Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



Suy Ngẫm Trong

Từ Đường Triều Mạc





Mùa Giáng sinh 2013. Hà Nội lạnh thấu Trời. Đạo diễn truyền hình Bùi Thị An Ninh rủ tôi về Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy- Hải Phòng cùng các con cháu dâu, rể họ Mạc (chuyển họ Bùi) dâng hương tạ từ đường triều Mạc.

Duyên kỳ ngộ. Trong từ đường, nơi phát tích triều Mạc khói hương linh diệu, trao tặng tôi cảm hứng đi tìm Tinh hoa triều Mạc.

Vương triều Mạc tồn tại trong lịch sử Việt Nam (1527- 1592). Từ Mạc Đăng Dung đến Mạc Mậu Hợp truyền ngôi được năm đời thì mất, được 65 năm.

Con cháu nhà Mạc theo lời dạy của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm rút lên Cao bằng, kéo dài được đến năm 1677 mới bị diệt hẳn. Nhà Mạc tồn tại 150 năm.

Chúng ta đều biết đây là một chương bi thảm của trang sử Việt. Hai chế độ Lê – Trịnh và Mạc tranh giành quyền lực, gây nội chiến kéo dài, một mặt quỳ hàng vua quan nhà Minh bằng lễ vật tiến cống, một mặt thù hận, tiêu diệt nhau. Triều đại của vua Quỷ, vua Lợn. Bọn quyền gian độc ác, tàn bạo với người trong nước, lạy lụy xu phụ hèn hạ với người nước ngoài. Nhân dân chết đói vì mất mùa, mất nhà cửa vì loạn lạc, nội chiến triền miên, đồng ruộng bỏ hoang.

Vào giờ Ngọ ngày 15 tháng 6 năm Đinh Hợi 1527, thuận lẽ Trời, vua lê nhường ngôi cho Thái sư An Hưng Vương Mạc Đăng Dung, dũng khí hơn người, lập nhiều công lớn, bảo vệ triều đình Lê, trí đức bậc nhất trong triều.

Mạc Đăng Dung lập nên triều Mạc. Thái Tổ, Thái Tông Mạc đức lớn, trí cao “Dùng võ công mà định đoạt thiên hạ, lấy văn giáo để luyện nhân tài, mở thêm trường cho dân học chữ, ban học quy cổ vũ lòng người. Trau dồi nhân văn, mở khoa cử, trọng hiền tài”.

Triều Mạc thất thủ Thăng Long, hận thù tan tác, họ Mạc phải mai danh, ẩn tích đổi thành nhiều họ, nhưng vẫn để lại nhiều di sản Tinh hoa Văn hóa. Và dòng huyết thống chăng thể chia lìa. Đến năm 2010, nhờ linh thiêng Tiên tổ, hậu duệ tộc Mạc khắp nơi tụ hội, chung lòng đóng góp tiền của, trí đức, cùng Nhà nước xây dựng Khu tưởng niệm các vua nhà Mạc uy nghi, hoành tráng tại nền cũ Dương Kinh xã Ngũ Đoan- Kiến Thụy- Hải Phòng.

Trong từ đường triều Mạc, gần bến sông xưa Mạc Đăng Dung đánh cá, tôi thành kính chiêm ngắm ảnh bức tượng đá hoa cương tạc Thái tổ Mạc Đăng Dung. Ngài hiền từ nhìn tôi như nhắn nhủ: “Thay Trời thuận Lê dựng Quốc triều/ Trời Nam nhà Mạc khá bền lâu/ Hơn bốn trăm năm khen chê mặc/ Sử sách ngàn năm chép Mạc triều”.

Đoàn chúng tôi thăm từ đường, gặp ông Hoàng Văn Kể (hậu duệ Mạc đổi họ Hoàng) nguyên phó chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng, là linh hồn của hành trình tìm lại cha ông Mạc tộc. Ông đang họp Ban liên lạc họ Mạc, chuẩn bị xây thêm đền thờ Thánh Mẫu Mạc triều Vũ Thị Ngọc Toàn- Thái hậu của Mạc Đăng Dung tại từ đường Mạc triều, đón người vợ thảo hiền, trí dũng, thủy chung, đức hạnh, cùng chồng gánh vác giang san, về hợp bên chồng trong nhang khói và lễ hội Xuân Thu.

Trò chuyện với ông, tôi hơi ngạc nhiên vì ông là tiến sĩ kinh tế, học Nga về, nhiều năm làm quan tỉnh, mà vẫn có Tâm. Ông cảm nhận được những điều “ghi xương khắc cốt” về sự linh thiêng của các vua Mạc, trong cuộc đi tìm Tổ tiên Mạc.

Ông kể về những huyền tích linh thiêng, linh ứng trong khi xây dựng di tích như: phát lộ hai chum tiền cổ như linh báo “Cứ làm đi, tiền sẽ có”. “Hoàng xà hiện thân, Điềm lành động thổ”. “Thần báo mộng, sấm sét răn người lăng mộ xẻ đôi”. “Lái xe quên nhang khói, còn dại miệng, máy xúc đứng trơ trơ giữa công trường”. “Con cháu đồng tâm cáo thành đúng hạn- Bướm cụ ứng linh Tiên đế hạ sơn”. “Hậu thế thành tâm cầu siêu độ, linh ứng bát nhang bốc hỏa dương”. “Lão bà thành tâm tạ tội, nghịch nữ thoát tai ương”.

Ông Kể nói:

- Nhiều sự siêu linh thần bí, chính tôi cảm nhận được, như Liêu trai chí dị, Việt Điện u linh, Lĩnh Nam chích quái… Ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi và mọi người là “Huyền tích Định Nam Đao” của Mạc Thái Tổ, vật Thái bảo trên năm trăm tuổi, lưu giữ tại từ đượng họ Phạm (Mạc) ở xã Ngọc Tĩnh, Xuân Trường- Nam Định được dâng về thờ tại Đền tưởng niệm, trước tượng Mạc Thái Tổ linh nghiêm. Ở thời khắc an vị năm tượng vua dát vàng, yểm vàng, bầu trời hiện năm áng mây rồng vàng, do chính tôi chụp bằng điện thoại. Đó là “Linh ứng Thiên Vân cảnh” trên Thánh điện. Sự tích “Thần bảo hộ phật ý, Thạch bia Thần đạo khó dời” xuất hiện khi từ đường họ Mạc ở Cổ Trai được Bộ Văn hóa Thông tin cấp bằng di tích cấp Quốc gia. Tấm bia đá đó là một trong những cổ vật, báu vật của triều Mạc được dân đem chôn giấu khi Trịnh Tùng mang quân về phá Dương Kinh. Năm 2004 bia phát lộ, sáu lần dân dùng ô- tô cáp kéo bia lên, lần nào cũng đứt cáp. Một cụ già đi ngang qua phán: “Bia đá này là Thần khí của triều Mạc, do Thổ Thần coi giữ, muốn vớt lên phải có nhời với Thần linh cho phải phép. Nếu không, người cả huyện đến cũng không kéo nổi bia lên đâu”. Dân làng đồng thuận với câu nói của cụ. Linh ứng mách bảo, ông Phạm Văn Đới Chủ tịch UBND huyện Kiến Thụy trực tiếp chỉ huy cuộc khai quật Thạch bia cử người sắm lễ tiền, vàng, hương, đăng, trầu, rượu, muối gạo, hoa quả… tự mình cẩn trọng thỉnh cầu: “Bản huyện không là người trong làng, nên không biết có Thần linh ngự ở đây, nay dâng chút lễ mọn xin được thỉnh lời, mong ngài đa lượng đại xá. Trục vớt thạch bia là việc Quốc gia, không thể dừng. Bản huyện thành tâm thỉnh lời, mong ngài cởi bỏ lực thiêng, phù hộ, độ trì, chung tay trợ giúp Quốc vụ mau thành. Bản huyện xin dâng lời trọng tạ”. Kính lễ xong, ông Đới bảo nối cáp lại, bia được kéo lên nhẹ nhàng trước lòng thành kính ngỡ ngàng của dân làng. Bia đá hiện đang được thờ tại từ đường Mạc triều.

(Sách Huyền tích Dương Kinh- Những giai thoại siêu linh Thần bí”)

Những chuyện thật, huyền bí, linh thiêng mà ông Kể chứng kiến, cảm nhận được còn nhiều lắm. Ông bảo có đủ thời gian, ông sẽ ghi lại cho con cháu hiểu thế nào là Tâm linh. Hào quang Tổ tiên.

Tôi nắm tay ông giữa không gian từ đường linh thiêng nói:

- Tổ tiên chọn những tâm hồn trong sáng của thế hệ chúng ta để hiển linh và giao sứ mệnh đi tìm Tinh hoa Việt, nếu mình không làm, thì con cháu sau này có thể bị thất lạc dòng chảy Tâm linh Tiên Rồng.

Bà Lương Thị Nga vợ ông Kể, níu tôi trò chuyện, làm tôi bị chậm lên ô- tô cùng đoàn. Bà bảo từ khi ông nghỉ hưu, dành hết thời gian, tâm sức cùng Mạc tộc làm tiếp cuộc hành trình đi tìm Tổ tiên, dòng họ mình. Nhiều việc ông phải làm, bà theo cùng nấu cơm, lái xe, bảo vệ cho chồng cuốc đất, bê gạch xây đền như “lão nông chi điền”.

Rời từ đường Mạc triều, gió nắng thênh thang dẫn chúng tôi về Đền tưởng niệm Vương triều Mạc trên nền Dương Kinh, cách từ đường vài cây số. Đoàn cung kính vào cổng, chúng tôi bất ngờ được đàn chim bồ câu rất đông, bay chụm rất đẹp, bay quanh Khu Đền chào đón. Ngắm đàn chim câu bay lượn hân hoan trên đầu mình, chúng tôi cảm nhận sự linh thiêng, Thần khí, Anh linh của ngôi đền thờ năm vị vua triều Mạc.

Thành kính dâng hương tri ân trước năm pho tượng tạc năm vua Mạc linh thiêng, chúng tôi hình dung rất rõ cuộc đời và sự nghiệp của năm vị vua triều Mạc, đã góp phần:

“Đất nước canh tân, trị thủy khai điền, nông tang trù phú, thợ thuyền tinh xảo, bến chợ, thị tứ mở mang, cảng thuyền buôn nhộn nhịp, danh thương Hợp Lễ, Chu Đậu, Bát Tràng gốm sứ đi khắp bốn phương, xã tắc trấn hưng, ngoài đường không nhặt của rơi, cổng ngoài đêm không phải đóng, thường được mưa to, trong cõi yên vui. Khi vận nước lâm nguy, bên trong phe phái giao tranh, giặc ngoài Bắc biên rình rập, dụng kế hoãn binh, cứu trăm họ tránh nạn binh đao, thoát cảnh nồi da nấu thịt. Nhưng rồi! Chinh chiến triền miên, vua trẻ kế vị đức chưa đầy, tài trí chưa cao, luật hưng vong sao tránh khỏi. Thăng Long thất thủ 1592…”

(Văn bia tưởng niệm triều Mạc)

Năm Vị Vua Triều Mạc

- Mạc Đăng Dung (1527-1529)

Mạc Đăng Dung quê ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (Hải Dương) là cháu bảy đời của trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi làm quan đến chức Nhập nội hành khiển (Tể tướng) thời Trần. Mạc Đăng Dung sinh ngày 23 tháng 11 năm Quý Mão - 1483. Thời trẻ, Mạc Đăng Dung có sức khoẻ phi thường, tướng mạo khôi ngô, làm nghề đánh cá, trong một dịp đi thi võ ở kinh đô đã trúng Đô lực sĩ và được sung vào Châu túc vệ chuyên cầm dù đi theo vua.

Mạc Đăng Dung 29 tuổi được phong tước Vũ xuyên bá. Mạc Đăng Dung được cử làm Trấn thủ Sơn Nam với chức Phó tướng tả đô đốc.

Trải qua ba đời vua Lê, Mạc Đăng Dung được phong Thái sư Nhân quốc công rồi đến An hưng vương.

Cũng như nhà Trần, tháng 12 năm 1529, Mạc Đăng Dung 46 tuổi nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh làm vua, mình làm Thái thượng hoàng.

- Mạc Đăng Doanh (1530-1540)

Mạc Đăng Doanh là con trưởng của Mạc Đăng Dung. Tháng Giêng năm 1530 Mạc Đăng Doanh lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Đại Chính, tôn cha làm Thái thượng hoàng.

Mạc Đăng Doanh làm cung điện nguy nga ở Cổ Trai để Thái thượng hoàng sống ở đó vui thú điền viên, nhưng ngụ ý là trấn giữ một vùng quan trọng làm ngoại viện cho Mạc Đăng Doanh và vẫn định đoạt những việc trọng đại của quốc gia.

Từ khi Mạc Đăng Doanh lên ngôi vua thì ở Thanh Hoá, cựu thần nhà Lê là Nguyễn Kim dựa vào rừng núi ở biên giới Việt - Lào lãnh đạo lực lượng trung hưng nhà Lê ngày càng lớn mạnh. Năm Quý Tỵ - 1533, các cựu thần nhà Lê lập Lê Duy Ninh lên làm vua gọi là Lê Trang Tông.

Dưới triều nhà Mạc, cứ ba năm mở một kỳ thi Hội, thi Đình để tuyển chọn nhân tài. Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ trạng Nguyên dưới triều Mạc Đăng Doanh.

Ngày 15 tháng Giêng năm Canh Tý - 1540, Mạc Đăng Doanh chết, ở ngôi được 10 năm.

- Mạc Phúc Hải (1541-1546)

Mạc Phúc Hải là con trưởng của Mạc Đăng Doanh, được ông nội là Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung lập làm vua vào năm Tân Sửu - 1541.

Thời Mạc Phúc Hải đã tiến hành chia cấp lộc điền, đặc biệt ưu tiên binh sĩ, vì lực lượng quân sĩ to lớn được nuôi dưỡng để chống lại nhà Lê trung hưng (Nam Triều).

Ngày 8 tháng 5 năm Bính Ngọ - 1546, Mạc Phúc Hải chết, ở ngôi vua được 5 năm. Con trưởng là Mạc Phúc Nguyên kế vị.

- Mạc Phúc Nguyên (1546-1561)

Mạc Phúc Nguyên lên ngôi vua vào tháng 5 năm 1546, lúc đó còn nhỏ tuổi, mọi công việc triều chính đều do chú ruột là Khiêm vương Mạc Kính Điển quyết đoán cả.

Tháng 7/1557, Mạc Phúc Nguyên sai Mạc Kính Điển đem quân vào đánh Thanh Hoá. Quân Mạc thua to, Mạc Kính Điển phải nhảy xuống sông ẩn nấp suốt 3 ngày mới thoát chết.

Đến năm Kỷ Mùi - 1559, quân Lê - Trịnh mở cuộc tấn công vào hậu phương của nhà Mạc ở Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Kinh Bắc, Hải Dương... Mạc Phúc Nguyên phải rút vào phòng thủ ở ngoài thành Đông Đô.

Tháng 12/1561, giữa lúc cuộc chiến Lê - Mạc đang gay go quyết liệt nhất thì Mạc Phúc Nguyên chết vì bệnh đậu mùa. Mạc Phúc Nguyên làm vua được 15 năm.

- Mạc Mậu Hợp (1562-1592)

Mạc Mậu Hợp là con cả của Mạc Phúc Nguyên, năm 1562 lên ngôi vua hãy còn bé, ứng vương Mạc Đăng Nhượng (con út Mạc Đăng Dung) làm Nhập nội phụ chính ẵm Mạc Mậu Hợp ra coi chầu, tôn ông chú là Khiêm vương Mạc Kính Điển làm Khiêm đại vương cùng trông coi việc triều chính.

Ngày 21 tháng 2 năm Mậu Dần - 1578, Mạc Mậu Hợp bị sét đánh ở trong cung, liệt nửa người, sau chữa thuốc lại khỏi, bèn đổi niên hiệu là Diên Khánh.

Tháng 10 năm Canh Thìn - 1580, Phụ chính Mạc Kính Điển, trụ cột của triều Mạc chết, ứng vương Mạc Đăng Nhượng giữ quyền phụ chính quyết định mọi việc nhưng lại thường về sống ở Dương Kinh vì vậy việc triều chính bê bối không ai quyết đoán.

Năm 1581, Mạc Mậu Hợp bị chứng thong manh, chữa mãi mới khỏi. Khỏi bệnh, Mạc Mậu Hợp lao vào ăn chơi truỵ lạc. Chính sự nhà Mạc ngày càng đổ nát, binh lực suy yếu, lòng người ly tán.

Ngày 25 tháng 11 năm 1592, thủy quân Lê - Trịnh gồm 300 chiến thuyền đánh vào các huyện Kim Thành, Thanh Hà, Nam Sách, Kinh Môn (tỉnh Hải Dương ngày nay). Quân Mạc tan vỡ, dư Đảng nhà Mạc xin hàng Trịnh Tùng rất đông. Mạc Mậu Hợp chạy trốn, bị bắt giải về kinh đô Đông Đô, bị treo sống 3 ngày rồi bị chém đầu ở bãi cát Bồ Đề. Mạc Mậu Hợp ở ngôi vua được 30 năm, khi chết 31 tuổi.

Con trai Mạc Mậu Hợp là Mạc Toàn chạy trốn, sau bị quân Trịnh bắt được đem chém đầu tại bến Thảo Tân.

Tinh Hoa Triều Mạc

Lịch sử Việt Nam và cả nhân loại, sự thịnh suy của các vương triều cai trị là quy luật tất yếu (Sinh, Lão, Bệnh, Tử) và “Ngàn năm công tội”. Học lịch sử, biết công, biết tội của ông cha để đời sau tiến hóa. Tránh tội xưa đã vấp, học Tinh hoa để lớn lên. Tinh hoa triều Mạc nổi trội nhất là sự đào tạo, giáo dục người dân, tuyển chọn và trọng dụng nhân tài.

Nhà Mạc duy trì việc thờ cúng các bậc Tiên hiền ở Văn Miếu, lập Văn chỉ ở các địa phương. Nhiều lần tu sửa Văn Miếu, Quốc Tử Giám, xây dựng thêm nhiều công trình khác như: điện Sùng Nho, nhà Thái học, nhà Minh Luân và hành lang; nơi cư trú cho học sinh, gọi là Xá sinh, Thượng xá sinh và Trung xá sinh... Các vua Mạc đến Văn Miếu tế lễ, khuyến khích việc học.

Khoa thi đầu tiên nhà Mạc mở năm Kỷ Sửu (1529). 65 năm tồn tại vương triều Mạc, đóng đô ở Thăng Long, nhà Mạc đã tổ chức được 22 kì thi Hội, lấy đỗ 485 Tiến sĩ, có Nguyễn Thị Duệ, nữ Tiến sĩ duy nhất trong lịch sử khoa cử Nho giáo Việt Nam.

Bia Tiến sĩ đầu tiên của nhà Mạc dựng năm Kỷ Sửu (1529) ngay sau khoa thi đầu tiên viết:

“… Dùng văn giáo mà rèn luyện nhân tài, sửa trường học để mở rộng nền giáo dục, ban học quy để cổ vũ lòng hăng hái. Nhân văn được trau dồi, thi cử được đổi mới. Phàm những điều lệ về thi cử, ban ấn vinh theo cấp bậc, so với thời xưa đều rõ ràng và đầy đủ hơn nhiều.

Kẻ sĩ gặp gỡ thánh triều, được hấp thụ nền giáo hóa tốt đẹp mới, được thi đậu, tiến lên con đường vẻ vang, lại khắc tên vào bia đá, há không phải là vinh hạnh lắm ru! Vậy nên cảm phục đức lớn, gắng gỏi tiến lên, lấy trung thành làm nếp, lấy lễ nghĩa làm khuôn; tâm thuật phải ngay thẳng, làm nên sự nghiệp to lớn và lâu dài. Được như vậy thì người đời mới khen là bậc trạng nguyên chân chính, là vị tiến sĩ nổi danh, trên không phụ sự cất nhắc của thánh thiên tử, dưới không phụ điều học hỏi của mình, công nghiệp to lớn rực rỡ của mình sẽ sáng chói trên tấm bia đá vậy...”.

Thắp nén tâm nhang cung kính Vương triều Mạc, suy ngẫm trong từ đường Mạc triều, gặp những con người tâm huyết với Tổ tiên, tôi thấu hiểu hào quang Tiên tổ linh thiêng trên khắp nước Việt Nam đang trở về, dẫn dắt cháu con đứng lên giữ sơn hà xã tắc. Nhắn nhủ những ai vô Tâm, vô cảm, vô Đạo, vô tình, dùng cơ bắp tàn bạo, dày đạp dân và nước, hãy coi chừng! Ánh sáng Tâm linh là có thật. Mắt trần, lòng tục, ác tham, không thể nào thấu hiểu được đâu.


 

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 30.12.2013.