Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



ĐỐI THOẠI VĂN CHƯƠNG





Chương Chín

ĐỐI THOẠI THÁNG CUỐI

(câu 252 – 265)

252. Nguyễn Đức Tùng:
Tôi không biết mình đi vào một ngày nào
Nhưng tôi biết ngày ấy
Ngôi sao kia rực sáng
Rơi khôn cùng trong đêm đen thăm thẳm…
(Trần Nhuận Minh)
Anh có một sức viết mạnh mẽ, khả năng sáng tạo dồi dào, không giống với các quy luật “mười năm” mà anh nhắc đến trong một đoạn trước đây khi nói về các nhà thơ khác. Anh có nghĩ rằng một lúc nào đó anh sẽ không viết được nữa chăng?
Trần Nhuận Minh:
Khi cảm thấy mình không còn sức sáng tạo nữa thì sẽ ngừng viết, điều mà trước tôi, một số nhà thơ đã làm, trong đó có nhà thơ Nguyễn Duy mà tôi rất trân trọng. Tôi áng chừng mình còn sức viết trong dăm bảy năm nữa, nên tập trung hoàn thành cho xong ba tập thơ và một tập tiểu thuyết.
Ba tập thơ tôi đang soạn là Đốm lửa, gồm những bài thơ tôi cố viết thật ngắn về những vấn đề rất khó viết thật ngắn, phức tạp và thậm chí nhạy cảm; Hoàn nguyên, một tập thơ văn xuôi và Tiếng vĩ cầm mùa thu, gồm các bài còn lại, trong đó có chùm thơ tôi mới viết ở Canada năm 2010. Nhiều bài trong cả ba tập này, đều đã đăng báo rồi, với ý tưởng, kết cấu và giọng điệu hoàn toàn khác nhau.
Cũng có lúc tôi nghĩ, nếu sức không còn dư, thì in chung ba tập thành một tập, lấy tên là Tiếng vĩ cầm mùa thu, hoặc Cánh rừng đã bay về trời, trong đó có ba phần, có thể đặt riêng hoặc đan xen nhau, mỗi phần đều chọn lọc lại, gồm một số bài tiêu biểu cho mỗi tập, mà tôi rất muốn, nhưng đã biết là mình sẽ không thể đi được đến tận cùng.
Ở thể loại văn xuôi, tôi có một cuốn tiểu thuyết đã viết từ rất nhiều năm, nay vẫn chưa xong, có tên là Cõi người, về một làng quê trong dòng chảy 600 năm, với nhiều biến cố lịch sử nhưng tôi không viết như một tiểu thuyết lịch sử. Anh thấy không, cảm hứng về lịch sử manh nha từ thuở ban đầu, đã nói ở trên, vẫn lẵng nhẵng theo tôi, ám ảnh tôi. Sở dĩ lâu thế, vì tôi không chọn được một kết cấu và một giọng điệu phù hợp với nội dung tôi trình bày, mà tôi nghĩ, tôi hy vọng mình sẽ là người mang đến cho bạn đọc một cái gì mới mới một chút so với các nhà văn đã đi trước tôi. Do đó, viết được dăm bảy chương lại xóa bỏ, viết lại. Nay chọn được rồi thì không biết sức mình có kham nổi không?
Tất cả mọi cố gắng cuối cùng của tôi là dành cho việc hoàn thành phần việc cuối cùng này. Tôi hy vọng mình có thể làm được. Đến lúc đó mà ngừng viết thì đẹp biết bao, vì ruột gan mình có còn gì nữa đâu…
253. Nguyễn Đức Tùng:
Có vẻ như các trí thức ở Việt Nam ngày càng tỏ ra quan tâm hơn đến sự suy đồi văn hóa, ít nhất là trên mặt báo chí. Trong khi đó, một số người từ hải ngoại về Việt Nam thăm viếng, khi trở lại nói với tôi rằng người dân Việt Nam nhìn chung sống sung sướng hơn ngày xưa của họ.
Anh giải thích sự khác biệt này như thế nào?
Trần Nhuận Minh:
Đó là hai mặt trong một vấn đề của đời sống xã hội hiện nay mà tôi thấy chưa hẳn đã khác biệt. Quả là chưa bao giờ, người dân Việt Nam (chủ yếu là ở phía Bắc) có đời sống vật chất được cải thiện như hiện nay, nhưng cũng chưa bao giờ đời sống văn hóa lại suy đồi như hiện nay. Cũng khó mà phân giải rõ ràng rằng, rốt ráo cuối cùng thì cái được lớn hơn hay cái mất lớn hơn. Vì chúng ta đã sống quá nghèo khổ, đến tận cùng của nỗi đói rách và cay cực, giờ nghĩ lại cái đận xếp hàng từ chập tối, rồi lại phải chờ đến hết cả buổi sáng hôm sau, mới mua được mươi cân bột mì cho con ăn mà rùng mình. Bởi vậy, cảm thấy cái được về vật chất là RẤT LỚN và chúng ta rất dễ thỏa mãn với điều đó.
Cũng như việc sáng tác văn chương, anh thỏa mãn ở chỗ nào, thì giới hạn của sự phát triển về tài nghệ của anh, cũng sẽ vĩnh viễn cắm mốc ở chỗ đó, và như thế, cũng là một kiểu tự sát. Vì thế mà rất nhiều suy thoái về đạo đức, thậm chí cả đạo lý, trong đó có cả những giá trị của đạo lý được xây dựng từ truyền thống nghìn đời của dân tộc đã bị dập vùi, đã bị phá bỏ, cũng ít người coi đó làm điều. Bởi vậy, mới có chuyện học trò đánh cô giáo trụy thai ngay trên bục giảng và thầy hiệu trưởng mua dâm học trò của trường mình. Tôi chỉ nói một chi tiết ấy thôi, trong nền giáo dục được coi là ưu việt chưa từng có của chúng ta, bởi đến thế thì không còn gì để nói nữa. Ai chịu trách nhiệm? Chẳng có ai chịu trách nhiệm cả. Vì các vị quan của hệ thống giáo dục này đều lên các chức to hơn đấy thôi…
Làm ra đồng tiền là kinh tế, nhưng tiêu tiền lại là vấn đề của văn hóa. Ở đây văn hóa không song hành với kinh tế. Khi ít văn hóa mà có nhiều tiền, đồng tiền rất dễ biến anh thành một kẻ rất lố bịch mà anh không tự biết. Trong trường hợp này, hai mặt đó luôn tương tác lẫn nhau, trên cơ sở của nền kinh tế tiểu nông ăn đong đã lâu đời: Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi (Tú Xương)…, với trình độ dân trí và cả quan trí nữa, nói chung đều thấp. Không ít những biệt thự được xây cất khang trang, nhưng trong đó, cũng không ít gia đình đã tan vỡ hạnh phúc.
Bên cạnh cái Thiện có được ít nhiều nâng lên, thì cái Ác phát triển đến chóng mặt, có thể nói là đương nhiên lộng hành và có quy mô tương ứng với kinh tế. Phải đến bây giờ, mới có nổ súng trong tiệm vàng, đào hào cướp nhà băng, giết người cướp xe tắc xi, ăn cắp tiền tỉ qua internet… Đến cả ông trung tá công an giao thông, giữa thủ đô Thăng Long – Hà Nội nghìn năm văn hiến, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy, đối với nhân dân phải kính trọng, lễ phép… mà vẫn cùng nhóm dân phòng, đánh một công dân đến chết, chỉ vì ông này, xin giảm nộp phạt 50 nghìn đồng, do không đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy… Một vị Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh luôn dạy người ta những bài học về đạo đức cách mạng của Bác Hồ, mà mua dâm trẻ em và bị lộ ảnh trần truồng trong nhà nghỉ, thì tôi chưa thấy bao giờ… Một ông Viện phó Viện Kiểm sát… buổi sáng còn lên lớp cho cán bộ về chống tham nhũng, buổi chiều đã trực tiếp đến nhà bị can, yêu cầu nộp hối lộ 100 triệu đồng, để ông làm lại hồ sơ vụ án, cò kè thêm bớt mãi, cuối cùng ông đồng ý giảm, còn 70 triệu đồng, và đúng lúc ông thò “bàn tay công lý” ra nhận tiền, thì tuyệt vời thay, công an đã có mặt. Và cái còng số 8 có việc làm ngay. Trong những trường hợp này, lời nói rõ ràng là hoàn hoàn trái ngược với việc làm. Và điều đó cũng không phải là cá biệt. Tên ông ta được nêu ngay tối hôm đó, trong chương trình thời sự của đài Truyền hình Việt Nam, chứng tỏ quyết tâm chống tham nhũng là có thật.
Tất cả những điều trên, các báo đều đã đăng, làm xôn xao dư luận trong nước, nhiều tháng nhiều năm…, tạo thành một sự nhức nhối trong lương tri của mỗi người lương thiện… Vô cảm trước nỗi đau khổ của con người và không còn biết xấu hổ khi hành xử như một con vật. Đấy là cái đáng sợ nhất trong đời sống văn hóa thường nhật của ngày hôm nay…
Điều ấy, trước đây, khi đời sống vật chất còn rất khó khăn, tôi không thấy có, hoặc nếu có, thì cũng rất ít và với mức độ còn rất thấp…
Chỉ có một cái có thể coi là khác biệt. Đó là, với những hạn chế rất rõ của một đất nước như thế, mà chúng ta thắng được giặc ngoại xâm có sức mạnh to lớn hơn mình rất nhiều lần. Theo tôi, đấy chính là bí ẩn muôn đời của sức mạnh Việt Nam, mà chúng ta cần phải có thời gian và trí tuệ để lý giải một cách thấu đáo.
Hoàn toàn có lý, khi từ thời Trần, nhà thơ Trương Hán Siêu trong Bạch Đằng giang phú bất hủ, đã viết (dịch).
Ngàn năm ngẫm cuộc thanh bình
Phải đâu đất hiểm, bởi mình đức cao…
Kẻ thù không hiểu được mình, nên đã thất bại, điều đó thì đã quá rõ. Nhưng tôi nghĩ: chính chúng ta cũng không hiểu được mình. Và vì thế, trên tổng thể, đất nước vẫn cứ đi lên… khiến không ít người, nhất là những người ở hải ngoại, ít nhiều đều ngơ ngác.
Trí thức quan tâm đến vấn đề này, vì đó mới là việc chính, việc thường trực trong tư duy hằng ngày của họ, trong lương tri luôn thao thức của họ.
254. Nguyễn Đức Tùng:
Nhà lý luận Hà Minh Đức viết: “Phẩm chất cũng như sức sống của một nền thơ trước hết và chủ yếu là ở lý tưởng mà nó phụng sự như một mục đích, một cứu cánh… Lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là lẽ sống và mơ ước cao nhất mà từ hàng ngàn năm những nhà thơ lớn của nhiều thế kỷ vì bị những giới hạn lịch sử không nhận thức được; nhưng tất cả những câu hỏi chất chứa đau thương, những mơ ước xa xôi của quá khứ đều có thể tìm thấy lời giải đáp trong hiện tại… Lý tưởng xã hội chủ nghĩa trước hết là lẽ sống của nhà thơ, lẽ sống thiêng liêng mà khi cần thiết phải được bảo vệ bởi xương máu, bằng cuộc đời riêng của mỗi người… Lý tưởng đó là tính đảng, nguyên tắc của sáng tạo.
Vấn đề có ý nghĩa quyết định là ở chỗ trong nền thơ xã hội chủ nghĩa, các nhà thơ có ý thức rất sáng tỏ, rất thiết tha, đem thơ ca phục vụ cho lý tưởng mới”.
Đoạn này trong sách Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, trang 398, xuất bản 1998, và hình như tái bản gần đây.
Tôi có thể tìm thấy rất nhiều ví dụ khác trên báo chí, bởi những tác giả khác, trong những năm gần đây hơn nữa,về các quan điểm chính thức tương tự. Theo anh, các nhà thơ hiện nay, biểu hiện về mặt tác phẩm cụ thể, có phải là họ đang có “ý thức rất sáng tỏ”, và đang sống và viết như tác giả Hà Minh Đức đã mô tả.
Trần Nhuận Minh:
Cũng như giáo sư Bùi Duy Tân, giáo sư Hà Minh Đức là thầy dạy tôi ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông là nhà nghiên cứu phê bình thơ hàng đầu của Việt Nam suốt nhiều thập kỷ. Tác phẩm Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, mà anh vừa dẫn ra, là một trong những công trình nổi tiếng nhất của ông, đã được trao tặng Giải thưởng Nhà nước. Ông viết tập sách này trong thời kỳ bao cấp xa xưa và xuất bản lần đầu năm 1974. Anh đọc bản in 1998, là năm sách được tái bản cho bạn đọc và các sinh viên tham khảo. Anh nói sách xuất bản 1998 là anh đã nhầm rồi.
Ý kiến trên của ông, nhất là quan điểm cho rằng: “lý tưởng đó là tính đảng, nguyên tắc của sáng tạo”, phản ánh tư duy lý luận của nền văn học Việt Nam trước thời Đổi mới.
Hiện nay, Hà Minh Đức còn là một nhà thơ, tác giả nhiều tập thơ xuất bản lần lượt trong khoảng 10 năm trở lại đây, được bạn đọc chú ý. Thơ ông khá mới mẻ, nồng ấm, đậm đà tình người, trong đó, không thấy “vấn đề có ý nghĩa quyết định…” với “ý thức rất sáng tỏ…” cũng không thấy “nguyên tắc của sáng tạo…” như ông đã từng chỉ ra rất sâu sắc và đầy tâm huyết cho các nhà sáng tác khác, từ những năm trước đây, cũng như ông đã từng giảng bài cho các thế hệ sinh viên ở các khóa đại học…
Có lẽ với sáng tác thơ, cần phải “thoáng” hơn chăng? Ông là người của ngày hôm qua và đồng thời cũng là người của ngày hôm nay. Vì là người “phát ngôn” những quan điểm sáng tác của hai thời, nên ông có sự điều chỉnh nào đó thì lại là điều đáng biểu dương trên chặng đường văn chương “đi cùng thời đại” như người ta thường nói. Nếu trách cứ ông điều ấy, tôi e là không phải đâu.
Các nhà thơ Việt Nam hiện nay, đang vượt lên trong một tư duy nghệ thuật mới để từng bước hòa nhập với toàn cầu.
255. Nguyễn Đức Tùng:
Cảm ơn anh về ghi chú năm xuất bản của cuốn sách. Nếu cuốn sách ấy xuất bản lần đầu năm 1974 và tái bản năm 1998 để dùng cho các sinh viên tham khảo như anh nói, thì vấn đề càng quan trọng hơn đối với tôi, vì nó chứng tỏ một quan điểm được giữ vững rất lâu, bất chấp các thay đổi trong dòng chảy của văn học đương đại. Ngoài ra, nhận xét của anh về thơ Hà Minh Đức cũng rất thú vị, hóm hỉnh. Tôi không biết hiện nay có sinh viên nào còn nghĩ những người như tác giả là người chỉ đường hay không. Nhưng đối với các nhà thơ trẻ mà tôi quen biết bây giờ, chắc chắn là không. Tuy nhiên, nếu tạm dùng đoạn văn tiêu biểu vừa rồi để làm điểm chuẩn thì thơ của Trần Nhuận Minh đang ở phía nào, phía sau hay phía trước, ở xa hay ở gần tiêu chí nói trên?
Trần Nhuận Minh:
Tôi không băn khoăn như anh về vị thế của giáo sư Hà Minh Đức. Tuy thế, tôi cũng không nghĩ nhà nghiên cứu phê bình hàng đầu thì có chức năng chỉ đường cho văn học phát triển.
Không phải chỉ có trước đây, mà cả hiện nay, Hà Minh Đức vẫn là một trong số ít các nhà nghiên cứu phê bình thơ hàng đầu của Việt Nam. Về tư tưởng học thuật, ông rất nhất quán, về bút pháp, nói chung ông ít thay đổi. Vẫn là một cây bút nghiêm túc, cần mẫn, mực thước, điềm đạm, kỹ lưỡng, cả trong nghiên cứu, lý luận, phê bình và biên khảo.
Gần đây, ông vừa cho xuất bản ba tập liền về ba nhà thơ lớn hiện đại: Huy Cận – Ngọn lửa thiêng không tắt; Chế Lan Viên – Người trồng hoa trên đá; Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Tập nào của ông cũng có những đóng góp xuất sắc về mặt tư liệu và học thuật. Ông có tặng tôi hai tập sau và tôi thấy tập thứ ba: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi mà tôi có nói đến và trích khá nhiều trong các câu trả lời ở trên, là một tập hay, hay hơn hai tập trước.
Hà Minh Đức là người của hai thời, cũng như tôi, nếu lấy năm 1986 làm mốc. Thời sau kế tiếp và vượt qua thời trước. Tôi cũng thế. Thực khó mà lấy tiêu chí của một thời này để đánh giá bước đi của một thời kia.
Còn trong thơ tôi, tôi coi thời thứ nhất chỉ là “thời phụ lục”.
Lý tưởng mà thơ tôi luôn theo đuổi là: giải phóng dân tộc, đặc biệt là giải phóng con người. Anh cứ đọc tuyển tập Bốn mùa của tôi, sẽ thấy rất rõ điều này. Nó hiện lên với nhiều cung bậc và sắc thái khác nhau, nhưng bao giờ cũng nhất quán và không bao giờ nguôi ngoai… Có lúc nó rền rĩ âm thầm và cũng có lúc nó kêu thét lên thành tiếng, thành chữ viết hoa…
Tôi đã trút linh hồn mình vào chữ, và nếu có chết, tôi sẽ chết trong những dòng chữ ấy – những câu thơ của chính mình…
Những câu thơ – Ngọn Lửa tâm hồn tôi
Day dứt cháy suốt cuộc đời dông gió…
Những câu thơ như Muối
Chảy xót xa trong máu tôi
Những câu thơ như Trống
Đánh liên hồi trong tim tôi
Những câu thư như Lửa
Cháy không nguôi trong xương tôi…
Vân vân…
Và tôi coi đó mới là nguyên tắc của sáng tạo. Nó không chỉ là nguyên tắc của sáng tạo văn chương nghệ thuật mà còn là nguyên tắc sáng tạo của mọi cuộc cách mạng chân chính đã và đang diễn ra, làm thay đổi thế giới.
Tất nhiên, tôi cố gắng học tập và sáng tác theo “điểm chuẩn” đó, và cũng đã làm hết sức mình. Còn hiệu quả thế nào, tôi có làm được như tôi mong muốn hay không, và làm được đến đâu, lại là vấn đề khác.
Điểm chuẩn hay tiêu chí, như anh nói, của nhà lý luận Hà Minh Đức, là bước đi sáng láng của một thời.
Chính Hà Minh Đức hiện đã ở một thời khác, dù ông vẫn là ông.
Thơ tôi đã ở một thời khác, dù tôi cũng vẫn là tôi.
Các nhà thơ sau tôi, lại ở một thời khác nữa, ví như Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn và….
Đó là những bước đi về phía trước, rất hào hứng và dồi dào xung động, trong quá trình phát triển của thơ đương đại Việt Nam.
256. Nguyễn Đức Tùng:
Ai cũng hiểu rằng thời của Hà Minh Đức và những người tương tự như Phan Cự Đệ… là thời của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Vào lúc ấy, đúng là có một giấc mơ như thế. Tuy nhiên, như tôi đã nói ở trên, chủ nghĩa này không phải chỉ là một phương pháp sáng tác hay phê bình văn học. Nó là toàn bộ hệ thống thẩm mỹ, triết học, kéo theo nhau.
Khi nó không còn hiệu lực, thì các giá trị khác cùng đi với nó, cũng thay đổi, ngay cả khi chúng không nằm trong quan hệ nhân quả trực tiếp. Trong khoa học, gọi là tính liên kết (association). Nhìn lại những chặng đường đã qua, những lý thuyết không còn giữ được giá trị như cũ, người ta dễ dàng đồng ý với Hoàng Vũ Thuật, người cũng có mặt trong tập Thơ đến từ đâu, khi anh viết, với ý thức phê phán:
rao giảng điều vô bổ
huyên thuyên thuyết giáo cũ mèm
ba chân trời
ba gốc cây
ba chiếc bóng
Thơ Hoàng Vũ Thuật được nhiều người yêu thích. Theo tôi, đó là một cái nhìn trong sáng, khỏe khoắn, có ích cho sự vượt lên của văn học Việt Nam hiện nay.
Là một nhà thơ, trước năm 1975, anh có biết đến các nền văn học khác như: văn học tiền chiến, văn học thành thị thời kháng chiến chống Pháp, văn học phi chính thống ở miền Bắc (1954 - 1975) (Nhân văn giai phẩm…) và văn học miền Nam (1954 - 1975) không?
Trần Nhuận Minh:
Tôi biết đến thơ Nguyễn Bính năm 1967, khi tôi yêu một cô bạn gái, cô này rất thích thơ Nguyễn Bính nên đọc cho tôi nghe vài bài. Thơ Hàn Mặc Tử thì tôi biết vào khoảng năm 1969, do một ông giáo thời Tây chép cho tôi, hai bài, thuộc dạng “thơ điên”, đọc thấy rất lạ, tôi có phần hơi bàng hoàng, nên đọc cho mấy bạn thơ nghe mà tí nữa thì thành tai họa như tôi đã nói ở trên. Nhưng ông giáo quá cẩn thận, không ghi tên tác giả, nên tôi không biết của ai. Còn thơ Xuân Diệu – Huy Cận, tôi biết năm 1973, khi tôi về học trường Viết văn trẻ Quảng Bá, Hà Nội của Hội Nhà văn Việt Nam. Ngày chủ nhật, tôi thường đến nhà Xuân Diệu và ông cho tôi đọc thơ Xuân - Huy tại đó. (Tôi nói thế, vì thơ Xuân Diệu – Huy Cận in trước năm 1945 trong “Tủ sách Xuân – Huy”). Đến lúc ấy, tôi mới biết Thơ thơ, Gửi hương cho gióLửa thiêng. Tôi có chép tay mỗi tập vài bài. Xuân Diệu dặn tôi, tôi nhớ đến tận bây giờ: Em đừng khoe thơ anh (thơ tiền chiến) với người khác. Em sẽ bị bắt đấy. Người khác thì thường thôi, còn em lại thêm cái phong kiến nữa, tức là có vấn đề giai cấp (!). Tôi không hiểu tại sao Xuân Diệu lại nhận xét về tôi như thế và dặn tôi như thế.
Còn thơ kháng chiến chống Pháp thì tôi đọc qua các tập tuyển, chủ yếu do Xuân Diệu chọn, Nhà xuất bản Văn học in.
Thơ Nhân văn giai phẩm, tôi đọc một tập Giai phẩm mùa xuân 1956, hiện tôi vẫn lưu giữ được bản gốc, in lần thứ hai, Minh Đức xuất bản. Còn lại là từng đoạn, qua các bài phê phán, chủ yếu qua tập sách khá dày: Bọn Nhân văn giai phẩm trước tòa án dư luận, trong đó có bài tổng kết của Tố Hữu Qua cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại Nhân văn giai phẩm,Từ điển văn học, tập II, mục Tố Hữu, đánh giá là “quan trọng,” “toàn diện” và “sâu sắc”, Nhà xuất bản Sự thật in (hình như) năm 1959. Tôi nằn nì mãi mới xin được tập này, từ tủ sách của ông giáo thời Tây mà tôi đã nói ở trên, sau cho ông Như Mai, tác giả Thi sĩ máy mượn, không đòi lại được.
Đọc Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi (sách đã dẫn), thì ở trường đại học, Hoàng Ngọc Hiến cũng hăng hái “đấu” Trần Đức Thảo. “Trần Đức Thảo đi chăn bò ở Tam Đảo. Ông Đồng (Phạm Văn Đồng – TNM ghi thêm) gặp vợ Thảo và cho Trần Đức Thảo về”.
Có điều đáng lưu ý là vụ Nhân văn, chủ chốt chỉ có mấy người, viết chỉ có mấy tháng và báo in cũng chỉ có mấy số, mà đến nay, sau hơn 50 năm, vẫn còn là một vấn đề thời sự, thì trong tương lai, chắc chắn nó sẽ còn phải đối mặt với nhiều vấn đề cần phải làm sáng tỏ của các thế hệ sau.
Vừa mới đây, trong một tiểu luận dài 40 trang, đăng trên Journal of cold war studies, số mùa đông 2011, tiến sĩ Peter Zinoman, phó giáo sư khoa học lịch sử, trường đại học Berkeley, Hoa Kỳ, cho rằng: “Nhân văn giai phẩm có sự trung thành chính trị với Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định đi theo chủ nghĩa Marx, ngưỡng mộ Khrushchev, Lenin và tôn sùng nhà thơ Mayakovski…” và việc cho nhóm này là “một hệ đối kháng”, là cố ý “thổi phồng”, do có “các động cơ khác…”
Báo vừa mới “ra lò” và tôi không biết ông Peter Zinoman viết thế có đúng với thực tế hay không? Nhưng tôi biết, khi Stalin mất, không chỉ có Tố Hữu mà cả Hoàng Cầm và Lê Đạt, cũng đều có thơ ngợi ca rất nồng hậu và thương tiếc rất sâu sắc. Tôi nói điều ấy là nói về thái độ chính trị, chứ không nói về cái hay, hay cái dở của văn chương. Tôi cũng đã đọc Người người lớp lớp của Trần Dần (tôi hiện còn giữ được bản in đầu tiên, 3 tập, trên giấy rất mỏng), đúng như Nguyễn Đình Thi nói, Trần Dần viết về bộ đội Việt Nam đánh Điện Biên phủ mà như viết về quân giải phóng Trung Quốc. Đọc thơ Phùng Quán, cũng có những bài vô cùng hăng hái theo kiểu hồng vệ binh, sẵn sàng xả thân vì cách mạng vô sản. Vậy mà cái đòn chính trị của “chuyên chính vô sản” lại giáng xuống đời ông thì kể cũng trớ trêu và oan nghiệt thật.
Phùng Quán có về chỗ tôi một lần và ông rất thân mật lưu lại với chúng tôi đến 5 ngày. Trước nữa, Hà Minh Tuân, tác giả Vào đời, đã ở hẳn nhà tôi tại dốc Bồ Hòn, Hồng Gai chơi hai ba ngày và chiều nào tôi cũng đưa ông đi tắm biển…
Thơ miền Nam, tôi chỉ đọc thơ của các nhà thơ quân giải phóng, do miền Bắc in. Các nhà thơ Sài Gòn trước 1975, tôi đọc tương đối đầy đủ Bùi Giáng, Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Tôi cảm tình với thơ Bùi Giáng và Đinh Hùng hơn. Theo tôi, đây là hai nhà thơ rất tiêu biểu có phong cách rất xa nhau. Tôi cũng đọc rải rác một số bài của Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê, Tô Thùy Yên..., tất cả đều sau 1986, gần đây là Phạm Công Thiện. Như thế, có thể nói là còn hạn chế.
257. Nguyễn Đức Tùng:
Trong hơn nửa thế kỷ qua, do những thăng trầm lịch sử mà ai cũng biết, các nhà thơ ở những giai đoạn và hoàn cảnh khác nhau không nghe về nhau, không đọc nhau, “mù lẫn nhau”. Theo tôi, đang có những cố gắng bước đầu từ nhiều phía. Ví dụ, những bài viết rất có hệ thống hay những nhận định rải rác gần đây của Phạm Xuân Nguyên, Huỳnh Như Phương, Đặng Tiến, Bửu Nam, Khánh Phương, Nguyễn Trọng Tạo, Đặng Thân, Đỗ Lai Thúy, Nhã Thuyên… đều có nhắc đến văn học miền Nam trước đây. Về một phía khác là các cố gắng của các nhà thơ hiện ở trong nước đăng bài của mình ở các tạp chí hay trang mạng hải ngoại như Đặng Thân, Khánh Phương, Lê Anh Hoài, Nhã Thuyên, Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Trần Tiến Dũng, Inrasara, Nguyễn Viện, Trần Hữu Dũng, Phan Trung Thành, Nguyễn Lãm Thắng, Lê Minh Phong, Phạm Phương, Liêu Thái… Tôi nghe nói Hội Nhà văn Việt Nam cũng có những hội nghị giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài và ngược lại. Đó là những cố gắng bước đầu.
Thời kỳ 1954-1975, trong khi ở miền Bắc các nhà văn xem việc sáng tạo văn chương là một bộ phận cấu thành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì ở miền Nam một nền văn nghệ tự do và nhân bản cũng phát triển theo chiều hướng hoàn toàn khác. Trong sự phát triển ấy, có một yếu tố quan trọng là tiếp tục nghiên cứu và lưu giữ các giá trị văn học trước cách mạng tháng Tám, như Thơ Mới và tác phẩm của Tự lực văn đoàn. Rất nhiều tác phẩm của những người đi theo cách mạng cũng được trân trọng phổ biến và gìn giữ, vì thế đã không bị mai một: rất nhiều tác phẩm của Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, vân vân… được đọc đi đọc lại. Nếu không có việc ấy, sau ba mươi năm chiến tranh và chia cắt sẽ không mấy ai còn nhớ Ông đồ của Vũ Đình Liên, Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Tương biệt dạ của Huyền Kiêu, Dặm về của Nguyễn Đình Tiên cũng như Sơn nữ ca của Trần Hoàn trong âm nhạc, vân vân. Trong trường trung học, bắt đầu từ lớp sáu, giờ kim văn, để phân biệt với giờ cổ văn, tôi đã được học truyện của Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo, Trần Tiêu, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Thâm Tâm… và Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh. Như vậy là sự tiếp nối, sự công nhận và giảng dạy văn học tiền chiến đã góp phần làm nên văn chương và thơ miền Nam, phát triển sôi động như một động lực văn hóa.
Đối với tôi, đó là buổi bình minh của văn học, sẽ còn sáng chói lâu dài trong ký ức tập thể, vô thức cộng đồng và trên đường đi của dân tộc.
Mặt khác, dư âm của nó còn để lại trong hoạt động văn học ở hải ngoại ngày nay. Trong bài viết Những kỷ niệm của tôi về văn học miền Nam, xuất hiện trên tạp chí Sông Hương, và trang mạng Tiền vệ, Văn chương Việt, Phong Điệp, năm 2010, tôi cũng có nhắc đến vấn đề này.
Khi tôi sinh ra, đất nước đã chia đôi. Lớn lên, tôi yêu mến miền Nam nhưng cũng nhớ thương miền Bắc. Lạ. Người ta có thể nào nhớ một điều mà mình không biết?
Có thể lắm. Năm chín tuổi, trưa hè, đuổi theo một con chim chào mào mũ đỏ, tôi lạc vào kho lúa nhà bà ngoại tôi. Đó là kho lúa lớn, cao như cái tháp, làm để tránh mưa lụt hay xảy ra ở miền Trung, có lẽ chứa lúa giống vì gia đình bên ngoại tôi có vài mẫu ruộng. Ngồi im nín thở, chân tôi chạm vào một cuốn sách giữa những hạt lúa hăng hắc nồng nồng. Cuốn sách có tựa Anh phải sống, bìa trắng, đề tên tác giả: Khái Hưng và Nhất Linh, trong Tự lực văn đoàn, nhà xuất bản Phượng Giang. Sách cũ, giấy vàng, đầy kín chữ, nhiều truyện ngắn. Tò mò, tôi lật qua vài trang đọc thử. Thời đó, tôi còn mê truyện tranh và các thú vui trẻ con như bắt chim, đá banh, cởi truồng tắm sông, bắn ná cao su, kéo bím tóc con gái. Cuốn sách tôi cầm trên tay chẳng có hình ảnh nào cả, hiền từ, nghiêm nghị. Tôi đọc thử vài trang. Đọc thêm. Rồi không buông ra được nữa, quên cả con chim chào mào đã bay mất…
Tôi rất tiếc không thể trích lại toàn bài ở đây vì bài khá dài. Bản gốc có thể tìm trên các trang mạng nói trên.
Trần Nhuận Minh:
Khái niệm văn học miền Nam trước năm 1975, chủ yếu vẫn là ở vùng đô thị. Ta chưa có dịp nói đến một vùng văn học nông thôn và bưng biền kháng chiến với nhiều tên tuổi sáng ngời…
258. Nguyễn Đức Tùng:
Tôi hy vọng sẽ có dịp trình bày rõ hơn, kỹ hơn, quan niệm của mình về các khái niệm, theo tôi là đang bị hiểu rất lẫn lộn, như văn học miền Nam, văn học miền Bắc, văn học trong nước, văn học hải ngoại, văn học đô thị, văn học nông thôn miền Nam, văn học chính thống và văn học phản kháng.
Trần Nhuận Minh:
Đó là những vấn đề lớn, có ý nghĩa thời sự, cần được giải quyết thấu đáo ở một dịp khác. Cảm ơn anh.
259. Nguyễn Đức Tùng:
Một nhà thơ phương Tây có nói: “tôi không tin các nhà thơ có thể sáng tạo mỗi ngày, thế nhưng tôi vẫn ngồi vào bàn viết mỗi ngày”.
Tôi cũng nghĩ, đọc bài thơ mới nhất, có thể biết được sức khỏe tinh thần của tác giả. Xin cho nghe bài thơ mới nhất của anh?
Trần Nhuận Minh:
Đây là bài tôi mới viết tháng 3 năm 2011 vừa rồi. Bài thơ rất vui là lại nói về sức khỏe, như anh nói, không chỉ sức khỏe tinh thần của tác giả mà còn là sức khỏe của chính bản thân tác giả, nói theo nghĩa đen. Có thể xếp vào loại “mới nhất” vì tôi mới đăng báo.
THỨC NGỦ
Ngã xe 3 giây
Mà 30 ngày đêm phải nằm bất động
Đầu óc tuềnh toàng như ngôi nhà trống
Lơ mơ thức ngủ…
Chợt thấy bạn bè đi trong mưa
Không biết đi đâu
Tay không xách túi gió trăng
Nách không cắp chai rượu
Gặp nhau cười nói thênh thang
Nhớ mặt, quên tên, chẳng biết viết gì…
Cả đời chắt chiu từng giọt chữ
Cuối cùng thành áng mây bay…
Sông núi tan hoang những thung lũng khoét đào
Những máy xúc khổng lổ, vết răng gầu dữ dội
Đánh bật gốc những cây rừng nghìn tuổi
Đại ngàn vỡ, nước đổ ào như thác…
Vầng trăng cháy đỏ bay qua mặt
Bỏng rát suốt sống lưng…
Tiếng đồng hồ trong đêm, đếm bước chân Thần Chết
Lang thang tìm ai đi khắp thế gian
Ta chẳng đón ngươi đâu…
Câu thơ hay ta còn đang viết dở…
Lặng lẽ
Một mình
Leo ngược dốc…
Tỉnh dậy không biết mình ở đâu
Chợt nhận ra
Tiếng mưa trên mái tôn
Tiếng chuột trong giá sách…
À, mình đang nằm phòng viết
Phòng lạnh khép cửa…
Lũ chuột ăn gì để sống
Suốt đêm, gặm sách của ta chăng?...
3 h 45 ngày 18/3/2011
260. Nguyễn Đức Tùng:
Như thế, tôi có thể nói rằng Trần Nhuận Minh là một trong những người làm thơ “mỗi ngày”, sáng tác từ chính cuộc đời mình.
Guillevic, một nhà thơ Pháp, và Hoàng Cầm của Việt Nam, đều đã nói về khái niệm sống trong thơ.
Đây là một cách sống như thế:
Je ne parle pas pour moi,
Je ne parle pas en mon nom
(Tôi không nói cho tôi
Tôi không nói bằng tên của mình)
(Engène Guillevic)
Trần Nhuận Minh:
Vâng, đúng thế, tôi làm thơ “mỗi ngày”.
Để tránh cho một cháu bé khỏi vướng cái xe của tôi mà lao vào một cái xe khác, tôi bất ngờ đánh tay lái sang bên và tự ngã. Rất nhanh, khoảng ba giây, vậy mà tôi phải nằm cứng đơ bên vệ đường, đến 30 phút không sao dậy được. Vào bệnh viện chụp cắt lớp, rồi chụp cộng hưởng từ, các bác sĩ xác nhận là tôi đã bị chấn thương, bẹp một đốt sống lưng, đốt L1. Bác sĩ Sơn, phó giáo sư tiến sĩ, phó trưởng khoa Cột sống bệnh viện Việt Đức, Hà Nội, trực tiếp về Hạ Long khám cho tôi và khuyên tôi nên mổ. Tôi đã đồng ý, nhưng lại từ chối, vì sợ rủi ro. Tôi ra viện, về nằm tại nhà, đắp thuốc Nam theo thang của đại danh y Tuệ Tĩnh, đúng 30 ngày đêm bất động. Nhưng tôi vẫn đọc được sách và viết trên sổ tay.
Đêm. Tôi nằm mơ thấy mình lạc vào trong một cánh rừng già bị tàn phá, nước chảy như thác, sông núi tan hoang, nham nhở những vết đào khoét của những cái máy xúc to kềnh càng mà tôi chưa thấy bao giờ. Tôi nhận ra một đoàn người đang đi đến, sau một nhà văn hơn tuổi tôi mà tôi quen biết và trân trọng (ông không bằng lòng cho tôi nói đúng tên ông), đầu để trần, đi trong mưa, tay vắt một cái áo vét. Tôi hỏi: Bác đi đâu thế này, mưa gió sao không có mũ áo? Ông bảo: Đằng nào cũng ướt rồi, mũ áo mà làm gì. Tôi hỏi: Những ai đi cùng bác thế? À, các nhà thơ đấy? Tôi nói: Các nhà thơ sao em không nhận ra ai. Ông bảo: Chính mình cũng không nhớ hết tên của họ và cũng chẳng biết họ đang viết cái gì…
Rồi bỗng nhiên ông bảo tôi: Mình vừa đọc báo, thấy Minh có bài thơ hay quá, mình rất thích. Và ông đọc luôn.
Nguyên văn ông đọc như sau:
Chợt thấy bạn bè văn chương đi trong mưa
Không biết đi đâu
Tay không xách túi gió trăng
Nách không cắp chai rượu
Gặp nhau cười nói thênh thang
Nhớ mặt, quên tên, chẳng biết viết gì…
Cả đời chắt chiu từng giọt chữ
Mình tầm phù ư? Ta cũng tầm phào
Cuối cùng thành lũ vô tích sự…
Tôi định nói đấy là thơ của bác, chứ không phải thơ của em, vì em đã viết đâu. Nhưng đã tỉnh ngủ mất rồi… Lại phải mất một lúc mới nhận ra mình đang nằm bất động, với cái nẹp bó chặt ở xương sống: Bỏng rát suốt sống lưng… Thấy là lạ, hay hay, tôi bật đèn pin, rồi lấy quyển sổ tay vẫn để ở bên cạnh, co hai chân lên theo hình góc vuông làm điểm tựa và chép luôn nguyên văn đoạn thơ đó vào sổ (vì trở dậy rất khó khăn và cũng không cần thiết). Đoạn sau, tôi chỉ mô tả lại quang cảnh cánh rừng tan hoang đúng như trong giấc mơ mà tôi gặp đoàn nhà văn không biết vì sao đi qua đấy… Sau, tôi chỉ viết thêm bốn câu về tai nạn giao thông ở đoạn đầu và bảy câu lúc tỉnh ngủ ở đoạn kết… Tất cả, chỉ trong vòng mười lăm hay hai mươi phút đồng hồ. Khi bài thơ xong, tôi ghi đúng thời gian 3 giờ 45 phút sáng ngày 18 / 3 / 2011.
Hôm sau đọc lại, tôi xóa hai chữ “văn chương” và chữa “ lũ vô tích sự” thành “đám mây bay…”. Và hôm sau nữa, cắt hẳn câu: Mình tầm phù ư? Ta cũng tầm phào… vì đặt câu đó trong khung cảnh của bài thơ là không phù hợp...
261. Nguyễn Đức Tùng:
Trần Nhuận Minh có những bài thơ tứ tuyệt hay. Ngày nay hình như người ta ít viết loại thơ này. Anh học ai khi viết tứ tuyệt?
Trần Nhuận Minh:
Học các nhà thơ Trung Hoa đời Đường (618 – 907). Theo tôi, thơ tứ tuyệt trong di sản thơ Đường của Trung Hoa là phần tuyệt diệu nhất của thơ phương Đông và cũng là phần kỳ diệu nhất của thơ nhân loại. Chỉ có bốn câu mà phản ánh cả vũ trụ của hồn người, vang động và huyền ảo khôn cùng, đi mãi vẫn không hết, nghĩ mãi cũng không tới, vĩnh viễn huyền bí, xa xăm…
Thơ tứ tuyệt đời Đường vào Việt Nam từ thời Lý (1010 – 1225) và phát triển đến tận ngày hôm nay, nhưng hay nhất vẫn là thơ thời Lý Trần (1010 – 1400). Vì ở các thời sau, độ hàm súc và dư ba, cái sang trọng và huyền ảo của thơ tứ tuyệt đều không bằng thời Lý Trần.
Từ lâu thơ Đường đã được dịch rất hay ra tiếng Việt. Tôi rất kinh ngạc về chất thế sự của nó trong một bài thơ của Trương Vị, mà tôi ngờ rằng: các cụ túc nho nhà ta, trong nhóm tuyển dịch Thơ Đường 2 tập, rất nổi tiếng, đã e ngại trước sự thật được bộc lộ một cách thẳng thắn, nghiệt ngã, hiếm có, nên đã loại bỏ nó, không dịch. Tôi ghi lại được từ bản dịch của Trần Trọng Kim:
ĐỀ TRƯỜNG AN CHỦ NHÂN BÍCH
Thế nhân kết giao tu hoàng câm
Hoàng câm bất đa, giao bất thâm
Túng linh nhiên nặc tam tương hứa
Chung thị do du hành lộ tâm
(Người đời giao kết vì tiền
Ít tiền, tình nghĩa có bền được đâu
Dù khi hứa hẹn cùng nhau
Chung quy cũng chỉ mấy câu dọc đường)
Ở Việt Nam bây giờ, các cây bút chủ lực đã thuộc về thế hệ sau 1975. Thế hệ này ít viết tứ tuyệt. Đến thế hệ cầm bút sau 1986, thì không thấy ai làm thơ tứ tuyệt nữa.
Mời anh và các bạn đọc ba bài của tôi, mỗi bài một phong vị.
NHÀ THƠ VÀ KẺ TRỘM
Nhà thơ ngủ thường mở toang các cửa
Buộc lỏng bốn dải màn vào bốn chùm sao
Ông không biết đêm đêm những tên đầu trộm
Qua cửa nhà ông đều lặng đứng cúi chào.
Bồ Hòn 6 – 1989
11
Lội qua những kiếp nào
Thân Ta mới sinh ra?
Hồn Ta bay về đâu
Sau khi Ta đã chết?
Thiện và ác
Cái nào là bất diệt?
Một đời Sông
Chỉ có chảy thôi ư?...
TRĂM NĂM TRONG CÕI... NGƯỜI TA
Sống úp mặt xuống đất
Chết ngửa mặt lên trời
Giàu nghèo hay vinh nhục
Cũng trong vòng ấy thôi...
Cam Ranh 4 -1979
Tôi chỉ nói đôi điều xung quanh bài thơ thứ ba, viết theo bút pháp cổ điển. Có một soạn giả đã đưa bài tứ tuyệt này của tôi vào tập Danh ngôn, có lẽ là do tính đúc kết của nó chăng? Và sách đã được tái bản.
Bài thơ có hai văn bản. Ai sống thì cũng phải đi lại và làm việc, nên phải úp mặt xuống đất. Ca dao có câu: Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Và khi chết, trong bất cứ trường hợp nào, cũng phải ngửa mặt lên để làm các thủ tục khâm liệm… Kỵ nhất là liệm sấp chôn nghiêng. Cụ Nguyễn Du có đoạn thơ sâu sắc và tài tình vô cùng, nhưng cũng thật kinh sợ, khi cụ mô tả cái đám nhà thơ chúng ta. Tôi thuộc lòng đã lâu, nay chép theo trí nhớ:
Kìa những kẻ rắp cầu chữ quý
Dẫn thân vào thành thị lân la
Mấy thu lìa cửa lìa nhà
Văn chương đã chắc đâu mà độ thân…
Dọc hàng quán gặp tuần mưa nắng
Vợ con nào nuôi nấng kem khiêng
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng
Anh em thiên hạ, láng giềng người dưng…
Và văn bản thứ hai, về cái muôn thuở của lẽ đời. Muốn yên hàn thì hãy cúi mặt xuống đất mà sống, con ạ. Con sẽ được hưởng trọn tuổi trời. Ngửa mặt lên thì con chẳng bao giờ yên thân đâu. Thời nào cũng thế cả… Một ông bố nào đó đã dạy con, không biết từ cái thuở thẳm xa nào của đất trời… Nhà văn Võ Huy Tâm có một câu thơ: Ngẩng đầu chỉ sợ cái gì rơi…
Tôi nhớ có đọc một cái ký của nhà văn Đỗ Chu viết rất hay về cụ Phán Men (chắc cụ từng làm thông phán) hình như trên báo Văn Nghệ. Khi viết những dòng này, tôi tìm lại trong Thăm thẳm bóng người, thì không thấy. Có thể bài ký viết sau khi sách đã in rồi. Ông Phán Men được Cụ Hồ rất trân trọng. Có việc gì cần, Cụ lại cho người tin cậy đến gặp ông và sau khi hỏi xong, người giúp việc Cụ Hồ đưa biếu ông một chai rượu quý. Đến lần thứ ba, sau khi cảm ơn Cụ Hồ, ông Phán Men nói rằng: Có lẽ Cụ Hồ đã hiểu lầm tôi. Tôi đâu có biết uống rượu. Đi đâu, tôi thường xòe ô rồi men theo tường nhà mà đi, lâu rồi thành quen và người ta gọi tôi thành tên là vì thế….
Thì ra cái phép xử thế của người quân tử là vậy, men theo tường nhà mà đi… Lại nhớ một ý thơ thiền vô cùng sâu sắc của Tuệ Trung Thượng sĩ, Hưng Ninh vương Trần Tung, anh ruột Hưng Đạo đại vương, Quốc công Tiết chế thời Trần là Trần Quốc Tuấn:
Phượng hoàng muốn bay cao
thì đừng để mất lòng lũ chim sẻ…
262. Nguyễn Đức Tùng:
Trong vòng mười mấy năm trở lại đây, khuynh hướng sử dụng máy điện toán ngày càng lan rộng, kèm theo nó là các hình thức văn học trên mạng, văn học điện tử, sách điện tử - ebook. Anh đọc thơ và đọc sách trên giấy hay trên mạng? Anh phân biệt chúng khác nhau như thế nào trong thưởng thức và sáng tạo?
Trần Nhuận Minh:
Hơn 10 năm trước đây, tôi cứ nghĩ là sáng tác văn chương, đặc biệt là làm thơ mà gõ chữ trên máy vi tính là mất hết cảm xúc. Cảm xúc chỉ chảy từ ngọn bút của anh như máu chảy từ tim mà thôi. Sau đó thì tôi biết là mình đã nhầm. Trong vòng 10 năm trở lại đây, tôi hoàn toàn sáng tác và làm việc trên máy vi tính, mỗi ngày có thể liên tục từ 10 đến 12 giờ trong ba buổi sáng, chiều và tối. Nguồn cảm xúc sáng tạo hoàn toàn được khơi thông, tuyệt không thấy vướng mắc gì, đến mức như bây giờ, không thể viết bằng bút được nữa. Máy trục trặc là tôi mất thăng bằng, ăn ngủ đều không yên, đi chơi đâu cũng bị giảm sút hứng thú. Vừa qua, trong hơn một tháng nằm liệt giường vì chấn thương cột sống, đắp thuốc Nam, tôi buộc phải viết vào sổ tay, nằm ngửa, co hai chân lên để tựa quyển sổ vào đó mà viết. Vẫn viết tốt. Không viết được thì thật đáng sợ.
Tôi cũng đọc nhiều sách, nhất là các trang thơ và văn trên mạng, nhưng hứng thú của sự thưởng thức cái hay cái đẹp của tác phẩm thì đọc mạng không dồi dào và phù hợp với tâm lý của mình như đọc sách cầm tay. Vì đọc sách cầm tay, thấy nó như có nhiều tầng sâu hơn, chưa kể mùi mực in hay màu giấy in, rồi khuôn khổ, kích cỡ của sách, cũng tạo cho mình một cảm giác gần gũi, thân thiện. Đến những đoạn hay, mình thường bỏ sách xuống, lặng lẽ trầm ngâm nghĩ ngợi đồng cảm với tác giả. Đôi khi lặng lẽ xoa hai bàn tay vào nhau, hoặc vỗ nhẹ vào đầu gối mình, miệng xuýt xoa như phải bỏng. Đó là sự cảm phục cái tài của tác giả.
Tôi rất trọng chi tiết và luôn nghĩ rằng, nhiều nhà văn lớn đã được tạo thành từ những chi tiết rất nhỏ trong tác phẩm của mình.
Ví như bộ tiểu thuyết ba tập Con đường đau khổ rất dày của Aleksei Tolstoi, tôi quên cả bộ sách và các nhân vật, nhưng nhớ mãi một chi tiết: khi cô em (trong hai chị em) vô tình giơ cánh tay lên, tay áo xô xuống, để lộ ra một nốt ruồi ở cánh tay trần, làm ta nhận ra cô gái rất đẹp này là một người có thật; hay chi tiết ánh trăng vắt ngang dẫy núi Côn Đảo như một câu thơ Đường, trong mắt người tử tù mà tôi đã nói ở trên, khi tôi đã quên cả quyển hồi ký Bất khuất dày đến 5 - 600 trang ký tên Nguyễn Đức Thuận.
Lại nữa, trong Truyện Kiều, sắc và tài của cô Kiều ai cũng nức nở khen, và tuỳ từng người, lại tuỳ từng điều kiện cụ thể mà khen tài trước hay sắc trước, nhưng bao giờ cũng khen cùng một lúc cả sắc lẫn tài. Chỉ riêng mụ buôn người họ Bạc: Thấy nàng mặn phấn tươi son / Mừng thầm được món bán buôn có lời. Mụ không hề biết Kiều có tài gì. Và Hoạn Thư, khen đủ mọi thứ tài của cô: Rằng Hoa nô đủ mọi tài / Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe…, nhưng Hoạn Thư hoàn toàn không hề thấy cô Kiều đẹp ở chỗ nào. Cái ghen của Hoạn Thư phải đến đó mới hết cái lẽ “người ta thường tình” của “chút phận đàn bà”…
Những cảm nhận trong việc học nghề như vậy, ảnh hưởng rất sâu sắc đến sáng tác của tôi, trong thơ cũng như trong văn xuôi. Vì thế, tôi rất dụng công trong các chi tiết. Tôi rất ghét những câu văn gầy. Đọc tác phẩm của ai, viết rằng trời mưa, mà không tả những giọt mưa hay tiếng mưa như thế nào: trong đêm khác với trong ngày, mùa hè khác với mùa thu, lúc vui khác với lúc buồn, qua mắt hay qua tai ông già khác với một đứa trẻ… vân vân và vân vân, gặp một câu văn lười biếng chung chung như thế, là tôi mất hết hứng thú, nếu tác giả không là bạn quen thì tôi không đọc tiếp, và cuốn sách ấy, nếu của bạn tặng thì tôi cất đi làm kỷ niệm, còn tôi tự mua, thì xếp riêng ra, để đem bán cân.
Ngày 18 tháng 2 năm 2010, tại văn bản số 14 về hợp đồng bản quyền, lập tại quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã ký, theo đó, tôi ủy quyền cho công ti cổ phần tin học Lạc Việt, thành phố Hồ Chí Minh, được toàn quyền khai thác và kinh doanh thương mại hợp pháp các tác phẩm của tôi, dưới dạng sách điện tử, bán qua internet và tôi được nhận 40% tiền thu được sau mỗi quý. Như vậy là tác phẩm của tôi cũng hòa vào hình thức truyền bá tiên tiến nhất và toàn cầu hiện nay.
263. Nguyễn Đức Tùng:
Khi đăng thơ của mình trên các trang mạng ở trong nước và hải ngoại, nhất là ở những mục cho phép phản hồi (comment), tôi nhận được nhiều ý kiến của độc giả. Bình luận, khen chê là chuyện thường, hầu hết là hiện tượng lành mạnh có ích, tác giả nào cũng muốn lắng nghe độc giả, nhưng tôi chú ý nhiều đến những ý kiến liên quan đến chuyện một bài thơ dễ hiểu hay khó hiểu. Một số người cho rằng thơ của tôi khó hiểu. Nói cho thật chính xác, đó là tính tiếp cận được hay không tiếp cận được của một bài thơ, accessibility trong tiếng Anh.
Ngay trong các nhà thơ Việt Nam hiện nay cũng có thể nhận ra các khuynh hướng khác nhau này. Tôi xin nhắc đến một cách ngẫu nhiên, theo trí nhớ, không theo một thứ tự nào khác cả.
Khuynh hướng thơ nhiều người thích hơn: Phạm Thiên Thư, Du Tử Lê, Nguyên Sa, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Nhuận Minh, Trần Đăng Khoa, Vân Long, Trần Mạnh Hảo, Y Phương, Bùi Chí Vinh, Nguyễn Đăng Thường, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Vũ Quần Phương, Thi Hoàng, Vi Thùy Linh, Inrasara, Đồng Đức Bốn, Trần Trung Đạo, Bắc Phong, Luân Hoán, Phan Xuân Sinh, Hoàng Trần Cương, Hoàng Nhuận Cầm, Đỗ Trung Quân, Vương Ngọc Minh, Trần Ninh Hồ, Lý Phương Liên, Nguyễn Việt Chiến, Lê Thị Kim, Trương Nam Hương, vân vân.
Khuynh hướng thơ ít người thích hơn: Hoàng Cầm, Trần Dạ Từ, Dương Tường, Đỗ Quyên, Lê An Thế, Nguyễn Thụy Kha, Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Thái Sơn, Nguyễn Quang Thiều, Viên Linh, Hoàng Hưng, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Thường Quán, Hoàng Vũ Thuật, Mai Văn Phấn, Trần Nghi Hoàng, Nguyễn Quốc Chánh, Đỗ Lê Anh Đào, Lê An Thế, Nguyễn Lương Vỵ, Phan Huyền Thư, Lê Vĩnh Tài, Trần Quang Quý, Hoàng Xuân Sơn, Lê Đình Nhất Lang, Đỗ Kh., Khánh Phương, Đinh Thị Như Thúy, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Lưu Diệu Vân, Nguyễn Lãm Thắng, Phan Trung Thành, Trần Tuấn, vân vân.
Nhà thơ lừng lẫy Hoa Kỳ Geoffrey Hill đã từng nói đại ý: “Hoàn toàn đúng khi cho rằng công chúng cần dễ dàng tìm ra đường đi vào một công trình công cộng, nhưng khái niệm đúng như thế trong kiến trúc và công chánh không nhất thiết phải đúng trong văn học, hội họa hay âm nhạc”.
Không có một nội dung nào đi trước hình thức bài thơ. Các nhà thơ có thể nhớ lại điều này khi đọc lại các bài thơ của mình. Khi bài thơ là một thế giới thì nó sẽ còn sống lâu.
Có một sự khác biệt rất lớn về quan điểm đối với việc thơ khó hiểu và thơ dễ hiểu. Cũng Geoffrey Hill, người ủng hộ loại thơ khó hiểu, nói một cách hài hước: Thơ khó hiểu là loại thơ dân chủ nhất vì bạn mang lại vinh dự cho người đọc khi giả định rằng họ là những người thông minh nhất.
Nhà thơ Billy Collins, có thể gọi là nhà thơ ủng hộ sự dễ hiểu, đáp lại G. Hill như sau: Cái gọi là thơ khó hiểu thật là một thứ thơ rất dã man. Nó chẳng chú ý gì đến sự tồn tại của người đọc. Nó muốn là một hành động viết xảy ra trước mắt bạn nhưng nó chả thèm đả động chút chi tới bạn.
Anh cho rằng thơ mình dễ hiểu hay khó hiểu? Anh có ý thức viết cho thơ mình trở nên dễ hiểu đối với độc giả không?
Trần Nhuận Minh:
Đặt ra vấn đề này là rất cần thiết, nó vừa là nội dung, vừa là hình thức của thơ, qua sự tiếp nhận của bạn đọc, khâu cuối cùng của quá trình sáng tạo.
Gần đây, đọc lại Xuân thu nhã tập, tôi thấy không có gì khó hiểu. Từ lúc nó ra đời, bị chê là hũ nút, tắc tị, giờ thấy thanh thoát, phải mất 60 năm.
Lại nhớ khi xuất hiện phong trào Thơ Mới, nhiều người đương thời chê (dẫn theo Hoài Thanh):
Nghĩa lý vơ vơ rồi vẩn vẩn
Thanh âm ngẩn ngẩn lại ngơ ngơ
So với Á học như dưa đắng
Sánh với Âu văn tựa mít xơ…
Bây giờ thì, thứ thơ bị coi là dưa đắng, mít xơ, là lai Tây khó hiểu, khó cảm thông ấy, đã có nhiều người thuộc lòng, được xếp vào loại tinh hoa bậc nhất của văn chương dân tộc rồi. Rõ ràng khái niệm dễ hiểu hay khó hiểu chỉ có tính tương đối, nếu ta nhìn xa rộng hơn một chút trong sự phát triển của các dòng chảy văn học.
Tôi chủ trương làm thơ dễ hiểu, nhưng người đọc không hiểu một lúc hết được điều mình muốn nói. Họ tưởng là đã hiểu, nhưng vẫn hình như còn có một cái gì đấy, khiến họ phải tìm đọc lần sau, và cứ thế, mỗi lần họ lại thấy vỡ ra một cái gì đấy, ngộ thêm một điều gì đấy mà tôi có nghĩ đến khi tạo dựng tác phẩm, nhưng tôi không viết ra. Rồi đọc thêm, họ thấy cái mà tôi chỉ gợi ý ra cho họ và cuối cùng, họ nghĩ tới cái mà tôi chưa từng nghĩ tới…
Nếu là ý thức, thì đấy là sự theo đuổi của tôi về nghề, không bao giờ mệt mỏi và đổi thay, cho đến khi tôi không viết được nữa… Nhưng tôi có làm được điều đó không? Tôi không dám chắc.
Có một điều làm tôi hy vọng là thơ tôi năm nào cũng được tái bản, có đến ba năm, mỗi năm có tập như Nhà thơ và hoa cỏ, hay Bản Xônat hoang dã, tái bản đến hai lần. Nếu như thế, có thể là như thế, thì tôi coi đó là niềm an ủi lớn nhất đối với tôi, sau tất cả những gì mà tôi đã miệt mài học hỏi và cố gắng, đã chịu biết bao cực nhọc và thương tâm ở cõi đời này…
264. Nguyễn Đức Tùng:
Chúc mừng anh. Xin hỏi anh câu cuối cùng.
Anh đã từng viết:
Tất cả đổi thay nhanh
Dù vẫn sớm vẫn chiều
Tôi không đổi thay
Càng mới thì càng cũ
Thế nào là càng mới thì càng cũ?
Trần Nhuận Minh:
Hai câu thơ trên, anh rút ra từ bài thơ Đi ngang thế gian. Tôi viết bài này cuối năm 1991, khi thế giới có những biến động vô cùng lớn lao, đăng báo Văn nghệ đầu năm 1992, đến năm 2003 thì tôi lấy đó làm Thay lời bạt để kết thúc tập thơ Bản Xônat hoang dã mà anh và nhà thơ Đỗ Quyên gọi là trường ca.
Bài thơ được viết dưới ánh sáng mờ của tư duy minh triết phương Đông:
Trong ngày có bóng đêm
Trong đêm có ánh ngày
Khí trời hồn nhiên vận hành qua sắc cỏ
Sau mọi kiếm tìm, tôi tuyên bố
Tôi chẳng phải là tôi, tôi cũng chả là gì…
Mây bây giờ, ngàn năm trước đã bay đi
Mọi giành giật rồi thành hư ảo hết…
Tôi tin vào sức mạnh của cái hư ảo đang chi phối các thời đại, đang điều hành số phận của mỗi chúng ta.
Kim Tự Tháp đứng im, vẫn bay vạn dặm
Kẻ giỏi hạ cây đâu cần đến sức rìu…
Vì thế, sự đổi thay là nhanh đến chóng mặt. Có mới thì có cũ. Càng mới thì càng cũ. Tất cả mọi cái mới đều đã rất nhanh biến thành cái cũ.
Nhưng cái gì không mới thì sẽ không cũ.
Đó là trái đất:
Có trái đất xanh tươi này chỉ là ngẫu nhiên thôi…
Tôi ước mong một xã hội vĩnh viễn thanh bình và an lạc như muôn xưa.
Cũng là ước mong về một thế gian mà chúng ta thường nói là lý tưởng.
Ấy là ngày cái Thiện lên ngôi
Bạo lực và cường quyền
Tất cả
Thành vô nghĩa…
Đó chính là cảm hứng hào sảng tràn đầy trong lòng tôi, khi tôi viết Bản Xônat hoang dã:
Núi sông đầy bạc rắc
Làm thinh không rạng rỡ uy nghi
Cây rừng Sapa trắng tóc
Hai tay tôi chảy tràn thác bạc của trời…
Đó cũng là tình yêu vĩnh viễn đối với con người, tận tụy và bao dung; đối với thiên nhiên, giầu có và hoang sơ; hòa hợp con người với thiên nhiên, trong một thời đại gian lao và bất trắc, mà nhà văn Đặng Văn Sinh gọi là Khát vọng một tình yêu thần thánh.
Và ông coi đó là khát vọng cuối cùng của tôi.
265. Nguyễn Đức Tùng:
Cám ơn nhà thơ Trần Nhuận Minh về cuộc trò chuyện văn chương lâu dài, và tôi hy vọng là có một chút ý nghĩa, của chúng ta. Xin lỗi anh và người đọc về mọi khiếm khuyết, nếu có, của tôi. Chúc anh mạnh khỏe, yêu đời, giàu sáng tạo, sẽ có nhiều bài thơ mới và hay để tặng độc giả.
Trần Nhuận Minh:
Tôi cũng xin độc giả lượng thứ cho những khiếm khuyết chắc là rất khó tránh, trong cuộc chuyện trò dài ngày về văn chương, với nhiều tâm sự, những chuyện xa gần liên quan đến sáng tác và cuộc đời của tôi.
Nếu cuốn sách được coi là có ích thì đó là niềm an ủi lớn nhất đối với chúng tôi.
Cảm ơn các nhà thơ, nhà văn có tên hoặc có tác phẩm trong tập sách này. Cảm ơn tất cả các bạn đọc.
Cảm ơn anh, nhà thơ, nhà phê bình văn học Nguyễn Đức Tùng. Mong anh vui khỏe, thành đạt và đi thật xa trên con đường đã chọn. Chúc anh: Muốn cái gì cũng được ngay cái gì

Canada – Việt Nam
Thứ Bảy, 24 tháng 9/2011


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 05.12.2013.