Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



MASSACHUSETTES

Thủ đô kháng chiến BOSTON

với ca khúc Giáng sinh “JINGLE BELLS”




BOSTON – THỦ ĐÔ KHÁNG CHIẾN GIÀNH ĐỘC LẬP

Cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ kéo dài từ 1775 tới 1781. Thành phố Boston (đặt theo tên một cảng nằm ở đông bắc Anh Quốc và cũng là tên của điệu slow waltz theo tiếng Pháp) của tiểu bang Massachusetts (MA -đặt theo tên một bộ lạc Da đỏ, có nghĩa “đồi lớn”) thuộc khu vực New England – đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc tranh đấu giành độc lập. Chính những biến cố tại Boston đã dẫn đến Cách Mạng.

Du khách có thể thăm những cột mốc Cách Mạng bằng cách dạo một vòng “Con Đường Tự do”:

1. Đường Tự do bắt đầu tại “Boston Common”. Ngày nay là một công viên, Common thời xưa là khu đất trống dùng để hành hình tử tội và làm trại lính. Khi người Anh chiếm Boston vào năm 1768, họ đóng quân ở đây và trận đánh đầu tiên với dân 13 Thuộc địa xảy ra tại Common.

2. Trong thời gian dẫn đến Cách Mạng, “Old South Meeting House” là một nhà thờ và, như tên gọi, là một nơi hội họp quan trọng của dân Boston. Ở đây, các nhà lãnh đạo như Samuel Adams đã đọc diễn văn khơi gợi những cảm xúc của 13 Thuộc địa. Chỉ vài giờ trước khi “Boston Tea Party” (dân giả dạng làm Da đỏ, ném nhiều thùng trà xuống vịnh Boston, để phản kháng người Anh), hàng ngàn dân mới họp để thảo luận về thuế trà quá cao.

3. “Old State House” là tòa nhà từ nơi này, người Anh cai trị thuộc địa Massachusetts. Vào ngày 18-7- 1776, bản Tuyên ngôn Độc lập được tuyên đọc từ ban công tòa nhà này. Tượng sư tử và kỳ lân, quốc huy của người Anh bị hạ bệ. Đường phố phía ngoài tòa nhà State House cũng là nơi xảy ra “Boston Massacre” (người Anh trả đũa và gây ra cuộc thảm sát dân Boston) vào năm 1770.

4. “Faneuil Hall”, đôi khi được gọi là “Nôi của Tự do”, có chức năng vừa là ngôi chợ (tầng dưới) vừa là nơi hội họp (trên lầu). Sau bị người Anh chiếm mất.

5. Đường Tự do đi tiếp đến khu Bắc Boston, ở đây du khách có thể thăm “Ngôi nhà của Paul Revere” – là một thợ bạc và một anh hùng nổi tiếng của Cách Mạng.

6. Thăm ngôi nhà mà George Washington đã sử dụng làm trụ sở sau khi nhậm chức Tổng tư lệnh Quân đội Lục địa - lãnh đạo cuộc Cách mạng - ở đây năm 1775; ngôi nhà này sau này trở thành nhà của nhà thơ thế kỷ 19 Henry Wadsworth Longfellow

7. Chặng cuối của Đường Tự do là “Bunker Hill”. Dân Thuộc địa bảo vệ nơi này chống lại một đội quân Anh hùng hậu hơn. Tuy sau bị thua, nhưng đã gây thiệt hại lớn lao cho quân Anh. Sự kiện Bunker Hill thuyết phục dân Thuộc địa chiến đấu hăng say hơn. Đối với dân Thuộc địa, đó là chiến thắng trong chiến bại.

Chính vì thế, tiểu bang Massachusetts được vinh dự mang Mã Bưu điện (Zip code) là: MA01xxx, MA02xxx (xxx chỉ Thành phố, Hạt, Thị trấn thuộc Tiểu bang đó). Tiếp theo là - RI02 –NH03 –ME04 –VT05 –CT06 –NJ07xxx->NJ09xxx –NY10xxx->NY16xxx –PÁ17xxx ->PA19xxx -DE9 –Maryland: MD20xxx, MD21xxx -District of Columbia: DC20xxx -VA22xxx->VA23xxx, rồi tới -CA90xxx->CA96xxx, và cuối cùng là -WA98xxx->99xxx.

Trung tâm giáo dục đầu tiên Cambridge của Hoa Kỳ

Cambridge, thành phố Đông Bắc bang Massachusetts, là một phần của Đại đô thị Boston. Cambridge là một trung tâm giáo dục và nghiên cứu nổi tiếng, đây là nơi có Đại học Harvard (1636) danh tiếng, trường đại học đầu tiên ở Bắc Mỹ, đây cũng là nơi có Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) và Đại học Lesley. Ngành in ấn và xuất bản của thành phố này bắt đầu từ năm 1640, khi báo in đầu tiên của Mỹ được thành lập ở đây. Hiện nay ngành công nghệ sinh học và công nghệ máy tính cũng là ngành chính của thành phố. Các ngành chế tạo gồm có: thiết bị điện tử, thiết bị khoa học, hóa chất. Trong số những người nổi bật thế kỷ 19 sống ở Cambridge có thầy thuốc-tác gia Oliver Wendell Holmes và nhà thơ-nhà ngoại giao James Russell Lowell. Thành phố này có Quảng trường Harvard; nhiều bảo tàng do Đại học Harvard quản lý, nơi trưng bày một trong những bộ sưu tập nghệ thuật đại học tốt nhất trên thế giới. Cambridge được thành lập với tên gọi New Towne năm 1630 và đã là thủ phủ của Massachusetts Bay Colony cho đến năm 1634. Nó được đổi tên thành Cambridge năm 1638 theo tên của Cambridge, Anh và trở thành một thành phố năm 1846. Năm 1912, một đường tàu điện ngầm đã hoàn thành nối thành phố Cambridge với Boston.

Đại học Harvard

Đại học Harvard (Harvard University) là một trường đại học tư thục tọa lạc ở  Cambridge, thuộc Boston, Massachusetts và là một thành viên của Ivy League. Được thành lập ngày 8 tháng 9 năm 1636 bởi cơ quan Lập pháp thuộc địa Massachusetts, Havard là đại học lâu đời nhất tại Hoa Kỳ, cũng là cơ sở giáo dục đại học đầu tiên ở châu Mỹ. Nó cũng là tập đoàn đầu tiên tại Bắc Mỹ. Đại học Harvard bao gồm 11 cơ sở học thuật riêng lẻ - 10 khoa và Viện Cao học Radcliffe - với những khu học xá nằm rải rác khắp vùng đô thị Boston.

Với tên gọi ban đầu là "New College" hay "the college at New Towne", trường được đổi tên thành Harvard College vào ngày 13 tháng 3 năm 1639, sau khi John Harvard, một mục sư trẻ tuổi ở Charlestown, hiến tặng cho trường một thư viện khoảng 400 đầu sách và 779 bảng Anh (khoảng phân nửa tài sản của ông). Văn kiện đầu tiên đề cập đến Harvard với danh xưng "Viện Đại học"(university) là bản Hiến pháp Massachusetts năm 1780.

Trong nhiệm kỳ kéo dài 40 năm (1869-1909) của mình, Viện trưởng Charles William Eliot thay đổi triệt để Harvard thành một đại học nghiên cứu. Các cải cách của Eliot bao gồm các khóa học nhiệm ý, mô hình lớp học nhỏ, và các kỳ thi tuyển. Mô hình của Harvard đã có ảnh hưởng trên nền giáo dục quốc gia Hoa Kỳ, ở cấp đại học và trung học.

Thư viện Đại học Harvard với hơn 15 triệu đầu sách[ là thư viện trường học lớn nhất thế giới, và đứng thứ tư trong số năm "thư viện hàng triệu" (mega-library) của thế giới (sau Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Thư viện Anh Quốc, và Thư viện quốc gia Pháp, nhưng xếp trước Thư viện Công New York).

Trong số các Tổng thống Hoa Kỳ, có tám người tốt nghiệp từ Harvard, 75 khôi nguyên giải Nobel từng theo học hoặc giảng dạy tại đây, và 62 tỉ phú hiện còn sống là cựu sinh viên Harvard, đông nhất trong cả nước.
Harvard thường xuyên có mặt ở hoặc gần vị trí đầu tiên trong các bảng xếp hạng giáo dục đại học quốc tế. Harvard cũng là tổ chức có nguồn cung ứng tài chính lớn thứ hai (sau Quỹ Bill & Melinda Gates), với khoảng 32 tỉ USD vào năm 2011.

Học viện Công nghệ Massachusetts

Học viện Công nghệ Massachusetts (Massachusetts Institute of Technology, MIT )

Là học viện nghiên cứu và giáo dục ở thành phố Cambridge, Boston. MIT trở thành nổi tiếng trong khoa học công nghệ, cũng như là các lĩnh vực khác, trong đó có quản lý, kinh tế, ngôn ngữ, khoa học chính trị và triết học. Trong các lĩnh vực tiềm năng nhất và trường đào tạo là Lincoln Laboratory, và phòng thực hành trí tuệ nhân tạo và khoa học vi tính, phòng thực hành truyền thông MIT, học viện Whitehead và trường quản lý Sloan của MIT.

Các cựu sinh viên và giáo sư gồm cả các nhà chính trị nổi tiếng, quản lý doanh nghiệp, nhà văn, nhà nghiên cứu không gian, khoa học và nhà phát minh.

Có tổng cộng 77 người có liên quan đến trường này như học sinh, giáo sư, nhân viên hiện tại hay trước đây đã đoạt giải Nobel.

Nguyệt san Atlantic năm 2004 xếp hạng MIT như là một trong những đại học khó vào nhất Hoa Kì. Theo US News và World Report's annual ranking của đại học Hoa Kì thì, MIT là 1 trong 5 trường xếp hạng cao nhất, cùng với Harvard, Stanford, Yale, Princeton. MIT xếp hạng thứ 7 chung cuộc năm 2004.

CA KHÚC GIÁNG SINH NỔI TIẾNG JINGLE BELLS của BOSTON

Jingle Bells (Tiếng chuông ngân), là một bài hát rất nổi tiếng trong chủ đề nhạc Giáng Sinh. Bài hát có sức ảnh hưởng rộng và được đa số những người quan tâm đến lễ Giáng Sinh thuộc mọi lứa tuổi thuộc lòng và hát trong dịp này.

Độ ảnh hưởng và phổ biến của bài hát khiến nó nhiều lần bị nhầm tưởng là một bài hát dân ca. Bài hát được sáng tác lần đầu vào năm 1840  với tên gọi "One Horse Open Sleigh". Tác giả của bài hát là James S. Pierpont, một người sinh trưởng tại Medford , ngoại ô của Boston, tiểu bang MA, rất có năng khiếu về âm nhạc. Ban đầu, bài hát được sáng tác cho ngày lễ Tạ Ơn, nhưng đã bị nhầm thành nhạc Gíang Sinh do được trình diễn lại thành công đêm Gíang Sinh vào lúc mới sáng tác.

Biên soạn

"Jingle Bells" đã được giữ bản quyền với tên ban đầu là "One Horse Open Sleigh" vào ngày 16 tháng 9 năm 1857. Nó được in lại năm 1859 với tiêu đề sửa đổi "Jingle Bells", hoặc " One Horse Open Sleigh". Tình trạng bản quyền của bài hát này có kể từ khi được đưa vào phạm vi công cộng. Nhà lịch sử âm nhạc James Fuld ghi chú rằng "jingle" trong tiêu đề và mở đầu là một động từ bắt buộc." Tuy nhiên, nó thường được dùng để chỉ một loại chuông

Hoàn cảnh sáng tác

Năm 1840, Pierpont được giao sáng tác một nhạc phẩm đặc biệt để hát trong dịp Lễ Tạ Ơn[. Khi đang ở nhà anh bắt gặp một nhóm người đang đua xe trượt tuyết giữa trời đông lạnh. Anh đã tham gia với họ và chiến thắng, cũng vào lúc đó, anh bị ấn tượng bở những chiếc chuông kêu lanh canh gắn trên xe ngựa kéo. Bài hát được sáng tác trong đêm đó và được đánh thử nghiệm bằng cây đàn piano của bà hàng xóm Otis Waterman.

James tập bài hát đó cho ca đoàn nhà thờ Medford và hoà âm cho bài nhạc để trình diễn vào lễ Tạ ơn, ngày lễ quan trọng và có rất nhiều người tham dự tại New England lúc ấy. Bài hát được hoan nghênh và yêu cầu hát lại vào dịp Gíang Sinh tại nhà thờ dù phần lời bài hát có nội dung không phù hợp lắm với nhà thờ (đề cập đến cảnh ngựa đua xe trượt băng, lối hẹn hò trai gái và cá cược). Lần trình diễn này là một thành công lớn đến nỗi một số khách tới thánh đường dự lễ đã xin bản nhạc đem về địa phương của mình. Vì trình diễn vào lễ Gíáng Sinh nên bài hát đã được xem như một bài hát Gíáng Sinh thực thụ Pierpont tìm được người chịu xuất bản bài hát đó năm 1857,và đến năm 1864 khi tờ báo Salem Evening News đăng bài tường thuật câu chuyện về bản nhạc này khiến bài ca đã mau chóng phổ biến thành bản nhạc phổ thông nhất vùng New England rồi tràn xuống phía nam. 20 năm sau đó, "Jingle Bells" có lẽ là bản nhạc hát dạo mùa giáng sinh được phổ biến nhất và là một trong những bản nhạc cổ nhất nước Mỹ, Bài hát ghi đậm ảnh hưởng vào những hình ảnh mùa Giáng Sinh trên các thiệp chúc mừng, sách báo, phim ảnh và cả những nhạc bản giáng sinh khác cho đến tận ngày nay.

Lời tiếng Anh

Dashing through the snow
In a one horse open sleigh
O'er the fields we go
Laughing all the way
Bells on bob tails ring
Making spirits bright
What fun it is to laugh and sing
A sleighing song tonight
Oh, jingle bells, jingle bells
Jingle all the way
Oh, what fun it is to ride
In a one horse open sleigh…

Lời tiếng Việt

Mừng ngày Chúa sinh ra đời nào cùng nắm tay vui cười
Hòa bình đến cho muôn người cùng cất tiếng ca mừng vui
Mừng ngày giáng sinh an hòa mừng hạnh phúc cho muôn nhà
Từ thành phố hay đồng quê muôn nơi vang tiếng hát ca vang lừng
Đêm noel đêm noel ta hãy cùng vui lên
Đêm noel ơi đêm ta sinh ơn trên ban hòa bình cho trần thế
Đêm noel chuông vang lên chuông giáo đường vang lên
Đêm noel đêm noel ta hãy chúc nhau an bình
Bong binh bong... Bong binh bong chuông giáo đường ngân vang
Đêm noel chuông vang như mang bao yêu thương lang trên ánh sao sáng
Bong binh bong... Bong binh bong đêm giáng trần Thiên Chúa
Xin dâng lên tiếng kinh trong đêm Thiên Chúa giáng sinh ra đời…


Nhân dịp lễ Chúa Giáng sinh 2013 - Tết Dương lịch & Giáp Ngọ 2014, thân chúc tất cả Thân hữu và Gia quyến “MỘT MÙA GIÁNG SINH BÌNH AN và MỘT NĂM MỚI THÂN TÂM AN LẠC”


(Tham khảo: Tài liệu trên Sách báo và Internet)


.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ SàiGòn ngày 24.12.2013.