TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



THẾ PHONG



Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

Khởi sự viết văn cuối 1952.

Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la baneliue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).






BÚT KÝ & TRUYỆN


THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN -1. E-mail 1/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - 1. E -mail 2/2

CHÀNG VĂN SĨ ĐẤT TỀ

ĐÊM DÀI TÌNH ÁI

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA -Chương 1 Kỳ 1

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 1 Kỳ 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 2/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3 tiếp theo

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 4

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 4

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 5

CON CHÓ LIÊM SỈ

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 6

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 5

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 7

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 8

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 9

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 10 - KẾT









Mời bạn mở nhạc để nghe
Có Phải Muà Thu Hà Nội




















THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN


Chân thành cảm tạ anh Thế Phong đã cho phép đăng tải.
Từ Vũ


lá thư E-mail 10,
_________________


hoangngọclien, hnl@intrex.ne



“Tên mày, nếu gọi một tiếng, nó giống hệt người nữ, càng hơn nghe như Liên mặt trời tìm thấy của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền hồi nào ở Miền Nam trước 1975. Tao cũng chẳng còn nhớ mày, nếu chủ nhật vừa rồi đi thờ phượng ở Hội thánh Báp tít Ân điển không gặp bà Lý, sui gia của mày mới ở Huê Kỳ về ăn Tết ở Sài gòn. Tao hỏi có gặp ông sui, bà gật đầu. Ở Mỹ chỉ gặp nhau qua điện thoại., hoặc E-mail thôi. Lần xuất cảnh theo diện H.O, mày trách bà Mỵ ra đi trước không thư từ cho anh chị em còn ở lại. Nhưng đến khi tới Mỹ, tao chỉ thấy mày viết thư cho một bà góa vui tươi, họ Đinh ở đường Cách Mạng Tháng 8, quận 10. Vợ một cựu sĩ quan Hải quân, ba đứa con nay đã ra trường, có sự nghiệp – cháu thứ 34 đời của vua Đinh Tiên Hoàng. Nói vậy, mày nhớ ra ngay. Khi đưa thư của mày cho tao đọc, bởi tao và nhà gia phả Dã Lan thường đến chơi, bả hỏi có quen nhà thơ mũ đỏ họ Hoàng không?. Tao trả lời: có, và nó không nhất thiết đội mũ đỏ trọn đời, bởi cuối chặng đường ắc ê chuyển đội mũ nâu của Biệt động quân. Hình ảnh mày sống động trong tao chỉ có trong thời mày mang lon trung úy, đêm mưa gió vào 1956, mày dắt tao đến gõ cửa nhà Cao Tam Nương () ở Cư xá công chức khu dân sự Hàng không Việt Nam. Thân sinh cô, ông Cao Văn Phương, chắc quên tên – nhưng mày nhớ mặt. Đêm ấy, bộ quân phục nhảy dù chẳng lấy gì làm oai phong, ngồi ở góc sa-lông, mày im như ngậm hạt thị. Chỉ một mình tao trổ tài dở chuyện trò với chủ. Hồi ấy mày mê chị của Cao Tam Nương, tên Cao Mỹ Nhân. Tóc nàng dài đẹp hơn sắc vóc, chẳng biết xưa kia, cô chị ở Hải Phòng có từng được nghe câu hát dân gian như:

Ra đường em chẳng yêu ai
Chỉ yêu chiến sĩ có hai lon vàng.

“Hai lon vàng, trung úy thời Pháp thuộc rất oai, lại lương nhiều, quyền hành lắm, dân sợ hơn nể, nhà nào có con là lính Quốc gia hay lính Liên hiệp Pháp, cảnh sát đỡ bắt nạt, o ép. Chắc chị của Cao Tam Nương không thể làm phu nhân thứ mấy của mày, nên sau đó lấy trung úy biệt phái sang ngành Ngoại giao.
“Tao không quên, nét chữ mày rất đẹp, bay bướm, lẳng lơ nhất là chữ L, viết uốn éo, phô diễn lãng mạn tột cùng của trái tim muốn yêu hết đàn bà con gái. Mấy tập thơ của mày xuất bản, riêng Nhớ Thương, Vị Ý trình bày bìa, tao thích nhất. Nhưng cũng chỉ đôi ba bài tả lại giây phút thất tình: mày thất tình bạo hơn tao nhiều, nên tao thích vẻ thất tình vụng dại của tao, qua mày diễn đạt khá cảm động.
“Nhà văn Toan Ánh (), tác giả Vào làng cầm bút xuất bản ở Sài gòn 1993, viết về bà góa vui tươi họ Đinh; như thế này:
“… Giữa lúc ấy, một nhân vật thứ ba, bà Đinh “thị Ngọc Mỹ (tất nhiên chữ Mỹ chưa là tên thật) “xuất hiện và đã làm gián đoạn tâm tình thơ của “chúng tôi. Trước đó, khi xuân Canh thân tới, tôi còn “giữ bài thơ Kim Quy chúc tết và đây là bài thơ cuối “cùng tôi gửi tới nữ sĩ (…). So sánh giữa Kim Quy và “Ngọc Mỹ thì Kim Quy hơn về đủ mọi phương diện. “Kim Quy trẻ hơn, nhan sắc dù chẳng mặn mòi cũng “vẫn hơn bà Mỹ. Cô lại là một gái đồng trinh trong “khi bà Mỹ lại là một góa phụ có ba con. Về tài, Kim “Quy học cao hơn, có kiến thức. Nhưng sự hiểu biết “về cuộc sống bên ngoài, đôi bên như nhau: biết lái “xe, nhẩy đầm và biết làm thơ. Kim Quy có dự định “xuất ngoại nên rất thông thạo ngoại ngữ, nhất là “Anh văn, còn bà Mỹ vốn là nhà giáo nên ít trau dồi “về ngoại ngữ nào, Anh-Pháp hoặc Tàu-Nhật.
“Tôi gặp bà Mỹ vào một sáng chủ nhật ngày “11.5.1980. Như thường lệ mỗi sáng chủ nhật, tôi ra “thăm mộ nhà tôi ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Hôm “đó tôi thắp nhang và đang ngồi bên mộ, bỗng thấy “thiếu phụ tới hỏi thăm tôi về một ngôi mộ. Trong “nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi hàng mấy nghìn ngôi mộ “() tôi làm sao biết được mộ của ai.
“Ngọc Mỹ bằng tuổi cháu thứ hai của tôi, “năm đó 37 tuổi, tuổi Quý Mùi. Lúc gặp tôi bà mặc “một chiếc áo dài màu xám đã bạc màu. Hôm ấy bà “ra nghĩa trang thăm mộ chồng. Thắp nhang nơi mộ “chồng xong. Bà đi loanh quanh, khi tới mộ nhà tôi, “bà dừng lại hỏi thăm và tôi bắt chuyện.
“Nếu kể về nhan sắc, bà không đẹp, người khó “tính có thể cho bà là xấu, và riêng tôi, nếu chấm “điểm, tôi cũng cho bà một điểm dưới trung bình. “Mặt bà ngắn nên trông ngang phè, trán bà dô, hai “gò má cao, hàm răng vổ.Nước da nâu, mặt lại điểm “nhiều chấm tàn nhang, nhưng bà được đôi mắt và “nụ cười kéo lại. Đôi mắt hơi ướt như rơm rớm lệ “được rất nhiều cảm tình và nụ cười rất tươi.
“Sau khi bắt chuyện, bà thắp nhang và lễ “trước mộ nhà tôi. Hành động này khiến tôi phải đáp “lại và yêu cầu bà đưa tới mộ chồng bà, và tôi cũng “đã thắp nhang và lễ trước ngôi mộ chồng nàng.
“Lúc ra về, tôi mời bà về nhà và bà đã đi theo “tôi. Về nhà tôi, chúng tôi ngồi nói chuyện rất lâu. “Bà đã cho tôi địa chỉ và mời tôi lại chơi. Nhà bà ở “phường 13 quận Tân Bình, bà dạy học tại trường “Hiệp Hoà, đường Thánh mẫu phường 6 cùng quận.
“Sự gặp gỡ bà tại nghĩa trang, tôi đã ghi lại “qua bài thơ sau (…). Chúng tôi còn nhiều bài thơ “khác xướng họa với nhau. Là một nhà giàu, nhưng “bà làm thơ cũng hay, đôi khi lại còn dùng điển tích “trong thơ. Trước cảnh mẹ goá con côi, vừa muốn “nhắc nhở, vừa để trêu cợt, tôi gửi bà ba bài Đêm “Sầu Vắng (tao không trích). Hai bài thơ tôi đều gửi “cả tới bà Ngọc Mỹ và tôi đã nhận được bài họa:

“Mười năm thấm thoắt có bao xa
“Tự tạo ghen chi với bóng ta
“Thảm đạm gối loan khi thức ngủ!
“Lạnh lùng trướng hổ lúc vào ra!
“Liễu đành xanh nhạt hơi thu sớm
“Dậu phớt vàng phai bóng ác tà
“Cùng hội cùng thuyền cùng khắc khoải
“Tiếng thơm còn giữ đến khi già.

11-7-80

(………) “Tôi và bà Ngọc Mỹ cứ thơ đi thơ lại, xướng “họa trong một thời gian rất lâu, khoảng chừng trên “dưới một năm bỗng cả đôi bên đều như hững hờ. “Trước, thỉnh thoảng bà còn đến thăm tôi, hoặc tôi “thăm bà.
“(…..) Trong những vần thơ đã gửi cho tôi, bà “Ngọc Mỹ đã đáp lại bài thơ Nhớ Nhung bằng bài “thơ sau:

“Gửi Toan Ánh

“Bỏ sắc toan chi để lạ lùng
“Nam nhi như thế cũng hào hùng
“Giấy xanh giá quý nơi Dương địa ()
“Trướng đỏ dành cao chốn Mã Dung.”

NGỌC DIỄM

Tao kể lại chuyện này cho nghe, bởi Toan Ánh tuy đã ngoài tám chục, vẫn dẻo dai trong tình ái vụn. Ông thường rủ tao rong chơi, đôi khi đến nhà nữ sĩ Thư Linh, hoặc đến thăm Nhật Thu, đầu nậu xuất bản in nhiều sách của ông sau 1975. Ông hút thuốc lá như con tàu nhả khói, song giải thích, hút không hít vào, chỉ ngậm thở phì phì, bởi quen một cô bán thuốc lá trên đường Nguyễn Trọng Tuyển. Ông để ý đến cô và muốn cô bán đắt hàng. Ông viết rất khoẻ, chiếc máy chữ Olympia loại Traveller, sách vở bày tràn lan trên căn gác ở cuối đường Nguyễn Văn Trỗi, quận Phú Nhuận. Tao nghĩ thế này Liên ạ, dầu mày có là ông nội, ngoại; nhưng về tình ái, mày cũng có người bạn già khoẻ mạnh, lại gần gụi (không biết mày có quen biết Toan Ánh không) với bà Ngọc Mỹ, từng làm thơ tặng bác tuy nhiều tuổi vẫn chưa chịu già…
Tao không nhớ thằng nào viết lách ở Mỹ về Sài gòn chơi kể, dạo này mày làm nghề gác nghĩa trang (Nghĩa trang quốc gia Arlington), rồi viết báo Văn Nghệ Tiền Phong, nhưng tình nghĩa bạc tiền trả không sòng phẳng, mày lớn tiếng trách chê. Làm người gác nghĩa trang, có gì không tốt?. Gác cổng cho người chết chờ sống lại theo tiếng kèn tái lâm của đấng Christ; còn thân thể mày sống chẳng lẽ đã chết tâm linh?. Tướng tá Việt Nam sang Huê Kỳ, như tướng L. xách đồ nghề hớt tóc dạo, viết thư cho cựu tướng Nguyễn Hữu Có (thường gặp tao vào chủ nhật, thờ phượng Chúa ở Hội thánh Báp Tít) mười mấy trang thư kể nỗi nhọc nhằn tướng lưu vong. Phi công đại tá Đinh văn Chung, từng Tham mưu phó CTCT Bộ Tư lệnh Không quân cũng chỉ làm gác gian cho một Hội thánh Báp tít ở miền Nam nước Mỹ. Xưa tao từng làm lính của ổng, nay phụ xe, còn vinh quang chán Hoàng Ngọc Liên ạ!. Tao thường đùa tướng Có: Ông từng là tướng ba quân, tư lệnh nhiều Quân đoàn; bây giờ ông là Đại tướng Nguyễn Hữu Không. Lẽ, Hữu là Có, Hữu Có là có có – trước 1975 chỉ mới trung tướng, nay tự phong đai tướng Nguyễn Hữu Không đúng biện chứng pháp. Ông còn là Trưởng ban Tráng niên Hội Thánh; tao Phó ban. Mỗi lần tướng Có bực mình với Phó ban Tráng niên, định nói điều gì không dám nói thẳng với nhau. Thường thường vào dịp kỷ niệm 30 tháng 4, báo Công An Thành Phố hay cử mấy nhà báo cũ nằm vùng đến phỏng vấn ông. Có lần tao đọc báo mới biết ông đang chăn gà, hình in bên cạnh. Không hiểu khi còn đứng trước ba quân, có tham quyền cố vị không?. Bây giờ làm chức sắc trong Hội thánh, chẳng quyền lợi gì nhưng vẫn lấn sân việc làm của Phó ban. Tướng Có tranh giành thầu sửa chữa Hội thánh với một tín hữu khác, thắng rồi, ông ngâm nga câu kệ: “Với tôi, tiền bạc là ông thầy tốt nhất” (avec moi, l’argent c’est un très bon ma ýtre). Thôi bỏ qua chuyện đồng bạc tanh tởm đi, nói chuyện hát thánh ca nhé!. Mày nhớ nhạc sĩ thiếu tá Vũ Đức Nghiêm không?. Trước khi Vũ Đức Nghiêm sang Huê Kỳ, diện H.O, tác giả Thi Thiên 90 tham dự buổi nhóm, để nghe ban hát trình diễn Thánh ca. (một bài thánh ca do Nghiêm sáng tác trong trại cải tạo, Ban Tráng niên Báp tít tập thật mệt, trình diễn kéo dài18 phút). Mặc dân sự, Nghiêm vẫn giơ tay chào ông Trưởng ban Tráng niên là “ Chào Trung tướng” đúng lễ nghi quân cách. Xong, vào ngồi bên cạnh tao. Nghiêm bảo: “…Thằng cháu tôi (Đinh Thái Vinh) điều khiển ban nhạc Tráng niên hát Thi thiên 90 chưa làm tôi hài lòng. Hôm nào ông đi với tôi qua Hội thánh Trương Minh Giảng, nghe Đinh duy Linh điều khiển, ông mới cảm được tinh thần bản thánh ca hay đến cỡ nào?”. Cựu tướng Có tập hát cùng chúng tôi, bị bắt bẻ nào là hát chưa đúng nhịp, giọng ba chưa đúng tông. Tao bảo ông: “ Xưa, tướng Quân Đoàn, hại hành tác giả đại úy Vũ Đức Nghiêm làm sao, nay Vũ Đức Nghiêm nhạc sĩ thánh ca tài danh hành hại lại Trưởng ban Tráng niên bấy nhiêu. Thưa ông Trưởng ban, đời c’est la vie, đúng ra là tiền c’est l’argent, rằng thưa cô…(nói răng cô thừa) theo kiểu mấy sinh viên võ bị Đà Lạt thời điểm 54-55 ở Đà lạt trêu ghẹo hai cô rất xinh có răng khểnh ở hiệu sách đường Minh Mạng.
“Chủ nhật vừa rồi, ông Trưởng ban tráng niên vắng mặt thờ phượng. Hỏi ra, ông được mời đi đóng một cuốn phim vidéo, quay để chiếu vào dịp 30/4/99 tới. Ông hỏi có biết phương danh đại tá Nguyễn Thành Trung, anh hùng không quân bây giờ (phi công trung uý F.5 xưa) cũng tham dự quay phim không?. Có những sĩ quan đi H.O từng hăm he, nếu tướng Có sang Mỹ theo diện H.O, họ sẽ trả thù… nào ai biết trả thù gì. Mày có biết không, thi sĩ trung tá?. Trả thù riêng hay chung, chỉ Dieu seul le sait! (Có Trời mới biết!).
“Hoàng Hải Thủy viết báo kể rằng chủ nhật hay ngày lễ, tao hát thánh ca ở Hội Thánh Báp tít Ân điển. Đúng vậy, nhưng chỉ từng hồi, từng lúc, không những tao không thích tập hát sáng tác thánh ca của ông Trần Bửu Đức (mày biết là ai rồi?), lại thêm có một ông nhạc sĩ khác, sáng tác thánh ca, mang tên Si-ôn. Và Trưởng ban hát tráng niên chỉ thích nhạc thánh ca của ông này, nên tao không tham dự, đành chỉ hát nhạc thánh ca của Hội thánh Tin lành ở nhà cho một mình Chúa thưởng thức.
“Hội thánh Báp-tít còn hai Cơ đốc nhân nữa là nghệ sĩ cũ của Sài gòn. Hoàng Thư, nghệ sĩ Trấn thủ lưu đồn và đạo diễn kịch Lê Văn. Ông đạo diễn này từ Mỹ trở về, sau khi đạo diễn vở kịch Bến Nước Ngũ Bồ () lại tin nhận, học báp têm tại Hội thánh Báp tít Ân điển. Hiện nay lão tướng đã ngoài 80, ở tận phường 19 quận Tân Bình, cư xá Huỳnh Văn Chính, nơi dân cư bị giải tỏa ở kinh Nhiêu lộc, quận 3 được sắp xếp vào đây cư ngụ. Lão tướng không có phương tiện đi thờ phượng. Có lần, tao nổi hứng, đến chở ông bằng xe gắn máy, lượt đi không kẹt xe, mất nửa tiếng, lần về cũng vậy, nên thỉnh thoảng mới đón ông đi nhà thờ một lần, hay đúng hơn một năm một lần. Buổi tiễn đưa Thượng Sỹ đến nơi an nghỉ cuối cùng (hỏa táng ở Bình Hưng Hoà), Lê Văn không đưa tiễn. Chắc Lê Văn nhìn quỹ thời gian không còn dài nên hoảng sợ chăng?. Nhà ông ấy đã bị bọn xã hội đen xiết nợ; nợ không trả, chất chồng lời gấp mười, hai ba mươi lần; nhà được cấp chủ quyền bị tước đoạt. 23 tết, không tiền, ông gọi điện thoại vay tiền Thư Linh, nước mắt ngọt ngào tuôn chảy, bên này đầu dây điện thoại, Thư Linh cũng muốn khóc theo. Nhà thơ nữ nhờ tao đem tiền đến cho đạo diễn kịch, lần này khóc thật cho chính số phận mình.
“Bà Lý, sui gia của mày, rất sốt sắng hầu việc Chúa. Lần tới thăm tao, nội soi tuyến tiền liệt, bà đã tranh luận với tao, làm sao phân biệt được ý Chúa, ý mình. Tao đành thua, khâm phục, ý chí sốt sắng của bà bảo vệ thành công; không những chỉ bằng lời tranh luận mà cả đời sống đạo hàng ngày minh chứng. Bà về Sài gòn lần nào cũng đưa được nhiều linh hồn tội nhân đến với Chúa. Hết bà con ở Thủ Thừa: bà từng nộp phạt cả triệu đồng cho địa phương, khi nhóm họp họ hàng lại rao truyền lời Chúa mà không khai báo. Tao không hiểu những người ấy có đứng vững trong đấng Christ lâu dài không, nhưng tao nhìn lại, như Lê Văn được tao dẫn tin Chúa, đến nay cũng lại bỏ nhóm như những kẻ quen làm. Hoặc con trai lớn, út, gái lớn của tao cũng vậy, người đến với đấng Christ được cứu rỗi, phải là quyền tự do của cá nhân tự đến, sự rời bỏ cũng tự ý lìa xa – không thể ai ép buộc, ngay cả Đấng Toàn Năng đầy quyền hành. Tao chỉ còn biết cúi đầu cầu nguyện cùng Người…. Nhớ có một lần gặp mày đến Hội thánh Báp tít, chắc bà sui mời ông sui đi thờ phượng. Mày đạp chiếc xe mini thấp tủn, thân người tròn ục, không biết lời hằng sống có thâm nhập vào trí óc mày không?. Cũng như Cao Mỵ Nhân được vợ chồng tao mời đến Hội thánh nghe truyền giảng; nhưng hình như phủi những lời rao giảng mất rồi?. Tao bỏ lửng câu hỏi mày: “Hoàng Ngọc Liên. Cao Mỵ Nhân sang Huê Kỳ, là tín hữu của Hội thánh Tin lành địa phương chưa?”. Một sĩ quan khác theo diện H.O sang bên ấy, Nguyễn Xuân Thiệp, đôi ba lần tao gặp đi thờ phượng ở Hội thánh Báp tít, không biết sang Texas còn đi thờ phượng tiếp?. Song tác giả tập thơ mới in Tôi cùng gió mùa, Nguyễn Xuân Thiệp được coi là nhà thơ gần gũi kiếp nhân sinh, nặng tính chất trí tuệ như nhận xét của chủ bút Văn Học hải ngoại ():

…như một lời chia tay
tôi gửi lại
một góc phố rực lá vàng
quán cà phê mở cửa dưới giàn hoa giấy
tiếng chim lúc mình hôn nhau
tôi gửi lại
căn nhà gió động cây đàn gỗ
chùng dây
cửa sổ nhìn ra sông, hoàng hôn tím…

“Hoàng Ngọc Liên, mày có xuất bản tập thơ nào không?. Ở Việt Nam, bây giờ, thơ lạm phát; đọc trong thư của Hoàng Hương Trang gửi nữ sĩ Tuệ Nga ở Mỹ rõ ngay thôi. Thơ thời kinh tế thị trường; thơ dở, thơ hay, thơ chẳng hay chẳng dở, chẳng thể phân biệt dễ dàng. Thơ bát nháo, văn chương cũng bát nháo, mỗi năm chừng bẩy trăm tập thơ xuất bản, dày mỏng từ năm mươi trang đến hai trăm trang, nội dung thượng vàng hạ cám. Đọc thơ mệt nhoài như vừa làm tình xong, nhễ nhại mồ hôi, kinh tởm thơ đến dãi chảy khỏi miệng lúc ngủ.… Nói thế, để thấy rằng thơ Nguyễn Xuân Thiệp ở xa, đọc chưa đến nỗi mệt nhoài như thế!.
“Đã nhận E-mail – mới biết mày ở North Carolina. Trả lời ngay đây về vụ hỏi về Nguyễn Mạnh Đan bị Võ An Ninh khiếu nại qua tấm huân chương “Vì sự nghiệp văn học nghệ thuật” như thế nào nhé.
“Trước 1975, tôi và Nguyễn Mạnh Đan chỉ là bạn thường thường bậc trung. Gặp anh lần đầu tiên; với tư cách người bố có đứa con trai mụ mẫm đầu lòng sáu tháng tuổi (đầu năm 1967), bế lại hiệu của anh trên đường Phan Thanh Giản, gần bệnh viện Bình Dân, để anh chụp ảnh. Ảnh đẹp, tôi cho phóng to vài tấm, mỗi tấm kích thước 40x50. Sỡ dĩ biết tiếng nhiếp ảnh gia tài danh quốc tế, nhờ Nguyễn Mạnh Thắng, em trai anh. Tay này từng chụp ảnh chân dung cho tôi ở một tiệm trên đường Hai Bà Trưng. Sau tôi dùng tấm ảnh này in vào bìa sau cuốn truyện Nửa đường đi xuống, khổ sách 21x33, bán hai trăm đồng một cuốn, in rô-nê-ô, dày trên trăm trang. Như đã có một lần, tôi viết ở đâu đó, trong cuốn sách, không nhớ được, Phạm Duy nhìn thấy truyện bầy ngoài tủ kính hiệu sách lớn nhất Sài Gòn khi ấy, hiệu Portail (Xuân Thu) chàng nhạc sĩ này vừa trầm trồ nhắc lại, như vừa khen vừa trách vậy. Sau 1975, tôi thường lại nhà anh, dưới mở tiệm ảnh, trên lầu một phòng khách thật rộng, nhiều tranh ảnh bày biện, có một bức họa của Thái Tuấn, như cho biết lúc hoạ sĩ này đói quá, sau 1975, đem tranh bán, anh khấm khá hơn bạn bè; mua ủng hộ hiện bức tranh này có giá; nhưng chắc chắn có ai hỏi mua, Nguyễn Mạnh Đan chỉ lắc đầu.
Tháng 5/1998, đến bệnh viện Bình Dân để được nội soi tuyến tiền liệt, thì anh đi Hà Nội và ra tận Cao Bằng hay đâu đó Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Điện Biên chụp ảnh. Sau thành công tập sách ảnh Việt Nam Quê hương tôi, in bằng hai thứ tiếng, Việt và Anh; mỗi cuốn giá bán thu vào cho tác giả năm trăm ngàn đồng. Nhà sách cho ký gửi sẽ tính phần trăm thêm, có hiệu tính mười hay mười hai phần trăm. Buổi đi phát hành, tôi chở anh trên chiếc xe Honda, như trên gọi đùa xe thồ chở văn nghệ sĩ - đến những nhà sách lớn ký gửi. Nhà sách trả tiền theo số sách bán được. Vốn bỏ ra như hoá đơn tài chánh cho xem, bốn trăm chín mươi lăm triệu cộng một triệu hai, in hộp đựng sách ảnh. Nhà xuất bản Văn Nghệ TP.HCM, đứng tên trên bìa một, nên sách ký gửi ở Cali không được nhận. Chỉ ở bên Đức sách có thể bầy bán.
Nguyễn Mạnh Đan trả lời tôi, khi được hỏi, nhà sách nào thanh toán sòng phẳng nhất?. Không phải Nguyễn Huệ, Sài Gòn, Công ty Phát hành sách Khu vực II…, chỉ một nhà sách Xuân Thu trả tiền sòng phẳng mà thôi. Nói đùa với anh, cửa hàng trưởng Phi Hồng, tốt nghiệp bên Liên Xô cũ về nước, có bằng tốt nghiệp tiếng Pháp học tại Nga. Chẳng ai tưởng bằng không bao giờ dùng đến; nhờ chính sách mở cửa, sách Pháp nhập vào Sài Gòn, người duy nhất trong Công ty Phát hành sách Fahasa, cô Phi Hồng được bổ nhiệm. Ngoài việc giao dịch với các cơ quan văn hoá Pháp, nhà xuất bản Pháp, còn bán sách Pháp nhiều chủng loại nhất của Sài Gòn hôm nay.
Tết năm nay, con Mèo mang danh xưng Kỷ Mão, mùng tám tết, Nguyễn Mạnh Đan vào mổ ruột ở bệnh viện Bình Dân. Từ phòng mổ nằm cáng chuyển sang phòng hồi sức, cáng bên cạnh anh là một phụ nữ ngoài bốn mươi cũng vào mổ, nhưng chắc không mổ phần dưới cơ thể. Tấm chăn mỏng phần phật đắp ngang trên thân người; làm anh phải giụi mắt. Một cơn gió thoảng vô tình thổi tốc tấm vải che thân sau khi mổ. Dưới tấm đắp, hình hài tuyệt mỹ Thượng đế ban cho ngay từ khi lọt lòng. Nhắm mắt lại, cảm ơn Thượng đế tạo nên hình hài người nữ có thân hình tuyệt mỹ - nhưng nếu không có trận gió, thì anh đã không được chiêm ngưỡng vẻ đẹp chưa từng thấy được trong đời. Nên khi đi lại được, anh loanh quanh qua các phòng, mong được thấy lại người phụ nữ chỉ một lần nữa thôi, song mất tăm. Và như vậy Thượng đế chỉ ban cho anh thấy được thân hình Vệ nữ ấy một lần trong đời.
Chiều nay đến với tôi câu đầu tiên hỏi, có phải đã tham dự một buổi văn nghệ tất niên, gặp nhiếp ảnh gia Võ An Ninh, nhà thơ Giản Chi, nhà văn Thanh Thương Hoàng, nhà phê bình văn học Uyên Thao, nhà thơ Lê Thị Kim v.v.. và v.v.. không?. Hỏi ai cho biết tin, khi anh đang nằm chờ mổ?. Anh đáp, Văn Quang tác giả Chân trời tím. Còn hỏi tại sao buổi ấy, tôi gọi Văn Quang, Nguyễn Thuỵ Long, Uyên Thao, ngồi cạnh các cụ; với câu nói chõ từ bàn kia sang, thật xấc xược.
- Xấc xược, như thế nào được gọi là xấc xược?.
- Mấy thằng bố láo ngồi cạnh bô lão.
- Thế chẳng xấc xược là gì?. Võ An Ninh, nhiếp ảnh gia trên chín chục, Giản Chi cũng tương tự, còn những thằng bố láo danh tiếng, tuổi tác cũng ngoài sáu chục cả.
- Ông nói rất đúng, chẳng hạn, tóc ông chưa bạc lắm, râu như tóc bạch kim phụ nữ Tây phương, mà ông thường đùa: cơm không no bạc râu; sầu đời thì tóc bạc. Ông nói đúng quá, nhà văn Nguyễn Thuỵ Long, sinh 1938, tóc bạc còn hơn lão gia Võ An Ninh, càng hơn với lão Giản Chi.
Nhớ lại cách đây cả gần chục năm, thời kỳ bao cấp, nhà gia phả Dã Lan Nguyễn Đức Dụ đạp xe đến tôi, rủ cùng xuống nhà lão Giản Chi ở 46 Hoàng Diệu, quận 4:
- Ông đi với tôi cho vui, chắc rất ích lợi cho cuộc phỏng vấn. Là người cuối cùng của khoa thi Hương cuối cùng. Nhớ xưa kia chủ khảo trường Hà nam khoa Đinh dậu Cao Xuân Dục không? Ông này rất trọng việc học, từng bỏ tiền thuê người chép lại sách quý hiếm, chia cho các con của cụ mỗi đứa giữ một bản. Còn là tác giả Quốc triều Hương khoa lục (chép đủ các khoa thi Hương) và Quốc triều Đăng khoa lục (chép đủ khoa thi tiến sĩ, cả Hương và Đăng của thời Nguyễn); chính điều này cũng chẳng làm hài lòng nhà thơ Tú Xương; khiến ông này vịnh Cao Xuân Dục:

“Này này Hương thí đỗ khoa nào?
Nhân hậu thay lòng quan Thượng Cao
Người ta thi chữ, ông thi phúc
Dù dở dù hay cũng được vào!”

(theo Lối xưa xe ngựa của Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Paris 1998)

Ông thấy đấy, lão Giản Chi trả lời báo Tuổi trẻ, phóng viên Trần Hữu Lục ghi lại, khen hết lòng Cao Xuân Dục nâng đỡ học trò, xin cho các Phó bảng được hưởng quyền lợi như Ông Nghè. Lão Giản Chi, người thi Hương khoá cuối cùng, hết lòng ngợi ca quan Tứ trụ Triều đình, quan nhất phẩm – lão hỏi sao nay ít người biết đến Cao Xuân Dục?
-Tôi đi với ông chẳng ngại, chỉ đề nghị một điều: giới thiệu tên tục, nhất nhất không đề cập gì đến văn chương chữ nghĩa. Còn việc ông ấy ca tụng Chủ khảo trường Hà nam khoa Đinh dậu, với tôi chẳng phải điều quan tâm.
Lão Giản Chi mặc bộ quần áo lụa trắng, ngồi trong nhà đang đọc báo Tuổi trẻ, bài phóng viên Trần Hữu Lục phỏng vấn. Lão bỏ kính trắng xuống, nheo mắt hỏi:
-Ông là Dã Lan Nguyễn hữu Dụ đến phỏng vấn tôi?
Quay sang tôi, lão có ý hỏi là ai?
Tôi nhìn sang ông Dã Lan Nguyễn đức Dụ, nheo mắt:
-À quên thưa cụ, người bạn trẻ tên Tường cùng đi với tôi cho vui. Có chuyện gì xảy ra dọc đường, có người giúp đỡ. Tôi thường bị choáng đầu bất tử. Thưa cụ tôi là Dã Lan Nguyễn đức Dụ ạ.
-Đức với Hữu chẳng quan trọng, có khi Hữu lại hay hơn Đức đấy ông ạ. Nhưng thôi tên cha mẹ đặt Bùn cũng chịu, dù thông minh thượng thừa. Ông muốn phỏng vấn xin ảnh hả? Phỏng vấn thì chấp thuận, còn ảnh - ông hãy làm như phóng viên báo này, đem máy tới chụp. Tôi không đủ ảnh để tặng mọi người cần.
-Thưa Cụ, cụ cho tấm nào cũng được ạ?.
-Tôi chẳng có ảnh, có cũng không cho là không, cho chụp là tốt lắm rồi.
Nói với qua Dã Lan: “Ông ngồi đây phỏng vấn tiếp, tôi đến hiệu ảnh gần đây mời họ đến chụp vậy”.
Khi tôi và thợ ảnh trở lại, lão Giản Chi hỏi tôi:
-Ông viết có nhanh không?.
-Sao bác hỏi tôi vậy?.
-Ông này viết chậm quá, không ghi đủ được điều tôi trả lời. Hơn nữa, ông chẳng hiểu gì về văn học, vợ thứ của tôi họ Hoàng, em gái Hoàng Thúc Trâm – Có biết Hoàng Thúc Trâm là ai không?. Ông ta lắc đầu. Còn ông làm nghề gì; biết Hoàng Thúc Trâm không nào?.
-Làm nghề lơ xe buýt, có đọc đôi chút; ông Hoàng Thúc Trâm tác giả Vua Quang Trung, ký Hoa Bằng.
-Khá, làm lơ xe còn biết Hoàng Thúc Trâm là Hoa Bằng. Còn nhà gia phả này lại không?.
-Thưa bác, nếu bạn vong niên của tôi không biết ông Trâm nào đó có bút danh khác Hoa Bằng thì không thể là nhà gia phả học danh tiếng?. Thưa bác, lão gia này không những được thừa nhận là nhà gia phả độc nhất của Việt Nam (cả hai miền), mà từ năm 1972, một phái đoàn các nhà gia phả học tăm tiếng của Mỹ, viện đại học của bang Utah sang đây để phỏng vấn, xin gặp lão ấy đấy.
-Lúc nãy nói nhà báo phỏng vấn tôi, từng phỏng vấn ông cách cả mấy chục năm, như thế ngoài nghề làm lơ xe, chắc ông còn dính líu đến chữ nghĩa, chẳng lẽ nhà báo lại đi phỏng vấn anh lơ xe của thời Việt Nam Cộng Hoà, thời ấy coi như nghề mạt rệp.
-Chính nghề làm văn chương mới là mạt rệp, bởi lẽ chẳng còn cách làm gì khác mới theo nghề này. Cổ nhân từng dạy thế. Mỗi khi có tiền dư chút đỉnh, mua sách vì tôi rất thích đọc. Như mới đây, dành tiền mua được cuốn Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, đọc rất bổ ích, càng hơn khi đọc đến bài thơ của lão Giản Chi có tên thật Nguyễn Hữu Văn, làm công chức, sau bị đổi lên Lai Châu. Ông yêu một cô gái Thái, làm bài thơ tình bầy tỏ nỗi lòng của gã si tình, rất mới và nhiều tân ý. Lại đọc đến lời bình của ông Hiến Lê, tác giả bài thơ kia có bề ngoài giống tướng cướp. Bây giờ được nhìn dung mạo bác, quả xưa kia bác giống tướng cướp thực.
-Ông đọc, nhớ khá kỹ. Như thế, ông thấy bài thơ của tôi viết cách đây trên nửa thế kỷ hay chứ gì, mà anh Lê; anh này dốt chữ nho lại bố láo khi nhận xét về tôi như vậy?.
-Thưa bác, gọi ông Lê vậy là việc của bác, nếu coi ông ấy dốt chữ nho so với bác; người từng thi Hương khoá cuối cùng, chẳng có gì sai!. Nhưng có điều bác là đồng tác giả bộ Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc, chữ Hán phải đủ đọc, đủ nhớ mặt chữ viết, bác lại chê người đồng tác giả dốt, vậy bác tất giỏi, rất giỏi chữ Hán?.
- Tôi không muốn nói như vậy, nhưng quả anh ấy dốt chữ Hán thật đấy.
- Tôi xin lỗi bác tha tội cho, bác cũng bố láo như đã chê ông Lê bố láo. Bởi lẽ, một người giỏi chữ Hán như bác lại cộng tác với một ông dốt chữ nho như ông Lê sao được?.
Mặt lão Giản Chi biến sắc hồng, bèn gọi người cháu ra, bảo:
- Tiễn ông này ra cửa ngay giúp bác.(lão nói theo kiểu đối thoại phim Hồng Kông)
Quay sang ông Dã Lan, tôi nói:
- Ông ở lại ghi chép nhé, bác chủ nhà không muốn có mặt tôi ở đây nữa.
- Tôi xin lỗi và xin chào bác.
Nhìn sang Chú Tư Gà, tôi nói:
- Lúc nãy tôi nói đùa: “mấy thằng bố láo ngồi cạnh bô lão”, là có tích đấy. Ông đừng lý luận câu nói kia ngược lại, mấy thằng bố láo ngồi cạnh bô lão đều là bọn bố láo với nhau. Nói như từ thường dùng bây giờ cào bằng.
Không kể lại cho Chú Tư Gà nghe về Võ An Ninh như lời Nguyễn Mạnh Đan kể.
Một bài báo nhỏ của Nguyễn Hữu Tài viết, bây giờ Hà Nội ít ai hay: “Một nhiếp ảnh gia nổi danh chụp Tháp Rùa, phía sau tháp có mấy cành liễu theo gió bay phơ phất. Chụp cảnh này xong, ảnh rất đẹp và đặc biệt, dự giải quốc tế, được giải cao. Nhiếp ảnh gia không muốn cho một ai khác chụp cảnh Tháp Rùa như tấm vừa được giải thưởng, nên nhiếp ảnh gia này thuê người cưa cành liễu kia.”
Nhiếp ảnh gia vốn hảo ngọt, đàn ông ai chẳng ưa thích gái đẹp, dầu người ấy là nàng hầu đi nữa!. Tây gọi họ concubine, nhiếp ảnh gia không dằn được cơn dục lòng; muốn nàng hầu hãy đẻ cho nhiều đứa con gái đẹp xinh như nàng. Ông thi hành cho bằng được. Vợ chính thức, Tây gọi premier rang, như trong hôn thú, đang tại vị, ghen quá ghen, sinh bệnh lìa đời. Nguyễn Mạnh Đan được mời dự thượng thọ hai cụ vào đúng ngày 6 tháng giêng dương lịch, 199… Ông Đan không tới tham dự thì thôi, miệng bô bô trả lời với các nhiếp ảnh gia khác, không muốn nhìn thấy nàng concubine kia đứng song song với nhiếp ảnh gia ở bậc tam cấp. Bởi ông Mạnh Đan bênh bà cả ghen chết oan! Ông không thể cúi đầu chào nàng concubine ấy, dù nàng đẻ được nhiều cô gái rất đẹp, y như điều đàn anh xưa kia mong muốn.
Câu chuyện đến tai nhiếp ảnh gia, Võ An Ninh rất bực Mạnh Đan, dầu họ quen nhau từ Hà Nội trước 1954. Xưa kia, Nguyễn Cao Đàm gọi Võ An Ninh là thằng ma lanh vặt (họ xấp xỉ tay nghề vào bậc tài danh trước khi có hiệp định Genève 1954). Chẳng hiểu sao lại vậy, phóng viên nào thích biết tận tường, nếu sang Úc châu nên đến phỏng vấn Nguyễn Cao Đàm. Đã có lần tôi đọc bài báo nhỏ của nhiếp ảnh gia nữ Đỗ Ngọc viết về nhiếp ảnh gia tài danh này trả lời về nghề và nghiệp ảnh. Nhìn lại vài tấm ảnh chân dung từ những năm 1963; có tấm ảnh chụp, tôi cũng như một tên tướng cướp, miệng ngậm thuốc lá, mặt nghiêng nghiêng, xấc láo, ngạo mạn nổi bật; có vậy cũng từ bàn tay đạo diễn nhiếp ảnh gia tài danh Nguyễn Cao Đàm. Hàng chữ Nửa đường đi xuống trên bìa truyện NĐĐX, nét chữ Nguyễn Cao Đàm, và tấm ảnh trên bìa sách cũng của ông. Tết năm 1975, vợ chồng chúng tôi sang chúc Tết vợ chồng ông ở 53 Nguyễn Trường Tộ, quận 4. Ông đem máy chụp vợ chồng chúng tôi nhiều bức, chỉ có lần này không nhìn thấy ảnh mà thôi. Và tôi vẫn còn giữ một tập sách ảnh của Võ An Ninh, với lời đề tặng rất chân tình, dầu lần đầu gặp, qua sự giới thiệu đưa đến thăm, qua nhà thơ Vương Đức Lệ. Có một lời xin mạn phép, gửi tới nhiếp ảnh gia Võ An Ninh. Ông khiếu nại trên báo làm gì về tấm huy chương vì sự nghiệp văn học nghệ thuật mà Nguyễn Mạnh Đan được tặng cùng đợt với Lý Văn Sâm. Danh tài ông chẳng lẽ chỉ được xác nhận khi chính ông chưa được trao tấm huy chương này?. Còn đe doạ sẽ kiện Nguyễn Mạnh Đan về tội danh phỉ báng, như chuyện tôi kể trên, vào tối tổ chức thượng thọ 6 tháng giêng năm nào. Ông có gan bảo nàng concubine sinh cho ta nhiều con gái đẹp; nàng làm ông toại nguyện, nên nhiều tấm chân dung phụ nữ khiến ông chiếm giải thưởng cao về nét đẹp thiếu nữ Việt Nam. Điều này chưa khiến ông hài lòng sao vì đó là sự thực, không thể phủ nhận. Chẳng lẽ Mạnh Đan nói sai việc này, có chăng, quá đáng ở chỗ không đến tham dự còn nói ‘tại sao không đến tham dự – khiến cho Chủ Tịch Hội Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật phải mời Uỷ viên Nguyễn Mạnh Đan ngồi nán lại tâm sự. Ông này là đại diện Hội đề nghị cho ông Đan được giải thưởng Vì Sự Nghiệp Văn Học Nghệ Thuật… Khi Võ An Ninh khiếu nại với nhà thơ Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em, Nguyễn Đình Thi trả lời chỉ duyệt theo đề nghị từ thành phố Hồ Chí Minh gửi ra. Đúng như danh ngôn từng nhận định; tấm huy chương nào cũng có hai mặt. Ôi huy chương, vì mày ai đã làm khổ ai đây!!!

“Bây giờ tao kể cho mày nghe về cuốn Chân dung nhà văn của Xuân Sách. Không giống Phổ Đức ở Miền Nam viết 99 vì sao trước 1975, mỗi người bốn câu, tài năng cao như Nhất Linh gấp bốn năm lần hơn. Còn bây giờ Xuân Sách làm thơ tự do, cũng lấy tên tác phẩm lồng vào chân dung. Cứ như thi sĩ, cuốn này khởi sự từ những năm 60 (tôi đang độ tuổi 30 – độ tuổi đúng chính xác, ông sinh năm 1932) Chân dung nhà văn ra mắt vào năm 1992, tròn sáu chục. Sách tuy mỏng, 100 chân dung, nhưng gây một dư luận văn chương ồn ào. Quyển tao có đây, một bản đánh vi tính khổ A4 giấy Bãi bằng (Ở Hà Nội, các hiệu photocopy dùng giấy này in cho khách, khác với Sài gòn, giấy trắng) do nhà văn B.S. tặng. Tâm sự của tác giả như bài mở cho tập sách mỏng, có đoạn: “…Những buổi lên lớp tập trung tại hội trường gồm hàng ngàn sĩ quan, anh em văn nghệ, các nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ… thường ngồi tập trung với nhau ở những hàng ghế cuối hội trường làm thành một xóm văn nghệ… Mấy câu chuyện tào lao, hoặc che kín cho nhau để hút một hơi thuốc lá trộm, nuốt vội khói nhiều khi ho sặc sụa. Nhưng rồi chuyện đó cũng bị phát hiện, bị nhắc nhở phê bình. Vậy phải thay đổi chuyển sang bút đàm…”.

“Xuân Sách có lối nhìn rất sắc, như trường hợp nói đến Hồ Phương, ông viết:

Trên biển lớn lênh đênh sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem…

“Rồi ông đưa cho Nguyễn Khải đọc. Như ông tâm sự: “…Đến giờ giải lao chúng tôi ra ngồi quanh gốc cây sấu già, Nguyễn Khải mới đưa cho Hồ Phương đọc. Mặt Hồ Phương hơi tái và cặp môi mỏng của anh hơi run. Nguyễn Khải nói như cách sỗ sàng của anh: “- Thằng này (chỉ tôi) ghê quá, không phải là trò đùa nữa rồi!.
“Tôi hơi hoảng, nghĩ rằng đó chỉ là trò chơi chữ thông thường. Sau tôi hiểu ngoài cái nghĩa thông thường, bài thơ còn chạm vào tính cách và đánh giá nhà văn. Mà đánh giá nhà văn thì có gì quan trọng hơn là tính cách và tác phẩm. Bài thơ ngụ ý Hồ Phương viết nhiều chăng nữa vẫn không thể vượt tác phẩm đầu tay và vẫn cứ Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem ().
“Vương Trí Nhàn lúc này đã là nhà phê bình trẻ tuổi của Văn Nghệ Quân Đội (lời của Xuân Sách)… cho rằng: “Những bài thơ này ông Sách viết ra khi có con quỉ ám vào ông ấy”. Và Vương Trí Nhàn là người đem thơ chân dung của Xuân Sách đi phổ biến rộng rãi, cùng với một số anh em khác phổ biến để được chiêu đãi bia. Ông gọi đó là “nhuận bút đầu tiên nhưng không thuộc về người sáng tác mà thuộc về người phát hành!”.
Rồi Xuân Sách tâm sự tiếp:
“…Tất nhiên những bài thơ đó được phổ biến rộng trong giới. Lúc đầu còn kín đáo, nhưng dần dần thành công khai, và nhất là thành một tiết mục không thể thiếu trong những buổi liên hoan của anh em văn nghệ. Có một buổi cũng khá đông đủ các nhà văn, khi vào tiệc rượu, mọi người yêu cầu tôi đọc thơ về các nhà văn có mặt. Trong không khí như vậy, dù các anh các chị ấy có giận cũng cười xòa làm vui, riêng tôi thấy mình được là trò vui cho mọi người cũng hay chứ sao. Tôi nhớ sau buổi vui, anh Nguyễn Đình Thi có nói đại ý đem cái tài đó làm những việc có ích hơn là châm chọc nhau. Ngay đó một anh bạn rỉ tai tôi: Châm chọc cũng cần có tài và có ích lắm chứ!. Những bài thơ cũng được lan truyền trong nhiều giới khác. Hồi đó tướng Lê Quang Đạo là phó chủ nhiệm tổng cục chính trị, cấp trên của giới văn nghệ trong quân đội, ông rất thích những bài thơ chân dung, thường trong giờ nghỉ những buổi họp với giới văn nghệ, ông đề nghị đọc cho ông nghe. Sự thích thú tuy có tính cách cá nhân nhưng rất hay cho tôi. Tôi cũng nhận được nhiều phản ứng khác nhau, có khi khen quá lời, có khi bực tức. Tôi kể ra vài trường hợp đặc biệt (…). Nguyễn Khải chỉ vào bài thơ nói với tôi: Rất tiếc, một tài năng lỡ tầu! (…)
“Một lần tôi gặp Xuân Diệu trong quán bia hơi, tôi nâng cốc đến chúc mừng ông vừa được bầu làm viện sĩ của viện hàn lâm CHDC Đức. Ông chạm cốc: Chúc mừng họ nhà Ngô ta, những bài thơ của cậu đi vào cõi bất tử (). Điều tôi không ngờ là cụ Đặng Thai Mai cho người gọi tôi đến nhà bảo tôi đọc thơ chân dung cho cụ nghe. Con người nổi tiếng uyên bác thâm trầm ấy, ngồi đặt cằm lên đầu gối cười khục khục. Đột ngột cụ ngước cặp mắt tinh anh lên nhìn tôi: Thế còn Đặng Thai Mai?. Tôi lúng túng: Viết về bác rất khó. Cháu đang còn suy nghĩ, thưa bác!. Dường như ông cụ không tin lời tôi. Ít lâu sau cụ lại gọi đến: Anh viết về tôi rồi chứ?. Trước, tôi chỉ nghĩ cụ không để ý đến trò chơi chữ ngông nghênh này, hóa ra cụ quan tâm thật sự khiến tôi vừa cảm động vừa thích thú. Nhưng biết sao được, viết về cụ thật khó và đến nay tôi vẫn chưa viết được. Còn cụ Nguyễn Tuân, con người vốn thích đùa một cách cao sang và thâm trầm, thích ăn nem rán nóng bỏng thì gắp lên đặt xuống cái nem, nghe thơ và phán: Hóm, thằng này hóm!.
Nói về đồng nghiệp cũng là nói về mình. Cái hay cái dở của một người cũng là của một thời. Câu thơ “Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất/ Đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm” đâu chỉ là số phận một nhà thơ?(….)
“Trong 100 chân dung được nhận diện qua thơ Xuân Sách, trước hết phải biết tác giả đó có tác phẩm nào?. Nếu không, rất khó cho người đọc, kể cả nhà văn, thơ ít đọc tác phẩm, không quen tên tác phẩm. Lăn lộn trong nghề, như Băng Sơn, một nhà văn có nhiều tác phẩm xuất bản vào cuối thế kỷ này chưa biết hết chân dung nhà văn trang sách. Năm 1998, anh cho xuất bản hàng chục cuốn. Cuốn dầy trên 500 trang, ba trăm, cuốn hơn hai trăm; nói về Hà Nội là phải nói đến Băng Sơn của hôm nay. Sách của anh được bày bán ở Mỹ, Pháp như thư anh viết cho tôi vào trung tuần tháng giêng dương lịch 1999. Nào bản thảo Trời đang mưa gồm 60 tùy bút in ra cũng 350 trang sẽ ra đời trong 1999. Chưa biết sẽ in ở NXB nào, vì nhiều NXB muốn in sách của anh. Xin phép được trích một đoạn lá thư của anh ở chú thích (). Và trở lại với Xuân Sách kẻo lạc đề. Đối với Băng Sơn, ngoài lề cuốn sách của Xuân Sách, anh phải ghi chú, qua những câu thơ, ai là ai?. Chẳng hạn về Nguyễn Đình Thi: Xung kích tràn lên nước vỡ bờ đã thấy có hai tác phẩm lớn của ông xuất hiện Xung Kích và Vỡ Bờ. Nói về Tô Hoài: Dế mèn lưu lạc mười năm/ Để o chuột phải ôm cầm thuyền ai/ Miền tây trăng đã tàn phai/ Trăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang. Phải đọc Trăng thề, Dế mèn phiêu lưu ký, O chuột…, mới nhận được chân dung Tô Hoài. Hay với Nguyễn Công Hoan, như: Bác Kép Tư Bền rõ đến vui/ Bởi còn tranh tối bác nhầm thôi/ Bởi tung đống rác nên trời phạt/ Trời phạt chưa xong bác đã cười. Lại phải động não nhớ lại trong đó có Kép Tư Bền, Tranh tối tranh sáng, Đống rác,…. Mỗi câu tả rất chơi chơi ấy có nội dung, đánh giá ghi nhận hậu quả ở trong. Hoặc Tú Mỡ: Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược/ Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi. Ai muốn hiểu sao, tùy!. Đến Quang Dũng: Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi/ Về làm xiếc khỉ với đời thôi/ Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm/ Sống tạm cho qua một kiếp người. Hoặc Nam Cao: Anh còn đôi mắt ngây thơ/ Sống mòn mà vẫn đợi chờ tương lai/ Thương thay Thị Nở ngày nay/ Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo. Nam Cao có Đôi mắt, Sống mòn, Đôi lứa xứng đôi nay trở thành Chí Phèo. Với Vũ Trọng Phụng: Đã đi qua một thời giông tố/ Qua một thời cơm thầy cơm cô/ Còn để lại những thằng Xuân tóc đỏ/ Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ?. Lại Phù Thăng, anh thiếu úy bộ đội sau khi có Phá Vây về quê cày ruộng, có con trâu sứt, không ai kềm được, trừ một Phù Thăng. Khách ở xa tới làng hỏi, chẳng ai hay, hỏi nhà ông có con trâu sứt, ai cũng biết. Nên Xuân Sách gieo vần, ở đây trích hai câu cuối: Đứa con nuôi của trung đoàn/ Phá vây xong lại chết mòn trong vây. Nổi tiếng như Nguyễn Minh Châu, một nhà văn có giá trị văn chương, tư tưởng, qua đời sớm, Xuân Sách tặng nhiều câu hơn anh em: …Cửa sông cất tiếng chào đời/ Ra đi ra những vùng trời khác nhau/ Dấu chân người lính in sau/ Qua miền cháy với cỏ lau bời bời/ Đọc lời ai điếu một thời/ Tan phiên chợ Giát hồn người về đâu?. Xuân Sanh, của Xuân Thu Nhã Tập, Đoàn Phú Tứ, Phạm Văn Hạnh, Người Xuân, chẳng ai hiểu, cảm được. Là thơ, hay Làng nghẹt trong rừng đêm lục bát, chưa đọc hết đã hiểu, Xuân Sách ghi: Xưa thơ anh viết người không hiểu/ Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà/ Nay anh chưa viết người đã hiểu/ Sắp sáng thì nghe có tiếng gà. Hoặc Phùng Quán: Từ ấy tìm tôi ngừng tiếng hát/ Trông về Việt Bắc tít mù mây/ Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt/ Máu ở chiến trường hoa ở đây. Tôi thấy những câu thơ vẽ chân dung Tố Hữu tài hoa thì thật tài hoa nhưng…. Cất tiếng cười khi đọc đến chân dung Trần Mạnh Hảo: Ôi thằng Trần Mạnh Hảo/ Đi phỏng vấn Chí Phèo/ Lão chết từ tám hoánh/ Đời mày vẫn gieo neo/ Còn các lão Bá Kiến/ Đục bản in thơ mày/ Bao giờ mày say rượu/ Bao giờ thì ra tay?. Xuân Sách nhớ đến cả những thi bá, chưa từng là hội viên Hội Nhà văn như nhà thơ dân tộc Tản Đà: ..Văn chương thuở ấy như bèo/ Thương cụ gồng gánh cheo leo tận trời/ Giấc mộng lớn đã bốc hơi/ Giấc mộng con suốt một đời bơ vơ/ Ước chi cụ sống tới giờ/ Chợ trời nhan nhản tha hồ bán văn…. Còn rất nhiều người nữa, với Lý Văn Sâm: …Ngàn sau sông Dịch còn tê lạnh/ Tráng sĩ có về với bến xuân. Hay với Ý Nhi: Trái tim tôi với nỗi nhớ ai/ Như cây trong phố đứng hoài chờ trăng/ Như người đàn bà ngồi đan/ Sợi dọc thì rối, sợi ngang thì chùng. Và, tự hoạ, con số 100, chân dung tác giả:

Cô giáo làng tôi đã chết rồi
Một đêm ra trận đất bom vùi
Xót sa Đình Bảng người du kích
Đau đớn Bạch Đằng lũ trẻ côi
Đường tới chiến công gân cốt mỏi
Lối vào lửa đạn tóc da mồi
Mặt trời ảm đạm quê hương cũ
Ở một cung đường rách tả tơi.

XUÂN SÁCH


____________________________________________________________


Sài gòn, tháng tư 1999.

THẾ PHONG

THƯ VIẾT Ở SÀI GÒN
do VĂN UYỂN xuất bản và phát hành

Điạ Chỉ Liên Lạc Mua Sách :
Nhà xuất bản VĂN UYỂN
PO Box 1882
San José, Calofornia 95109, USA
Email: ttbg@sbcglobal.net


Hính Ảnh : Tư liệu của nhà văn Thế Phong


© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ




TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC