Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




HÀ NỘI 36 PHỐ PHƯỜNG

VỚI LẴNG HOA “HỒ GƯƠM”




Hà Nội 36 phố phường

Có lẽ “công tích” thuộc về nhà văn Thạch Lam. Tác phẩm Hà Nội 36 phố phường của Thạch Lam quá nổi tiếng, nên dù không là sự thật lịch sử thì vẫn được mọi người đón nhận.Và người ta vẫn dùng Hà Nội 36 phố phường cũng như 5 cửa ô của Văn Cao trong bài hát “Tiến về Hà Nội”

 - Một trong các số các bài ca về 36 phố phường được ghi trong sách Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm có nôi dung như sau:

 
Rủ nhau chơi khắp Long thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,
Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay,
Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giầy,
Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,
Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Ngang,
Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Than, hàng Đồng,
Hàng Muối, hàng Nón, cầu Đông,
Hàng Hòm, hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè,
Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre,
Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,
Quanh đi đến phố hàng Da,
Trải xem hàng phố, thật là cũng xinh.
Phồn hoa thứ nhất Long thành,
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ
Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền”. 


Hồ Gươm hay Hồ Hoàn Kiếm

Là di tích lịch sử của  Thăng Long- Hà Nội. Tên cũ là hồ Lục Thủy hay hồ Thủy Quân.

Đây là một khối nước ngọt nằm giữa trung tâm thành phố, có chiều dài tối đa là 700m, độ rộng tối đa là 250m, chu vi 1750m, độ sâu trung bình từ 1 đến 1.4m. Hồ hình chữ nhật , phía Bắc giáp hàng Đào và khu Phố Cổ, phía Nam giáp Tràng Thi và Tràng Tiền,  phía Tây giáp đường Lê thái Tổ và khu Bảo Khánh, phía Đông giáp đường hàng Bài và Quận Hoàn Kiếm.

-  Sinh vật nổi tiếng sống trong hồ là những con Rùa khổng lồ thuộc họ Ba Ba (Trionychidae) có tên khoa học là Rafetus leloìi.

Những công trình kiến trúc lịch sử nổi tiếng

- Nguyễn Siêu, một nhà thơ và nhà văn hóa lớn của Hà Nội đã đứng ra cải tạo và nâng cấp Đền Ngọc Sơn nằm giữa Hồ Gươm - vào năm 1865. Ông cho xây dựng Trấn Ba đình với ý nghĩa để ngăn chặn văn hóa ngoại bang, trên bờ ông cho xây tháp đá ngoài cổng cao 9 m, đỉnh tháp là ngọn bút lông gọi là Tháp Bút và các công trình khác. Để nối bờ với đảo, Nguyễn Siêu đã cho làm cầu và đặt tên là Thê Húc (có nghĩa là giọt ánh sáng đậu lại). Cầu gồm 15 nhịp, có 32 chân cột gỗ tròn xếp thành 16 đôi, mặt cầu lát ván, thành sơn màu đỏ sẫm, chữ Thê Húc được thếp vàng.

Năm 1882, sau khi Cầu vào đền Ngọc Sơn bị đốt, người ta sửa chữa, lát ván dọc theo cầu để cho dân chúng vào lễ. Trong cuốn Hà Nội và những vùng phụ cận của Claudius Madrolle xuất bản năm 1892, tác giả viết: "Cầu Thê Húc được trùng tu vào năm 1888 để thay thế chiếc cầu ọp ẹp. Nó được thay bằng một chiếc cầu gỗ duyên dáng có tính mỹ thuật, được sơn màu đỏ có dáng uốn cong như cầu vồng".

Tết Nhâm Thìn 1952, người dân đi lễ đền quá đông và cầu Thê Húc bị sập. Rất may nước hồ Gươm năm đó cạn nên những đứa trẻ rơi xuống hồ không bị chết đuối. Thị trưởng Hà Nội lúc đó là Thẩm Hoàng Tín đã cho phá bỏ cầu cũ, xây cầu mới. Để có thiết kế đẹp, ông Tín tổ chức cuộc thi thiết kế mẫu và trong hơn ba chục mẫu của các kiến trúc sư cả Pháp lẫn Việt tham gia, thì thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Diệm được lựa chọn. Vẫn giữ lại dáng cong cầu vồng xưa nhưng Nguyễn Ngọc Diệm thiết kế cong hơn để cầu khỏe hơn, đồng thời làm cầu nổi hơn. Nguyễn Ngọc Diệm giữ nguyên 16 hàng cọc tròn nhưng các đầu trụ được vuốt nhọn như gợi nhớ lại chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng. Dầm ngang và dầm dọc của Thê Húc đúc bằng bê tông để kéo dài tuổi thọ, tuy nhiên mặt và thành cầu, ông thiết kế bằng gỗ. Thành công là vẫn giữ được dáng vẻ truyền thống, kết cấu gỗ, nâng cao dáng vòng cung, làm cầu thêm phần uyển chuyển, mềm mại lại rất thông dụng, khoảng không gian mặt nước lớn hơn, thuận lợi cho biểu diễn các môn thể thao: đua thuyền, lướt ván vẫn thường diễn ra trên mặt nước hồ Hoàn Kiếm những ngày Lễ, Tết..."

Kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Diệm (1908 – 1999) tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1939(khóa 9) thiết kế Cầu Thê Húc, ngoài ra, ông còn thiết kế chiếc Cầu nối bờ với đảo ở Công viên Thống Nhất – Hà Nội hiện nay (ở cổng đường Lê Duẩn).

Kỳ niệm về Hồ Gươm - Hà Nội

Người viết nhớ về Hà Nội thời mới bỡ ngõ cắp sách đi học lớp năm (lớp 1) trường tiểu học Nguyễn Du , phố Bắc Ninh (nay đổi là trường Hàng Vôi, phố Hàng Vôi, Hà Nội). Thật là một ngôi trường uy nghi, bệ vệ với hai tầng, kiến trúc theo kiểu Pháp, điều này khiến cho một cậu học sinh bé bỏng càng run sợ, lúng túng trong buổi đẩu tiên tôi đi học; như nhà văn Thanh Tịnh đã viết: "Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng..."


Thời gian lúc còn niên thiếu, tôi đã sống tại Hà Nội từ năm 1950 – 1955 cùng với Cha Mẹ, từng cư ngụ ờ phố -Hàng Mắm, -Hàng Thùng -Hàng Vôi (hồi đó gọi là phố Bắc Ninh và trường tiểu học Nguyễn Du –nay là trường Hàng Vôi), - Hàng Điếu và cuối cùng là phố Trương Hán Siêu (đằng sau trường tiểu học Quang Trung, phố Quang Trung)

Vì sống ở gần Hồ Gươm, tôi có rất nhiều kỷ niệm với Hồ Gươm, với đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc cùng với tháp Bút và đài Nghiên. Hai di tích này do Nguyễn Văn Siêu đã xây một tháp đá mà đỉnh là hình ngọn bút lông, trên thân tháp có tạc ba chữ "Tả thanh thiên" (viết lên trời xanh) và một đài Nghiên, là một cửa cuốn trên có đặt một cái nghiên bằng đá, tạc theo hình nửa quả đào. Qua Đài Nghiên là đến cầu Thê Húc, đầu cầu bên kia là Đắc Nguyệt Lâu (lầu được trăng) tức cũng là cổng đền Ngọc Sơn. Đền là nơi thờ Văn Xương, Quan Vũ và Trần Hưng Đạo. Trước mặt bái đường là Trấn Ba Đình tại đây, cậu bé học trò lớp Ba đã ra đây, leo ra bờ đất bao quanh Đình, lấy đất sét về nặn tượng hình bản đồ đất Việt, hình thú vật, hình lá cây…để nộp bài Thủ công cho thày giáo…

Xa trông, góc tây nam hồ là gò Tháp Rùa. Tôi nhớ lại là có một lần duy nhất, khoảng năm 1953, Hà Nội có tổ chức Chợ Phiên ngay tại phố Lê Thái Tổ, nằm ven bờ hồ, chính tại Chợ Phiên, khách tham quan có thề mua vé để đi qua chiếc cầu hình Rồng vàng - bằng phao làm dã chiến trên các thùng phuy nổi trên hồ, sang bên Gò, bước xuống thảm cỏ xanh mướt quanh Tháp Rùa cổ kính, để thăm nơi nghỉ mát và thư giãn cùa các Cụ Rùa, lâu lâu bò lên nằm tham quan, tắm nắng, đảo mắt ngắm hồ Gươm và Thủ đô của chúng ta. Đây đúng là một dịp hi hữu mà tôi đã có cơ hội ra thăm Tháp Rùa. Hơn nữa, vì trường Nguyễn Du - nơi tôi theo học - nằm ở gần Hồ Gươm, nên tôi đã có vài dịp, cùng các bạn học cùng trường, Rước Đèn màu sắc rực rỡ, ánh nến lập lòe xuyên qua giấy bóng kính nhiều màu sáng loáng, vào đúng đêm Rằm trăng tròn của Tết Trung thu.

Biết bao kỷ niệm về Hồ Hoàn Kiếm đã khắc sâu vào trong lòng tôi, vẫn không bao giờ phai mờ theo năm tháng...


Cây Cối Bên Hồ Gươm

 Đi tản bộ thong thả quanh Hồ, người ta gặp rất nhiều loại cây. Những cây này không được trồng theo một hình thức quy mô nào.

Ta hãy liệt kê những cây mọc quanh bờ Hồ: 

1/ CÂY LỘC VỪNG: Tên khoa học là Barringtonia acutangula, mọc quanh ven biển Nam Á và Bắc Úc. Tại Việt Nam, kiếm thấy được từ Hòa Bình đến Bình Dương. Cây nằm trong Tam Đa sinh vật cảnh Vạn Thọ, Lộc Vừng, Sung túc.

Hoa đỏ nở mỗi năm hai lần, giữa năm và gần Tết,thường được trồng làm cây kiểng. Người ta ăn lá như rau sống hay rau ghém, đọt non thái nhỏ trộn gỏi. Quả và vỏ ngâm rược dùng làm thuốc chữa đau mắt, đau lưng, đau dạ dày và bệnh tiêu chảy.

2/ CÂY  MÕ: Tên khoa học là Manglietia conifer thuộc họ Mộc Lan, thường mọc trong rừng thẳm, trồng cạnh cây lộc vừng bên Hồ Gươm, có thể cao tới 20m, cành lá xòe cánh quạt, hoa mầu vàng đỏ.                                    

3/ CÂY  Ô  MÔI: Tên khoa học là Cassia grandis thuộc họ Vang, có thể cao tới 20m, phần nhiều mọc ở Gò Công và Hà Tiên.Hoa mầu đỏ như hoa đào nở giữa mùa Hạ, lá dùng làm thuốc, trái dùng để nấu chè.            

  4/  CÂY ĐA: Tên khoa học là  Ficus Bengalensis thuộc họ Dâu Tầm còn được gọi là cây hải sơn, cây dong, cây đa. 
Phần lớn các làng mạc Bắc Bộ Việt Nam đều có  cây đa cổ thụ mọc cạnh đình đền, dưới gốc cây có xây miếu thờ, các dây rễ theo tục lệ thường treo lủng lẳng các bình vôi xa trông như đầu lâu.
5/ CÂY  GẠO: Tên khoa học là Bombax ceiba còn được gọi là mộc miên hay hồng miên. Hoa 5 cánh mầu đỏ, nở vào mùa Xuân. Sợi bông của hoa cũng được dùng để thay thế cho sợi  của cây bông.
6/ CÂY  ĐỀ:  Tên khoa học là Ficus religiosa còn gọi là cây Bồ-đề.  Tương truyền dưới gốc cây này thái tử Tất-đạt-Đa Cồ-đàm đã đạt tới Giác Ngộ và trở thành một vị Phật. Cây có thể cao tới 30 thước, lá cây hình trái tim.
7/ CÂY  SUNG hay Ưu đàm thục hay tu quả dong, tên khoa học là Ficus racemosa thuôc họ Dâu Tầm. Sung tiếng Phạn là Udumbara là hoa được nhắc đến trong Diệu Pháp liên hoa kinh. Cây thường mọc ở gần sông hồ và có thể cao tới 30 m. Hoa đực và cái cũng như vú lá mọc ra trên cùng một cây, quả mọc từng chùm trên các cành nhỏ trên thân cây. Lá sung dùng để gói nem sống hoặc ăn kèm với các món ăn dữ dằn như các loại gỏi hoặc dùng làm thuốc. quả sung ăn sống vị chan chát hoặc dùng để muối dưa. Trái sung tượng trưng cho sự sung túc trong mâm ngũ quả. 
8/ - CÂY SI còn gọi là cây Gừa hay Cừa, tên khoa học là Ficus microcarpa.
- CÂY SANH tên khoa học là Ficus Indica, lá nhỏ hơn lá cây si. Cả hai đều được người ta ưa chuộng trồng làm cây bonsai. 
Quanh hồ Gươm có một số cây si đại thụ, cành cây uốn cong xuống mặt hồ.
9/ CÂY  SẤU: Tên khoa học là Dracontomelon duperreanum thuộc họ Đào lộn hột (Anacardiaceae ). Còn gọi là sấu tía, sấu trắng hay long cóc. Cây có thể cao tới 30m, mọc ở trong rừng vùng miền Bắc, ít thấy ở Nam Kỳ.
Hoa nở mùa Xuân-Hạ, quả ra mùa Hạ-Thu. Quả thuộc loại quả hạch một hạt. quả xanh dùng để nấu canh chua hay giầm nước rau muống luộc, hay lấy cùi thịt của quả chín để làm mứt, ô mai, làm chắm trẻ con nào cũng mê! Quả sấu còn dùng để trị một số  bệnh. 
Hà Nội trồng rất nhiều cây sấu để lấy bóng mát, hàng cây sấu quanh hồ Gươm rất thơ mộng, các thanh niên thiếu nữ thường ra đây  đi dạo liếc mắt đưa tình! Quả sấu còn dùng để trị một số  bệnh thông thường. 
10/ CÂY  ME: Tên khoa học là  Tamarindus indica thuộc họ Đậu. Cây có thể cao tới 20m. Hoa tạo thành dạng cành hoa, quả thuộc dạng quả đậu mầu nâu da cứng. Quả me dùng để nấu canh chua và là một gia vị quan trọng trong Worcestershire  sauce và sauce HP. Người ta cũng dùng me để làm kẹo và mứt rất được ưa chuộng trong ngày Tết. 
11/ CÂY  VÔNG: Còn gọi là Vông đồng hay Vông vang, tên khoa học là Hura Crepitans thuộc họ Đại kích. Xuất phát từ rừng nhiệt đới vùng Amazone  Nam Mỹ, cây có thể cao tới 30m.
Hoa không cánh nở mùa Thu mầu đỏ choét. Đỏ như hoa vông, đông như miếng tiết. Người ta dùng nhựa cây này để đầu độc cá hoặc để chế một thức uống gây ảo giác gọi là Ayahuasca.    
12/ CÂY  KIM  GIAO: Tên khoa học  là Nageia flreuryi đưa từ rừng Mai Châu và Cát Bà về. Đặc biệt của chi Nageia là lá hình bầu dục dạng có gân. Cây có thể cao tới 25m, tán cây hình tháp. Gỗ thân cây mầu trắng đẹp và bền. Các Vua Chúa thời xưa thường dùng đũa làm bằng gỗ cây Kim Giao để thử độ độc của thức ăn. Nếu đồ ăn có thuốc độc thì đũa sẽ xám đen lại.        
13/ CÂY  LIỄU  RỦ: Tên khoa học là Salix, chì có một vài cây liễu rũ cạnh nhà Thủy Tạ nằm ở phía Tây Bắc bờ Hồ.Hoa đuôi sóc đơn tính khác gốc, nở vào mùa Xuân, mầu hồng tía.  Quả dạng nang nhỏ một ngăn chứa nhiều hột nhỏ.  Lá và vỏ thân cây chứa chất Salicilin. Năm 1897, ông Felix Hoffmann chế ra chất tổng hợp Salicilin từ các loài Spiraceae ( hoa  hồng ). Đây là chất acid AcetylSalicylic được hãng Bayer đặt tên thương mại là Aspirin.
14/ CÂY  SỮA: Tên khoa học là Alstonia scholaris thuộc họ La bố na, ta còn gọi là hoa mò cua hay mù cua (?). Cây có thể cao tới 60m. 
Hoa hình phễu, mầu trắng vàng hồng hay lục, cụm hoa mọc ở đầu ngọn hay nách lá. Hoa thơm có thể nồng nặc nếu cây trồng mật đô cao, hoa rớt xuống làm đường xá nhầy nhụa, nhiều tỉnh miền Trung Việt đã đâm đơn kiện chính quyền địa phương.  
15/ CÂY  NHỘI: Còn gọi là cây Sếu, cây cơm nguội, cây phác.Tên khoa học là Cellis  sinensis thuộc họ Gai dầu. Cây có thể cao tới 20m, hoa nở vào tháng 3-4, quả dáng hạch hình cầu.
16/ CÂY  GỖ  TẾCH: Còn gọi là cây Giá tỵ. Tên khoa học là Techtona grandis. Đây là loại cây gỗ có thể cao tới 30-40m, khu vực phân bố là Ấn Độ và Đông Dương.  
Gỗ mầu vàng sẫm hay hơi xám nâu, không bị mối mọt, nấm mộc phá hoại,lại chịu được nước mặn, nên dùng làm đồ nội thất, xà nhà ván nhà, đóng tầu đi biển...Kỹ nghệ trồng gỗ tếch đang phát triển mạnh tại Đông Nam Á. Cây gỗ tếch cũng là biểu tượng của người Thái Lan.
17/ CÂY  PHƯỢNG  VĨ: Những tên gọi khác là Phượng, Xoan Tây, Điệp Tây hay hoa nắng. Tên khoa học là Delonix regia thuộc họ Đậu, cây này xuất phát từ đảo Madagsacar và nay đã lan tràn trên khắp thế giới.Hải Phòng được gọi là thành phố hoa phượng đỏ!
Lá như lông chim, mầu xanh lục sáng, hoa đỏ rực nở vào mùa Hè.

TÓM TẮT 

Hà Nội 36 phố phường cổ kính với “Hồ Hoàn Kiếm” có những kiến trúc lịch sử nổi danh, như một Lẵng hoa tuyệt đẹp trang hoàng làm cho Thủ đô càng đẹp thắm thiết, đẹp nên thơ…

Hơn nữa, những cây cối mọc quanh bờ Hồ Hoàn Kiếm làm tăng vẻ đẹp xanh cho Hà Nội.

Khác với những đô thị lớn và những  Thủ đô trên thế giới, những cây cối này không bị gò bó theo một hình thức quy mô nào. Phần lớn là những thổ sản của các làng mạc kế cận, một số  được đưa từ các rừng miền  Bắc hay miền Trung hoặc từ đồng bằng miền Nam, một vài cây được du nhập từ Châu Phi hay Nam Mỹ. Nhưng tất cả đều tỏ vẻ thanh thản bình yên hài lòng với môi sinh chỗ đứng của mình, không cây nào tỏ vẻ lạc lõng hay bị trấn áp bởi bàn tay con người. Mà cái sự việc này cũng là sự ngẫu nhiên, chẳng phải do ai sắp đặt, hay nếu có thì cũng chẳng lộ liễu.

Dạo quanh bờ Hồ với bao Di tích cổ kính, chúng ta có thời giờ suy gẫm về sự xoay vần của Tạo Hóa. Cũng như lắng tai nghe tiếng rì rầm của cây cối, hình như đang kể lại những diễn biến lich sử mà chúng đã chứng kiến trong mấy ngàn năm qua.

Biết bao kỷ niệm về Hồ Hoàn Kiếm đã khắc sâu vào trong lòng tôi - một câu bé học sinh tiểu học vô tư, ngây thơ - cho đến nay, da dẻ nhăn nheo, tóc đã nhuốm hai màu, vẫn không bao giờ phai mờ theo năm tháng...


(Tham khảo: Tài liệu trên Sách báo và Internet)


.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ SàiGòn ngày 05.12.2013.