Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




CHIẾU CÓI NGHĨA TRUNG





Cả cuộc đời người, không ai là không nằm trên giường có trải chiếc chiếu cói. Đến khi về già, nằm trên giường bệnh cũng còn nhắc nhở con cháu mua cho đôi chiếu mới để chiếc trải, chiếc gối đầu lúc chết. Ở quê tôi lúc đô tùy vào phá quan khiêng người chết đi thì người con gái cả còn cầm chiếc chiếu cói của bố (hay mẹ nằm) đi theo để trải lên mộ khi còn vài lượt đất cuối cùng đắp mộ.

   Chiếc chiếu cói gắn bố cả cuộc đời người với hầu hết dân tộc Việt Nam ta. Nơi sản xuất ra chiếc chiếu cói trải giường cung cấp cho hàng triệu gia đình ở vùng này là làng dệt chiếu Liêu Hải xã Nghĩa Trung, Nghĩa Trung, Nam Định. Làm được một lá chiếu cũng phải trải qua bao gian nan vất vả. Trước hết người lao động cũng phải bán mặt cho đất, bán lương cho trời, lặn ngòi ngoi nước nơi bãi biển để trồng ra cây cói. Mà có được lá chiếu tốt phải là cói nước mặn. Trồng được cây cói nước mặn nghĩa là ruộng cói phải bên ngoài đê bao nước biển. Trong đê cũng trồng được cói nhưng là cói nước ngọt. Cói nước ngọt cũng cao, cũng tốt nhưng giòn làm chiếu dễ gẫy. Chiếu cói nước mặn có thể cuộn lại bé như ống luồng rồi gập đôi cột vào ba lô của những người lính mỗi khi hành quân mà không gẫy. Sáu tháng từ khi trồng là thu hoạch được, người thu hoạch cầm liềm chuyên dụng, đã xuống ruộng cói là cói ngập lút đầu chẳng ai trông thấy ai. Cắt đến đâu người ta buộc thành gù, được nhiều ít khi nước triều dâng lên khoảng đầu gối là phải nhanh chóng kéo cói về đê. Từng bè, từng bè cói được xếp lên đê để chờ đến công đoạn thứ hai là chẻ cói. Trước khi chẻ, người ta phải phân cói ra làm nhiều loại dài ngắn khác nhau từ 1,7 m đến 1,5 m một loại; 1,5m đến 1m một loại; dưới một mét lại một loại nữa. Chẻ cói bây giờ vẫn bằng thủ công, gọi là máy nhưng nó cũng đơn giản có hai quả lô đường kính khoảng 15 phân, quả trên, quả dưới có gá lắp con dao thật sắc. Người cầm nắm cói xòe gốc ra đâm thẳng vào khe giữa hai quả lô được lưỡi dao chẻ đôi ra, quả lô đẩy gốc cói sang bên kia, một người cầm gốc cói kéo thật mạnh, quả lô quay xòe xòe định hướng cho mỗi cây cói được chẻ đôi từ gốc đến ngọn đều đặn. Chẻ đến đâu phơi đến đấy, động tác phơi mới khéo làm sao. Nếu như ai lấy đến tham quan, bảo cho tôi phơi thử một tay thì không thể nào nổi. Nhưng dân làm cói thì ai cũng thạo. Người ta cầm lấy giữa nắm cói vừa chẻ to khoảng hai tay chít lấy nhau vung lên xòe một cái thế là lượm cói được trải đều gốc bằng thẳng với gốc ,ngọn bằng thẳng với ngọn ,các sợi đều song song với nhau.Người ta phơi khoảng bốn ,năm nắng như vậy mới đóng gù,mỗi gù cói nặng khoảng bốn ,năm mươi cân để chuyển về kho chờ bán cho người làm chiếu.Người làm chiếu còn phỉ có một nguyên liệu nữa đó là đay vê. Đây cũng là thứ vật liệu làm chiếu bền rẻ nhất. Thời kỳ Nhật đóng chiếm nước ta ở vùng này, chúng đã bắt dân phá lúa, trồng đay, góp phần gây ra nạn dói năm 1945 chết hàng 2 triệu người ở Nam Định, Thái Bình là vậy. Cây đay cũng gieo trồng khoảng 6 tháng mới thu hoạch. Người ta bóc đay, lấy vỏ cạo sạch, rồi đem phơi khô cho kỹ. Khô đến mấy vỏ đay cũng như cây cói nước mặn không dòn, không gãy. Cây đay cũng giải quyết công ăn, việc làm cho người dân lúc nhàn. Người ta mua vỏ đay về, vợ chồng, con cái, ông già, bà cả cũng ngồi chẻ được. Vừa chẻ, vừa xem ti vi cũng được, có khách đến chơi thấy chủ nhà đang chẻ đay cũng cầm một vỏ lên tay vừa chẻ, vừa chuyện trò vui vẻ. Người ta che nhỏ vừa bằng sợ cước câu cá, càng nhỏ và giữ sợ chẻ được càng dài thì đến khâu vê càng nhanh. Trước kia người ta vê đay bằng tay, kéo mắc sợ đã vê lên sàn nhà, kéo soàn soạt khoanh tròn xuống cái nải miệng tròn hình trụ, cứ đầy nải là được một cân. Người chăm chỉ ít đứng lên, ngồi xuống thì mỗi ngày vê được một cân, lãi được mươi ngàn đồng. Nhà vài ba người vê số tiền kiếm được cũng đã là xóa đói.Ngày nay gọi là cải tiến kỹ thuật, người ta đã đóng được máy xe đay tựa như máy quay tơ, tuy có nhanh nhưng cũng tùy tay vê, tay quay có kịp cho máy đánh săn hay không. Vậy người ta mới bảo con người là quyết định hết thảy trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa là vậy.

     Mua được cói chẻ, tay vê về, người làm chiếu lại phải chọn một lần nữa. Cói được phân loại kỹ hơn nào là 1,7m; 1,5m; 1,4m; 1,3m; 1,2m; 1,1m; chín; tám mươi phân để dệt các loại chiếu khác nhau theo chiều đà của cói. Thường thì người ta dệt nhiều cho 2 loại  1,5m và tám mươi phân cho giường đôi và giường cá nhân. Chiếu bán cho dân thành thị thì họ lại chuộng loại 1,3m để trải giường đôi. Ở phố người ta không đóng giường 1,5m vì kê chật nhà, chỉ 1,3m là chuộng, vì 2 vợ chồng nằm chiều ngang là vừa, có giận nhau quay vào, quay ra cũng chạm nhau, cũng phải làm lành với nhau vì chiếc chiếu cói 1,3m. Kích thước là vậy nhưng khi mắc sợi đay vê làm sợi đan lóng dọc cách nhau một phân trên dàn, sợ nào cũng được qua lỗ go ( sợi trên, sợi dưới) dài đến khi dệt được 2,3 lá liền tùy theo mặt bằng từng nhà một. Những sợ cói trắng và dài nhất được lựa để dệt chiếu đậu, chiếu đậu dầy hơn, đến đổ bát nước trên chiếu cũng không ngấm được xuống dưới là do tay go dập mạnh lúc dệt dồn cói cho đến thật xít nhau. Loại chiếu đậu thường không phải in hoa như các loại chiếu khác vì cói đã được chọn thật trắng và đều. Cũng có loại chiếu người ta nhuộm sợi cói theo đủ các màu xanh, đỏ, vàng từng đoạn để khi dệt vào từng ô vuông màu được cài xen kẽ với nhau trông rất đẹp, loại chiếu này cũng đắt ngang với chiếu đậu. Nhìn dàn chiếu đang dệt, người ruôn cói cuốn cuốn lao lao cần thoăn thoắt, người dệt dập go bành bạch, 2 tay thì cà ra để bắt mối 2 đầu. Ruôn nhanh, dập nhanh thì năng suất càng cao. Riêng cái go là tên mới ngày nay, còn ngày xưa ông Thành Hoàng nghề chiếu thường gọi nó là cái khổ, vì bị người ta thay nhau dập suốt ngày. Có lúc ông chồng đau lưng lẩn sang hàng xóm uống trà đã bị Bà vợ gọi to : Ông ơi! Về dập rỗi, buộc ông phải xin phép bạn để về dập cho bà. Tôi hỏi các chị làm thế nào ngày công được mấy lá. Mấy lá là thế nào bác, cơ chế mới làm nhiều ăn nhiều chúng cháu dệt mỗi ngày mấy đôi ấy chứ. Bây giờ cũng có nhà có máy dẹt chiếu mua từ Trung Quốc về như anh Đinh Văn Hiền. Chiếc máy đồ sộ, lắp đặt máy và dàn chỉ ni lông hết hàng gian nhà, mỗi giờ dệt được 3 lá chiếu, năng suất gấp 10 lần một công lao động.

       Trước đây thời bao cấp hợp tác xã quản lý về dệt chiếu, đưa vào ký kết hợp đồng mua bán với công ty nông sản huyện để hợp tác xã có tiền mặt trao đổi với cơ quan Nhà nước lấy vật tư, phân bón phục vụ, kiến thiết và sản xuất. Xã viên thì làm chiếu được ăn công điểm. Người lao động nhập được lá chiếu loại A cũng phải qua mấy cầu kiểm nghiệm với mục đích gây khó khăn,vòi vĩnh

       Từ năm 1986 thực hiện cơ chế mới, mô hình hợp tác xã chiếu cói của xã không còn phù hợp nên giải thể. Nghề dệt chiếu truyền thống của Nghĩa Trung được giải phóng có điều kiện phát triển mạnh trong các hộ gia đình. Toàn xã có tới 60% gia đình dệt chiếu ( chủ yếu thuộc các xóm ở thôn Liêu Hải ) các gia đình dệt chiếu lúc này được chủ động trong tất cả các khâu từ mau và sản xuất nguyên liệu đến sản xuất và bán sản phẩm. lúc này chỉ có thượng đế là người kiểm nghiệm và phân loại tiền nào vải ấy theo cơ chế thị trường. Xã không phải lo liệu khâu gì, chỉ việc lấy số liệu báo cáo thành tích hàng năm. Liêu Hải, Nghĩa Trung, làng nghề chiếu cói rầm rập suốt ngày đêm nào là dệt chiếu dãi chiếu đêm đêm thì đóng gói để 4, 5 giờ sáng hàng loạt thanh niên đã lên đường bằng đủmọi phương tiện, người đi xe máy, kẻ oto, đưa hàng đi khắp nơi trong cả nước. Ông bạn tôi Nguyễn Huy Chiểu, người đã làm giầu về nghề buôn bán chiếu. Ông đưa hàng oto chiếu cá nhân đi bán hần hết cho các trường sĩ quan quân đội. Ngồi nghĩ được chỉ có bộ đội là dùng chiếu cá nhân nhiều, quả là ngoạn mục. Có nơi đổ hàng như vậy nên các loại cói ngắn dài đều được tận dụng hết. Nghề làm chiếu đã góp phần không những xóa đói giảm nghèo mà còn làm giầu cho những hộ gia đình có lao động và làm ăn năng nổ, tháo vát như ông Chiểu. Từ vốn liếng nghề làm chiếu hiện nay ông đã đứng được một cửa hàng chạm khắc đá mĩ nghệ lớn tại thị trấn Liễu Đề thu hút hàng chục lao động nông nhàn đến cùng làm với ông. Nhìn cửa hàng của ông đã có hàng nghìn tác phẩm nghệ thuật bằng đá nào là thiếu nữ ba miền bắc trung nam, thiếu nữ tam tống hội nhạc, thiếu nữa vũ hội  áp sa ra và tượng tố nữ, quan văn, quan võ, tượng phúc lộc thọ, tượng chúa, tượng phật, tượng anh hùng tương ngộ và 12 con giáp cùng các loại bình hoa, khay chén, cây đèn với hoa văn tram trổ tinh xảo thực hồn văn hóa dân gian. Làm được 10 đồng bao giờ ông cũng là từ thiện 3 đồng. Hàng năm ông đóng góp vào quỹ từ thiện của thôn Liêu Hải để sử dụng vào các việc thăm hỏi nhau lúc ốm đau, phúng viếng và xin lễ lúc các cụ qua đời. Cơn bão số 7 năm 2005 vào Nghĩa Hưng, bằng những đồng tiền từ chiếu cói, ông đã gửi hằng trăm thùng mì tôm ( qua Hội Chữ thập đỏ huyện ) để giúp nhân dân vùng bị bão đỡ bữa trong những ngày bị bão lũ vây quanh

       Cũng ông Nguyễn Huy Chiểu là người dẫn tôi đi tìm ông tổ nghề chiếu cói thôn Liêu Hải ( Nghĩa Trung ). Trong “Tân biên Nam Định tỉnh dư địa chí lược” của Khiếu Năng Tĩnh là quan tế tửu Quốc tử giám viết : “dệt chiếu Đại An có Tịch Nhi, Nhân Hậu, Hà Dương Đoài, Tân Liêu, Liêu Hải, An Thịnh, Thụ Ích, Đông TĨnh”. Ngày nay duy Liêu Hải, xã Nghĩa Trung là còn giữ nghề. Nghề chiếu cói không phải có từ thời Nguyễn mà có từ thời Lê Trung Hưng cụ Đỗ Thế Duệ người làng Phi Lai, Tổng Phi Lai huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung’ Thanh Hóa, ra vùng Bông Hải (nay là Khánh Thiện, Yên Khánh, Ninh Bình) chiêu đinh lập ấp mở mang nghàn nghề trong đó có nghề dệt chiếu.

                            Chiếu hoa Bồng Hải anh ngồi

                            Tình chồng nghĩa vợ giận rồi lại thương

                            Chiếu này chỉ vấn tơ vươn

                            Anh ngồi em chải thiệt hơn xá gì

        Do đất này gắn bó với nghề chiếu, sống về chiếu nên có nhiều vè câu đố và thơ ca về chiếu truyền miệng trong dân gian  Chiếu Bông Hải vải Lộn Khê (Lộn Khê ở Yên Tử, Yên Mô)

   Câu đố:           Con rắn nó cuốn, nó lượn, nó tha vào lỗ, nó luồn nó ra. (là cái ngao)

                          Răng rổ xề lại hay ăn bánh (Là cái go hay cái khổ ăn bánh đay)

   Thơ:

                            Khen ai lặn lội cắt cỏ bồng

                            Bởi vì ngao khổ mới lên công

                            Mũ đai điểm chuyết lên mình ngựa

                            Buồm lèo sắp sẵn đón sang sông

                            Rợp đường võng tố canh mùng dậu

                            Đẹp mặt hàng hoa tống điểm bông

                            Nối bước cha ông mưu nghiệp lớn

                            Xứng danh con cháu giống tiên rồng

   Đại An xưa trong đó có Nghĩa Trung sang học nghề. Trai gái Yên Khánh, Bồng Hải và Đại An, Liêu Hải kết hôn với nhau, đưa nghề về trở thành nghề đẹt chiếu Liêu Hải cho đến đời nay. Cụ tổ nghề dệt chiếu của Bồng Hải cũng là cụ tổ nghề dệt chiếu Liêu Hải là vậy. Chiếu cói Bồng Hải, Liêu Hải từ thời Pháp thuộc đã được đi dự đấu xảo tại Hà Nội. Năm 1985 được thưởng huy chương vàng hội chợ kinh tế kĩ thuật toàn quốc. năm 2005 từ đường cụ tổ nghề dệt chiếu Đỗ Thế Duệ nơi có đôi câu đối:

                            Tịch thổ chiêu dân u Bồng Hải thành đai công tộc.

                            Bình nhung hậu quốc chí cảnh hưng phong vận thế phúc thần.

 Đã được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

Hàng năm từ 09 đến 16 tháng 02 âm lịch hàng tổng mở hội (Phụng nghinh) cụ và thành hoàng các làng được kiệu rước về đình Xanh tế lễ. Các thông khác như Ba Phường, Xuân Hòa, thôn Tư đều lập đền thờ cụ để nhớ về người xưa chiêu binh lập ấp mở mang ngành nghề.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ NamĐịnh ngày 17.12.2013.