Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





HÒN ĐẢO PHÍA CHÂN TRỜI




PHẦN THỨ NHẤT
NGÔI NHÀ BÊN CỬA SÔNG



Chương X



Làng Bạch Đằng Giang ở phía tây đảo Mõm Cá Sấu. Phía này đất rộng. Dưới những hàng dứa dại mọc lung tung, bãi cát trắng thoai thoải nghiêng mình xuống mặt nước. Sóng êm hơn, gió cũng dịu dàng hơn, được che khuất bởi bức trường thành của đảo. Bờ phía đông là đại dương, dựng đứng, sóng táp vào vách đá như có bão.
Quả là những thuận lợi hiếm có cho một làng biển được ra đời. Đã thấy bóng dáng của làng ở những ngôi nhà tạm, vách nứa, mái lợp cỏ gianh, xiên chéo vào vách nhà là ống nứa dẫn nước từ suối rừng ở trên sườn núi cao, nước chảy xuống phuy nghe rất giòn. Buổi chiều trước các nhà tạm, đã thấy căng thùng thình những vàng lưới rộng, phảng phất bay đâu đó những sợi khói bếp xanh lam, với mùi cá nướng thật quyến rũ. Dưới bóng cây, đã thấy thấp thoáng quần áo phơi, có cả cái áo ngắn cũn cỡn của trẻ con và cái quần thâm của đàn bà.
Toàn bộ số xi măng và gạch mà bố Nhụ tải về được, chỉ đủ để xây bệ cột cờ ở đầu đảo. Bây giờ lá cờ đỏ sao vàng, chủ quyền đất nước đối với hòn đảo, bay phần phật, trông như một đốm lửa lấp loáng cháy ở lưng trời.
Mấy ngày nay, nhóm thợ xây của làng biển đang trát và hoàn thiện cái bể chượp rất to ở cuối đảo, nơi có bến cá, với những cột trụ và sàn ghép toàn bằng cây gỗ to tròn, buộc chằng chịt bằng những mảnh lưới ni-lông đã thải loại.
Bố Nhụ thường xuyên có mặt ở ngư trường, chỉ huy các tướng cá vây bắt hải sản.

Được tắm thoải mái bên phuy nước ngọt, Nhụ lại nghĩ tới chị Chiêm và xót xa thương chị. Những ngày cuối cùng ở nhà, chị chỉ đi gánh nước và gánh nước. Bản thân Nhụ cũng từng chạy rạc cẳng, gánh bỏng vai trước khi tới đây. Không biết bây giờ, mẹ mình gánh nước vào lúc nào. Đang ám ảnh bởi ý nghĩ đó, Nhụ bỗng giật mình vì một tiếng gọi rất đanh:
- Ê, thằng cua đồng kia, chui ở cái (1) nào mà ra đấy?
Nhụ nhìn ra cửa, khuôn cửa không có cánh, che tạm bằng một tấm liếp nứa, chỉ cao ngang ngực người trung bình, có thể nhấc ra, đặt vào tùy ý. Một thằng bé trạc tuổi Nhụ, tóc quăn, da đen trũi, mặt hình tam giác, mắt lác, bụng dưới chỉ che toòng teng cái khố, trông đặc một rái cá có hạng.
- A, vào đây. Cậu cũng ở đâu mà bò ra đấy?
- Tớ ở trên kia. Đồn biên phòng.
- Vào đây! Vào đây! - Nhụ lấy tay vuốt nước trên vai rồi bước ra cười.
- Cũng chã à?
- Ừ, dân chài đây.
- Sao mà tắm như cua đồng thế. Đi với tớ. Tớ trông thấy cậu từ hôm qua bằng ống nhòm của chú Thuận.
- Chú Thuận là chú nào?
- Chú trinh sát trên đồn. Sĩ quan nhé!
- Sao cậu lại ở đây?
- Bố tớ là lính táo quân. Tên cậu là gì?
- Nhụ.
- Tên tớ là Ngạnh. Hai thằng cùng họ nhà cá cả.
Ngạnh kéo Nhụ ra ngoài bãi cát.
Ngạnh bảo:
- Chỉ có đàn bà, con gái, mới tắm như mày thôi. Ê, tụt quần ra.
Ngạnh cầm tay kéo một cái, miếng vải rời ra, chỉ còn một cái dây cao su màu nâu nhạt buộc ngang bụng.
- Thế cũng đòi là dân chài. Dân chài phải tắm thế này này.
Nó nằm trên cát, cho sóng biển đánh lập lờ vào bẹn, rồi giang hai tay ra, lấy cát xoa vào ngực mình.
- Ở đây có sá sùng mày ạ. - Nó bảo. - Mày ăn sá sùng rồi chứ?
- Chưa.
- Đích thị là cua đồng.
- Thế mày ở đây đã lâu rồi à?
- Hơn một tháng. Một đêm bất ngờ có giông. Thuyền tớ bị lật. Mẹ và em tớ, nước cuốn đi đâu không biết. Bố con tớ bám vào mảnh ván, may sao trôi dạt đến đây, được bộ đội biên phòng cứu. Nghĩ đến cơn giông ấy, tớ vẫn còn rùng mình. Cậu gặp giông bao giờ chưa?
- Chưa?
- Thế cũng dám nhận là chã. - Nó sì mũi ầm ĩ.
- Quê cậu ở đâu?
- Tớ làm đếch gì có quê. Cha chài, mẹ lưới, con câu. Sông Ngô bể Sở biết đâu là nhà.
- Cậu học lớp mấy?
- Ai dạy mà học, học làm gì?
Nhụ ngồi dậy, lấy ngón tay vẽ chữ b lên cát.
- Cậu có biết chữ gì không?
- Cái lưỡi câu chứ chữ gì? - Ngạnh nghiêng ngó nhìn ra ngoài nhưng Nhụ biết là nó đang nhìn vào mặt Nhụ. - Thế mày bảo nó là cái gì?
- Chữ b đấy B-i-bi- ê - bê-n-biên hỏi biển.
Ngạnh lại nằm ngửa trên cát, im lặng một lúc.
- Chú Thuận cũng bảo dạy tao học chữ. Nhưng tao không học. Thế mày vừa ra à?
- Ừ. Tao nhớ nhà lắm. Tao còn ông, còn mẹ, một anh đi bộ đội hải quân và một thằng em năm tuổi. Nhà tao ở ngay trên bờ sông Bạch Đằng.
- Thằng em tao cũng năm tuổi. - Ngừng một lúc, Ngạnh hỏi: - Mày có biết hát không? Những câu hát chài lưới ấy.
- Không.
- Mẹ tao hay hát lắm. Ước gì chợ họp thêm phiên. Để em lọc nước lấy tiền nuôi con.
Nhụ biết là mình đã vô ý gợi lại kỷ niệm nặng nề ở gia đình người bạn mới, bèn nói lảng đi:
- Mày là một thằng rái biển, tắm chỉ thế này thôi à.
- Trông đây!
Ngạnh vẫn giữ nguyên thế bất động của đôi chân, vươn nửa người dậy, dẻo như cao su và toách một cái, nó lao toàn thân xuống biển, gọn đến mức, nước chỉ xao động một vòng tròn nhỏ rồi khép ngay lại. Trong làn nước trong xanh, trông rõ nó nhoài sát với đường thoải xuống của thềm cát như một mũi tên, lao thẳng tắp cho đến lúc mất hút.


Chương XI



Hôm sau, Ngạnh lại đến và đi cùng một chú bộ đội mặc áo màu biên phòng. Nhụ đoán là chú Thuận, nhưng không thấy có ống nhòm. Quần đùi, áo may ô màu cháo lòng, trông Ngạnh rắn chắc như một thỏi sắt.
- Chú Thuận đấy. - Ngạnh nói.
- Cháu cũng đoán thế. Thế ống nhòm của chú đâu?
Chú Thuận cười vỗ vào vai nó:
- Đây này! - Chú chỉ vào đôi mắt của mình.
Nhụ ngước nhìn và thấy đôi mắt chú trong trẻo, long lanh sáng, lòng đen dày và to, theo ông Nhụ có lần nói, thì đó là dấu hiệu của người có lòng lành, có thể ra khơi vào lộng với họ được.
- Cháu nghĩ, nếu được nhìn toàn đảo qua ống nhòm của chú, thì thú lắm.
- Thế bây giờ cháu có bận không?
- Cháu trực nước, nước đầy phuy này thì cho ống nứa vào phuy khác. Trông cả một dãy nước thế, chỉ nửa đêm, tàu bố cháu về, có bao nhiêu dốc xuống tàu hết. Lần nào cũng thiếu nước.
- Vậy thì, để chú.
Chú rất mau lẹ, nối thêm một ống nứa và nước lập tức chảy vào cái thùng phuy to, còn chờ sẵn ở hàng ngoài.
- Thấy chưa. Còn lâu mới đầy. Ta đi chơi một lúc. Đảo đẹp phải xem bằng mắt chứ. Đi được rồi!
Chú Thuận nói và lập tức kéo cả hai đứa ra ngoài sân. Gọi là sân, nhưng đấy là bãi cát trắng rộng và dài, được viền bằng mấy cây dứa dại, để ngăn nó với bờ biển. Mặt trời đã về chiều, ẩn sau những làn mây đùng đục, âm âm, tỏa xuống bãi cát một thứ ánh sáng nửa vời. Đường ven mép biển, do những bàn chân to bản và vững chãi của người dân chài vạch lên, như một vết chém nghiêng, rồi mất hút vào đám cây cỏ hoang dại, mùa nào cũng rụt rè nở những chấm hoa lăn tăn, đủ các sắc màu. Dưới vòm xanh tư lự của cây rừng, đã thấy những chiếc lá tàn úa. Gió bắt đầu khô, xao xác thổi lồng lên từng đợt, rồi tắt ngay trong những vòm cây cao, để lại vẻ bơ vơ trống trải sau những cành vươn ra, cong queo, khuềnh khoàng như những cánh tay dị tật.
Chú Thuận nói với Nhụ:
- Chú sẽ đưa cháu lên Miếu Ông Voi. Ở đấy, nhìn cả vùng biển đảo mới thú.
- Ở đó, có cây đa to lắm phải không ạ?
- Sao cháu biết?
- Ông cháu có lần bảo thế.
- Cây đa chết lâu rồi!
- Sét đánh phải không chú?
- Không. Bom Mỹ đấy. Những máy bay Mỹ bị ta đánh đuổi ở đất liền, trên đường về hạm đội, đã trút xuống đó những quả bom cuối cùng.
- Tiếc quá nhỉ. - Nhụ nói và nó đứng sững lại. Hiện ra trước mắt Nhụ là một con chó con, lông vàng, đốm trắng, đầu đội mũ ông Công. Cái mũ làm bằng bìa cứng, dán giấy màu lòe loẹt. Nó rối rít vẫy đuôi, nhưng vẫn điềm tĩnh sủa: Cróc, cróc, cróc...
- Ê, Đức. Ở đâu thì ra! - Ngạnh kêu lên.
Chui ra khỏi búi ràng ràng là một thằng cu béo mũm mĩm, da trắng, mặt tròn, mắt đeo kính cận, hai mắt hơi xa nhau.
- Thằng Róc làm lộ "bem" cả, mình mất một "bát cơm nguội".
Trong các trò chơi của Đức, nó rất thích "xin bát cơm nguội". Lần đầu trông thấy Ngạnh đang đứng đái vào gốc cây, nó bèn lẻn đến sau, đạp nhẹ vào khoeo. Ngạnh khuỵu xuống, đái cả vào quần. Hai đứa đã làm quen với nhau trong trường hợp quái quỷ như vậy.
- Đây là thằng Nhụ. - Ngạnh nói. - Chúng mày phải ôm hôn nhau thắm thiết đi chứ.
Nhụ đưa tay ra và Đức nắm lấy cánh tay Nhụ, mắt cười rất hồn nhiên, trông dáng dấp không "chã" một tí nào.
- Tên tớ là Đức.
- Biết rồi. Cậu ở chỗ nào?
- Gần bến Cá.
- Bố cậu cũng ra đảo à?
- Không. Tớ không có bố. Mẹ tớ bảo bố tớ đi chiến trường rồi hy sinh nhưng hàng xóm thì bảo không phải. Tớ bỏ học đến hơn một năm rồi.
- Vậy cậu ra đảo cũng đã hơn một năm rồi à? Sao cậu lại bỏ học?
- Tớ mới ra. Tớ bỏ học, vì một lần vào nhà xí, tớ thấy thầy giáo tớ cũng ở trong ấy, ngồi cứ nhấp nha nhấp nhổm đít trắng hếu. Có lẽ vì thầy lúng túng khi thấy tớ bất ngờ xộc vào. Tớ ra về luôn và lập tức bỏ học.
- Sao thế?
- Lúc đó tớ nghĩ, thầy giáo tớ mà cũng đi ỉa như tớ, thì tớ còn học làm gì.
Chú Thuận cười rất to:
- Cái thằng này, quỷ quái thật. Nhụ đừng lo. Rồi chú sẽ dạy các cháu học.
Nhụ nói:
- Bố cháu bảo sẽ mở trường...
- Có mấy đứa, mỗi đứa một lớp thì làm sao mà mở sớm được.
Bốn chú cháu đã đi vào rừng. Con chó con vẫn quấn bên chân Đức, thỉnh thoảng cái mũ ông Công lại rơi ra và nó lại cất tiếng sủa: Cróc. Cróc. Thế nghĩa là, chính nó cũng thích cái mũ loè loẹt xanh đỏ tím vàng. Đức đội lại mũ cho nó, bế nó lên và nó lúc lắc cái đầu, có vẻ khoái chí lắm.

Rừng đã bảng lảng thu. Những thân cây cao lưng chừng trời, khẽ khàng thả xuống từng chiếc lá úa. Không gian tĩnh lặng và trang trọng. Nồng nàn mùi đất bốc hương và mùi lá ải lên men. Chẳng biết mưa từ bao giờ mà thân cây thông dại trắng mốc, nứt nẻ, có những vệt nước chảy ngoằn ngoèo. Trời đứng gió, nhưng trong rừng vẫn âm âm một thứ tiếng vang rền, không thực rõ ràng. Hay là gió đã nổi lên ở vách rừng phía bên kia.
- Không có tiếng chim à, chú?
- Có. Đấy, nghe thấy không?
Lúc đó, Nhụ mới nghe thấy một tiếng chim gù, vẳng vọng lại từ phía xa.
- Miếu Ông Voi ở chỗ nào hở chú?
- Dăm tầm dao quăng và hai đoạn leo dốc nữa. Này, các cháu có ngửi thấy mùi gì không?
- Cróc! Cróc! Cróc!...
- Con Róc nó báo là có cái gì đấy! Cẩn thận nhìn xem nào.
- Ôi chao, rõ ràng là mùi mít chín.
- Đang mùa mít rồi đây. Nhưng cây mít ở đâu? - Nhụ hỏi.
- Cróc! Cróc! Cróc!...
- Tìm lối khác thôi. Không có mít chín đâu. Mùi rắn đẻ đấy. - Chú Thuận nói. - Quanh đây có một con rắn độc cỡ bự đang đẻ trứng. Chạm vào nó bây giờ là chết mất ngáp.
Ồ lạ nhỉ. Nhụ chợt nghĩ và nó im lặng hít thở rất sâu để kiểm tra lại xem có phải có mùi mít chín không. Nó nhìn vào con Róc. Róc đưa mắt rất nhanh, hai cánh mũi phập phồng, loang loáng ướt rồi khô:
- Cróc! Cróc! Cróc!...
Nhụ bỗng nhớ đến ông Trương Sần và cái dáng mập mạp thấp lùn của ông, mái tóc bạc phơ, nước da đỏ quạch, màu vỏ só. Ông thường đứng chống hai tay vào háng. Cái rọ sắt đựng rắn đeo nặng ở bên hông, mà Nhụ như còn nghe thấy tiếng ướt và dẻo của con rắn, trườn quanh trong rọ với tiếng rì rà... rì rà... Không biết lúc này, ông Trương ở đâu.

... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 10.01.2014.