Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





HÒN ĐẢO PHÍA CHÂN TRỜI




PHẦN THỨ NHẤT
NGÔI NHÀ BÊN CỬA SÔNG



Chương Không Đánh Số


Con lẵng đã vượt qua chân cột đèn biển. Tiếng nước rẽ roan roát. Đêm tối sẫm và đặc quánh. Chả nhẽ trăng sắp lên rồi sao? Bây giờ là mấy giờ rồi?
- Ông ơi, ta ra núi hay lên cồn? - Nhụ hỏi.
Ông già im lặng. Vậy Nhụ phải tự đoán lấy thôi. Có thể là ông đang mải bơi lẵng không nghe thấy tiếng Nhụ hỏi. Cũng có thể là ông tập cho Nhụ sự im lặng và óc phán đoán, là những đức tính cần thiết cho bất cứ một người đi biển nào.
Ánh lửa hun thuyền từ chân đê in một màu hồng nhạt, mờ ảo trên lưng áo xanh bạc của ông. Mái đầu chỉ còn lơ thơ tóc của ông lặng lẽ cúi xuống, đầy vẻ kiên trì và tự tin. Hai cánh tay khoát nước nhẹ và đều. Gió phân phất thổi, liếm môi cũng thấy vị mặn. Nhụ thõng tay, nhúng mấy ngón xuống nước. Lập tức, bên mạn lẵng, lóe lên những vệt lân tinh sáng, sắc lạnh và trơn, như vệt kim cương cắt trên mặt kính.
- Đừng nghịch. Xem lại đèn pin đi. - Ông Nhụ nhắc.
Nhụ xoay đèn. Một luồng sáng lóe trên mặt sông, loang loang bằng cái nia. Cái khoảng sáng ấy hắt lên cao, lòa lòa ngang mặt người, trông rõ từng sợi hơi nước bay rối loạn như khói: "Đèn bắt rắn đây, tốt thật!" Nhụ nghĩ.
- Lia trái. - Ông Nhụ ra lệnh.
Nhụ lia ngang đèn và cái luồng sáng vàng hung như bị chặt gẫy, chỉ còn một nửa thông thống sáng ở ngang đầu, một nửa mất hút vào đêm đen. Đúng là lên cồn soi cua thôi. Con lẵng này làm sao mà ra núi trước khi trăng mọc được.

Khi con lẵng cập vào bờ kè và Nhụ nhảy tót lên cái hiên nhà mình, đã non hai giờ sáng. Nhụ mở cửa. Đé vẫn ngủ say. Ông Nhụ luồn dây lẵng vào cái lỗ thoáng bàng bạc ánh trăng suông của hàng lan can cụt, rồi vắt chéo dây, trông rất qua loa. Nhưng ngay cả bão cũng không lôi con lẵng của ông trôi đi được. Ông để xuống hiên nhà chiếc giỏ nặng trịch, ướt át và đầy những tiếng rì rào. Một vệt nước dẻo quánh và trơn tuột từ dưới đáy giỏ chảy ngoằn ngoèo xuống sông.
- Cái giống cua rất thích chơi bời vào tuần trăng. Cứ tàn con trăng, thì cua nào cua ấy, đều xác như vờ...
Ông xách giỏ cua vào trong bếp, lấy cái thớt vuông to tướng đậy lên.
- Rặt một bọn nhãi ranh cả. - Ông lẩm nhẩm nói tiếp.
Nhụ hiểu là ông nói về đám cua mà ông cháu Nhụ vừa soi được. Thực ra trong giỏ có một cặp cua to, ông đã bảo Nhụ, mai bắt biếu ông Trương. Còn lại đều là những con nhỡ. Chúng đang sồn sột bò tìm nhau trong những vũng nước sấp sảnh trên cồn, nửa đất mỡ, nửa đất cát và khẽ khàng phát ra những tín hiệu ri-ri-cri-cri... Bỗng ánh đèn lòa lòa rọi tới, chúng cứ giương hai con mắt lồi ra, càng giơ lên trời, như vô cảm. Đó là ánh đèn định mệnh mà đời nọ truyền cho đời kia, chúng vẫn không ý thức được cho nhau...


Chương Tiếp Không Đánh Số


Đúng như Nhụ dự đoán, ông Trương đi đảo Mõm Cá Sấu thật. Ông đi nửa đêm qua, theo đoàn tàu của Quốc doanh đánh cá. Ông mang theo một can rượu trắng loại cắm tăm được, hai viên thuốc gia truyền và "tập đoàn rắn" của ông, nói theo lời cô cháu gái.
Biết tin đó, ông Nhụ thừ người ra.
Một lát sau, ông mới nói:
- Đi thật rồi hầy!
- Vâng.
- Nhắn gì không?
- Chắc là có. Tối qua ông Trương có đến nhà mình.
Ông nghển cổ ra, có ý chờ đợi xem ông Trương nhắn gì. Nhụ phải nói luôn:
- Nhưng cửa nhà mình lại khóa...
Ông ậm à ậm ừ ở trong cổ họng, rồi đứng dậy, đi ra võng nằm. Cánh tay hơi dài, cứng và dẹt như cái bơi chèo của ông túm lấy đầu võng. Chân ông đạp rất mạnh vào tường. Cái võng chao đi, chao lại một cách bứt rứt qua hàng lan can cụt.


Chương VII


Nhụ sang nhà cái Hòa xem thằng Đé có ở bên đó không. Qua ngưỡng cửa, chân Nhụ vấp luôn vào một cái ghế con chắn ngang, trong dãy ghế dài dằng dặc. Lập tức, Nhụ nghe tiếng quát:
- Không được phá ca nô!
Tiếng thằng Đé. Đé nhô cái đầu cạo trọc ra, mắt nhìn Nhụ, gườm gườm. Trán nó lấm tấm mồ hôi. Nó xếp ghế vào chỗ cũ, rồi ngồi xuống cái ghế sau cùng. Nó lấy hai chân đẩy cho cả cái dãy ghế ấy di chuyển chậm chạp. Nhụ nhận ra, trong bảy tám cái ghế con, cái cao, cái thấp, cái to, cái nhỏ, đóng để ngồi ăn cơm kia, có đủ năm cái ghế của nhà mình. Chắc nó khuân sang.
- Người ta đã kéo còi rồi mà. Không nghe thấy à?
Nó nói một cách khó chịu, giọng cằn nhằn, không biết nói ai. Cái Hòa dè dặt đi ở bên cạnh, hai tay cầm hai cái vỏ ngao to tướng. Mẹ Hòa đang vá áo ở trong nhà. Trông cô còn trẻ lắm, chỉ non ba mươi tuổi. Tóc cô xõa ngang vai, làm cho gương mặt càng thêm tròn. Cô rất hay chuyện.
- Ông Trương Sần về rồi đấy. - Cô nói.
- Về bao giờ ạ? - Nhụ lại hỏi.
- Chiều qua.
- Cô gặp rồi à?
- Ừ. Ông ấy hát í a í ới...
- Ông có mang rắn về không?
- Mang gì? - Cô ngẩng lên hỏi. Đôi mắt thăm thẳm đen y như mắt cái Hòa.
- Mang rắn. Rắn độc ấy.
- Cô không biết.
- Sao ông Trương mới đi mà đã về ngay thế cô nhỉ?
- Ông ấy bảo ở đảo buồn lắm. Không có trẻ con, ông không chịu được.
- Lạ nhỉ? - Nhụ buột miệng nói.
Một đứa bé cao ngỏng, ấn mũi vào cái song cửa sổ, làm cái mũi bẹp và vẹo hẳn đi:
- Đé ơi! Có đi chờ-ơi không?
Đé đứng dậy xốc xốc cạp quần:
- Có. Đi chờ-ơi là đi đâu?
- Thế mà không biết. - Đứa bé chắc vừa qua lớp vỡ lòng kia, nhướn cặp lông mày hung hung lên, đầy vẻ tự hào - Sang nhà tao, tao cho mày xem một con khờ-ăng mới tậu, đẹp lắm.
Đé nghiêng nghiêng cái đầu trọc, mắt nheo nheo hẳn lại. Rõ ràng là nó chăm chú nghe lắm, nhưng hai tiếng lạ tai kia, nó chịu không hiểu là gì. Nhưng cứ đi chơi là nó thích.
Nó liền gật gật đầu, rồi đi ra ngoài, vừa đi, vừa hỏi:
- Thế con khờ-ăng của mày có bò nhanh không?
Nhụ về nhà. Việc đầu tiên là nó xem lại ang nước ngọt có còn nhiều không. Rồi nó lấy nồi niêu, bước xuống bậc đá sông Bạch Đằng, đánh rửa. Chuyến tàu khách từ Hải Phòng về, lừ lừ tiến qua trước mặt nó. Tiếng còi tàu nhọn hoắt rồi rộng bè ra. Mặt sông phút chốc như bị căng mỏng...
Thằng Đé hớt hải chạy về, từ xa đã giơ bàn tay ếch lên, rồi đánh nhịp xuống theo lời nói:
- Anh Nhụ ơi / bố về! Anh Nhụ ơi / bố về!
Nhụ ngẩng lên:
- Thật không? Mày chỉ nói bậy.
- Thật mà. Đúng!
- Sao mày biết?
- Tàu kia kìa. Bố đứng ở mũi tàu ấy.
- Đâu?
Quả là có một tàu đánh cá tuyến khơi, loại hơn ba trăm sức ngựa thật. Nhưng chắc gì là tàu của bố nó.
- Có cả mẹ nữa. - Đé nói thêm.
- Thế thì đúng là mày nói bậy thật rồi.
- Thật mà. Đúng!
Con tàu đã khuất sau những chiếc lò vôi màu hung hung, dựng san sát ở hai bên bờ sông. Phải khá lâu sau, mới lại hiện ra. Tuy không tin lắm vào lời của thằng Đé, Nhụ vẫn phải tập trung sự chú ý của mình vào mũi tàu và nó nhận ra ngay một bóng người rất giống bố nó. Đúng là bố nó thật. Trong số những người đứng lố nhố ở sàn tàu, nó cũng nhận ra cái vóc dáng đậm đà và cũ kỹ quen thuộc của mẹ nó. Nỗi mừng làm nó run cả chân tay. Nhưng một lát sau, nỗi lo lại ập đến. Vậy là phải có một sự cố gì xảy ra rồi. Bố đã đi tìm mẹ trong các đoàn tàu đánh cá ở vịnh Hạ Long và đưa mẹ cùng về trong chiếc tàu của mình. Hay là anh Thu làm sao? Nhụ chợt nhớ ngày chị Chiêm có giấy báo tử, bố cũng đi tìm mẹ như vậy.
Con tàu đã giảm hẳn tốc độ, từ từ tiến vào khoảng sông ngay trước cửa nhà Nhụ. Neo đã òng ọc tuôn xuống. Những váng dầu to bằng cái bát bập bềnh trôi, lấp lánh những màu sắc xanh, đỏ, hoe hoe và cứ bóng nhẫy lên. Một vài con cá chuồn, cá kìm, bị những luồng sóng lừng, do chân vịt tàu quấy đảo lên, hoảng loạn, văng mình thia lia, trên mặt nước.
- Đúng là bố chưa? Đúng là mẹ chưa? Đúng! - Đé cười hớn hở, nhắm tít cả hai mắt lại. - Anh Nhụ, mất cho em cái gì nào?
Nhụ vừa để nồi niêu xuống hiên, thì bọp một tiếng, Đé đã nhảy xuống sông. Lát sau, nó nổi cái đầu cạo trọc lên và bơi lọp bọp, tay khùa, chân đạp tùm tũm. Rõ ràng là nó dám bơi ra ngoài. Đến lúc cảm thấy là đã đuối sức, thì tay nó nắm được cái dây neo. Sau một lúc lấy hơi, nó thoăn thoắt leo lên như một con nhái bén. Nước từ người nó chảy xuống ròng ròng.
- Quỷ thật! - Có tiếng người trên tàu nói, giọng chậm rãi.
Bố Nhụ bế xốc Đé lên. Người nó ướt đẫm và nhớt nhát như một con cá ba gai.
- Đúng bố mà, - Nó nói - con nhận ra từ mãi ngoài xa.
- Sao lại nhảy xuống sông, hả?
- Đón bố đấy.
Chợt nhận ra còn mẹ nữa, nó vội tụt xuống và lăng xăng, khệnh khạng, chạy vạt tép trên sàn tàu, rồi ôm chầm lấy mẹ. Mẹ nó kêu lên:
- Ơ, cái thằng. Ướt hết cả người mẹ bây giờ...

... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 20.12.2013.