Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





SAN HÔ ĐỎ





Không phải là thạch liên đài cũng không phải là cây trường sinh có lá dày mọng nước và có hoa đo đỏ. Hoa đá của tôi có nhiều nhánh, mỗi nhánh như là một cái sừng hươu be bé, tua tủa gai nhọn, óng ánh sắc màu nhìn hoài không chán. Đó là một loại sinh vật biển sống nhờ các xúc tu tí tẹo để tóm bắt phù du. Nó cũng có thể hút dưỡng chất của một loại tảo vàng đơn bào cộng sinh để phát triển. Loài này chỉ sinh trưởng trong vùng biển nông, nước trong văn vắt, độ sâu không quá năm, sáu mươi mét nơi còn ảnh hưởng của tia nắng mặt trời, cá biệt vẫn có nhiều loài sống ở độ sâu vài nghìn mét. Hoa đá của tôi có màu trắng hồng, có mùi tanh tanh của nước biển, giòn và rất dễ gãy. Nó là một nhành san hô mà Dương đã hái được và đem về tặng tôi từ một đảo chìm tận ngoài khơi xa.

Dương và tôi quen nhau từ thời trung học, năm cuối cấp của anh. Dương hơn tôi hai lớp, nghĩa là tôi còn phải ngồi lại hai năm nữa nơi này. Anh vào quân ngũ khi tôi đang học năm thứ ba của một trường đại học vùng cao, tôi học hoá nên cũng biết chút chút về loài hoa kiêu hãnh đó. Có lần Dương bảo :

- Anh từng gặp một loài san hô đỏ, quý hiếm..

- Sao không lấy về cho em.

- Đâu được, nhà nước bảo vệ chúng mà.

Đó là loại hoa đá rất đẹp có màu đỏ sậm, khó phai. Người ta thường dùng chúng để làm đồ trang sức hay đồ mỹ nghệ cao cấp, xương của loài này khi đánh bóng lên có màu sáng óng ánh như thuỷ tinh. Tên khoa học của chúng là Corallium Rubrum phân bổ ở Thái Bình dương và Ấn Độ dương. Thềm lục địa của một hòn đảo nhỏ nơi Dương đóng quân cũng có loài san hô đỏ như thế nhưng tên gọi hơi khác : Ko-noi, cái tên nghe có vẻ Nhật.

- Tiếc quá anh nhỉ.

Dương trầm ngâm, tôi biết, với khả năng bơi lặn của anh, chuyện mang về tặng tôi cành san hô đó thì có gì đâu khó. Chắc tại tính kỹ luật và cũng không muốn ai đó phàn nàn về mình nên giờ anh đâm ra khó xử với tôi chăng ? Dẫu biết là chúng đẹp và quý hiếm, nhưng với tôi Dương mới thật là quý và hiếm kia mà. -

- Em nói thế thôi, chứ không nên anh ạ, em cũng không thích có chúng. Lỡ học trò tới thăm, thấy nhà cô giáo có san hô đỏ cũng phiền cho em đấy. Đơn giản nhất là chúng sẽ nghĩ cô giáo mình rất giàu, thêm cái tội tiếp tay cho hải tặc trộm tài nguyên quốc gia nữa chứ. Anh có dám làm hải tặc không ?

- Cảm ơn em, em hiểu anh còn hơn anh.

Ngày ra trường, tôi chọn công tác nơi vùng cao này thay vì về quê mẹ là miền Trung đầy nắng ấm và bão tố. Tám năm trọ học nhà chú, có lẽ tôi đã thành người của nơi này rồi chăng. Da trắng nõn như mây, má ửng hồng như cánh sen phơi phới, chẳng phải phấn son gì. Đó là nét đẹp tự nhiên của con gái xứ lạnh, nên mỗi lần về quê là mỗi lần khổ ải với tôi bởi cái nóng hừng hực như lửa. Cái nóng như muốn sấy khô mình ra. Mồ hôi, mồ kê ngày đêm rít rịt. Áo quần tôi lại dày cộm, có bộ nào mỏng mỏng để thích nghi với cái nóng nơi đó đâu, ấy vậy mà nó vẫn dính vào da như dán. May mà nhà tôi có cái giếng nước không thì chẳng biết xoay xở kiểu gì. Ngày nóng phải dội đến ba, bốn lần nước lên người mà vẫn cứ nóng, nước vừa dội đã bốc hơi đâu mất. Mẹ tôi sợ tôi nhiễm lạnh, nhìn tôi thở dài. Nhà tôi đông anh chị em, mẹ tôi ở với thằng út, nó cưới vợ khi mới tuổi hai mươi. Gia đình cũng sống được nhờ hàng trăm gốc dừa đang thời kỳ sung quả. Mẹ tôi giờ chẳng phải làm gì nhưng còn khổ nhọc hơn làm gì, bà trông cháu.

Nhà Dương gần nhà mẹ tôi, cuộc sống trông cậy vào nghề đi biển của cha và người anh cả. Cách đây không lâu, tàu cá của ông đã bị tàu lạ nhấn chìm, của cải thì chẳng còn gì, ông sống sót là nhờ tàu hải quân của ta cứu vớt. Giờ, ông vẫn bám biển, vẫn chung sống với báo tố phong ba. Có lẽ, trong ông vị máu đã hoà cùng vị biển. Biết là nguy hiểm, gian lao ngày đêm rình rập nhưng người dân chài vẫn thích căng mình trên sóng gió. Người ta bảo ăn của rừng rưng rưng nước mắt, còn tôi nghĩ ăn của biển nước mắt phải chảy ròng ròng. Có lần tôi đến một đảo nhỏ thuộc quần đảo Trường Sa, trong vai trò là thành viên của đoàn đại biểu miền núi ra thăm các chiến sĩ đóng quân trên đảo. Đảo toàn đá là đá, lưa thưa vài gốc dứa dại hay vài bụi cây gai. Đảo trơn trụi chẳng có gì ngoài cái cầu tàu bằng bê tông lực lưỡng, vắt mình chơ hơ nửa trên bờ, nửa dưới nước. Doanh trại quân đội nằm sâu trong lòng đảo, khuất sau đám cây bàng to do nhiều thế hệ lính tráng vun trồng. Các công sự được xây trên đỉnh núi, trong những hang đá ngóc ngách. Cuộc sống của các anh quả là nhiều khó khăn, phải giản lược đến mức thấp nhất những tiện nghi có thể. Ngoài số nước dự trữ, mỗi lần lên trực chiến, người lính phải mang theo cơ số nước đủ dùng của mình, chẳng thể nào làm khác được. Từ hạt muối, bó rau, cho tới ca nước tắm, các anh đều phải tằn tiện từng li từng tí. Cọng rau nhặt đến cuối đót, nghĩa là nơi còn có thể nhai được, để không phí công vất vả gieo trồng. Trồng được cọng rau ở nơi này cũng đâu phải dễ, nước vo gạo, nước rửa mặt là nguồn sống cho chúng. Khắc nghiệt là thế mà rau vẫn cứ mướt xanh.

Đêm ấy trời đứng gió nên rất nóng, cái nóng còn khủng khiếp gấp mấy lần cái nóng ở quê tôi. Không điện, không quạt. Lúc đầu còn dùng tờ báo gấp đôi lại phe phẩy cho mát, sau mỏi quá, không chịu nổi đành rủ nhau vác chiếu ra bãi biển mà nằm. Không gió thì nhiều muỗi. Muỗi ở đây tí tẹo nhưng cắn đau khủng khiếp. Khi còn ở nhà, tôi nghĩ giữa biển khơi thì làm sao có muỗi, tôi đã lầm. Thế là hôm đó chẳng đứa nào ngủ được, sáng hôm sau các anh bộ đội gặp hỏi : “ Đêm qua các chị ngủ có được không ?”. Chẳng biết trả các anh làm sao, đành gật đầu. Tội nghiệp, các anh ngây thơ đến độ không thấy mắt đứa nào đứa nấy sụp lên, sụp xuống. Ở đây tương đối gần đất liền mà còn gian lao như thế, chỗ Dương không biết phải vất vả thêm bao nhiêu nữa. Tôi không dám nghĩ đến, tôi nhủ mình cố gắng dành cho anh thật nhiều chăm sóc mỗi lần anh ghé thăm tôi.

Tôi dạy hoá nhưng lại thích làm thơ, thơ của tôi chỉ dành cho Dương đọc. Tôi cẩn thận từng dấu hỏi ngã, từng dấu chấm câu. Tôi biết những mẩu tin không dấu thường bị người ta xuyên tạc thành những lời không đẹp. Tôi phòng xa thế thôi chứ Dương chắc không đưa ai xem đâu, mà cũng biết đâu đấy, trong một lúc bốc đồng nào đó người ta cũng rất liều. Tuần nào mà không có câu thơ nào gửi cho anh là anh trách móc. “ Chẳng lẽ em không dành cho anh được vài phút thương nhớ ?”. Khổ quá ông mãnh ơi, thơ chớ đâu phải bài vấn đáp, hỏi gì viết nấy. Thơ mà không có hồn thì làm tội làm tình người đọc, nếu không phải bắt buộc đọc thì người ta quẳng sọt rác là xong. Dương ưa giận hờn vu vơ như thế, nên đêm nào cũng vậy, trước khi đi ngủ tôi cố gắng viết cho Dương một cái gì đó. Sáng hôm sau tôi dậy sớm, chỉnh sửa lại cho suôn sẻ rồi mới gửi cho anh, giống như lời chào buổi sáng vậy mà. Tôi không nhớ là mình đã gửi cho anh bao nhiêu bài thơ như thế, chỉ biết là vui thì thơ vui và buồn thì thơ buồn. Có lần Dương nhắn tin : “ Hôm qua em say phải không ? Anh thấy trong thơ có mùi men.”. Lần khác :” Bộ, đi thiện nguyện hay sao mà trong thơ có nước mắt !”. Thế đó, tin nhắn với chúng tôi là tình yêu, chỉ với mười hai phím tí tẹo của chiếc điện thoại, chúng tôi an ủi, vỗ về hay trách móc nhau đều được. Không có nó, không biết chúng tôi phải xoay xở kiểu gì, khi mà đứa lưng chừng đỉnh núi, đứa hun hút biển khơi. Rồi một ngày, phản hồi tin nhắn của tôi là sự im lặng. Tôi bấm số, gọi trực tiếp cho anh thì được nghe câu nói đã được lập trình :” Máy bận, vui lòng gọi lại sau.”. Nhiều lần như thế, tôi nghĩ là anh đã thay đổi, định không làm phiền người ta nữa thì anh đến. Một chút giận dỗi mà tôi không thể kìm nén :

- Tin nhắn chắc bị sét đánh giữa chừng hay sao mà chẳng thấy anh trả lời.

- Nhiệm vụ đặc biệt nên không được dùng điện thoại, em à. Khi xong việc, mở máy ra mới thấy tin em nhắn. Tiện đường thăm em nên anh muốn tạo một sự bất ngờ thôi mà.

- Bất ngờ kiểu anh, có ngày tim em rớt ra ngoài mất. Lần ấy anh cầu hôn tôi, anh bảo :” Sáu, bảy năm rồi chứ ít gì. Tình yêu của mình đủ già rồi em, ba mẹ anh cứ thúc giục anh hoài, nhà chỉ còn mình anh, em tính nhanh nhanh đi.”. Nhịp tim tôi đập loạn xạ không phải vì tôi đang tựa người vào lòng anh, cũng không phải vì những nụ hôn tưởng chừng như bất tận mà anh dành cho tôi, mà vì đó là một câu hỏi quá khó đối với tôi. Biết là yêu lính biển thì phải chấp nhận sống xa cách nhiều hơn gần gũi. Tôi đã chọn nơi này làm quê hương thứ hai của mình, lẽ nào tôi có thể xa nó, nhưng không hiểu sao hôm ấy tôi đồng ý lấy và về quê chung sống với anh. Anh đeo vào ngón áp út của tôi chiếc nhẫn màu bạc, anh bảo :

- Quà anh đính ước yêu em, khi cưới thì phải có nhẫn vàng nữa chứ. Khi ấy chúng sẽ thành đôi, em thích không ?.

Không nghe tôi nói gì, anh hôn lên má tôi rồi để nguyên thế mà hỏi :

- Sao em không trả lời. -

- Em sao cũng được, anh tặng gì cũng quý, nhưng em thích hơn nếu nó được làm từ đồi mồi. Mỗi lần nhìn nó là em nhớ biển, nhớ anh. Hơn nữa, bạn bè em sẽ không ai chú ý .

- Có phải nhất thiết là đồi mồi ?

- Không nhất thiết nhưng phải là quà của biển cả.

- Đồng ý, tuân lệnh.

Chúng tôi hẹn nhau mùa hè tới sẽ thành thân, rồi anh đi. Tôi tiễn anh đến cuối đường. Đêm đêm tôi vẫn gửi thơ cho anh, cho đến một ngày không thấy tin anh nhắn lại, tôi đinh ninh là anh sắp đến. Tôi đợi ngày này qua ngày nọ, tuần này qua tuần kia, trong nỗi buồn tuyệt vọng. Bạn bè tôi bảo :” Hai đứa mày giống như con nít ấy, chẳng ai yêu mà tặng nhẫn bạc cho nhau bao giờ. Bạc bẽo, bạc tình, bạc nghĩa…Thứ nào cũng đáng ghét. “.

Một hôm tôi đang đứng lớp, cô Thuỷ ngang qua ngoắt tôi ra ngoài, nói nhỏ :” Hình như người yêu của mày…Lính hải quân đúng không, đang ngồi dưới phòng khách “. Còn hơn mười phút nữa mới xong tiết dạy, tôi nghe lòng mình bồn chồn làm sao. Để rồi, khi gặp người ta thì tôi chết trân khi biết Dương đã hy sinh. Người lính đến thăm tôi là đồng đội của Dương, anh bảo :” Anh ấy hy sinh khi cứu người dân bị đắm tàu, chẳng ai nghe được lời trăng trối nào. Xin lỗi chị, tôi đọc nhật ký của anh thấy thơ chị, biết được địa chỉ của chị. Anh ấy rất cẩn thận ghi lại từng sự việc, từng ngày. Thể theo lời anh viết trong cuốn nhật ký đó, đơn vị đồng ý cho tôi mang di vật này đến đây trao lại cho chị, hy vọng rằng dưới suối vàng anh sẽ thoả nguyện. Còn cuốn nhật ký của anh đơn vị sẽ trao lại cho gia đình.“ Tôi không làm sao đứng vững được nữa, nước mắt tự trào ra, tiếng khóc tự nức nở. Tôi gục xuống bàn thiếp đi.

Tôi tỉnh dậy trong phòng y tế của trường, bên cạnh tôi là Thuỷ. Im lặng mênh mông. Thuỷ pha cho tôi cốc sữa, đỡ tôi dậy rồi vỗ về : ” Anh ấy bảo, đơn vị chỉ cấp hai mươi bốn giờ phép, anh ấy phải về cho kịp chuyến xe đêm nay. Rất mong được thông cảm. Anh gửi lời từ biệt mày và nhờ tao trao lại cho mày cái này…”. Đó là chiếc hộp nho nhỏ làm bằng vỏ bao thuốc lá, dán giấy màu xung quanh. Phía bên trong là chiếc nhẫn màu đỏ rất đẹp, tôi không biết bằng chất liệu gì. Vừa thấy, Thuỷ đã reo lên : “ San hô đỏ, đẹp quá. “. Rồi nó sành sỏi : “ Giòn lắm đó, phải giữ cho kỹ. “.

Bây giờ trên ngón tay tình của tôi vẫn đeo hai chiếc nhẫn ấy, tôi muốn chúng mãi gần nhau. Hè nào tôi cũng về thăm quê và sang nhà thắp nhang cho Dương. Đêm ở quê thật yên tĩnh, ngoài tiếng dế nỉ non thì chẳng nghe thấy gì. Qua song cửa, tôi thấy trời trong vắt và cao thật cao, đêm đã khuya lắm. Hết xoay người sang trái rồi sang phải cũng không thể nào dỗ được giấc ngủ, đưa ngón tay đeo nhẫn lên nhìn, tôi có cảm giác biển đang dậy sóng trong tôi.




. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ ĐàLạt ngày 18.01.2014.