Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





HÒN ĐẢO PHÍA CHÂN TRỜI




PHẦN THỨ HAI
LÀNG MỚI TRÊN ĐẢO



Chương XII



Bốn chú cháu quay lại rồi rẽ vào khu rừng trúc. Một con suối nhỏ, nước rất trong, chảy lững lờ, làm những sợi rêu xanh bám vào những tảng đá xám hai bên bờ, nhảy múa nhịp nhàng. Ở giữa dòng, một bầy cá nhỏ chỉ bằng ngón tay út, ve vẩy vây và đuôi, miệng khẽ há ra, lặng lẽ bơi đứng. Gần như không có một tiếng động nào, báo hiệu sự có mặt của con suối, ở quãng rừng, có lẽ là đầu nguồn này. Bên kia suối, đã thấy những chiếc măng trúc non bị nhím ăn dở, chân chúng in lỗ chỗ như vết chân chuột. Những cây trúc vàng óng, vút cao, đã bắt đầu trổ hoa. Hoa trúc cứng và vàng, không có hương vị gì, vậy mà đâu đó, vẫn thoảng một mùi thơm nhẹ nhõm, xa ngái... Hương của rừng trúc tỏa ra, khi những chiếc lá dài và sắc của nó, chạm vào mùa thu...
Men theo bờ suối, lại vào cánh rừng thưa, ở độ cao khoảng hơn hai trăm mét. Trên cành cây, một cặp vợ chồng sóc, màu nâu xám, đang nhí nhoáy bới tìm, chợt thấy người, chúng vội lẩn vào phía sau thân cây, đánh rơi xuống trước mặt Nhụ những chiếc nấm mà chúng đang phơi dở. Những chú chim liếu điếu không biết nấp kín ở chỗ nào trong các vòm lá, bỗng kêu lên đồng loạt, giòn giã và rối rít.
- Nghỉ một chút, chú à. - Đức nói và nó vẫy tay cho con Róc, lúc ấy, đang nghiêng một bên chân đái vào búi cỏ để đánh dấu đường.
- Cháu cũng thấy mỏi giò lắm. Bơi trên biển hàng cây số, cháu không thấy mệt như phải leo rừng. - Ngạnh cởi cái áo may ô màu cháo lòng ra, rải xuống đất và nó nằm lên, mắt nheo nheo vì bất chợt gặp phải những tia sáng rọi xuống sau một vòm lá.
Chú Thuận ngồi xuống bên cạnh Nhụ, ngắt hai chiếc lá, đưa lên môi. Giai điệu quen thuộc của một khúc quân hành thời Trường Sơn đánh Mỹ, chợt vang lên réo rắt. Con Róc chạy lăng xăng, hết dũi đám lá mục này, lại hít gốc cây kia, dáng bận rộn tíu tít.
Nó vất vả lắm mới leo lên được một tảng đá, nghiêng ngó một hồi, rồi dỏng hai tai lên, cái mũ ông Công lại rơi xuống.
- Cróc! Cróc! Cróc!...
Đức ra nhặt cái mũ cho nó và chợt kêu lên:
- Ối!
Nhụ chạy đến thì thấy ngay trước mặt, vắt ngang lối đi, một con trăn đất đang nuốt một con chồn, sung sướng đến đờ đẫn cả mặt mũi.
 
Lên đến Miếu Ông Voi thì đã vàng mặt trời. Bốn chú cháu đứng trước một tảng đá xanh, rộng và nhẵn đến mức rêu không sao mọc được nữa. In lên bầu trời âm âm, vần vụ những đám mây màu lông chuột, là một cành đa khô khẳng, lởm chởm ngang dọc, như bộ sừng khổng lồ của con hươu thời cổ đại.
Dấu tích thời chiến trận còn để lại trên mặt đất những vũng tròn và nông, đổ gẫy những cành đa lớn, hàng người ôm, nứt toác vết bom chẻ.
- Miếu Ông Voi chỉ có thế này thôi ạ? - Nhụ hỏi chú Thuận.
- Chỉ có thế. Trước kia, cây đa cao lớn và xanh tươi lắm, vô hình trung đã là ngọn đèn biển cho những chiếc thuyền táo tợn nào đó của người dân chài dám coi khinh sóng dữ.
- Chú đã trông thấy cây đa ấy chứ!
- Cũng nghe các lão ngư nói thế. Chú đến đây, cây đa đã chết rồi.
- Thế còn miếu?
- Ấy là nói quá đi cho nó linh thiêng. Chứ ai lên đây thờ cúng mà có miếu.
- Vậy thì phải gọi là Miếu Cây Đa. Làm gì có Ông Voi. - Đức nói.
- Ông Voi là con cá Voi. Có thể nhìn từ một nơi nào đó, núi này giống như con cá Voi. Dân đi biển chỉ thờ một loại cá là cá Voi và gọi cá là Ông. Cá Voi rất to, thường cứu người dân chài khi bị hoạn nạn trên biển.
- Trời ơi! Thế sao Ông Voi lại không cứu mẹ và em cháu... - Ngạnh bỗng thốt lên, giọng chua xót và hờn dỗi.
Chú Thuận ớ ra một lúc, chưa biết trả lời thế nào. Sau này Ngạnh mới biết rằng, chính ông Voi cũng không cứu nổi chú Thuận trong một đêm giông...
Nhụ đứng ngây ra nhìn chú và trong khoảnh khắc ấy, một cảm giác vừa mới mẻ vừa xưa cũ, bỗng ập đầy tâm trí Nhụ. Ấy là cái cảm giác về sự thần bí trong rủi may của nghề biển, mà ông Nhụ đã truyền lại cho Nhụ vào những ngày lễ tết.


Chương X



Chiều lất phất mưa bụi. Những giọt nước nhẹ và xốp bay bồng bềnh rồi tự tan biến, chỉ đôi hạt sà xuống đất và lập tức bị đất hút cạn. Trên hàng lan can cụt và hiên nhà Nhụ, vẫn khô. Một thứ khô nhưng không ráo. Nó hơi âm ẩm vì gió mặn và nước muối lưu cữu thấm vào không biết tự bao giờ. Ông Nhụ đứng trước hiên, đưa mắt đăm đăm nhìn vào đường tiếp giáp nhạt nhòa của chân trời với cửa biển, lờ lờ màu cháo hến. Nước triều đang rặc. Gió lặng. Lặng đến mức một sợi khói bếp nhà bên, dựng thẳng đứng, rồi mất hút ở lưng chừng trời. Đúng lúc ấy, mùi biển nồng nặc bốc lên, như tích tụ từ bao đời, chỉ đến lúc ấy, mới bốc lên, với tất cả sự dồn nén và lan tỏa ghê gớm của nó. Đó là mùi mằn mặn, oi oi, pha vị hoai hoai của xác cua cáy chết. Nó như tỏa ra từ các lỗ hút con chạch trên cát pha, từ các kẽ đá, từ ngấn nước chém ngang vào dãy vỏ hà bám lởm chởm vào chân đê, vào cả chân bậc đá cuối cùng của ngôi nhà, thường giấu mình trong nước biển. Nó như toả ra từ quần áo ông, từ chính xương tủy ông. Ông bảo đấy là điềm lành, vào giờ cúng Thủy Thần mà tiết trời như thế là đẹp lắm. Ông xắn tay áo lên, ông thường mặc áo có tay vào ngày lễ, ngày tết, để lộ hai cơ bắp còn săn chắc, rám nâu, múi nổi chằng chằng như chão bện. Ông đặt lên hàng lan can cụt hai con thuyền bẹ chuối không mui, lòng thuyền dán giấy điều, ở trong đặt hai cái vỏ ngao, một đựng gạo, một đựng muối. Ông cắm hai bên mỗi con thuyền, ba lá cờ đuôi nheo, màu đỏ, đốt trước mũi thuyền ba nén hương. Ông bê ra một chậu nước trắng, trong đó có một con cá ngừ trắng đang bơi và đặt cùng bên cạnh cặp thuyền, cái đĩa to trên đó có một con cá tráp trắng lớn đã nướng chín. Ông lầm rầm khấn khứa một hồi lâu, giọng xuýt xoa như người ăn phải ớt, gương mặt ban đầu lờ mờ như ám khói, sau mới rạng rỡ dần lên, mới tràn đầy một thứ ánh sáng lạ lùng.
Ông bảo Nhụ:
- Cháu khấn đi.
- Khấn thế nào ạ?
- Lẩm nhẩm như đọc cửu chương ấy!
- Một nhân một là hai, hai nhân hai là bốn á?
- Không phải bài nhân ấy. Cháu nghe đây...
Ông lập nghiêm mặt, xoay người đứng thẳng, nhìn thẳng, ánh mắt bỗng mờ ảo như đâu đó đang phảng phất bay một làn khói mơ hồ và mong manh, không sao nắm bắt được.
Cầu mong Thủy Thần chứng giám
Rộng lòng phù hộ nhà ta
Một, không ván nát thuyền hà
Hai, không va cồn mắc đượng
Ba, không kẹt lưới gẫy buồm...
- Ông ơi! Bây giờ đi thuyền máy cả rồi. Làm gì có buồm mà sợ gẫy cột...
Ông đánh ngang mắt. Nhụ biết ý, im lặng.
Cuối cùng, Nhụ cũng làm xong phần việc của mình. Ông bảo:
- Cháu mang con cá ngừ thả xuống biển đi. Có thể sau này, nó sẽ gặp cháu đấy. "Này anh Nhụ ơi, tôi là bạn của anh đây, anh cần gì ở tôi, xin cứ bảo...".
Chỉ vào những dịp như thế này, lời lẽ ông mới dịu dàng, mềm mỏng, có đầu có cuối.
- Thế còn con cá tráp nướng?
- Ông cháu ta đánh chén thôi. Cháu nhớ là không được cúng cá đen. Khi ăn, cháu không được lật cá lên, chỉ dùng đũa gỡ dần ra từng phần...
- Cháu biết rồi!
- Hôm nay, bố mẹ cháu sẽ đánh được nhiều cá đây...
Nhụ không hiểu ông căn cứ vào cái gì mà nói như vậy.
- Cháu không được chê bai những nghi lễ đã truyền lại từ thời mới bắt đầu có nghề biển. Nó giúp cháu bình tĩnh khi bẻ lái, tự tin khi vượt giông, sáng suốt khi thoát hiểm. Cháu sẽ là một thằng đàn ông, phải không? - Ông ngó chằm chằm vào mặt Nhụ rồi phảy tay một cái.

... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 18.01.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn