TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





TỪ NGUYÊN TĨNH

. Tên thật là Lê Văn Tĩnh .
. Sinh ngày 18 tháng 11 năm 1947
. Tại Bàn Thạch, xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
. Hiện sống tại Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa,
. Tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1994).
. Tổng Biên Tập Tạp Chí Xứ Thanh- Hội Văn Nghệ tỉnh Thanh Hoá .

. TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Hàm Rồng ngày ấy (ký sự viết chung, tập 1 in 1984, tập 2 in 1978);
. Mối tình chàng Lung mù (tập truyện ngắn, 1991);
. Gã nhà quê (tập truyện ngắn, 1992);
. Mảnh vụn chiến tranh (tiểu thuyết, 1993);
. Không thành người lớn (tiểu thuyết, 1995).

. GIẢI THƯỞNG :

- Giải thưởng văn học: Mối tình chàng Lung mù (tập truyện ngắn)
- Giải thưởng Hội đồng văn học về đề tài chiến tranh và lực lượng vũ trang Hội Nhà văn;
- Giải thưởng văn học tỉnh Thanh Hóa - Mẹ (truyện ngắn),
- Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Sông Hương 1993;
- Giải thưởng Hội Văn nghệ Thanh Hóa 1993; Gã nhà quê (tập truyện)
- Giải thưởng Hội Văn nghệ Thanh Hóa 1994. Mảnh vụn chiến tranh (tiểu thuyết)
















CÕI NGƯỜI


CHƯƠNG XVI - XX

XVI

Bà Hoa nấu cơm, nhặt sắn để riêng ra, nắm lấy chín nắm cơm và nướng chín con cá khô nhỏ bằng ngón tay, một dúm muối cho vào chiếc đĩa, đặt lên chiếc mẹt, nói với út:
- Em nằm mà nghỉ ...không chết là may rồi. Để chị sang bên này có chút việc.
Bà bê mẹt sang sân nhà Quản Mầm, miệng lầm rầm khấn: “ối vía ,...ba hồn chín vía em tôi con Thường về nhà ăn cơm ăn cá...Đừng sợ sệt mà bỏ nhà cửa ra đi” Đi chừng năm bảy bước bà lại lầm rầm khấn, tay vơ vào không khí, tưởng tượng ra một Út Thường vô hình đang theo bà về nhà. Bộ mặt bà Hoa thành kính, làm ai nhìn vào cũng phát nể, sợ làm bà không tập trung tư tưởng, vội quay nhìn đi nơi khác. Bà Hoa lội theo lối đi của Ấm Vệ bế Út vào hầm, rồi từ hầm đi vào cửa. Cất tiếng gọi: Bản ơi!
- Dạ! – Bản đáp lại lời Bà Hoa.
- Dì út Thường của con về chưa?
- Dạ...Dì út về rồi mẹ ạ! Dì đang nằm nghỉ ạ!
Bà Hoa mặt rạng rỡ gọi:
- Dọn cơm ra ăn đi con.
Bản vội vào trong bếp, lấy chiếc chỏng tre nhỏ hơn chiếc bàn, đặt xuống gian giữa nhà ngang, bày biện, bát đũa, đĩa cà vài con cá khô mà bà Hoa để lại.
Bà Hoa cho những nắm cơm vừa dùng để gọi vía cho Út bỏ vào nồi, trộn nháo nhào, đánh tơi sắn độn và cơm, xới ra từng bát lầm lầm như là chia phần. Miệng gọi vống lên nhà lớn:
- Ông Ấm ơi! Xuống mà ăn cơm.- Mẹ để con bê cơm lên dì! Bản bê bát cơm đầy nhất có vài con mắm khô đi vào gian buồng, nơi có
Út nằm.
- Dì ơi, dạy mà ăn đi...chốc nữa cháu nói với thằng Phách rủ bọn cái Hiên, cái Xoan sang chơi với dì.
- Thế các cháu không đi trốn máy bay à!
- Mẹ cháu bảo dì đang hoảng sợ, cháu phải ở nhà cùng dì- Bản đặt bát cơm vào tay út – Dì ăn đi kẻo nguội. Út nhìn bát cơm, nói với cháu:
- Dì không ăn hết được đâu, cháu xẻ đi một nửa.
- Cơm còn nhiều lắm, dì đừng lo.
- Cố mà ăn đi cho mau khoẻ. Anh nói với nhà Quản Mầm rồi. Em không làm bên đó nữa - Ấm Vệ cũng vào, đặt bàn tay lên trán Út - Ừ! Cũng bình thường thôi...Chắc là sợ quá nên ngất đó mà.
- Có ai việc gì không anh? – út Thường khẽ hỏi anh rể.
- Thật là may ...chỉ bác Đội Oánh bị trẹo chân, còn không ai việc gì cả. Máy bay nó ném bom vào cái bọn đốt lửa hun thuyền ở ngoài sông. Chúng thật liều. Không thì thiên hạ lại lu loa lên cho nhà Quản Mầm, khổ thế. Nhà ông ấy điếc mất một con trâu.
Ấm Vệ ăn vội vàng bát cơm độn sắn rồi sang bên Quản Mầm. Đội Oánh phải cáng đi thành phố nắn chân bị sai khớp. Bà Hoa nói với Bản:
- Con rủ mấy đứa đến chơi với dì, nhưng cẩn thận kẻo máy bay nó đến không chạy ra hầm kịp thì nguy đấy.
Bà Hoa đi theo lối tắt mà bọn thằng Phách vẫn ngồi nơi bụi duối nhìn trộm mấy ả đào thay quần áo. Ông Đội Oánh nằm trên chiếc sập nhà Quản Mầm, thấy người vào là rên lên hừ hừ: Không biết tôi có bị gãy chân không đây?
- Cái anh này ...Anh không biết thì còn ai biết...Anh là thầy thuốc cơ mà! - Cô đào Tuyết nói luôn với bà Hoa.
- Có lẽ thím phải để chú đi với tôi thôi.
- Đi đâu hả chị? - Bà Hoa hỏi lại.
- Đưa ông Đội Oánh ra nhà thương...Nếu họ mà không làm được thì đưa đi tỉnh.
- Thế không còn ai sao?
- Còn ai...Họ đi lên trại, tránh máy bay rồi.
- Vâng ...Tuỳ bố nó, đi được thì đi.
Ấm Vệ nãy giờ đang ngồi nắn bóp chân cho đội Oánh, ngẩng mặt lên nhìn vợ:
- Có lẽ tôi đi quay cái tông đơ ...Mùa gặt sắp đến rồi.
- Ông làm gì thì làm ...Đừng ham chơi không ngó ngàng đến gia đình là tôi được nhờ.
- Gớm thím cứ lo...Chú Vệ có phải trẻ con đâu!
- Được mà...Tôi chỉ nhờ chú Ấm Vệ đưa vào nhà thương là chú ấy về liền! - Đội Oánh mặt nhợt nhạt, cặp kính chực tụt khỏi chiếc mũi sư tử. Bộ ria cựa quậy như sắp sửa bay khỏi đôi môi dày, thâm xịt.
Quản Mầm ló ra khỏi cửa buồng, đặt vào tay cô đào Tuyết:
- Cô cầm lấy tiền công của tháng này...Tiện để cô mua hộ ít xà phòng thơm của Pháp. Cái thứ cô vẫn dùng ấy.
- Được để tôi mua...Làm gì bác phải gởi tiền trước - Cô đào Tuyết cầm lấy tiền.
- Không phải với cô Tuyết- Tháng này cũng thật eo hẹp ...Quản Mầm phân bua.
- Eo hẹp gì mà eo hẹp. ..Người ta mà mất mạng thì ai mà lấy tiền của nhà ông nữa?
- Kìa ông đội ...Nhà tôi có bao giờ xử tệ với quý cô đâu?- Cái mặt lão Quản Mầm tự nhiên méo mó, làm bộ đau khổ.
- Thôi ta đi thôi. Cô Tuyết giục.
Ấm Vệ và Tuyết mỗi người cắp một nách dìu đội Oánh dậy. Hai nông dân khiêng vào một chiếc võng đan bằng tre. Đội Oánh được Ấm Vệ và cô đào Tuyết đỡ cho nằm lên cáng, hai nông dân dạng chân lấy đà khiêng bỗng đội Oánh lên.
- Cáng nặng bằng con lợn chứ mấy! - Tiếng lão Quản Mầm nói cho một mình nghe.

XVII

Phách đến tìm Bản, cái mũi vẹo vọ mỗi khi có việc ra vẻ quan trọng, cặp mắt kéo dẹo dọ lệch sang một bên, nom thật lạ lẫm. Mặc dù biết là Phách đấy, Bản vẫn cứ trố mắt ra mà nhìn, sợ có trò gì mới, sắp xảy ra.
- Hôm nay là rằm chú có vẻ rỗi rãi thế! - Đó là thói quen, người lớn gọi bằng chú, nên Bản cũng gọi là chú. Nào biết họ hàng bà con ra sao.
- Tao nghĩ ra rồi...Dì út của mày không hiểu sao mà gặp nhiều khổ nạn thế. Chi bằng hôm nay chùa vắng khách. Tao nói với ông Từ rồi (Phách vẫn gọi bố mình là thế), kiếm nải chuối lên mà cúng đi.
- Cháu đào đâu ra chuối? – Bản trả lời.
- Cái thằng ngu như chó...Không nhìn thấy buồng chuối nhà Quản Mầm sao?
- Lấy trộm hả?
- Trộm cái con khỉ...Nhà nó mở cuộc hát. Nuôi cô đầu. Lấy của nhà nó không được à?
- Cháu sợ lắm!
- Sợ gì mà sợ...Mày đứng canh chừng. Tao cho một nhát. Thế là xong.
- Chú định lấy cả buồng à?
- Cả buồng mới không lộ...Bọn Quản Mầm sợ máy bay dúm dái lại. Biết ai mà nói.
- Cháu sợ dì Út không đồng ý.
- Ngu. Đồng ý đồng tá gì. Mình cúng cho nó, lại cho nó biết mất thiêng đi. Chỉ tao với mày biết thôi. Cấm được hở ra. Thời buổi loạn lạc.
- Cháu chỉ canh chừng được thôi! - Bản biết không từ chối được nên giao hẹn.
- Thì vẫn ...Cái ngữ mày chỉ ê a đớp chữ theo mẹ, làm được cái gì.
- Dấu ở đâu? – Bản hỏi Phách .
- Dấu cái gì?
- Buồng chuối ấy, dấu ở đâu cho không lộ.
- Dấu trong bụng chứ để đâu nữa?- Phách cười.
- Hai chú cháu làm sao ăn hết cả buồng chuối xanh.
- Cái thằng ...Tao bảo này – Phách nghé miệng vào tai Bản, cặp môi mỏng dẩu ra như cái mỏ - Tao đem đặt từng nải lên bàn thờ của chùa. Không ai biết của ai đem đến cúng. Hương thơm sẽ chóng chín. Phách kéo Bản lượn đến bờ ao nhà Quản Mầm, nơi bọn nó vẫn thường rình xem trộm mấy quan viên đến hát. Lão nào máu gái, ôm cô nào y rằng ngày mai làng xã đã biết. Cái trò xấm xít ấy, ai cũng sợ lẫn nhau, không biết ai thật ai là giả.
- Đứng đây này...Có ai đi đái thì ho khan ...Hoặc giả vờ ngồi ỉa, để họ không đến nữa. – Phách dặn Bản.
- Chú ơi! Mau lên nhé ...Cháu sợ lắm! Bản van nài.
- Đến lúc nó chín, thơm lừng thì hết sợ. Phách làm bộ mặt dẹo dạo, hài hước. Nhặt con dao dấu dưới mép ao lên , ngó nghiêng như quạ vào chuồng gà ăn trộm trứng. Thấy không có ai, nhảy lên: Phập! Phập.! Buồng chuối rơi xuống bờ duối đến sạt mọt cái. Tay Phách vẩy như kiểu người lên đồng lúc đã nhập vào hồn. Bản biết ý chạy lại. Phách nói rất khẽ:
- Chú vác trên lưng cho không bị gãy. Mày đỡ phía sau cho chú. Thấy người là lăn xuống ao ngay. Qua đoạn đường trống đến chùa phải vù thật nhanh. Đến gốc ngũ quả là an toàn.
Trống ngực Bản đập thình thịch. Nhớ lời mẹ dặn. Không được ăn cắp của ai dù là cái kim sợi chỉ. Nhưng Phách lại nói, cắp trộm gì. Đưa vào chùa mình cúng phật, chứ mình có đưa về làm của riêng đâu. Không khéo cả cái đất Cõi này lại được Phật phù hộ cho ấy chứ.
Bản phải cố sức mới theo kịp bàn chân sải của Phách. đến gốc ngũ quả sau chùa, Phách đặt xuóng, nằm lăn ra thở.
- Mày tưởng chú không sợ à?
- Chú cũng sợ sao? – Bản ngây thơ hỏi lại.
- Sợ vãi đái ra chứ lại....Phách cười – Thôi vào việc. Phải tranh thủ lúc ít người đến chùa do sợ máy bay mà đưa vào. Bố tớ mà biết ông ấy nện cho nát đít.
- Chú mà cũng sợ bị đánh à!
- Cái thằng...Đến con chó mà còn sợ bị đánh chả là tao. Tao nói sợ thì mày làm sao dám cùng tao hành sự. Vả lại nhà Quản Mầm nó bắt được quả tang, có cớ để vu vạ cùng làng xã, rằng nhà nó lâu nay mất vặt chỉ do tao cả. Phách cắt ra từng nải một đặt trên cỏ. Miệng xuýt xoa. Chín đến nơi rồi. Dì Út mày và bọn con Hiên, con Xoan sẽ được cho chén.
- Này...Phách làm mặt người lớn hất hàm hỏi Bản.
- Dạ...Tự nhiên Bản cũng thấy nể cái lão Phách.
- Tao nói với mày, bảo mẹ đừng cho con út đi làm chân dao thớt nữa nghe chưa.
- Chú bảo sao ạ? – Bản thấy bộ mặt quan trọng của Phách mà phát sợ.
- Con Út lông lống rồi...Cái bọn đến nhà Quản Mầm có vẻ để ý rồi đấy.
- Chú chỉ nói điêu, dì cháu chỉ nấu nướng dọn dẹp chứ có hát xướng gì.
- Mày ngu lắm...Tao thấy cô đào Tuyết dạy cho dì mày hát. Tao còn thấy dì mày đeo xu chiêng rồi đấy!
- Chú ...Chú dám ...ngó trộm dì cháu - Bản suýt oà khóc, cảm thấy một sự mất mát, một sự căm giận trào lên từ đâu đó thật sâu lắng. Môi Bản tự nhiên khô lại, đắng ngét.
- - Cháu không chơi với chú nữa đâu ...Ai lại xấu thế? – Bản tỏ thái độ bất mãn ra mặt.
- Mày có ngu nhiều hay ngu ít hở? – Phách cáu thật sự. Làm Bản phải chùn lại.
- Chú lại mắng cháu.
- Xấu tốt gì...Cái bọn đểu đó nó bỏ tiền ra để nuôi không à...Mày bảo cái lão Đội Oánh, Phó Du, Chánh Tào, Đoàn Khoai...Bọn ở phủ, ơ tỉnh nó đến để nghe mấy câu hát nhắng nhít: Hồng hồng tuyết tuyết điếc đít bàn dân ...Cởi quần xem cái tần mân ...tấn mần à?
- Cháu không thích nghe nữa đâu...Cháu về đây! Bản vùng vằng định bỏ đi.
- Đi thì đi ...Nhưng phải vào mà lạy phật, cho phật bảo vệ cho dì mày...Tao thì tao tin là có nải chuối này là gọi được Phật một cách thành tâm. Khấn xong bọn con Xoan, con Hiên nó đến, ta về cháu một thể.
Phách đặt chuối lên các bàn thờ. Lấy hương thắp lên cho đủ mỗi ban thờ một nén. Lấy dùi gõ vào chiếc chuông một hồi dài, đoạn đến chiếc chiếu trải ở bệ giữa, hai tay chắp vào nhau, lạy và quỳ xuống miệng khấn, chắc là Phách nghe được của ông Từ vẫn hành lễ.
Nước Nam là nước Nam ta
Tổ tiên đã có sơn hà phân minh
Phật là đức phật hiển linh
Thiêng thì xin hiện, để con trình cho hay
Tỉnh..T
Phủ...H
Huyện ...T
Tổng Cõi
Là Hà
Lê Công Phách
Lê Quốc Bản
Có dì là Trịnh Thị Thường
Dâng lên đức phật hương hoa của làng xã, quả thơm vật lạ...Đức phạt độ trì cho làng xã, xóm thôn yên hàn, nhất là thị út Thường hoàn hồn, bình an, sớm có được toại nguyện...Ai di đà phật...Lê Công Phách kính cẩn...Phách quì xuống, làm Bản cũng phải quỳ lạy với lòng vừa sợ hãi, thành kính.

X IIX

Phó Cáy là anh ruột ông Từ cha của Phách. Hai anh em ruột nhưng tính trình lại khác như nước với lửa. Ông Từ hiền lành bao nhiêu thì phó Cáy lại xảo trá một cách kỳ lạ. Tổ tiên để lại cho hai anh em một nhà ngói năm gian hai chái, có nhà ngang, ao cá. Đáng ra ông Từ là người phải thờ tự vìông có con trai nhưng phó Cáy lại xui cho em ra coi sóc chùa Hoa của La Hà. Phó Cáy nói ra đầy lý lẽ:
- Chùa Hoa của làng xã, nhưng chú ra đó coi chùa là rước phật về phò trợ cho dòng họ nhà mình. Bốn ông tổ lập ra cái làng này, ai bằng ông cụ Công nào? Không dễ mà có chữ lót là Công đâu. Chắc các cụ phải có nhiều công đức lắm mới dám đặt cho mình điều hệ trọng đó. Anh chả gì cũng làm phó lý. Chú bảo nhà tranh tre, nứa lá làm sao cho bàn dân thiên hạ người ta phục được. Người ta có vào nhà mình để bàn việc, ngồi ở đâu. Ngồi ở đây ngước mắt lên là thấy ngay bức đại tự ghi rõ: Đức Hinh Công! Ông Từ nghe anh nói có vẻ thuận lòng.
- Anh đừng lo... em ra chăm sóc cửa Phật cũng có ý lắm. Bỏ vợ chồng chứ ai bỏ được chùa thờ phật. Em cũng muốn niệm cho phật độ trì cho gia tộc. Do những điều làm không phải với thiên hạ.
- Chú bảo không phải ở chỗ nào?
- Thì cái chuyện thày dùng giày săng đá mà nện vào mông người ta, đi cà nhắc suốt một đời thì sao?
- Chú quá từ bi ...chuyện trai gái...bà Như, và ông cụ, ai cho chú chõ mõm vào. Gái đẹp như thịt để mồm mèo. Ông cụ là người chứ phật à...ông cụ có quyền thích chứ. Lại để chó Bạ Tháy ngang nhiên chọc ghẹo được sao. Chả gì Quản Mầm là người nhà ai. Là con cháu bốn ông lập ra cái làng La Hà này, vùng Cõi này. Chú cứ nặng lời với tôi. Nào là già đời mà không đứng đắn. Tôi mà không có mặt ở đó thì Chánh Tào, Phó Du nó tha cho người nhà mình à. Chú ra đó, tôi bảo chú đi tu chắc. Vườn chùa, chú hái lộc. Ruộng chùa chú cày cấy lấy đó mà hương hỏa. Chú cũng là tai mắt của tôi để ý người đi chùa cúng bái ra sao...Có bọn nào mà ra mặt chống đối còn có cách mà liệu.
- Bác muốn làm gì thì làm ...Em không thể dò la, nhòm ngó vào chuyện của người khác...Còn ra hương đèn thì em nhận...Ban thờ, ông vải bác phải lo mà quét dọn cho sạch. Kẻo người đời người ta bàn tán.
- Bàn tán cái con c. tao à!
- Bác chớ có to tiếng - ông Từ biết có nói nữa cũng không làm thay đổi được lòng dạ người anh nên sửa soạn ra đi. ông Từ sống ở đó với đứa con trai độc nhất là Phách. Phách cũng rất khác với cha mình. Cha hiền từ chăm sóc cho việc hương khói, thì cậu cù bơ cù bất. Lại sống ở chùa từ thuở nhỏ nên được đức tính không hề biết sợ. Roi vọt và ma quỉ. Ở trong đôi mắt và suy nghĩ của Phách thấy phật hiện lên đầy vẻ sinh động. Phách đặt tên cho các tượng là tên hàng xóm, họ hàng một cách lý thú. Hắn lại được các bà đi chùa nhờ lau mặt mũi, tẩy tổ tò vò cho các vị nên cũng nhìn tượng phật và các chức sắc như nhau; vui vẻ, tếu táo và có lúc đến mất dạy. Ôi chà! Ôi! Xem nào tại làm sao mà lại để cho tò vò nó ỉa lên mặt thế này? Có lúc bất chợt nghe được câu phỉ báng thần phật, ông Từ không tiếc phất trần quật vào lừng: Cái đồ mất dậy...không hiểu tổ tiên nhà mày ăn ở thất đức hay sao mà sinh ra cái loại chúng mày! Ông Từ nói là chạnh lòng về cái cách dạy cháu của lão Phó Cáy. Phó Cáy thấy chuyện nghịch ngợm tai quái của thằng cháu lại thích thú. Lão bảo, phải cái ngữ thằng Phách mới trị được bàn dân thiên hạ. Nó mới coi thiên hạ như cái ... Phó Cáy kể lại cho Phách nghe một chuyện rất đặc biệt...Vào đầu thế kỷ XX, người Pháp mới đào sông xây cầu, mở đường sắt...Cái lần mà bọn quan Pháp đến để vòi ăn, doạ sẽ đào sông vào chính giữa chùa Hoa. Tại sao gọi là chùa Hoa hả? Chính bà cô cố kỷ cụ Kỵ nhà này đấy... Bà nghèo khổ lắm. Nói cho cháu hay, bà phải đi ăn mày, ăn xin nay đây mai đó. Nhà cửa không có, mà còn sợ bị lang sói ăn thịt. Thuở ấy chưa có chùa chiền gì ráo. làm gì có nhà ở như bây giờ để vào đắp điếm cho thân bà. Cha mẹ thì mất, người thân còn phải làm thuê...Bà cứ ngày ngày bị gậy đi ăn xin. Ai cho gì ăn nấy, sống qua ngày. Thời đó, giặc Minh sang xâm lược nước ta. Ông nông dân Lê Lợi khởi nghĩa. Thua nhiều trận nên quân cũng hao tổn. Một lần lũ giặc đuổi đâu từ mạn Căng, chưa đến vùng đồi mà bà cô nhà này đi ăn xin. Bà mới vừa xin được của quân lính Lê Lợi. Bà cũng không biết cả tên ai với ai. Chữ nghĩa có đâu mà biết. Quân lính thì quát mắng đuổi đi, ngài nghe được bảo đưa bà đến. Thấy uy nghi của ngài, bà cô sợ quá, quì lạy ...rằng đói khát nên phải đi ăn mày ăn xin. Ngài hỏi gia cảnh. Bà cô cứ thế mà kể, kể nạn vơ vét của quan lại nộp sưu thuế cho giặc. Mặt ngài buồn lắm, tay day chùm râu có vẻ nghĩ ngợi lao lung lắm. Ông mới bảo với người hầu đưa xuất ăn của ông cho bà... Ngài nói ta thật xấu hổ thấy dân chúng không có chốn nương thân...Bà hãy nhận lấy phần thức ăn ít ỏi của ta...
Đám quân lính và ngài đi rồi, mà bà cô vẫn không sao trấn tĩnh lại được. Bà ăn ngấu nghiến cho thoả cơn đói...Con bảo ăn gì nào...Cơm độn củ nâu. Đó là bữa tiệc của bà cô nhà này đấy. Miếng cơm chưa nuốt trôi thì có tiếng hò la của quân lính giặc Minh tới. Chúng xừng sộ: Có thấy quân Lê Lợi qua đây không? Không nói chém đầu. Bà cô không biết Lê Lợi là ai nên bảo không thấy. lại không hiểu họ xì xố nói gì nên biết quan quân này chắc phải là giặc. Nghĩ đến miếng ăn vừa trôi xuống cổ, bà cô trào nước mắt vì lòng tốt của quan ngài. không hiểu ma xui quỉ khiến thế nào, bà cô chỉ ngược với lối quan quân của ta vừa chạy.
- Tôi thấy...Có ít người chạy theo lối này! - Bà chỉ cho bọn giặc đi lối khác.
Bọn giặc đi rồi, không hiểu ai nói mà ngài biết được. Ngài nói với quân lính hầu: - Ôi chao...nếu ta vì miếng ăn không san sẻ cho người hành khất thì thử hỏi, có bảo toàn được tính mạng không?
Say này lúc đã lên ngôi báu, ngài về đất Cõi này hỏi thăm. Dân không ai biết cả. Trước ở đó là đồi trọc. Ngài cho quân dừng kiệu, lạ lắm ngôi mộ đơn độc của bà cô tổ mày tự nhiên hoa nở như có ai vừa đến trồng. Ngài mới cho dựng chùa gọi là chùa Hoa. Chùa Hoa cứ lớn dần lớn dần. Người mới cho tìm người họ mình, cho bổng lộc coi sóc cho ngôi chùa. Ngôi chùa là của thiên hạ, nhưng thật ra của họ Công này đấy...Cháu có biết từ đời nảo đời nào đã có người họ ta coi sóc ngôi chùa không?
Thằng Phách được thể, coi chùa thiên hạ là của nó. Đứng trên cây ngủ quả cao vút nó tè xuống người đi qua cứ tưởng là mưa. Hắn cười suýt buông tay rơi xuống đất. Phách nghĩ hay là mình lếu láo mà bị quở?
Hắn còn làm bộ mặt kẻ cả nói: - Quân ở bên Bái còn định cướp cả ngôi chùa kia đấy...Đừng hòng mà nhòm ngó. Hắn nghe bác của nó kể, dạo người Pháp đào sông tưới tiêu, định đào ngay giữa ngôi chùa của làng này. Cả hàng tổng, hàng xã...đất Cõi, đất Bái cả một vùng đều kinh khiếp. Thằng Tây nó đi theo cái đạo tây, nó không thờ phật thì nó sợ gì. Nó cho thuốc nổ vào là đi đời chùa chiền tất. Phật chỉ bắt nạt được người ta thôi chứ làm gì được cái lão mũi lõ tóc quăn. Cái con vợ tây ấy, có dễ cái bụng phải to bằng con bò chửa - Mặc váy. Cái váy to ơi là to có dễ bằng cái chăn của con ông Cả, ông Tuần. Đến cửa phật mà xí xố xì xồ cười cợt. Ngài có linh thiêng thì bóp cổ cho lè mắt bọn ấy đi. Bọn nó đến để ghi ghi chép chép, ngắm ngắm nghía nghía đào sông đấy. Chết tiệt cả làng xã này rồi. Nó sẽ đào vào giữa ngôi chùa thì chết toi cả làng Cõi. Bọn chức dịch đã đến khấn bốn cây đa của đất Cõi rồi. Hòn đá to trước ngôi chùa vẫn nằm lì lì không nói năng chi cả. Có linh ứng thì vật chết cái quân xâm lược đi...
Lão Phó Cáy bảo phải đổ của ra cho bọn kỹ sư lục lộ tây và ta, cho bọn quan tây và ta ngủ với mấy ả đào tơ...Lão bảo cái ông nọ ...bà kia...chửa biết chừng cái mũi đó, tóc đó chả là hiện hình của ma tây ấy chứ...Cụ nhà mình giỏi. Cùng với cha của Bá Cao xoay ngay một con chó thiến mời các ngài. Rượu sủi tăm, nút lá chuối. Miệng cứ Méc xi! Méc xi liên tục...Các ngài say, tay các ngài lại cầm tờ bạc...Các ngài mới lấy bút chì xanh đỏ cho một vạch. Vạch vào giữa cái hồ nước thì các quan không dám. Nuốt bao nhiêu bạc vào đó. Thế là vạch một nhát đẩy cái dân Bái ra ngoài đê, mới đẻ ra chuyện tranh chấp ngôi chùa Hoa. Cụ nhà mình mới bảo chùa này là vua Lê Lợi làm để thờ bà cô tám hoánh nhà tôi? Giấy tờ đâu, sắc phong chẳng qua chỉ là chùa Hoa chứ có tên bà đó đâu. Bà làm gì có tên? Với lại cha Bạ Thấy, làm tri bạ bên đó. Mâu thuẫn với cụ nhà mình. Bàn với lũ chó bên ấy. Chỉ còn cách là xoáy bằng được tượng phật và tượng thờ bà cô là coi như có chùa. Đánh nhau bằng số đông thì thua bọn bên Cõi. Chi bằng đánh bằng mẹo. Coi như mở tiệc ăn mừng vì đuổi được bọn tây đi, làm sông không chọc vào chùa. Cha Bạ Thấy quả là người cao kiến. Mời bọn chức sắc bên La Hà và Bích mà dân quen gọi là đất Cõi sang ăn mừng. Mời cả đám khoẻ mạnh sang nói là thi đấu giao hữu, chả là hàng năm hai bên vẫn thường rước chạ mà lại. Rước từ làng Bái sang La Hà tiệc tùng rồi rước sang Bái tiệc tùng...Bái vốn là bãi luyện quân của vua Lê Lợi nhưng kiêng tên húy của một công tử mà gọi là Bái. Họ đổ rượu cho quân La Hà say chổng vó. Không ai biết chuyện lấy trộm tượng phật và bà Hoa nên hết say là về luôn.
Đến khi ông cụ Từ coi chùa lên thắp hương thì mới té ngửa ra: Bị ăn cắp mất tượng phật rồi ,có bỏ làng không? Không biết kẻ nào to gan đến thế. Cố nhớ xem mấy hôm trước có kẻ nào lạ mặt vào chùa không. Cự Từ giữ chùa mới nhớ ra. Bạ Kha cha Bạ Thấy đã vào chùa hàng tiếng đồng hồ. Dáng vẻ ngó nghiêng rất lạ. Lại còn lấy tay ước lượng chiều cao, thấp của tượng bà Chúa Hoa và tượng phật. Cụ cố nhà mình cũng là loại đa mưu túc kế. Vỗ đùi cái đét, chắc chắn là bạ Kha lấy tượng về bên đó rồi. Chùa mà thiếu tượng phật và người được tôn là tổ thì chỉ là nhà kho. Mới mời quan làng trong vùng Cõi đến: La Hà, Bái Bếch, Nam, Đông, Đoài và tiện mời quan huyện về để tối dự đám hát nhà Cửu Thọ. Tiệc rượu gần tàn, cha Phó Cáy mới có lời với các vị. Nhờ có quan huyện sáng suốt, không nỡ cho sông vào chính ngôi chùa. Đất Cõi vẫn còn nguyên là đất của tổ tiên cha ông ta. Ngôi chùa là chốn linh thiêng, thờ tạc người có công dẹp giặc. Cụ cố đưa các chức sắc ra đọc ...Từ thời vua Lê Thái Tổ đến các triều Nguyễn sau này đều huân công bà chúa Hoa, đều phong thượng đẳng thần. Thế mà nay có kẻ phá hoại luân thường đạo lý, dám làm điều bại phong mỹ tục, đánh cắp đức uy linh. Xin các vị có mặt lấy lòng thành cùng ký vào đơn trình lên quan xét xử. Ai nấy đều đang trong men rượu nên hăng hái. Bạ Kha có vẻ ngần ngừ, cụ cố nhà này mới dấn thêm: - Ông bác cũng ký chứ! Ký thì ký. Tức thì đơn được trình lên quan. đáng lý ra phải ra công đường, nhưng quan được biếu trước tiền, lại đang sốt ruột chờ đám cô đầu môi son, đỏ mỏ rập rình tiếng bấc tiếng chì, nên vui vẻ nhận lời.Sáng ngày mai quan cho lính phong tỏa nhà Bạ Kha. Bạ Kha ban đầu còn nói cứng, nếu bắt được thằng nào láo lếu xin quan cho đi tù. Đến khi có người vào chuồng trâu, leo lên đảng rơm vác hai pho tượng xuống, mới tái mặt van xin quan lớn:
- Con trót dại, do bọn tiểu nhân xui khiến muốn chuyển chùa về Bái, xin quan tha tội.
Chính Phó Cáy đã lẻn vào chuồng trâu nhà Bạ Kha từ hôm qua, canh gác không để cho đứa nào chuyển hai pho tượng thờ đi nơi khác. Cũng là do phó Cáy có tư tình với đứa ở nhà Bạ Kha, nên mới biết sự thể.
Sau vụ ấy, chính cụ cố nhà này lại lăn ra xin quan huyện tha tội cho anh em Bạ Kha. Lại còn ra vẻ ân đức, sang Bái chỉ huy việc xây ngôi chùa bên ấy cho dân Bái có phần được hương khói, thờ tự.
Cũng do lập được công to ấy mà Cáy anh chàng láo cá được cả làng gọi đểu là Cày được đặc cách bầu làm phó lý, cai quản an ninh trật tự cho cả làng Bích. Lại có một quyết định long trời nổ đất: Từ nay con cháu của nhà Phó Cáy được thay nhau coi sóc cho việc cúng tế.
Thằng Phách rất rự hào về ông bác của mình. Hắn nói với bọn Bản, cái Hiên, giọng rất đắc chí: - Không có bác của tao thì làng này lấy gì mà cúng? Còn cái khác tao đếch cần!

XI X

Từ hôm Ấm Vệ đưa Đội Oánh đi thành phố chữa chân bị bong gân, đám hát họ ca công dừng hẳn. Cô Tuyết Tuyết thì đưa Đội Oánh và Ấm Vệ lên được xe chạy bằng than là vội vàng quay về. Ban đầu cô cũng muốn ra Hà Thành một chuyến ngóng tin tức ngoài quê. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại cô lại quay về đất Cõi. Cô quay về vì chuyện con Út Thường hết hồn hôm bị bom chết hụt. Cô quay về bởi một nỗi day dứt cô không nói ra được cùng ai. Người ta nói ông Ấm Di đã trở về.
Tuyết Tuyết không tin là Ấm Di có thể lành lặn, hồi phục như người thường. Cô đã chứng kiến sự hành hạ của bọn người khốn nạn. Chúng lấy cả miếng sắt nung áp vào da thịt của anh. Đôi mắt anh vẫn mở, trực chỉ, vô hồn. Chúng không tin là anh bị điên bị dại nên nhốt chung với toàn người điên. áo quần rách bươm, người ngợm lở loét toàn mùi xú khí. Họ nhảy múa ôm lấy anh. Anh cười, cười mà chẳng hiểu cười vì điều gì. Anh như họ nhảy múa làm những động tác thật man dại.Tuyết Tuyết muốn nhìn lại mặt anh rồi hẵng đi. Nàng nhận ra sự săn đuổi của Đội Oánh chứa đựng một điều gì khó hiểu. Tại sao Đội Oánh có thể đuổi theo nàng không mệt mỏi. Hàng chục năm trời. Tại sao Đội Oánh biết rằng nàng không còn sự trong trắng mà vẫn săn đuổi tôn thờ. Đó là tấm lòng thành thật, hay của kẻ bệnh tật, si mê bệnh hoạn. Nghĩ lung tung đã đưa Tuyết Tuyết vào nhà Ấm Vệ tự lúc nào. Thấy cô đào Tuyết, Bản mừng rỡ:
- Cô đi sao mà nhanh về thế?
- Cô đưa họ lên xe rồi về...Dì cháu khoẻ chưa?
- Dì cháu cũng đỡ rồi ạ!
- Để cô vào xem...Chắc nó sợ đến phát đởm ra mất- Cô đào Tuyết Tuyết di vào gian buồng nơi út Thường nằm. Thấy cô Tuyết, út Thường vội ôm chầm lấy, khóc lóc.
Cô Tuyết xoa lên mái tóc mềm mại của út Thường: Thế là may rồi. Bom nó mà chệch vào một tí nữa thì cả cô cháu nhà mình đi đời rồi. Chết là xong tất cả...Còn khóc cười làm sao được nữa. Có hát được không Út nhỉ?
Tuyết ôm lấy Út vào lòng. Một tình cảm hết sức lạ lùng mà tự nhiên dâng trào trong trái tim cô. Phải rồi. Lần đầu tiên cô nhận ra nó khi bàn tay run run của Ấm Di choàng vào vai cô. Bàn tay sợ sệt, van xin làm cô nôn nao. Bàn tay ngập ngừng, rồi nắm chặt lấy, tin cậy và trông đợi. Cô nhìn vào mắt Út Thường, trìu mến của tình mẹ. Một ước muốn chợt đến, ước gì Út là con cô. Cô mà có đứa con như Út, liệu cô có xô đẩy nó vào con đường đi hầu hạ người đời không. Đêm và ngày tiếng bấc tiếng tơ, than vãn khóc cười, làm vui lòng người đời. Nhận lấy lời van xin, khen chê một cách giả tạo. Liệu có còn kẻ chung tình, thật lòng không. Hay chỉ đem tiền bạc cướp giật, lừa dối vợ con vào chốn luỵ đời. Cô khẽ thơm lên má của út, gặp những giọt nước mắt trinh trắng, nóng hổi, cặp môi run run của Út. Nó thốt ra từng lời nghe mà không cầm được nước mắt:
- Chị ơi! ...Có thật ...Chị thích làm nghề này không?
Út vùi vào cô đào Tuyết khóc nức nở.
- Thà để em bị bom đạn cho rồi!
- Không...Em đừng dại thế...Chị rất muốn giúp em ra khỏi chốn này...
- Đi đâu hả chị?
- Chị cũng không biết được nữa...
- Chị ạ! Em nghe bà chủ nói. anh Ấm Vệ nợ tiền của ông Quản Mầm...Có phải vì thế mà gạt nợ em hay không?- Thật thế sao? Để chị cho cái thằng Ấm Vệ vô tích sự này một trận.
- Đừng...Em xin chị...Chị mà làm thế chị Hoa của em sẽ khổ lắm đấy.
- Hay chị đưa em ra ngoài Bắc Ninh quê chị, xem có chỗ nào tử tế xin cho em vào làm. Em đẹp, lại ngoan thế này...Em không muốn hỏng thì loài người sẽ làm em hỏng mất.
- Đẹp như chị...Tại sao lại phải làm cô đầu hở chị?
- Đêm qua chị ngủ ở ngoài phủ, ở nhà cô bạn, chị định đi cùng Ấm Vệ, đưa Đội Oánh về thành phố nắn bong gân. Đêm chị thức dậy, chị nghe tiếng anh ấy ngoài đường.
- Sao chị có thể biết được??
- Phải. Chị biết vì nhận ra tiếng hát của anh ấy.
- Thật sao?
- Thật. Mỗi lần có sự mong manh của trí nhớ, của sự tỉnh táo hiện về, anh ấy thường hát. Hát suốt đêm. Thật não nề... Làm chị không chịu được. Chị đánh thức Ấm Vệ dậy ra xem. Chạy theo người rách nát, lầm lũi trong đêm. Miệng khe khẽ hát:
Con đường ...con đường còn xa xa là xa
Ai ơi chớ đừng đợi ta ta là ta
Ta là người hành khất
Trên vai ta chồng chất
Hỏi ai, hỏi ai mà hỏi được ai, ta hỏi ai?
Bao giờ ...Bao giờ cho can qua?
Út Thường nghe cô đào Tuyết khe khẽ hát, tự nhiên Út rùng mình, thốt lên: - Chết rồi. Hôm nọ em cũng nghe có tiếng hát từ gốc cây thị.- Em nghe hôm nào? - Cô đào Tuyết Tuyết nhìn chăm chắm vào mặt Út.
- Đêm ấy... em không tài nào ngủ được nữa. Em thức dậy ra ngoài gốc thị. Em không hiểu được nữa. Đầu óc rỗng ra. Em đến cây thị.
Im lặng bao trùm lên căn buồng u tối. Những chiếc quang bằng tre, treo nồi niêu. Một cây tre được gọt đẽo nhẵn đã lên nước bồ hóng được gác lên một gốc tường. Một bên buộc thừng bện bằng dây dừa lên xà nhà, trên đòn tre treo đầy quần áo. Những chiếc khăn nhuộm bùn đen, váy đụp và cả đồ lót của đàn bà. Nông dân những năm năm mươi chưa học được cách mặc quần, váy có hai lần, lần trong bằng vải rách sang lắm là vải màn, còn mặt phải bằng vải dệt thủ công nhuộm bằng củ nâu, sau đó được ngâm bùn ao cho đen chín lại. Phải là nhà giàu có mới có áo tứ thân bằng lụa, có vạt để thắt lại. Mới có cặp váy lụa để về nhà chồng. Bà Hoa là người có của ăn của để nên đồ tốt được bỏ vào rương vuông, có khoá chuông mỗi chiều rộng chừng nửa mét tây. Cao có dễ đến sáu mươi phân...
Buồng tối. Tiếng mối, mọt trệu trạo tạo ra một tâm trạng buồn man mác.
- Em ạ! - Cô đào Tuyết khẽ khàng nói vào tai Út.
- Dạ!
- Em phải đi khởi nơi này thôi!
- Đi đâu được hở chị...Em thương chị Hoa và cháu Bản lắm.
- Chị biết...Nhưng em phải đi khỏi nơi này...Hẵng để chị nghĩ xem.

X X

Phách bảo cái Xoan và Hiên cho hai nải chuối vào chiếc làn tre rồi cả bọn vượt qua bãi sim mua đi về phía nhà Ấm Vệ. Về phía tông tộc, Phách gọi Xoan là chị, nhưng hơn Xoan đến vài ba tuổi, lại được bác Cáy tin tưởng sai vặt nên ít khi hắn gọi Xoan là chị. Chỉ lúc cần lấy lòng Phó Cáy cho được việc hoặc phỉnh Xoan mới gọi là chị, xưng em ngọt xớt. Còn với Hiên con Hai Sang cũng là người làng, người nước cả, cùng lứa tuổi với Bản và Xoan nên Phách coi như em. Ngoài việc đi nhà thờ lễ lạt theo qui định của linh mục ra, Hiên vẫn chơi đùa với bọn trẻ chăn trâu không có vẻ gì là tách bạch giữa người đi lương hay đi giáo. Hiên cũng ý tứ không bao giờ có động tác gì để bạn phải chú ý. Phách để ý nhất là cặp mắt của Hiên, hễ nhìn vào đâu y như đóng đinh vào đó, không hề chớp mắt. Có lúc tếu, Phách đã nói với Bản và Xoan ngay trước mặt Hiên:
- Nhà thờ của nhà em nó rắc rối bỏ mẹ đi...Lễ chùa nó đơn giản. Sư cụ thỉnh chuông là khấn lầm rầm...Ai vào cũng được. Nhưng cái đạo của em. Anh thích nhất cái gì em có biết không?
- Anh thích gì? – Hiên hỏi lại.
- Đẹp. Vẽ người phụ nữ và đàn ông đẹp thật.
- Anh thì ...Đức Mẹ và các thiên sứ đấy!
- Cái con...Tao nói cho mà biết, tượng phật và các vị trong chùa kinh khủng lắm...Ông thì phồng mang trợn mắt, ông thì to đùng, ông thì bé choắt, xấu ơi xấu...Còn tranh và tượng của nhà thờ nhà em nó đẹp.
- Từ nơi nước chúa đưa đến đây! – Hiên có vẻ tự phụ.
- Mãi tận đâu? - Xoan hỏi bạn.
- Xa lắm...Chắc cả đời không đến được! Hiên có vẻ buồn rầu.
- Anh thấy lạ...Như các cụ mình nói thì chùa, nghè, có trước, sinh ra trước...Rồi mới có nhà thờ đạo nhà em. Bố em là dân họ Ca Công La Hà, mẹ em là người Cõi có phải không. Ví dụ mấy ông Phật kia là bố ... thế mà đẻ ra con sao mà đẹp thế! Anh thích nhìn cái mặt đẹp của họ mà. Phách nhìn vào mắt Hiên làm cô phải quay mặt đi vì ngượng.
- Ta vào nhà thằng Bản đi, chắc nó cũng nóng ruột lắm. - Phách ê hèm, kiểu đánh tiếng cho quan trọng. Xoan phì cười. Phách tỏ ra cáu bẩn: - Cái con chị ...Hay hớm nhỉ?
- Tôi bật cười vì dáng của cậu chả khác gì thày tôi.
- Chỉ cốc lếu! - Cặp mắt hơi lác của Phách tự nhiên méo xệch, dẹo dọ, nhìn vào mặt Hiên mà tưởng phát lờ nhìn ở tận đẩu đâu. Tay nắm lấy cánh tay Hiên: - Vào đi ...Ta vào thôi.
Bản chạy ra đánh tiếng cho cô đào Tuyết và dì Út nghe thấy:
- Chú Phách...Lại cả Hiên và Xoan nữa dì Út này!Từ trong nhà cô đào Tuyết Tuyết đang ôm
Út Thường ra cửa, miệng nhoẻn ra cười: Ái chà chú Phách và các cô cậu đến thăm cô cháu tôi đấy, vào đi.Cái thằng Phách nghịch như quỉ ôn, vậy mà nhìn thấy cô đào Tuyết Tuyết và và út Thờng ăn mặc đồ trong nhà như bị hút hồn. Bị lấy mất cả nhuệ khí ma mảnh thường có. Hắn chợt nhận ra, cái quần đùi ngắn củn, chân tay khô như da rắn, còn đầy vết xước của gai vạch trắng. Đôi mắt tinh ranh, lấp lửng người đời không nhận ra biến mất trồi ra sự ngây thộn đến thảm hại. Cô đào Tuyết Tuyết nhận ra sự thiếu tự nhiên của cu cậu, vội nói để phá tan không khí ngượng ngùng:
- Đã lớn thế này cả rồi...Cả anh chàng gửi gói phân cho nhà Quản Mầm bảo là xôi biếu nữa đây...Bây giờ thấy hiền lành quá. Có chuối thăm cô cháu chị...Vào đi...vào đi...Ai bảo cháu Hiên không xinh nào...Có mà làm cho các cậu ấy ngộ lên mất.
Cả bọn được thể vào trong nhà ngang. Hàng ngày bọn chúng vẫn được cô đem chia lộc các anh tặng nên rất mến mộ. Vả lại chúng rất sợ những điều bí mật mà người lớn nói. Nhưng chúng đều rất hâm mộ giọng hát và sắc đẹp của cô đào Tuyết Tuyết. Bao nhiêu câu chuyện về gia thế, học hành của cô chúng được nghe lỏm mà háo hức, nuốt nước bọt vì khâm phục.
Bản nhìn thấy Hiên thì giật mình, nhận ra áo nơi ngực bạn đã nhu nhú đầy bí mật. Đôi mắt bạn thật đoan trang, thánh thiện. Cái Xoan thì hiền hậu, bầu bĩnh trong trẻo khác xa với khuôn mặt linh lợi, nghịch ngợm của người em họ. Phách khẽ khịt khịt cái mũi. Phách nhận ra hương vị da thịt đàn bà thơm lừng từ cô đào Tuyết Tuyết tỏa ra. Cục hầu nhỏ xíu của con gà choai bắt đầu vỡ giọng gáy. Cựa quậy truyền lan nơi thầm kín của Phách. Hắn gặp sự mượt mà non xanh nơi út tỏa ra. ý nghĩ lếu láo, uế tạp mà không hiểu nghe được từ cái miệng của Đội Oánh phát ra cho ấm Vệ hay sao: - Cái ngữ con út bắt đầu mọc lông mao rồi! Phách rùng mình, bỏ chạy. Chạy vì hắn cảm thấy đau nhói ở phần bụng dưới. Thật lạ, ổi xanh, dái mít, bởi, xôi oản, cơm độn củ sắn, củ nâu, nước lã nơi giếng chùa, Phách có tha thứ gì đâu. Chưa hề sôi bụng. Vậy mà hôm nay ngửi thấy mùi lạ nơi cô đào Tuyết Tuyết, nghĩ đến điều bậy bạ về út, hắn đau cuộn, đau cứng căng...Bỏ chạy, còn kịp nói một câu, mà sau này nghĩ lại Phách xấu hổ muốn chết:
- Phải đi tháo cống...kẻo ra quần mất!



CÒN TIẾP ....



TỪ NGUYÊN TĨNH

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC