng của đảo bị bọn cướp biển giết chết, trai ngọc cũng biến đi. Bây giờ trai ngọc lại về...

- Nó tự sinh ra chứ đi với về thế nào được. - Ngạnh nói. Nó dập tắt lửa, nhổ vào đám khói phì phì, rồi đặt nồi cháo ra xa. Người nó đã khô, trên xương quai xanh còn in một ngấn muối trắng.

- Chà, chà! Có ba thằng ta với một thằng Róc là bốn, vậy mà bát chỉ có hai cái. Làm thế nào đây... - Đức bẻ cành dương, xiên vào một con trai vừa múc lên muôi rồi cắm trên mặt cát, hơi bốc lên nghi ngút.

- Cróc! - Con chó chỉ sủa có một tiếng.

- Mày bé nhất nhà, cho mày chén trước nhé. Nhưng chỉ được một con thôi. Ăn con thứ hai là đầy bụng đấy... Chết bỏ mẹ!

Đức nói với con chó như nói với một đứa bé. Cảm giác như con chó hiểu, ánh mắt nó dịu và ngoan, cái lưỡi đỏ và dài thè ra, liếm lên đến tận mũi.

Trước mắt Nhụ là khu nhà chượp, to rộng và thấp mái, từ đó toả ra mùi tanh khẳn của cá ngâm còn thiếu độ mặn. Chiếc sân cát dài theo mép biển, lô nhô cọc, cái thẳng cái xiêu, trên đặt liên tiếp những phên tre phơi cá. Cá vừa se mình, cái đuôi khẽ cong lên. Mùi cá phơi được nắng, đã bắt đầu có vị thơm, chỉ thoảng nhẹ trong gió. Cuối sân căng một lưới bóng chuyền. Cách đấy vài trăm mét là trụ sở ủy ban, trong có một máy thông tin vô tuyến, nối liền đảo với đất liền. Đấy cũng là Đài chỉ huy các đội tàu đánh cá biển. Trên nền trắng lóa của mái tôn, lấp loáng bay lá cờ đỏ sao vàng, chủ quyền của hòn đảo.

Nhụ bảo Ngạnh:

- Chúng mình chỉ nên đào sá sùng thôi, trai ngọc để nuôi không nên bắt.

- Thế nếu hôm nay đào sá sùng, mày có mang mai đi không? - Ngạnh nói, vẻ hờn dỗi, nó cầm muôi gõ gõ vào đầu một viên đá cuội ám khói, làm rơi ra những hạt gạo trắng tinh đã chín nhừ.

Chương XIV


 Hôm nay có tàu từ đất liền, chở người, vật liệu xây dựng và một số giống cây trồng, giống vật nuôi, ra đảo. Bố Nhụ và chú Thuận đã chuẩn bị những vạt đất có thể làm nhà, làm vườn. Chưa biết giờ nào thì tàu đến. Từ sáng sớm, một số người đã ra tận cầu cá ngóng trông. Chỉ thấy lảng vảng sa mù che kín cả đường chân trời.

Chả biết sinh ra từ đâu, những mảng sa mù cứ lớn dần, đầu tiên lất phất bay như những đám lông thỏ. Một vài đám bay vào đảo, rồi tan đi trong các ngọn cây cao. Rồi đậm dần, đặc dần, nặng dần, bỗng chốc ùn ùn như những quả núi xốp, táp vô hồi kỳ trận vào sườn đảo, lấp đầy các khe rãnh, các cầu cảng và bãi cát. Những vạt đồi xao xác hoa lau, những bông lau gầy còm, giã gạo chấp chới rồi chìm mất tăm trong biển khói màu mắt cá. Những vòm cây khép tán, thoi thóp, rồi ngạt thở trong những cái bao đục lờ lờ, trông lửng lơ như những cái trứng nhện khổng lồ. Đỉnh núi Miếu Ông Voi bồng bềnh trôi trong hư ảo. Cái đèn pin dài ngoẵng trong tay bố Nhụ chọc ra một tia sáng nhọn hoắt, rồi tù dần, rồi to bè ra, vàng vọt, rồi mất hết ánh sáng. Ngửa đèn pin lên nhìn, pha sáng vàng đặc và không có tia, tròn xoay, như mắt của con hổ ăn đèn trong đêm tối. Mọi hoạt động đều ngưng, trừ những mảng sa mù câm lặng và cuồng dại, cứ quay đảo cuồn cuộn. Đến chín, mười giờ, sa mù mới loãng dần, chảy thành dòng e dè và ngoằn ngoèo, theo kẽ nứt trên vỏ cây thông dại, thành vài giọt nước rơi vu vơ xuống mặt đất, từ cuối cái cuống đen của cành bồ kết đang rụng lá, thành mùi âm ẩm nhưng đến là nồng nàn trên má người, trên ngực áo người...

- Tiết trời này rồi sẽ có chuyện đây. - Bố Nhụ lẩm nhẩm.

- Chuyện gì hả bố?

Ông rướn cặp lông mày rậm, có những sợi to và dài quá cỡ lên nhìn con, gương mặt thẫn thờ, mệt mỏi.

Đến chiều vẫn chưa thấy có tàu ra. Nhụ lên văn phòng ủy ban xem sự thể thế nào, nhân tiện, nếu chú Thuận rỗi thì nhờ chú giải giúp cho bài toán khó. Văn phòng được quét dọn sạch sẽ. Phía tường hồi, sau tượng Bác Hồ đặt trang trọng trên bục gỗ, là phông vải màu xanh nước biển, làm nổi bật dòng chữ dán, cắt bằng giấy trắng, đặt ở phía tay phải Biển bạc của ta do dân ta làm chủ, lời Bác nói với ngư dân đảo Tuần Châu và Cát Bà ngày 1/4/1959, và phía tay trái Nhiệt liệt chào mừng đồng bào ra đảo xây dựng quê hương thứ hai. Cạnh tượng Bác Hồ, một cọc gỗ Bạch Đằng bảy trăm năm, cắm nghiêng trên đế xi măng hình sóng nước. Nhụ đã đặt vào đó, viên đất đáy sông Bạch Đằng mà nó nạo ra từ mỏ neo tàu. Giữa phòng là hai hàng bàn phủ vải cũng màu xanh nước biển, Nhụ biết là mượn từ đồn biên phòng. Chú Thuận ngồi ở gian bên, đang ghi chép gì đó trong sổ tay.

Còn đang băn khoăn nên vào phòng làm việc của chú Thuận hay không, thì trông thấy Đức đang đi xuống bãi cát cùng với con chó vàng đốm trắng. Nhụ đi theo.



... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 22.02.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn