Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




QUÊ TÔI

Hơn 45 Năm Trước




Đó là năm 1968. Sau khi nữ nhà báo, nhà thơ Cộng sản Pháp, rất nổi tiếng, Madeleine Riffaud (Ma-đơ-len Ríp-phô) đăng trên hai trang báo Nhân đạo, cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp, xuất bản tại Paris (Pa– ri), bài Thơ Trần Đăng Khoa, tiếng hát mạnh hơn cả bom đạn, đoàn làm phim Pháp do nhà đạo diễn – nhà thơ Cộng sản Pháp, Gérard Guillaume ( Ghê – ra Guy – ôm) dẫn đầu, về làng Trực Trì ( xã Quốc Tuấn huyện Nam Sách) quê tôi, quay phim Thế giới nhỏ của Khoa. Phim này do Gérard Guillaume trực tiếp viết kịch bản, viết lời bình và đạo diễn. Vậy mà không hiểu sao sau đó, lãnh đạo xã lại nói với tôi là trong đoàn có 4 gián điệp quốc tế... Vì thế, trừ ba ông lãnh đạo cao nhất của xã làm nhiện vụ thả diều với trẻ con... để quay phim, còn không một ai trong làng xã được có mặt, kể cả bố mẹ tôi. Ngay ông hiệu trưởng trường khoa học, chỉ vì chụp ảnh chung với Đoàn mà bị cách chức đưa sang xã khác làm giáo viên thường...

Tràn đầy trong phim là hình ảnh làng quê tôi trong đời sống hàng ngày, với bao gương mặt cùng lớp với Khoa, cùng tuổi với tôi, rất nhiều bà con nông dân đang gặt lúa, gánh lúa, đập lúa... trong câu thơ của Khoa đọc bằng tiếng Pháp: “ Thóc nở bung như sao / Nhuộm vàng cả trời cao...” rồi họ đến nghe Xuân Diệu nói chuyện về thơ Khoa. Và rất nhiều học sinh đến trường qua các con đường làng nhỏ bé gập ghềnh, luồn hun hút dưới bóng tre, qua cả cái cầu, chỉ làm bằng một thân cây tre bắc ngang con ngòi khá rộng, các em nhỏ vừa lò dò đi, vừa phải bám vào cây sào chống xuống lòng ngòi, rất phiêu lưu đối với sự an toàn của học sinh lớp 3, khoảng 9 - 10 tuổi thời bấy giờ. Đặc biệt có hình ảnh nhà thơ Xuân Diệu. Bây giờ, muốn biết mặt, muốn nghe giọng nói của nhà thơ hàng đầu đất nước này, chỉ còn tìm đến những thước phim trong phim Trần Đăng Khoa này mà thôi.

Theo Xuân Diệu, trong bài viết giới thiệu tập thơ Góc sân và khoảng trời của Khoa, phim đã được đồng loạt chiếu ở các nước Châu Âu vào lúc giao thừa ngày 1 / 1/ 1969 và mang đến cho tác giả, đạo diễn và các nhà điện ảnh Pháp trong kíp làm phim, một giải thưởng của nền điện ảnh Pháp. Sau tròn 40 năm, năm 2008, phim này mới được chiếu ở Việt Nam. Hiện phim đang được lưu giữ tại Bảo tàng Văn học Việt Nam, Quảng Bá, Hà Nội. Theo nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam, phim sẽ được chiếu thường xuyên trên màn hình chạy dài ở ngay tầng một của Bảo tàng Văn học cho khách đến thăm. Và như thế, hình ảnh của làng quê tôi 45 năm trước ( tính đến hết năm 2013) đã được biết đến rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới và các thế hệ hôm nay, các thế hệ mai sau cũng sẽ còn biết đến.

Khi Trần Đăng Khoa mang phim này về làng chiếu cho bạn bè của mình xem, sau 40 năm, chính các bạn của Khoa, những người còn lại và trở về làng sau chiến tranh, cũng không còn nhận ra những con đường làng mà mình đã đi vào những ngày đó là con đường nào, đi qua đâu. Cũng không nhớ hết tên bạn bè cùng lớp. Nhiều người đã khóc khi thấy bạn mình, người thân của mình đã nằm lại trên các ngả đường Trường Sơn những năm chiến tranh, mà nay vẫn còn đây, vật nhau, thả diều, chơi trò bịt mắt bắt dê, vui nhộn, nghịch ngợm, chơi đùa và ca hát. Bây giờ những con đường đã khác, những ngôi nhà đã khác, nhưng lòng người thì vẫn không khác, dù nhiều người ngồi xem lại chính mình, tóc đã đốm bạc, có người do sức khỏe giảm sút vì chiến tranh, đã nghỉ hưu non. Và những cây tre xanh um, mọc chen nhau như lũy, dựng cao như thành, hai bên các nẻo đường nhỏ trong làng và viền quanh làng, biến làng thành cái ốc đảo xanh trên một biển lúa vàng mênh mông, thì nay không còn nữa. Một trong những bài thơ đầu tiên Khoa viết năm 8 tuổi, cùng với bài “Con bướm vàng” là bài “ Cây tre” về hai bụi tre ở sau nhà mình, tôi chỉ còn nhớ một câu: “ Ta ngồi ta hát / Ta hát tre nghe...” nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân đã phổ nhạc... Bản nhạc vẫn còn... mà cả làng bây giờ không sao tìm thấy bóng của bất cứ một cây tre nào sau non 30 năm Đổi mới đất nước. Và những ngôi nhà tranh. Trong Khúc hát người anh hùng viết năm 1974, khi đã 16 tuổi, Khoa có câu: “ Mái gianh ơi hỡi mái gianh / Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương...” Hầu hết làng tôi lúc đó đều là nhà tranh, chỉ có hai hay ba gia đình có nhà ngói cấp 4 thì ông bà chủ, đều bị qui là địa chủ và đều bị tịch thu chia cho bần cố nông và các vị bần cố nông đã dỡ ngói và các xà ngang đòn tay bằng gỗ đem bán lấy tiền đong gạo, thay vào đó là tre và lợp rạ lên mái. Trong phim là ngôi nhà tranh 3 gian của bố mẹ tôi, trong đó, gian phía Nam có cái tủ sách nhỏ và cái cặp hai thanh gỗ treo sách cuả Khoa, vốn là cái cặp treo sách của nhà nho xưa, do nhà sư ở chùa làng mang đến tặng, sát cạnh đó là cái cối giã gạo: “ Khi mẹ vắng nhà, em cùng chị giã gạo”. Theo mẹ tôi kể thì bác Phạm Hổ ( báo Văn Nghệ), cô Trần Thị Nhâm ( nhà xuất bản Kim Đồng), về nhà vào lúc Khoa “cùng chị giã gạo”, cũng đã tham gia giã gạo ở đây, mà cái ngõng cối vốn là cái bia có giá trị văn hóa và lịch sử mấy trăm năm của địa phương bị đục bỏ trong Cải cách ruộng đất, mẹ tôi xin về làm ngõng cối. Chính đại úy Ngọc Nhu, phóng viên báo Quân đội nhân dân là nhà báo đầu tiên về nhà Khoa, ông đã hi sinh tại Cửa Việt, Quảng Trị, trong một trận đánh giáp lá cà với quân Mĩ đổ bộ lên, mà Nguyễn Sinh đã mô tả trong Kí sự đất lửa, được tặng giải thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội nhà văn Việt Nam những năm đầu có giải. Theo Ngọc Nhu kể, ông đã giã gạo với Khoa và tình cờ nhặt được ở chân cối gạo này bài thơ Dặn em Hoa lựu mà không hiểu sao lại có ở đấy, có thể là Khoa viết xong rồi thì bỏ đi chăng, và ông là người đầu tiên giới thiệu Khoa, đăng cùng ba bài thơ, trong đó có hai bài thơ trên trong bài kí Nổi sấm đường Năm trên báo Quân đội nhân dân. Nhà thơ Hữu Thỉnh xem phim, kêu lên rằng: Không thể ngờ nhà Minh, Khoa lại nghèo đến mức như thế. Hữu Thỉnh đã về nhà tôi bốn lần, bằng số lần về của Xuân Diệu 40 năm trước. Ông đi từng góc vườn, nhìn từng cây, ra tận các ngõ cổng... Trong phim là ba gian nhà nhỏ, tường vách đất, cửa sổ là mấy đoạn trúc cắm dọc, cửa lớn là cái dại đan ken bằng tre, cứ mở suốt đêm ngày và một cái võng, mẹ tôi thường nằm:“ Ba gian nhà nhỏ / Đầy tiếng võng kêu...” Trong nhà chỉ có 2 cái gường tre, trước đó còn không có màn, mùa hè mẹ tôi hun một đống trấu to ngay giữa nhà để khói đuổi muỗi, rồi phát một nắm lá mía, vụt khắp các góc nhà sâm sẩm tối cho muỗi rụng cánh không bay đến người mà đốt được. Mùa đông thì trải ổ rơm. Nền nhà đất, sân cũng nền đất. Khoa có câu: “Ngoàisân lội mấy chú gà liếp nhiếp”... rồi sau đó, mới là “Góc sân nho nhỏ mới xây”... là mô tả đúng quá trình thay đổi của cái sân nhà tôi ngày ấy... Xuân Diệu viết, ông đã đi đi lại lại nhiều lần trên cái sân đất này, để nghĩ về thơ của Khoa. Đấy là cái sân khấu của bài thơ Mưa... Cái sân đất, Khoa viết: “ Em thường giải cái nong / Ra giữa sân ngồi học ”...

Bây giờ, cái sân ấy tôi cũng đã xây lại, rộng gấp ba gấp bốn lần trước. Còn ngôi nhà, đã ba lần trùng tu, lần cuối cùng sau khi tôi vừa nghỉ hưu, năm 2005, nới thêm 2 gian thành 5 gian, tôn tường cao lên, vẫn trên nền nhà cũ, hướng nhà cũ. Điều ấy giải thích vì sao, nhà 5 gian mà cửa vào và sau cửa là bàn thờ trong nhà lại ở gian thứ hai. Chỉ còn duy nhất một hiện vật của thời “góc sân và khoảng trời” là cái chuồng lợn ở phía tay phải cổng vào, cái chuồng ấy bây giờ để không. Nó hiển nhiên là chứng tích duy nhất một thời còn sót lại. Cái giếng Khoa đang kéo nước lên, đã đặt tấm bê tông lên trên để mở rộng đường đi vào sân nhà.

Bây giờ... sau 45 năm. Bố tôi đã mất ở tuổi 93. Mẹ tôi nay đã 95, không thấy cần phải xây nhà tầng. Hơn nữa, tôi muốn căn nhà vẫn còn lưu giữ lại cái hồn vía của thời xưa...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 25.01.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn