Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Tượng Tổ Tiên

Thờ Tại Chùa Vũ Thạch




Tết Nguyên Đán (Tết Cả). Tết đầu tiên trong năm. Dân Việt lễ tạ Đất Trời, mở bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông. Tết Nguyên Đán là Lễ Tâm Linh của người Việt. Các lễ cúng diễn ra từ ngày 23 tháng Chạp, tiễn Ông Táo về Trời, trồng Cây Nêu trừ Quỷ. Những ngày áp Tết, các gia đình tạ mộ ông bà, cha mẹ, người thân quá cố. Chiều 30 tháng Chạp làm cỗ cúng tất niên, tạ ơn Trời Đất, Tổ Tiên, Cha Mẹ, linh hồn cõi Âm. Đêm 30 Tết, phút giao thừa, lễ cúng bánh chưng, hoa trái vườn nhà dâng Trời Đất, Tổ Tiên, đón năm mới thiêng liêng, cầu an khang thịnh vượng.

“Mồng một Tết Cha, mồng hai Tết Mẹ, mồng ba Tết Thầy”. Cúng lễ tại nhà xong, các bà, các chị, mẹ, con gái, cháu chắt đi lễ chùa làng. Ngày mồng ba, bốn, năm, cúng hóa vàng, đón các cụ trở về sau lễ tiễn Ông Táo. Ngày mồng bảy cúng hạ Cây Nêu. Hết Tết Nguyên Đán. Nhưng ngày rằm tháng Giêng lại cúng. “Cúng quanh năm không bằng rằm tháng Giêng”.

Trong khoảng hai tuần Tết Nguyên Đán người Việt chỉ có việc cúng và đi lễ chùa.

Nhà chúng tôi ở gần chùa Vũ Thạch- 13B phố Bà Triệu bên Hồ Gươm. Năm nào cũng vậy, cả gia đình, ông bà, con cháu, sau lễ cúng chiều 30 Tết, tụ hội, giao thừa ra Bờ Hồ xem pháo hoa, và lễ chùa Vũ Thạch. Sớm mồng một Tết, lại lễ chùa Vũ Thạch. Gần hai chục năm tôi lễ chùa Vũ Thạch nhưng chưa hiểu mạch nguồn ngôi chùa thiêng của Thăng Long- Hà Nội mà mình có cơ duyên được ở gần.

Xuân Giáp Ngọ 2014. Tổ Tiên khai sáng, sớm mồng hai Tết, tôi bỗng nhiên cảm thấy mình phải sám hối vì không hiểu gì về chùa Vũ Thạch linh thiêng. Tôi cầm bút sách sang chùa, lễ tạ Ban Thờ Mẫu tầng hai, phía sau ngôi Tam Bảo. Xin Mẫu dạy.

Tôi được khai ngộ từng bước chân thanh tịnh.

Chùa Vũ Thạch tương truyền được khởi dựng thời Lý, xây theo kiểu chuôi vồ. Theo văn bia trùng tu chùa vào năm Tự Đức thứ 10, chùa còn có tên Quang Minh Tự. Chùa thờ Phật, Mẫu, thờ các sư tổ của chùa. Ở cả ba nơi thờ Mẫu Thần Phật, đều còn những câu đối:

Thượng đế uỷ thần quyền chẩm đãi sơn hà duy bả ác
Hạ dân triêm đức trạch, chấm lăng phong vũ ngưỡng bình mông''

Dịch nghĩa:

Thượng đế đã trao quyền, một giải non sông gìn giữ
Dân lành mang ơn đức, ngàn trùng mưa gió chở che

Hay

Thánh đức nguy nhiên cao Bắc đẩu
Thần công hách nhĩ chấn Nam thiên''

Dịch nghĩa:

Thánh đức cao vời như Bắc đẩu
Thần công chói lọi cả trời Nam

Hoặc:

Dữ Phật vi lân, tuệ chúc quang khai thành bất dạ
Đại thiên hành hoá, đức phong phổ biến hải vô ba''

Dịch nghĩa:

Với Phật ở trên, đuốc rực hào quang đêm toả sáng
Thay trời giữ Đạo, quạt mầu gió thuận biển bình yên

Và các bức đại tự:

- Đức hợp vô cương (Đức lớn không bờ bến)

- Vạn dân hoá dục (Nuôi dạy muôn dân)

- Tứ hải bình mông (Che chở bốn biển)

- Thánh tức Thiên (Thánh tức Trời)

Chùa Vũ Thạch, gọi theo tên làng Vũ Thạch, nơi có ngôi trường danh tiếng xưa với ông giáo làng Vũ Thạch là Nguyễn Huy Đức (1824 - 1898) nổi tiếng phẩm hạnh, đào tạo được nhiều môn sinh tài đức trên đất Thăng Long.

Hội chùa ngày 10/02 và 15/10 Âm lịch hàng năm. Sau lễ, có các trò tổ tôm, hát ca trù, hát văn, biểu diễn võ dân tộc.

Tượng Tổ Tiên thờ tại chùa Vũ Thạch

Nhờ những kiến thức về Tổ Tiên, tôi tự khám phá Điện thờ Mẫu và ngôi Tam Bảo chùa Vũ Thạch.

Ngôi điện thờ Mẫu khang trang trên tầng hai sau ngôi Tam Bảo. Chính điện là Ban thờ Mẫu. Tả hữu có Ban Sơn Trang thờ Mẫu Thượng Ngàn, Ban Trần Triều, Ban thờ Phật Tổ Tây Phương, Ban thờ sư Tổ.

Ban thờ Mẫu hoành tráng gồm ba tầng: Trên là Tam Tòa Thánh Mẫu, hai tầng dưới là Ngũ vị quan, Hai quan tả hữu bảo vệ… Đó là ba Mẫu Tổ Bách Việt: Đỗ Quý Thị (Hương Vân Cái Bồ Tát) Mẫu Thượng Ngàn vợ vua Kinh Dương Vương, Thoải phủ Thánh Mẫu Âu Cơ vợ vua Lạc Long Quân. Ba vị Thánh Mẫu thờ trong điện Mẫu là ba con người thật, là Tổ Tiên, là Mẹ của chúng ta, có tên tuổi, mộ phần tại vùng Kẻ Xốm- Thanh Oai- Hà Nội.

Khám phá ngôi Tam Bảo thờ Phật, tôi nhận ra Tòa Cửu Long trước Tam Bảo. Chiêm ngắm rõ ràng tượng Hương Vân Cái Bồ Tát trong Tòa Cửu Long, đúng như sách đã viết:

“ Bằng chứng là khắp nước Việt ngày nay, các chùa đều đặt trước Tam Bảo một tòa tượng Cửu Long. Đó là chín con Rồng tượng trưng cho chín con suối và chín ngôi mộ các vua Hùng đã sinh ra chín họ Hùng Vương gọi là Thủy Tổ Cửu Tộc. Tòa tượng Cửu Long còn là biểu tượng Rồng Tiên. Tượng Hương Vân Cái Bồ Tát, hình một vị sư đầu trọc, mặc váy, một tay chỉ lên Trời, một tay trỏ xuống Đất đứng trong vòng Càn Khôn của Tòa tượng Cửu Long”.

(Sách Đi Tìm Tổ Tiên Việt- Mai Thục- NXB Văn Hóa Thông Tin 2014- Trang 79)

Tả hữu Tam Bảo có hai Ban Bát Bộ Kim Cương. Mỗi bên bốn vị, mỗi vị cầm một loại vũ khí trong tư thế sinh động, gương mặt bản lĩnh, trí tuệ, oai linh, tràn năng lượng.

Đó là Tám vị em trai của Hương Vân Cái Bồ Tát là Tổ nghề sắt, đúc đồng, rèn vũ khí đánh giặc và chế tác những Trống Đồng nổi tiếng của người Việt.

“Tám vị Bát Bộ Kim Cương là tám con người thật được phong Phật hiệu. Đỗ Xương- Thanh Trừ Tai Kim Cương. Đỗ Tiêu- Tịch Độc Thần Kim Cương. Đỗ Hiệu- Hoàng Tùy Tai Kim Cương. Đỗ Cường- Bạch Tịnh Thủy Kim Cương. Đỗ Chương- Xích Thanh Hỏa Kim Cương. Đỗ Dũng- Tịnh Trừ Tai Kim Cương. Đỗ Bích- Từ Hiền Thần Kim Cương. Đỗ Trọng- Đại Lực Thần Kim Cương”.

(Đi Tìm Tổ Tiên Việt- trang 90)

Ban Hộ Pháp, Ban Đức Ông, Đức Thánh Hiền, Ban La Hán… với những bức tượng ngời sáng gương mặt Việt, tôi chưa biết họ là ai. Nhưng chắc chắn đó là những vị danh nhân, danh tướng, văn võ, của Tổ Tiên Bách Việt, được dân phong Thần, Thánh mà các ngôi chùa thờ Phật ở Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan… không thể có.

Pho tượng Chuẩn Đề Phật Mẫu bên tả phía trước Tam Bảo giờ đây trở nên thân thương với tôi. Đó chính là Phật Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát.

“Tiền nhân họ Đỗ cổ xưa nhất được biết đến, ghi trong thư tịch là cụ Đỗ Quý Thị, húy là Ngoan, tên tự Đoan Trang và tám người em trai được phong hiệu Bát Bộ Kim Cương. Cụ tu theo đạo Sa Bà. Đạo của Đế Thiên Phục Hy hiệu Hư Không giáo chủ cách đây 5000 năm. Cụ tu nhiều năm tại hang Tiên Phi- Hòa Bình gọi là Sơn Trại Chúa Mường, Tây Vương Mẫu, Mẫu Đầm Đa. Khi Lộc Tục được cha truyền ngôi, xưng Kinh Dương Vương, lập đô ở Kẻ Xốm, đã đón mẹ về tu ở chùa Đại Bi gần ngã ba Ba La. Những người dân các dân tộc Bách Việt từ miền núi đến đồng bằng đều tu Đạo Sa Bà cùng cụ”.

(Đi Tìm Tổ Tiên Việt- Trang 86)

Sách kinh Chuẩn Đề Phật Mẫu ĐàLaNiKinh (tiếng Phạn dịch ra tiếng Việt) anh Nguyễn Vân Liên tặng tôi lần thứ nhất tại Điện Mẫu của anh, tôi đọc không hiểu, đã cho bạn đồng tu. Ngày 24- 1- 2014, lần thứ hai tại Điện Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát nhà mình, anh Liên lại tặng tôi cuốn kinh Chuẩn Đề Phật Mẫu. Tôi hỏi Kinh Chuẩn Đề Phật Mẫu nói về ai. Anh Liên bảo đó là Kinh Mẫu Hương Vân Cái tu Đạo Sa Bà. Tôi vội sám hối trước Phật Mẫu vì tội đọc kinh mà không hiểu, đem cho người khác. Phật Mẫu luôn dịu dàng khai sáng cho tôi, nên mới được tặng Kinh đến hai lần như thế. Từ đó, ngày nào tôi cũng đọc Chuẩn Đề Phật Mẫu ĐàLaNiKinh (NXB Tôn Giáo) cùng Kinh Phật Thích Ca Mâu Ni.

Sách Kinh in hình tượng Chuẩn Đề Phật Mẫu giống tượng Chuẩn Đề Phật Mẫu thờ tại chùa Vũ Thạch. Tôi chiêm ngắm pho tượng Chuẩn Đề Phật Mẫu, đúng như Kinh Chuẩn Đề Phật Mẫu ĐàLaNiKinh viết:

“Mặt tròn như trăng đầy, thần phần có mười tám cánh tay, hiện từ bi, ngồi đài sen, cầm vật báu, đeo châu Anh Lạc, lồng ngực đề chữ Vạn, có tám vị Đại Bồ Tát vây quanh hộ vệ…

Trên mặt Bồ Tát có ba mắt. Như bốn biển lớn thật lặng trong. Tay cầm Hoa Sen. Tay cầm kiếm Trí Tuệ. Đại Từ Đại Bi thương chúng sinh. Đại Hỷ Đại Xả cứu Hàm Thức. Thân Phật tràn đầy nơi Pháp Giới. Mọi chi phần trên thân Bồ Tát/ Thường phóng vô lượng Ánh Sáng lớn. Tay cầm sợi dây Kim Cương. Tay cầm cây búa lớn. Tay cầm Loa Đại Pháp. Trừ nghiệp ác, đuổi tà ma. Tay cầm Pháp Khí trấn Bắc phương. Tay cầm Quả Báu độ chúng sinh…”

Bạn và tôi đọc câu kinh Chuẩn Đề Phật Mẫu “Tay cầm Pháp Khí trấn Bắc phương” thì miễn cãi bàn. Chuẩn Đề Phật Mẫu là chính là Mẹ Việt (Hương Vân Cái Bồ Tát). Chỉ có Mẹ Việt mới “Tay cầm Pháp Khí chấn Bắc phương” bảo vệ con cháu Việt. Chuẩn Đề Phật Mẫu không phải mẹ Tàu, không phải mẹ Ấn Độ, là Mẹ Việt yêu thương của chúng ta, được dân Việt tôn vinh Chuẩn Đề Phật Mẫu (Hương Vân Cái Bồ Tát- Đỗ Quý Thị).

5000 năm trước. Mẹ Việt Hương Vân Cái Bồ Tát đã tu đắc Đạo của Tổ Tiên Việt thành Đạo Mẫu- Đạo của Tổ Tiên Việt.

Đạo Việt thơm lừng chiếu diệu khắp bốn phương. Thấu hư không. Thần thông biến hóa. Pháp Khí diệt giặc. Sức mạnh năng lượng vô biên. Hào quang vô lượng. Chuyển hóa nhiệm màu. Cứu độ chúng sinh…

Nghiên cứu Chuẩn Đề Phật Mẫu ĐàLaNiKinh và pho tượng Chuẩn Đề Phật Mẫu“Đại lực Phẫn Nộ Trì Minh Vương/ Khéo hay giáng phục các Ma ác/ Thân hiện năm Trụ Kim Cương Thần/ Đất nước gió lửa đều hiện hình/ Hào quang tròn trắng không tỳ vết/ Âm thanh chấn động ba ngàn cõi”… Đây là cội nguồn tri thức bí ẩn, siêu phàm để Tổ Tiên ta sáng tạo Trống Đồng linh diệu, thu sóng năng lượng huyền thông.

Nay Đạo Mẫu hòa vào đạo Phật Thích Ca Mâu Ni, vẫn hào hùng tỏa hào quang linh diệu trong các ngôi chùa làng cổ kính mà ta không hay biết.

“Dựa vào ngọc phả, Thần tích, ngày nay chúng ta biết Tổ Tiên Bách Việt trên đất Việt 5000 năm trước đã có Đạo Sa Bà hay Sa Môn giáo. Phả cũ nói rõ đất Việt là Trung tâm giáo chủ của 37 Vương quốc theo Đạo Sa Bà. Cách đây trên 2.500 năm Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tu và Giác Ngộ. Đạo Phật đã nở hoa kết trái nơi đất Việt rất sớm, nhờ nền tảng Đạo Sa Bà của Bách Việt”.

(Đi Tìm Tổ Tiên Việt- trang 79)

“Nói có sách. Mách có chứng”. Tổ Tiên Việt nay đã hiển linh, tỏa hào quang yêu thương, cứu rỗi, giúp chúng ta tìm về nguồn cội. Tôi tạ mộ Tổ Bách Việt, mộ Hương Vân Cái Bồ Tát, mộ Bát Bộ Kim Cương, mộ Lạc Long Quân, Xuân này thêm ấm áp bởi hào quang của Tổ Tiên ngay nơi ngôi chùa Vũ Thạch cạnh nhà mình ở.

Không thể cãi bàn. Các ngôi chùa Việt cổ thờ Tổ Tiên, thờ Mẫu Phật, thờ Phật Thích Ca Mâu Ni. Tiền Thần, hậu Phật. Ngày nay, nhiều ngôi chùa cổ cũ nát phải xây lại, nhiều vị sư trụ trì học thức uyên thâm, vẫn giữ nguyên tâm thức thờ Tổ Tiên, Mẫu, Phật của các ngôi chùa Việt. Một số vị trụ trì ít chịu học, hoặc sính ngoại, xây chùa Việt cổ thành chùa hoàn toàn mới lạ, làm mất giá trị Đạo Việt. Làm mất năng lượng, hào quang bí ẩn, trấn yểm linh diệu của Tổ Tiên tại các ngôi chùa Việt. Đáng báo động.

Tại hành lang ngoài trời, bên hữu Tam Bảo chùa Vũ Thạch có ban thờ Thị Kính. Tôi thường khấn vái pho tượng Thị Kính trong khám thờ, lờ mờ thấy nàng ôm một người, đinh ninh đó là bé con Thị Mầu. Hôm nay, tôi chiêm ngắm sát pho tượng, phát hiện điều thú vị và ám ảnh khôn nguôi. Tượng Thị Kính mặc váy nâu dài, tọa đài sen, đôi chân đi hài đỏ, gương mặt thanh tao, thánh thiện, nhìn thẳng. Bên đùi trái Thị Kính là hình tượng người đàn ông, áo dài thư sinh, nửa quỳ nửa đứng, áp sát vào đùi nàng. Hai tay nàng đan chéo mười ngón ôm chặt phần ngực chàng. Cái đầu và cái mặt phương phi, cằm bạnh to hơn trán của chàng nhô ngang ngực nàng. Vẻ mặt chàng tỉnh bơ. Vô cảm. Như không có chuyện gì xảy ra. Như sắt, thép, đá, xi- măng, bê- tông. Đó là Thiện Sỹ, chồng Thị Kính. Chẳng biết pho tượng tạc từ thời nào. Chỉ biết vái lạy nghệ nhân siêu phàm đã gửi vào pho tượng Thị Kính chùa Vũ Thạch cốt cách của người đàn bà Việt biết tu tâm tích đức, trở thành Mẫu Phật, cưu mang những nho sinh Thiện Sỹ “Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm”. Vô cảm trước tội ác của chính mình.

Hai vị sư Tổ tôn kính chùa Vũ Thạch

Vườn chùa đã bị co lại do dân chiếm đất xây nhà. Vườn vẫn còn một số tháp của các vị sư đã tu ở đây nhiều đời. Tôi không thể biết hết. Trong Ban thờ Mẫu có ghi công đức của vị sư Tổ Thiền sư Thích Thanh Tường Pháp danh Đinh Xuân Lạc (1858- 1936). Ngài được tấn phong Pháp chủ Bắc kỳ, đoàn kết khối tu Phật Bắc- Trung- Nam.

Ni sư Thích Đàm Thuận (1930- 2001) thế danh Tiết Thị Kim sinh tại 60 phố Hàng Dầu- Nam Định trong một gia đình bốc thuốc Bắc cứu dân. Mười một tuổi bé Kim đi tu ở chùa Cầu (Bắc Giang) thuộc sơn môn Vĩnh Nghiêm. Năm 1945 về Hà Nội học Pháp, hành Pháp tại chùa Vân Hồ, Bà Đá- Hà Nội. Năm 1957 trụ trì chùa Vũ Thạch hoang vắng. Một đời tu thanh tịnh, qua bốn cuộc chiến tranh, dân nghèo khổ, loạn lạc, chết, chia lìa, chùa hoang vu, đổ vỡ, ni sư Thích Đàm Thuận tinh tấn học và hành Phật Pháp, tài trí, thông minh, nhanh nhẹn, vừa khuyến Phật tử tu vừa lập tổ hợp tác làm thủ công mỹ nghệ, đan tre, đan len, mành trúc, thêu may… để có tiền sống và sắm hoa đăng, oản quả, bảo tồn chùa Vũ Thạch. Năm 1995 xây lại ngôi Tam Bảo, Điện thờ Mẫu, nhà Tổ khang trang, huy hoàng bên Hồ Gươm. Chùa Vũ Thạch vẫn giữ được giá trị ngôi chùa làng Việt cổ thờ Tổ Tiên, Thánh, Mẫu, Thần, Phật.

Vũ Thạch huy hoàng vạn thế linh.

Tổ Tiên Bách Việt của chúng ta

Không dám ngang ngạnh, vô minh cãi bàn. Người Việt hôm nay biết chắc chắn rằng mình sinh ra từ nòi giống Bách Việt có Tổ Tiên tái năng rạng rỡ, có Đạo Việt, được biết đến trên 5000 năm trước. Tổ Đế Hòa sáng tạo Thuyết Âm Dương- Ngũ Hành- Thiên Địa Nhân hợp nhất, Lịch Âm. Vua Phục Hy, tiếp theo cha sáng tạo Kinh Dịch Phục Hy. Vua Thần Nông thuần hóa cây lúa nước, dạy dân trồng cấy lúa, dạy trồng cây thuốc chữa bệnh. Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát Đỗ Quý Thị tu đắc đạo Việt, truyền muôn đời. Bát Bộ Kim Cương sáng tạo nghề đúc đồng tinh xảo, luyện võ, luyện khí công, rèn vũ khí đánh giặc nhiệm màu.

Vua Kinh Dương Vương và Thời đại Các vua Hùng tiếp thu tri thức, năng lượng của Tổ Bách Việt, sáng tạo Trống Đồng- báu vật thiêng, thu cả Đất Trời Người Bách Việt 5000 năm tỏa sáng cháu con và nhân loại.

Tạ ơn Tổ Tiên Bách Việt, chúng ta ngẩng cao đầu đón nhận hào quang:

Tổ Tiên Hiển Linh

Dâng hương trầm con tạ Tổ Tiên/ Đế Hòa, Phục Hy, Thần Nông/ Kinh Dương Vương, Hương Vân Cái Bồ Tát/ Lạc Long Quân, Âu Cơ, Bát Bộ Kim Cương…/ Thương cháu con linh hiển trở về/ Xuân đón Ngựa Vàng phi nước đại/ Khơi nến tinh thần giữ non sông/ Thắp đuốc Văn minh trồng lúa nước/ Lắng nghe nhau, tính Thiện lòng Nhân/ Quay về thờ Mẹ- Đạo Tiên Rồng/ Sám hối tội không biết luật Trời/ Thần Phật dạy đường đi, nước bước/ Sông mê, bể khổ ngậm gian nan/ Cổ kim đau, ruột nát, gan nhầu/ Yêu thương thoắt bạc đầu xa xót/ Khôn ngoan giải nghiệp cứu sơn hà/ Rắn đi, Ngựa đến, vận thời sang/ Gọi 90 triệu người bừng thức ngộ/ Công bộc vì dân Trí Đức cao/ Giữ mình thanh sạch nhận hào quang.

Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát

Hồ Gươm mồng 5 Tết Giáp Ngọ

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 08.02.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn