Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



ĐỐI THOẠI VĂN CHƯƠNG





Chương Tám

ĐỐI THOẠI THÁNG TÁM

(câu 229 – 251)


229. Nguyễn Đức Tùng:
Tôi gõ vào ngực tôi
Tôi ơi, mở cửa ra
Cái tôi trong thơ anh là ai?
Trần Nhuận Minh:
Nhà thơ thường là nhân vật trữ tình trung tâm của thơ mình và cái tôi của nhà thơ chính là biểu tượng nghệ thuật, với một số đặc trưng nào đó tương đối ổn định, do nhà thơ tạo ra được qua bản thân mình hoặc từ bản thân mình. Nếu anh là một nhà thơ lớn, hoặc có những sáng tạo nghệ thuật độc đáo, đặc sắc, ở đó, anh sẽ xác lập được một hệ thống tư tưởng và thẩm mỹ riêng, tạo ra được một từ trường nhất định, có sức cuốn hút đối với các cây bút tiếp theo, để hình thành một vùng ảnh hưởng, rộng hay hẹp là tùy kích cỡ của tài năng… Một số người sau đó sẽ viết gần với anh, hoặc viết theo kiểu của anh, hoặc phát triển cao hơn, từ lối đi riêng của anh. Từ đó, có thể tạo ra cả một trường phái nghệ thuật với những thành tựu khó phai mờ.
Nhiều năm trước đây, có người nói đến thơ hướng nội với nội dung chủ yếu để nhà thơ bộc lộ chiều sâu cảm xúc chủ quan của bản thân mình và thơ hướng ngoại để thể hiện những điều ở ngoài mình qua cảm xúc của mình. Cách chia ấy cũng có cơ sở, nhưng không chuẩn xác, vì sự thực, thơ cũng không thể chia đôi rạch ròi như vậy được. Nếu anh đọc một số bài phê bình thơ tôi nhiều năm trước đây, anh sẽ không ngạc nhiên, khi có người xếp tôi vào loại thơ hướng ngoại, vì bản thân tôi thường đứng sau, thậm chí đứng xa các nhân vật trữ tình mà tôi miêu tả, là các số phận người trong xã hội. Tôi biết vậy, chứ thực tình cũng không quan tâm lắm đến vấn đề này, vì cho đó không phải là việc của tôi. Việc của tôi là viết cho hết lòng mình, theo cái kiểu của mình, về mọi nỗi đời mà tôi cảm nhận được. Và như thế, cái tôi của tôi chính là số phận của nhân dân Việt Nam, được thẩm thấu qua tôi, trong chiến tranh và hòa bình, ở giai đoạn 15 năm đổi mới cuối thế kỷ trước là Nhà thơ và hoa cỏ và là hình ảnh của con người với các mối quan hệ của nó trong ba tập thơ mới của tôi đã xuất bản ở những năm đầu thế kỷ XXI này: Bản Xônat hoang dã, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh Miền dân gian mấy trắng.
Nếu anh đồng cảm với cách hiểu như thế, chắc anh sẽ băn khoăn, bởi sau hai câu thơ trên mà anh đã dẫn ra:
Tôi gõ vào ngực tôi
Tôi ơi mở cửa ra…
Là hai câu tiếp theo, mang tính phủ nhận:
Cánh cửa tôi đã mở
Và tôi thấy chả có gì…
Nếu hiểu theo nghĩa thông thường của câu này thì đó là cách nói khiêm nhường của tác giả, ý rằng, mình chưa làm được cái gì cả. Thành công, nếu có, vẫn còn ở phía trước. Đó cũng là cách nói trong câu:
Một tấc lòng son và hai bàn tay trắng
Ta sống ở cõi đời này
Rồi ra khỏi Thế gian…
Nghĩa là có thể chả có gì còn lại của tôi sau khi tôi đã chết. Nghĩa đơn giản là như vậy. Nhưng thực ra, hàm ý mà tôi muốn chuyển tải sâu xa hơn. Bởi khái niệmchả có (không), tôi muốn bạn đọc hiểu cho là nó không diễn ra theo tư duy khoa học chính xác phương Tây, mà là theo quan điểm đã tự làm mờ của phương Đông, vì cả tập thơ Bản Xônat hoang dã, tôi đã viết dưới ánh sáng minh triết này. Đó là khái niệm mà cái không (chả có) đi đến tận cùng là và cái phát triển đến đỉnh cao nhất là không. Khái niệm không ở đây, diễn ra theo tinh thần vô vi của Lão Tử.
Tiếp tục tư tưởng nghệ thuật phương Đông đó, tôi soạn tiếp tập thơ 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh… Chữ vô danh (không) cũng có ý nghĩa như thế. Theo Lão Tử, vô danh là Chân Nhân. Còn tôi, tôi quan niệm Chân Nhân là Nhân Dân, thuộc về Nhân Dân:
Trí ta không nói ra được
Tâm ta không phô ra được
Danh ta không gọi ra được…
Như nắm xương của triệu triệu Chiến binh
Phiêu dạt ngày đêm trong lòng đất
Không gọi tên ra được…
TA VÔ DANH TRONG BA NGÀN THẾ GIỚI VÔ DANH…
(Bài số 5 – 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh)
Đó là chân lý đã có ý nghĩa phổ cập, đã trở thành dân gian, không gọi tên ra được.
Là nhà thơ, anh nghĩ sao?
230. Nguyễn Đức Tùng:
Thơ Trần Nhuận Minh thường là thơ tự sự, nhưng vẫn có những đoạn trữ tình. Những đoạn này như ánh đèn rọi ngược vào khuôn mặt của người nghệ sĩ trên sân khấu.
Ngược lại, trong khi viết những dòng tâm tình, nhiều nhà thơ cảm thấy mình bị lôi kéo bởi xu hướng kể lại những câu chuyện, hay những mảnh vỡ của câu chuyện. Họ cảm thấy nhu cầu muốn được nối kết các chi tiết, xâu chúng lại thành từng chuỗi trong những mối liên lạc có nguyên nhân sâu xa.
Thơ trữ tình có khuynh hướng loại trừ, chắt lọc, biểu hiện, trong khi thơ tự sự có khuynh hướng gộp lại, mô tả, bao gồm.
Thơ cũng như vũ khí: người viết ngắn thì tinh tế, xuyên thấu, cảm xúc sắc như mũi kiếm, người viết dài thì phong phú, dạt dào, nội lực thâm hậu.
Mấy chục năm gần đây, chúng ta không còn chứng kiến các cuộc tranh luận văn học như nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh, thơ có vần và thơ tự do, mặc dù đó là các cuộc tranh luận có ích và theo tôi là chưa bao giờ đạt đến những đỉnh cao nhất có thể có của nó, nhưng chúng ta lại chứng kiến sự va chạm (chứ không phải là tranh luận, chưa được là tranh luận) giữa các khuynh hướng như truyền thống và đương đại, chính thống và phản kháng, cổ điển và hậu hiện đại. Người ta không thích nhau, thậm chí ghét nhau, nói cạnh nói khóe thì có nhưng các tranh luận trực tiếp có tính cách học thuật thì tôi chưa thấy, hay chưa nhiều.
Nhà thơ Hoa Kỳ lừng danh Robert Hass đã viết:
Tôi bảo: câu chuyện cũ không còn ai kể nữa
Bài hát xưa
Ta chẳng có bao giờ
(I said: what we’ve lost is a story
and what we’ve never had
a song)
Chọn lựa giữa thơ trữ tình và thơ tự sự đối với người viết và người đọc Việt Nam không còn chỉ là chọn lựa cá nhân giữa hai phong cách, một kiểu như “gout” thẩm mỹ, hiện nay còn là chọn lựa giữa con đường cũ và con đường mới, sự thoát ra khỏi thẩm mỹ cũ. Người đọc chúng ta đã mê đắm quá lâu trong dòng trữ tình, dù là trữ tình lãng mạn hay trữ tình cách mạng, họ cũng cần biết bơi ra một dòng chảy khác, theo tôi là lớn lao hơn và không quen thuộc lắm.
Cứ mỗi chiều, lòng lại ngơ ngác hỏi
Ta là ta, hay ta đã ai rồi?...
(T N M)
Trần Nhuận Minh:
Theo tôi thì thơ tự sự cũng phải chắt lọc như thơ trữ tình, vì đó là yêu cầu của chức năng thơ. Có điều, thơ tự sự có yêu cầu “kể”, có thể là “kể chuyện”, còn thơ trữ tình, nói chung là không. Ấy là tách riêng ra thì thế, chứ sự thực thì nhiều bài thơ thành công, có sức sống lâu bền nhất trong lòng người, thì thường là thơ kết hợp được cả hai dòng này. Ví dụ có khá nhiều, ở cả thơ Việt Nam và thơ thế giới.
Quả thực là lâu nay, chúng ta chưa có các cuộc tranh luận học thuật nào theo đúng nghĩa “tranh luận” của nó. Bởi vì đằng sau văn chương là tư tưởng. Mà tư tưởng trong văn chương không có gì phải tranh luận, thì cái biểu hiện của nó, dù dưới dạng này, hay hình thức khác, tác giả và cả người đọc cũng chẳng thấy có gì cần phải tranh luận. Có chăng là chỉ “xới xáo” ra đôi điều khác nhau để bàn cho “xôm trò” mà thôi. Rồi chúc sức khoẻ và thành đạt là hết. Cũng như trong phiên tòa, các luật sư bảo vệ thân chủ có nhiệm vụ làm sáng rõ pháp luật, chủ yếu được bộc lộ qua lời buộc tội của công tố viên, thì làm gì có sự tranh tụng, hoặc có thì cũng không phải là tranh tụng, mà chỉ là “diễn” cho có “vẻ” mà thôi.
Từ năm 1985, trước đổi mới, tôi đã có lần nói rằng, chúng ta tôn trọng truyền thống, điều đó không có gì phải bàn. Nhưng nên nhớ rằng, bản chất của truyền thống là tính bảo thủ. Mà sự bảo thủ cũng có cái tốt, cái hay của nó. Ví như con anh, vì “bảo thủ”, nên nó mới giống anh và đó là hạnh phúc của một gia đình. Tôi tin không có một ông cấp tiến nào muốn vợ mình sinh ra hai đứa con, mà một đứa giống ông thủ trưởng của mình, còn đứa kia giống anh hàng xóm, dù có thông minh hay đẹp mã đến đâu. Cho nên đổi mới thơ, đứa con tinh thần của anh, tôi đã nêu ra từ trước năm 1985, cũng thế thôi. Từ truyền thống mà ra, mà đi xa hơn… tôi tin đó là sự chọn lựa tối ưu…
Nhưng càng gần truyền thống, thậm chí càng gắn bó chặt chẽ với truyền thống, thì nghệ thuật càng chậm phát triển, càng khó đi xa, và, với đời sống tinh thần như thế, sẽ góp phần làm cho đất nước cũng càng chậm phát triển. Vấn đề gay gắt, thử thách sự thành bại của quan điểm này là ở chỗ ấy…
231. Nguyễn Đức Tùng:
Thơ hay được viết ở vùng biên cương của ngôn ngữ, nơi nhà thơ cố gắng bày tỏ những điều không thể nào nói ra thành lời, một thứ cảm nhận nửa có thật, nửa không có thật, vừa hiện tại vừa quá khứ, về một thứ lịch sử được giả định trong sách vở và một thứ lịch sử vốn là tổng số của các số phận riêng lẻ.
Một nhà thơ có thể chỉ có một chất giọng, nhưng những bài thơ thành công của Trần Nhuận Minh mỗi bài có một giọng điệu khác nhau. Thơ không dùng để giáo dục người khác nhưng bao giờ tôi cũng học được vài điều từ một bài thơ hay của anh.
Nhiều người đã nhắc tới sự khủng hoảng của văn chương Việt Nam, tôi thấy không cần phải nhấn mạnh thêm nữa. Nhưng người ta nói: những gì không thể thay đổi thì không nên cố sức. Vì vậy tôi chỉ xin nói về những điều mà nhiều người hy vọng là có khả năng thay đổi. Những người viết văn trẻ mà tôi đặt nhiều hy vọng ở họ, trước hết chưa phải vì tài năng, trước hết bởi sự hồn nhiên, lòng yêu chuộng tự do và công lý của những nhà văn, hoặc là tuổi trẻ, hoặc là mới viết. Thật là đáng buồn khi quan sát thấy rằng một số người tuy mới bắt đầu, chỉ sau một vài sự xuất hiện, đã bị làm hư hỏng đi mau chóng. Ai đã làm hư hỏng họ? Tôi tin rằng anh có câu trả lời rõ ràng hơn tôi. Đó là sự hư hỏng nào? Thói quen sợ hãi, tính bầy đàn, sự tranh giành, sự lười biếng trí tuệ.
Tôi đọc đã lâu một bài viết có những ý chính sau đây, nhưng nhớ mãi không ra tác giả, đành tạm ghi lại. Học hỏi khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ cũng như ngôn ngữ nói chung bao giờ cũng là bước đầu tiên của một ngưòi làm thơ, tuy nhiên quá trình đó không bao giờ dừng lại, nó tiếp nối bất tận cho đến cuối đời. Bên cạnh sự học hỏi là nguồn cảm hứng, một số ngày càng sâu như biển, một số ngày càng cạn như giếng khô.
Khả năng đọc lẫn nhau với tính phê bình cao rất ít được tìm thấy, dù là ở trong nước hay hải ngoại. Những người trẻ tuổi không có diễn đàn, đã bị lấp đầy bởi những cái tên cũ rích, của những người không còn khả năng sáng tạo, chỉ đứng choán chỗ trong văn học.
Nhiều người sẽ đồng ý với anh rằng tài năng và đào tạo tài năng là một vấn đề lớn. Nhưng dừng lại ở đó thôi thì chưa đủ. Tài năng là gì? Một số người có đầy cảm hứng và muốn trở thành nhà thơ nhưng không có năng khiếu. Nhưng những người có năng khiếu đông hơn là những người thực sự có cảm hứng văn chương, trong khi năng khiếu là khả năng ngôn ngữ thì cảm hứng sáng tạo là khả năng nhận diện các xúc cảm tâm hồn, khả năng đào sâu sự hoài nghi bí ẩn, vật lộn với các xung đột nội tâm, với các tư tưởng chính trị, khả năng tự điều chỉnh mình, khả năng sống sót trong một môi trường cô độc, căng thẳng, chịu nhiều áp lực, thậm chí bị hành hạ về tinh thần và thể chất. Nhà thơ là những người có nhiều khả năng xúc cảm hơn người bình thường, trong khi anh ta lại bắt buộc phải là một người cứng cỏi, đủ sức chịu đựng làm việc được trong một môi trường có áp suất lớn.
Mặt khác, cảm hứng cũng bắt nguồn từ thông điệp. Hầu hết những bài thơ hay đều ít nhiều có thông điệp về nội dung, dù trực tiếp hay gián tiếp. Theo tôi, sự cân bằng giữa khuynh hướng ngôn ngữ và khuynh hướng thông điệp chính là tài năng.
Với những trường hợp cực đoan, sự thành công là không rõ ràng. Nhưng kỳ lạ thay, chính trong những trường hợp cực đoan như thế, văn chương mới đẩy lùi các biên giới của mình.
Trần Nhuận Minh:
Câu hỏi của anh đồng thời cũng là câu anh tự trả lời, và tôi biết rằng, nếu có nói, tôi cũng không thể nói hay hơn. Tôi chỉ nói thêm ở “biên cương” của vấn đề mà anh đã nêu.
Văn chương là một nghề tinh thần vô cùng khó khăn và đầy những ảo tưởng. Vì thế, nhà thơ, về bản chất, là những người rất yếu đuối. Tôi có câu thơ:
Tay trái bao giờ cũng yếu hơn tay phải
Vì tay trái gần tim…
Nhà thơ bao giờ cũng đứng ở cái phía có quả tim đang đập. Vì thế mà rất đáng yêu, cũng rất đáng thương và rất cần được an ủi. Lao động của thơ là sáng tạo các giá trị tinh thần, nghề của danh, nên nếu có bệnh nghề nghiệp là hiếu danh thì cũng đáng được lượng thứ, nhưng lại thêm hiếu thắng nữa thì sẽ tự biến mình thành kẻ lố bịch mà không tự biết. Cái “hư hỏng” mà anh nói đó, xuất phát từ đặc điểm rất riêng này, dù điều đó, nói cho cùng, cũng đáng được thông cảm, bởi anh phải tự tin ghê gớm đến mức nào, mới có đủ can đảm mà dấn thân, mà đi qua cái sa mạc mênh mông khô khát, chưa kể bão cát, của những trang chữ… mà có người đã gọi đó là những “pháp trường trắng”… Trong vấn đề này, điều anh nêu ra thì anh cũng đã giải thích khá sâu sắc, và theo tôi, cũng khá cặn kẽ, về những nguyên nhân của nó rồi, đã biến không ít “quý tộc tinh thần” của ngày hôm nay thành những kẻ hâm hâm, dở người, thậm chí kệch cỡm… Sự tranh đoạt “thị phần” của nhà thơ, có không, nếu nói theo ngôn ngữ thị trường? Có chứ. Nhưng là tranh đoạt cái mơ hồ đang bay ở trên trời kia, rất khó nắm bắt, và cái vi diệu trong tâm hồn của chính mình này… rất khó diễn cảm…, để anh tự khác anh, tự hơn anh (chứ không phải hơn người), nghĩa là anh chỉ cạnh tranh với chính anh mà thôi, trong cuộc bền bỉ tự đua sức để vượt lên về sáng tạo nghệ thuật… Và như thế, sự cực đoan trong tư duy và phương pháp xử lý các tình huống nghệ thuật cũng là điều thường xảy ra. Anh nói rất đúng, nó rất khó tạo cho nhà thơ sự thành công, nhưng lại giúp cho thi ca phát triển, đẩy lùi các biên giới nghệ thuật về phía sau, có thể hé lộ các chân trời… Và tôi đồng ý với anh rằng, trong thi ca, và không chỉ trong thi ca, sự cân bằng giữa khuynh hướng ngôn ngữ và khuynh hướng thông điệp chính là tài năng…
232. Nguyễn Đức Tùng:
Trong một tham luận, anh có nói: những tìm tòi hoàn toàn về hình thức đã được đề cao quá mức.
Thế nào là đề cao quá mức? Tôi thì bao giờ cũng tin rằng “hình thức” là chuyện cần phải thay đổi mỗi ngày đối với các nhà thơ.
Trần Nhuận Minh:
Anh nói đúng, hình thức là cái luôn phải thay đổi, để phù hợp với nội dung và tránh sự nhàm chán. Tuy thế, hình thức lại là cái rất quan trọng, hàm chứa nhiều vấn đề lớn của nghệ thuật. Hình thức là kết cấu của nhịp điệu, ngôn ngữ và hình tượng. Dù đạt đến bất cứ một đẳng cấp nghệ thuật cao siêu nào, hình thức cũng chỉ là phương tiện chuyển tải nội dung và tư tưởng của tác phẩm, chứ không bao giờ là mục đích của tác phẩm. Những người đề cao quá mức hình thức, nếu không có ý đồ gì khác, thì người đó có sự nhầm lẫn giữa mục đích và phương tiện của văn chương.
Tôi chợt nghĩ, hình thức, ngoài tác dụng chuyển tải với tư cách là một phương tiện, còn phải có tác dụng gợi mở để người đọc có cái cớ mà tha hồ tưởng tượng. Ví như váy áo của người đẹp, phải dày mỏng, dài vắn, với sắc màu thế nào, tinh tế và thanh nhã, vừa đủ để gợi lên cái huyền ảo mơ màng ở bên trong, mỗi người ngắm nhìn có thể tưởng tượng khác nhau, tùy theo cảm quan thẩm mỹ và sở thích.
Không tạo được sự hấp dẫn vừa phong phú vừa đa dạng, hình thức sẽ thất bại.
Tôi nghiệm ra rằng, nhiều cuộc cách tân về hình thức thường bắt đầu từ hội họa, có khi lại là từ kiến trúc, sau đó là thơ, rồi từ hội họa - kiến trúc và thơ, mới tác động sang các lĩnh vực khác, kể cả tiểu thuyết. Và thành công cuối cùng, vang dội, thường lại ở tiểu thuyết. Điều đó khiến cho một số người nông nổi đã nghĩ rằng, các cuộc cách mạng trong nghệ thuật là các cuộc cách mạng về hình thức. Không phải thế đâu. Hình thức đã được “đề cao quá mức” chính là ở điểm này. Thực ra, cái buộc hình thức phải thay đổi là nội dung. Chính đứa trẻ lớn lên mà các cỡ áo phải thay đổi chứ không phải ngược lại.
Trong một tham luận, đọc tại hội thảo của hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, họp ở Hội An, tháng 8 năm 2009, mà anh vừa nhắc, tôi có nói rằng:
Những tìm tòi hoàn toàn về hình thức đã được đề cao quá mức. Đã đến lúc cần phải đề phòng sự xuất hiện những yếu tố có tính chất phe nhóm trong việc đánh giá những đổi mới và cách tân thơ. Đã xuất hiện một số tập thơ khác thường, lập dị, hình thức dường như tách khỏi nội dung, ngôn ngữ không có sự sống, những ký hiệu và biểu tượng không biết có phải là của thơ hay không, những câu chữ kín mít, mà có nhà phê bình đã gọi là thi pháp ú ớ, không ai hiểu được, diễn tả những trạng thái lạ thường, mà tôi ngờ rằng, đó có thể là sự trống rỗng hoặc bệnh hoạn. Riêng tôi, tôi ghi nhận một cách trân trọng những quyết tâm đổi mới triệt để đó, nhưng với sự khiêm tốn của một người tự học nghề, tôi vẫn thấy là ở đây, có cái gì đó rất không ổn. Biểu dương thì rất không nên, mà phê phán thì cũng không nỡ, vì tác giả của những áng thơ này đều là các vị cao niên và có hoàn cảnh éo le. Nhiều người chuộng lạ, ham thích cái mới, cái dị biệt, đã ủng hộ và thậm chí tán dương rất nồng nhiệt những sáng tác loại này và tên tuổi các tác giả ấy thường xuất hiện trên các báo, nhất là các báo ở nước ngoài, cho đó mới là tiêu biểu cho thơ đổi mới, cho những cách tân trong thơ đương đại Việt Nam. Không ít bài viết trên các báo và tạp chí hải ngoại đã nói thẳng ra rằng, ngoài những tác giả này, thơ Việt Nam không còn có ai, dù chỉ là những đụn cát thấp lè tè.
Đó là các tác giả cao niên. Còn vấn đề hình thức trong các tác giả trẻ thì sao? Đây là ý kiến của tôi trong Bản đề dẫn hội thảo về nâng cao tính chuyên nghiệp của văn chương do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Ninh Bình, tháng 10 năm 2008, mà tôi đã đọc để mở đầu cho các tham luận và thảo luận:
Các nhà thơ trẻ lớn lên trong hoà bình, cầm bút trong thời kỳ đổi mới, ít có nợ nần với quá khứ, tiếp nhận cũng không nhiều những giá trị của quá khứ, chẳng mấy băn khoăn trước những vui buồn thường nhật của dân sinh. Họ dường như chỉ biết có mình, lao thẳng tới cái họ cần, có khi quên cả bạn đọc, dù những cái cần đó là rất chính đáng. Họ đi đến tận cùng và rất ít nhân nhượng trước những giá trị mà họ cần đạt tới. Họ dứt khoát và quyết liệt trong quyết tâm đổi mới thơ, nhưng tiếc thay, những đổi mới rõ rệt nhất của họ lại chủ yếu là về mặt hình thức. Họ có công làm mới câu chữ và kết cấu bài thơ, nhưng không phải nhà thơ trẻ nào cũng có nội lực đủ mạnh để biến những ý tưởng mới đó thành thơ và những cấu trúc thơ phi truyền thống đó thành xúc cảm. Đường thơ của họ còn rất dài. Có lẽ ý thức được điều đó chăng, nên họ nôn nóng và ngay từ những bước đi đầu tiên, tôi đã thấy họ vội vã. Có người rất vội vã…
Tác phẩm hay là tác phẩm có tính chuyên nghiệp cao… tiêu biểu rực rỡ cho tài năng, bản lĩnh nhà văn, góp phần làm nên chất lượng sống của con người và xã hội, đó là tác phẩm đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ và nhu cầu xã hội của thời đại, thỏa mãn những đòi hỏi ngày càng cao về tình cảm, đạo đức, tư tưởng của con người. Tất nhiên chúng ta hiểu, muốn viết được như thế, nhà văn phải có tài. Đó là vấn đề số Một. Tôi xin góp thêm một ý, cùng với tài năng, nhà văn phải có tự do tư tưởng và khát vọng sống. Điều này mới làm cho cái tài của nhà văn bừng nở, thăng hoa. Khát vọng sống, theo cách hiểu của tôi, là nhà văn phải đánh cược cuộc đời mình vào tác phẩm, với hy vọng tác phẩm sẽ sống sau khi mình đã chết. Đấy là kinh nghiệm mà chúng ta từng tìm thấy ở những nhà văn lớn, sáng tạo ra những tác phẩm để đời. Tự do tư tưởng là vấn đề thiết cốt của sáng tác, nhưng thường được né tránh vì ngại bị hiểu lầm. Tôi nghĩ tự do tư tưởng là quyền thông thường của các nhà văn, chỉ có nhà văn mới có thể tự tước bỏ cái quyền đó của mình. Trong quan niệm của tôi, tự do tư tưởng không có gì mâu thuẫn với trách nhiệm công dân và lợi ích của đất nước, của dân tộc. Tôi sợ nhất là nhà văn không có tư tưởng, đã thế, phông văn hóa lại không đủ dày, phông văn hóa ở đây, bao gồm cả sự tiếp nhận và chiết xuất thực tế cuộc sống theo một kiểu nào đó, mang cá tính sáng tạo của chính nhà văn. Cái thứ hai này sẽ tạo ra phong cách và làm cho nhà văn thực sự có tính chuyên nghiệp.
Tính chuyên nghiệp của nhà văn, nói cho cùng, nhìn ra rõ nhất cũng là những biểu hiện của hình thức. Vì thế mà cứ tưởng là hình thức. Ở những tác phẩm hay, hình thức bao giờ cũng gắn liền với nội dung, nhưng không bao giờ thay thế nội dung. Theo tôi, nhiều bạn trẻ, trong đó có cả một số nhà thơ hải ngoại mà tôi có may mắn được đọc, có sự nhầm lẫn, chính là ở chỗ này.
Quan niệm về thơ và cách đọc thơ rất khác nhau, nhưng cần có những điểm căn bản trước đã. Hình như trên trang web Hội luận văn học, một dạo các anh cũng có bàn về vấn đề này.
233. Nguyễn Đức Tùng:
Nhân anh nhắc đến Hội luận văn học, các quan niệm khác nhau, tôi xin lưu ý anh về các bài viết hay các nhận xét của Thanh Thảo, Hoàng Ngọc Hiến, Khải Minh, Nguyễn Trọng Tạo, Lương Thư Trung, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Thái Kim Lan, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nam Dao, Vĩnh Phúc, Lê Vĩnh Tài, Trần Thiện Huy, Nguyễn Văn Lục, Đỗ Quyên… với nhiều ý rất sắc sảo, thú vị. Chủ đề thơ do nhà thơ Thanh Thảo chủ biên, tôi là người được anh ấy đề nghị viết lời kết thúc, nên tôi muốn trích ở đây vài câu để anh dễ theo dõi.
Một chủ đề rất rộng, đủ chỗ cho tất cả chúng ta cùng thảo luận, tranh luận, hội luận, tham luận, bàn luận, lý luận, và với những người vốn tào lao như tôi, là… tào lao luận. Kiểu gì cũng hay, miễn chúng ta nói về Thơ…
(Bài mở đầu của Thanh Thảo)
Tôi biết rằng không phải ai cũng đọc thơ và cần đến thơ. Không phải người đọc nào cũng là độc giả của thơ ca. Nhưng những người đọc nó và cần đến nó tạo ra một tầng lớp độc giả đặc biệt. Họ kết thành một thứ gần như là phần đẹp đẽ của tâm hồn dân tộc và thời đại mình.
(Bài kết thúc của Nguyễn Đức Tùng)
Trần Nhuận Minh:
Tôi không theo dõi được toàn bộ cuộc thảo luận của các tác giả anh nói trên, nhưng bài mở đầu của Thanh Thảo và bài kết thúc của anh, thì tôi đã đọc kỹ. Tôi rất tâm đắc với một ý, anh đã nói rằng: các bạn trẻ đã “đặt những bước chân đầu tiên lên cánh đồng rộng rãi…”, chúng ta có cơ sở để hy vọng và chờ đợi một vụ mùa bội thu trong tương lai. Nhưng tất nhiên, có được một vụ mùa như thế không hề dễ dàng… bởi trên “những lớp đất đen màu mỡ đã bắt đầu lộ ra”, như anh nói, không phải không có người đã mang những hạt giống ra gieo mà không biết rằng, những hạt giống đó là những hạt lép, hoặc thậm chí, đã nhiễm bệnh…
234. Nguyễn Đức Tùng:
Nhân đọc một bài thơ của anh Trần Nhuận Minh, tôi xin chuyển qua vấn đề khác.
Đó là bài thơ nói về một nhân vật có vẻ như có thật ngoài đời.
Anh mở đầu như sau:
Lão bảo lão vừa xin ra Đảng
Nghe rất thời sự. Thế mà sau đó anh lại kết thúc:
Ngày mai chắc có cơn mưa lớn
Gió đã ẩm rồi trong bóng cây…
Đọc cuốn Trần Nhuận Minh và ba lần định vị cho thơ, tôi thấy có ba nhà nghiên cứu cho rằng: Trần Nhuận Minh rất dụng công cho cái kết của bài thơ, với hai đặc điểm, một là bất ngờ và hai là nâng được bài thơ lên cao hơn.
Trần Nhuận Minh:
Đúng là trong sách, có ba nhà nghiên cứu đã nói về điều đó thật, tôi cảm ơn anh đã nhớ đến. Nhưng tôi nghĩ, đấy không phải là đóng góp riêng của tôi. Đấy là một trong những đặc điểm rất nổi bật của thơ phương Đông và thơ Việt Nam cổ điển mà tôi học được. Nhiều nhà thơ Việt Nam và hải ngoại cũng chú ý đến giải pháp đó để kết thúc bài thơ của mình. Dẫn ra thì nhiều, nhưng tôi đơn cử ngay bài thơ của anh mà tôi vừa đọc được trên các trang mạng của Trần Nhương và Nguyễn Trọng Tạo.
ĐỐI THOẠI BÊN TƯỜNG
Phía sau cánh cửa này là gì, cha ơi?
Là một cánh cửa khác, con trai
Phía sau cánh cửa khác là gì, cha ơi?
Là một cánh cửa khác nữa, con trai
Phía sau cánh cửa khác nữa là gì, cha ơi?
Là một cánh cửa khác nữa nữa, con trai
Phía sau cánh cửa khác nữa nữa là gì, cha ơi?
Là chỗ ở của tên ăn trộm
Bài thơ đi dần từng bước, cấu trúc đơn giản và thẳng, mà tôi thường thấy trong thơ phương Tây, để bất ngờ dẫn đến một cái kết, không thể khác được, mà cũng khó hình dung trước được. Bút pháp hiện đại mà ý vẫn tràn ra ngoài lời, tức là có cái dư ba của thơ phương Đông. Câu kết hoàn toàn mở với khoảng rộng cho ta ngẫm nghĩ về sự đời.
Có lẽ phải nói thêm một chút xíu: đây là thằng ăn trộm ngày xưa, nên nó mới phải ẩn kín mình sau tới bảy lần cửa đóng then cài chắc chắn như thế, còn thằng ăn trộm bây giờ thì khác lắm, nó tươi cười mở toang các cửa mà mời bằng được cha con ông “nhà thơ”… vào chơi. Có khi nó còn mời cha con ông “đánh chén” với nó, cũng nên…
Nhân chúng ta bàn đến cái kết của bài thơ, anh có thể nói thêm đôi điều được chăng?
235. Nguyễn Đức Tùng:
Tôi cho rằng có vô số cách chấm dứt một bài thơ. Xếp loại đại cương, xin tạm kể như sau: cách khép lại; cách mở ra; cách kéo dài; cách kết thúc nâng cao, hay gặp trong các bài thơ tự sự, như thơ của anh; cách kết thúc bất ngờ, tạo bước ngoặt, mà tác giả Trần Ngọc Cư ở Hoa Kỳ đã gọi là khái niệm punch trong một số bài thơ của tôi và của các nhà thơ đương đại khác.
Kết thúc một bài thơ là công việc vất vả. Thật đúng là:
Thường là nhà thơ không thể tìm ra câu kết
cho một bài thơ chỉ còn chờ câu kết
Muốn thân xác mình lấp vào.
(Đỗ Quyên, Lòng hải lý)
Tôi xin trở lại với bài Đối thoại bên tường mà anh nhắc đến. Các câu hỏi và trả lời lặp lại, bề ngoài có vẻ không có chủ ý gì, có tính vui chơi. Tính đồng dao. Tuy nhiên, cái mới trong bài thơ này là ở chỗ sự lặp lại bị đẩy xa không ngớt, tạo ra nhạc điệu dồn dập. Tôi mất một thời gian dài để kết thúc bài thơ. Tuy vậy, đó không phải là cái kết trên trời rơi xuống, như một thứ phấn son trang điểm, rửa đi thì không còn gì nữa. Trái lại, nó là một kết cấu tự thân của bài thơ: nó có mặt ngay từ điểm xuất phát, đứng chờ ở đó vô hình vô ảnh, đẩy bài thơ đi. Nó là một lực.
Vấn đề là đến khi chuẩn bị kết thúc bài thơ thì nhiều khi tôi không biết phải làm gì nữa, không nhận ra cái động lực ấy ở đâu, và vì vậy, ở những bài thơ không thành công, tôi để lạc mất nó. Trường hợp này tôi đã may mắn hơn, sau nhiều ngày, tìm ra được cái gốc của bài thơ.
Trần Nhuận Minh:
Tôi vẫn nhớ chuyến thăm Hạ Long của anh cùng bạn bè, ngồi đâu cũng chỉ bàn về thơ, về thi pháp, trong đó có việc đọc lẫn nhau giữa trong nước và ngoài nước. Tôi mong sẽ có dịp đọc nhiều hơn thơ của anh và bạn bè anh ở hải ngoại.
236. Nguyễn Đức Tùng:
Rất cám ơn anh. Tôi cũng mong như thế từ phía ngược lại. Thật ra, ở hải ngoại, số người viết văn bằng tiếng Việt không nhiều, vì những lý do mà ai cũng đoán được một phần. Tuy nhiên, trong khi số người sinh ra và lớn lên ở nước ngoài không quan tâm đến tiếng Việt thì các đợt sóng di dân gần đây từ trong nước, đa số là đi từng gia đình gồm người lớn, trẻ con, người cao tuổi, lại mang đến một sự thay đổi cơ học rất lớn trong cấu trúc dân số, và chắc chắn sẽ còn tiếp diễn lâu dài, đem lại những xung lực mới cho văn học hải ngoại. Tôi cho rằng nhu cầu đọc tiếng Việt trên mạng chắc chắn sẽ tăng lên. Vì vậy, việc tìm hiểu lẫn nhau giữa văn học trong nước và hải ngoại, cũng như giữa Việt Nam và thế giới, sẽ ngày càng quan trọng, chứ không phải là ít đi như người ta tưởng.
Mới đây, khi có dịp trò chuyện với một số bạn bè thân ở Canada và Mỹ, những người làm trong các ngành chuyên môn, chúng tôi đều thấy rằng dùng tiếng Anh trong công việc và trong đời sống thì chính xác hơn và dễ dàng hơn là dùng tiếng Việt.
Vì vậy, đối với những người như chúng tôi, đọc và viết tiếng Việt và dạy con tiếng Việt, là một cố gắng rất lớn, rất có ý thức, một thứ kỷ luật, nhưng lại là một nhu cầu của tâm hồn.
Khi về Hạ Long, tôi đã đi qua Hải Phòng. Một nhà thơ ở đây nói với tôi rằng: anh là người sáng lập Ngày thơ Quảng Ninh từ năm 1988, Hội Nhà văn Việt Nam tham dự nhiều lần, lấy đó làm cơ sở để phát triển với quy mô lớn hơn mà thành Ngày thơ Việt Nam, từ năm 2003, sau 15 năm. Nếu vậy, xin anh kể thêm về công việc của anh trong thời gian ấy.
Trần Nhuận Minh:
Phải khẳng định ngay: sáng lập Ngày thơ Quảng Ninh là Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, tôi chỉ là người khởi xướng và trực tiếp tổ chức thực hiện có kết quả.
Tôi về dạy học ở khu mỏ Hồng Quảng từ 1 tháng 9 năm 1962.
Năm 1969, tôi tham gia thành lập Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh và về cư trú tại thị xã Hồng Gai. Năm 1973, sau khi thành lập gia đình (1970), tôi mua được một gian nhà ở dốc Bồ Hòn, sát chân núi Bài Thơ, trung tâm thị xã. Tôi có câu thơ:
Làm thơ ở dốc Bồ Hòn
Câu khôn, câu dại, câu còn dở dang…
Tại đây, từ tháng 2 năm Quang Thuận thứ 9 (tháng 3/1468), vua Lê Thánh Tông đã cho khắc bài thơ của mình lên vách núi đá. Do sự kiện này mà nhân dân đã đổi tên núi Truyền Đăng thành núi Bài Thơ.
Tôi lặn lội đi tìm mãi mà không thấy. Sau này mới biết, nhiều gia đình trong thị xã đã sơ tán ra đây để tránh bom Mỹ, trong đó có một gia đình đã xây nhà ở trước bài thơ này và làm bếp với chuồng lợn liền nhau, áp vào chân núi, rồi đổ mái bằng lên trên. Đã 20 năm, bài thơ của vị hoàng đế anh minh nhất Việt Nam bị “nhốt” trong bếp và chuồng lợn. Khi phát hiện ra bài thơ (tháng 6/1986), tôi đã phải xin ông chủ nhà một chậu nước và khá nhiều xà phòng bột lau chùi, những chữ thánh hiền, đã bị hơi nóng của bếp than và mùi phân lợn phong tỏa suốt 20 năm, mới lờ mờ hiện ra. Khi tôi công bố điều đó, nhiều người rất ngạc nhiên và mừng rỡ, cũng có người tức giận.
Lại phải chờ gần hai năm sau, vào năm chẵn, tôi mới đề xuất tổ chức Ngày thơ Quảng Ninh vào 29 tháng 3 hằng năm, nhân 520 năm (1468 – 1988) bài thơ của vua Lê được khắc lên vách núi và đặt bài thơ của vua Lê ở đầu nguồn, có giá trị khai sinh. Rất may là tập thể lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh đã ủng hộ chủ trương này. Phải kể ra đây (theo lịch trình của công việc) công lao và tâm huyết của ông Hoàng Thuận, Chủ tịch Hội của tôi, ông Vũ Cẩm, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, bà Nguyễn Thị Hồng Cường, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, ông Nguyễn Bình Giang, Bí thư Tỉnh ủy, ông Nguyễn Tất Dũng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, ông Nguyễn Nguyên Nhân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Hồng Gai, ông Trần Quốc Lân, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Ninh, ông Nguyễn Thanh Sĩ, Giám đốc Sở Văn hoá.… Tôi kể hơi dài, vì nó là tiền đề để 15 năm sau (2003) có Ngày thơ Việt Nam, như nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã nhiều lần chính thức xác nhận trước các cơ quan thông tin báo chí ở trong nước. Chính ông Nhân đã đền bù cho chủ nhà, phá dỡ cái bếp và cái chuồng lợn, mới có cái sân sau khoảng non 50 mét vuông, để một số nhà lãnh đạo lớn của đất nước, mà cao nhất là ông Phan Diễn, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, rồi các nhà văn hoá nổi tiếng của Việt Nam, từ Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Trần Hoàn, Tào Mạt, Nông Quốc Chấn, Vũ Tú Nam, Hữu Thỉnh… đến các trí thức và văn nghệ sĩ nổi tiếng từ nhiều nước khác trên thế giới, khi thăm vịnh Hạ Long, đã đến đây thắp hương(*). Nhân sự kiện này, Tào Mạt có viết tặng tôi một bài thơ chữ Hán thất ngôn bát cú, chữ Tào Mạt rất đẹp, hào hoa và lời thơ lại rất uẩn súc, trang nhã, hiện tôi vẫn lưu giữ như một trong những giá trị tinh thần thiêng liêng của gia đình.
Hiện nay, toàn bộ khu này đã được giải tỏa, một con đường bao biển, trong đó có một đoạn dài phải làm cầu vòng quanh núi, đi trên mặt nước, rồi qua phía trước bài thơ, dự kiến sẽ là một quảng trường Thơ. Trong Lễ hội Thơ sắp tới, 2012, những câu thơ Việt Nam xuất sắc sẽ được bay lên trời từ quảng trường Thơ này.
237. Nguyễn Đức Tùng:
Như thế, công việc có nhiều thuận lợi. Các anh đã gặp những khó khăn nào?
Trần Nhuận Minh:
Trong một cuộc làm việc của tỉnh, do Bí thư Tỉnh ủy chủ trì, một vị rất có uy thế, chất vấn tôi bốn điều: 1 - bài thơ của vua Lê không hay, nếu hay đã có trong sách giáo khoa; 2 - bài thơ này vua Lê làm trong lúc đánh dẹp nông dân khởi nghĩa; 3 - câu thơ “Chính thị tu văn yển vũ niên” là trái với đường lối của Đảng (diễn ý của câu này: đây là lúc làm được cái việc giảm quân sự, tăng cường chính trị, văn hóa, kinh tế… mà xây dựng đất nước ở thời bình, bởi văn là văn trị – vị này cho giảm quân sự là sai – và đưa ý này ra là trái…) và 4 - xem ông Minh có ý định khôi phục các giá trị của ông hoàng bà chúa trên đất của giai cấp công nhân mỏ hay không?… Tôi rất thong thả và khiêm nhường bác lại các ý kiến ấy và điều rất may là ông Nguyễn Bình Giang, Bí thư Tỉnh ủy, ủng hộ lời giải trình của tôi, khi kết luận: tỉnh đồng ý tiếp tục cho tổ chức Ngày thơ và tỉnh bỏ tiền ra tu bổ bảo tồn bài thơ của vua Lê.
Người đứng đầu tỉnh đã kết luận như thế, nhưng các cơ quan chức năng chưa hẳn đã yên tâm, nên tỉnh phải tổ chức cuộc hội thảo về núi Bài Thơ, trong đó có bài thơ này và Ngày thơ Quảng Ninh, với sự tham gia của “tứ trụ”: Lâm (Đinh Xuân Lâm), Lê (Phan Huy Lê), Tấn (Hà Văn Tấn), Vượng (Trần Quốc Vượng) như người ta thường nói và các nhà Hán Nôm học có uy tín như Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh, Hoàng Giáp, Lại Văn Hùng… và đại diện các cơ quan chức năng khác của tỉnh, của Viện Văn học, Hội Nhà văn, vân vân…
Kết luận hội thảo khẳng định: bài thơ của vua Lê, viết trong chuyến đi tuần An Bang (Quảng Ninh ngày nay), lo việc phòng thủ đất nước, sau cuộc duyệt võ trên sông Bạch Đằng, là bản Tuyên ngôn toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia Đại Việt và niềm quyết tâm xây dựng quốc gia này hùng mạnh. Hội thảo rất hoan nghênh sáng kiến tổ chức Ngày thơ Quảng Ninh và ghi nhận công lao và tâm huyết của nhà thơ Trần Nhuận Minh trong việc này.
Toàn bộ văn bản của hội thảo với nội dung trên đã được xuất bản trong tập kỷ yếu: Núi Bài Thơ di tích và danh thắng, do Ủy ban nhân dân thị xã Hồng Gai, đứng tên xuất bản năm 1992. Ông Lê Quán Tần, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy (sau này là Chánh thanh tra Bộ Giáo dục và đào tạo) và ông Nguyễn Văn Tuấn, cán bộ của ban (sau đó là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long, hiện là Tổng Cục trưởng Du lịch Việt Nam), một người biết quý chữ và trọng tính khách quan của các giá trị văn hóa và lịch sử, chuẩn bị các tham luận của hội thảo lịch sử này. Ông Tần vỗ vào vai tôi, nói (có nhiều người cùng nghe): “Tỉnh ủy Quảng Ninh tốn 42 triệu đồng, chỉ để chứng tỏ là Trần Nhuận Minh đã nói đúng, nhưng nhà thơ nói thì không ai tin”.
Từ kết quả cuộc hội thảo này, năm 1994, cụm danh thắng núi Bài Thơ đã được nhà nước Việt Nam công nhận là Di tích lịch sử và văn hóa cấp quốc gia. Và gần đây, dự án xây dựng khu văn hoá núi Bài Thơ đã được duyệt, sẽ xây dựng ở gò cao lưng núi đá, diện tích 11 nghìn mét vuông, với chính điện, trong đó có tượng thờ Lê Thánh Tông và các kiến trúc phụ cận khác, như tả vu, hữu vu, lầu chuông, lầu trống, hồ bán nguyệt, sân đại bái… tổng vốn đầu tư 53 tỉ đồng từ nguồn xã hội hoá. Công trình sẽ hoàn thành năm 2013, nhân 50 năm thành lập tỉnh Quảng Ninh. Đây sẽ là nơi tôn vinh sự học và các hiền tài, nơi hằng năm trao giải thơ Lê Thánh Tông và phát thưởng cho học sinh giỏi các cấp…
238. Nguyễn Đức Tùng:
Chúng tôi về thăm Hồng Gai, nghỉ tại khách sạn ven bờ vịnh, ở điểm khởi đầu của đường Lê Thánh Tông. Cô tiếp tân khách sạn bảo tôi đó là con đường đẹp nhất thành phố Hạ Long, và tên đường là do anh Trần Nhuận Minh đặt. Đúng không?
Buổi sáng, chúng tôi dậy rất sớm, ngồi uống café với nhau, khi chị chủ quán vừa pha café vừa cầm lược chải tóc, trong làn sương mù bay từ biển lên. Tôi ngắm mặt biển nằm nghiêng nghiêng, nhìn dọc theo đường thấy hoa bằng lăng nở tím, nhớ đến một truyện ngắn hình như của Thế Lữ viết về thị xã Hồng Gai ngày trước. Nhân vật trong truyện ấy lấy làm tiếc rằng người yêu của mình không đi với mình đến cảnh biển đẹp nên thơ. Nhưng anh có đọc Lê Phong phóng viên, Mai Hương và Lê Phong không? Những truyện ấy lâu lắm rồi, thời xửa thời xưa.
Tôi thấy vui về cái tên đường, thì ra thơ cũng có tác động vào đời sống theo cách riêng của nó.
Trần Nhuận Minh:
Tôi rất tiếc chưa đọc những truyện đó.
Về tên đường, tôi cũng chỉ là người đề xướng và được ông Chủ tịch Tỉnh lúc đó là Nguyễn Tất Dũng rất ủng hộ. Trong Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ V, 29 tháng 3 năm 1992, có nhà thơ Hữu Thỉnh, Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, các nhà thơ công tác ở các cơ quan Trung ương, Hà Nội, nhiều tỉnh bạn, có nhà thơ ra từ núi rừng miền Trung, từ đồng bằng Nam bộ, và đông đảo nhân dân thị xã Hồng Gai tham dự. Lễ đặt tên Lê Thánh Tông cho con đường đẹp nhất thị xã đi cạnh chân núi Bài Thơ, dài hơn 8 km, từ bến phà Hồng Gai đến tận Cầu Trắng, Cột Tám, được cử hành trọng thể. (Hiện nay, đường Lê Thánh Tông chỉ đến cầu Kinh Liêm, trong phạm vi nội thị, bởi số nhà không thể quá con số 999. Phần còn lại đi qua cổng Trụ sở Tỉnh ủy Quảng Ninh, là đường Nguyễn Văn Cừ).
Sau khi ông Đoàn Muộn, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Hồng Gai đọc quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh, do ông Chủ tịch tỉnh Nguyễn Tất Dũng ký, ông Đoàn Muộn và tôi, nhà thơ Trần Nhuận Minh, là hai người đứng ở hai bên, được vinh dự mở tấm vải nhung đỏ phủ lên bảng tên đường làm bằng xi măng cốt thép, to rộng, do họa sĩ Duy Mạnh, thiết kế và thi công, đặt ở đầu đường từ bến phà lên.
Đó là hành trình 5 năm, từ một bài thơ, đến một Ngày Thơ, một cuộc hội thảo khoa học xác định giá trị và một con đường mang tên nhà thơ; sau đó, lần lượt: sự công nhận di tích để bảo tồn cấp quốc gia và một con đường bao biển ra đời và hiện nay, một quảng trường Thơ và một khu văn hoá núi Bài Thơ đã được phê duyệt quy hoạch xây dựng, chuẩn bị khởi công…
Nhân đây, tôi xin nói thêm. Nhà tôi thời đó ở dốc Bồ Hòn, sát con đường dốc lên Thị ủy, nay là Khu Văn hóa núi Bài Thơ, chưa biết đặt tên gì. Trong cuộc họp đặt tên đường, ông Đoàn Mạnh Mai, Thường vụ Thị ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Thị ủy nói: Phố này có một nhà thơ ở, nên đặt tên là phố Nguyễn Du. Ông Chủ tịch tỉnh Nguyễn Tất Dũng, nguyên là Bí thư Thị ủy Hồng Gai nói luôn: Đúng quá rồi! Phố Nguyễn Du! Mọi người cười vui, tán thành. Tôi rất cảm động và biết ơn chi tiết đó, bởi tôi yêu Nguyễn Du vô cùng. Rất nhiều năm tháng xưa, và cho đến bây giờ, tôi vẫn thích đi về trên con đường mang tên nhà thơ mà tôi yêu mến và ngưỡng mộ khôn cùng.
239. Nguyễn Đức Tùng:
Tôi nghe nói, trước Quảng Ninh, tỉnh Phú Yên cũng có đêm thơ Nguyên tiêu.
Ngày tôi còn nhỏ, bảy, tám tuổi, khi tương đối hòa bình, vào dịp rằm Trung thu, một vài lần tôi cũng được ba tôi dẫn đi xem đêm ngâm thơ, bình thơ của các cụ già khăn đóng áo dài. Vui lắm, vì tôi được ăn kẹo bánh, chứ thơ thì chẳng hiểu gì.
Trần Nhuận Minh:
Từ rất xưa, các cụ ta thường gặp nhau uống rượu hay thưởng trà và đọc thơ cho nhau nghe vào ngày tết Nguyên tiêu, cũng gọi là tết Thượng Nguyên, với thú chơi tao nhã. Các nhà thơ sau này, ở nhiều địa phương, cũng thường hẹn gặp nhau vào tết Thượng Nguyên… Nhưng chỉ có tỉnh Phú Yên, Đêm thơ Nguyên tiêu mới chảy thành một dòng văn hoá, nhất là từ khi có Ngày thơ Việt Nam tổ chức vào ngày Nguyên tiêu. Thực lòng mà nói, tôi cũng chỉ biết Đêm thơ Nguyên tiêu cách đây dăm bảy năm, qua báo chí và các bạn thơ trong đó cho hay. Phú Yên là tỉnh kết nghĩa với Hải Dương quê tôi. Có lần, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Dương muốn tôi nhập đoàn vào thăm Phú Yên, tôi vui vẻ nhận lời, mà đoàn chưa đi được. Tôi rất mừng khi biết các bạn thơ trong đó đã chọn ngày Nguyên tiêu làm ngày hội thơ của mình từ rất sớm, năm 1981. Chính các bạn thơ Phú Yên gặp tôi ở Hà Nội và Quảng Ninh, đã cho tôi biết, trước khi có Ngày thơ Việt Nam, năm 2003, Đêm thơ Nguyên tiêu ở Phú Yên không xuất phát từ bài thơ Nguyên tiêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mà bài thơ này được đặt ở vị trí khai sinh của Ngày thơ Việt Nam, cũng như bài thơ của vua Lê Thánh Tông khắc trên vách đá núi Truyền Đăng, được đặt ở vị trí khai sinh của Ngày thơ Quảng Ninh. Dù có khác nhau về ngọn nguồn như vậy, việc chọn ngày Nguyên tiêu để tổ chức Đêm thơ hằng năm là một đóng góp lớn của tỉnh Phú Yên cho Ngày thơ Việt Nam.
Để hình dung không khí Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ 24 vừa diễn ra, mời anh đọc một bài báo đã đăng trên báo Kinh tế hợp tác Việt Nam số 15 (1001) từ ngày 07 – 13 / 4 / 2011 của nhà báo thường trú tại Quảng Ninh: Đinh Quận (dẫn nguyên văn):
NGÀY THƠ QUẢNG NINH –
THƠ LÊN RỪNG, XUỐNG BIỂN, ĐẾN VỚI THỢ MỎ…
ĐINH QUẬN
Ngày thơ Quảng Ninh do nhà thơ Trần Nhuận Minh, nguyên Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ninh, người được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật (đợt 2), đề xuất và được lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh đồng ý cho tổ chức hằng năm, bắt đầu từ 29/3/1988, nhân 520 năm, vua Lê Thánh Tông cho khắc bài thơ của mình trên núi Truyền Đăng (ngày 29/3 năm Quang Thuận thứ 9, 1468). Vì sự kiện trên mà núi Truyền Đăng được đổi tên thành núi Bài Thơ.
Ngày thơ Quảng Ninh năm nào cũng có nhiều nhà thơ từ Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, Sóc Trăng, Cần Thơ, Cà Mau… tham dự. Mỗi năm, Ngày thơ Quảng Ninh lại có sự khởi sắc mới và được tổ chức ở một địa chỉ khác nhau. Có năm, giới văn nghệ sĩ "gánh" thơ lên tận huyện miền núi Bình Liêu, nhân 50 năm huyện được giải phóng. Có năm, lại "chở" thơ ra đảo Cô Tô, nhân kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ. Có năm, Ngày thơ Quảng Ninh được tổ chức tại huyện Yên Hưng, nhân kỷ niệm 720 năm nhà Trần đại thắng quân Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng (Mậu Tý 1288). Có năm, các nhà thơ lại về với cõi Phật Yên Tử. Cũng có năm, Ngày thơ Quảng Ninh được tổ chức tại một doanh nghiệp lớn của ngành than…
Suốt 24 năm qua, Ngày thơ Quảng Ninh luôn trao Giải thưởng Lê Thánh Tông hằng năm cho các tác giả là công chúng yêu thơ, trong đó có giải thơ trẻ, dành cho học sinh trung học phổ thông, giải dành riêng cho tác giả là người dân tộc thiểu số và người cao tuổi (trên 80 tuổi). Nếu Ngày thơ là đưa thơ đến với công chúng thì Giải thơ lại đưa công chúng đến với thơ. Không ít bài thơ xuất sắc được trao giải là thơ của những người đào than trong lò, trồng rừng trên núi cao hay đánh cá dưới biển…
Trong Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ XXIV (29 / 3 / 2011), những người tham dự đến chân núi Bài Thơ, làm lễ dâng hương, sau đó, là lễ thả thơ, thả những chùm thơ đặc sắc của các nhà thơ lên trời. Những quả bóng hơi cỡ lớn kéo theo những dải lụa đủ màu sắc có đề những áng thơ hay bay qua đỉnh cao của núi Bài Thơ hòa nhập vào trời xanh trên vịnh Hạ Long, khiến cho thành phố Hạ Long nhộn nhịp và háo hức hẳn lên.
Buổi tối cùng ngày, là chương trình Thơ với thợ mỏ được tổ chức tại công ty cổ phần than Hà Lầm, nhân 75 năm ngày truyền thống công nhân ngành than (12/11/1936 – 12/11/2011) trong bầu không khí đầm ấm, chan chứa nghĩa tình giữa thợ mỏ với thơ ca.
Ngày thơ Việt Nam lấy ngày Rằm tháng Giêng, nhân 55 năm (1948 – 2003), ngày Bác Hồ viết bài thơ Nguyên tiêu tại Việt Bắc, trùng với cách chọn Ngày thơ Quảng Ninh, nhân 520 năm vua Lê Thánh Tông cho khắc thơ trên núi đá, tạo thành một quả núi thơ, một tượng đài thơ giữa trời xanh. Sáng kiến văn hóa có tầm quốc gia của Quảng Ninh là tổ chức Ngày thơ Quảng Ninh, đã được Hội Nhà văn Việt Nam nhân rộng ra cả nước thành Ngày thơ Việt Nam.
Năm 2012, tròn 25 năm Ngày thơ QuảngNinh, 10 năm Ngày thơ Việt Nam, Phó Bí thư thường trực tỉnh ủy Quảng Ninh Đỗ Thị Hoàng và nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, đã thống nhất ý tưởng, sẽ tổ chức Lễ hội thơ từ Hạ Long về Thăng Long – Hà Nội, trong đó có sự tham dự của các nhà thơ châu Á, rước bài thơ tạc trên vách đá núi Bài Thơ của vua Lê Thánh Tông về Văn Miếu - Quốc Tử Giám - Hà Nội.
Có vài chi tiết bài báo chưa phản ánh. Anh cũng nên biết thêm. Sau Lễ thả thơ, là Lễ trao giải Lê Thánh Tông lần thứ 23, tại Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, chiều ngày 29/3/2011, nhà thơ Hữu Thỉnh, vị Chủ tịch thứ tư của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, sau nhà văn Nguyễn Đình Thi (riêng nhà văn Nguyễn Đình Thi về dự Lễ trao giải Lê Thánh Tông hai lần), nhà thơ Huy Cận và nhạc sĩ Trần Hoàn… đã phát biểu rất sâu sắc, trong đó, ông khẳng định rằng: giải thưởng Lê Thánh Tông của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Ninh năm 1988, cũng là gợi ý để nhà văn Nguyễn Đình Thi xây dựng nội dung và tiêu chí giải thưởng của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, bởi giải của Liên hiệp hình thành sau non 10 năm và nói chung là trùng với giải Lê Thánh Tông…
Và tại Hội trường mỏ Hà Lầm, trong chương trình chính thức của Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ 24, đêm 29/3/2011, một lần nữa, nhà thơ Hữu Thỉnh ghi nhận sáng kiến tổ chức Ngày thơ Quảng Ninh đã được nhân rộng ra cả nước thành Ngày thơ Việt Nam.
240. Nguyễn Đức Tùng:
Như vậy, có thể nói Ngày thơ Việt Nam hiện nay bắt đầu từ ý tưởng của Ngày thơ Quảng Ninh.
Sau đó, Hội Nhà văn tổ chức với quy mô rộng lớn hơn. Anh cũng cho biết, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch hội hiện nay, cũng nói như thế.
Theo tôi, việc tổ chức Ngày thơ ở Hà Nội và các địa phương là điều đáng làm. Nhưng xung quanh các ngày hội thơ cũng có nhiều dư luận khen chê khác nhau. Theo anh, chúng có ích lợi gì không, đối với người viết và người đọc?
Trần Nhuận Minh:
Nhà thơ Hữu Thỉnh lần đầu tiên công bố điều này, lúc 9 giờ 15 phút ngày 11 tháng 01 năm 2003, tại đại hội Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh lần thứ VIII, tổ chức tại Nhà văn hóa Việt Nhật, có các vị lãnh đạo cao nhất của tỉnh Quảng Ninh, các đại biểu chuyên ngành và chức năng của Trung ương, Hà Nội, các tỉnh bạn và khoảng 650 người dự, toàn văn đã đăng báo Quảng Ninh, Hạ LongTiền phong chủ nhật, như sau:
Thay mặt Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, tôi xin trân trọng thông báo với các đồng chí lãnh đạo tỉnh và các bạn văn nghệ sĩ dự đại hội toàn thể của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh, rằng: từ thực tế tổ chức và những bài học kinh nghiệm của Ngày thơ Quảng Ninh, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, trong phiên họp toàn thể ngày 26 tháng 12 vừa qua, đã quyết định lấy ngày Nguyên tiêu, Rằm tháng Giêng âm lịch hằng năm, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh, viết bài thơ Nguyên tiêu năm 1948 làm Ngày thơ Việt Nam”.
Ngày thơ mang tên một vùng đất là tỉnh Quảng Ninh, được tổ chức bài bản theo kiểu lễ hội, lễ trước rồi hội sau, lễ lễ dâng hương trước bài thơ của vua Lê Thánh Tông, có sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền và sự tham gia của các đoàn thể quần chúng, hội là các hoạt động của các nhà thơ và mọi người yêu thơ, với các tiết mục ngâm thơ, hát thơ, trình diễn thơ trên các sân khấu, ở trong nhà hay ngoài trời, có đánh trống khai hội, treo cờ thơ, căng băng đỏ trên đường ở phía trước và phía sau, chỗ có trụ sở Hội Văn học nghệ thuật cấp huyện thị, ở các huyện thị trong tỉnh, trước ngày 29/3, hai ngày, để chào mừng và đón khách. Còn ở thị xã Hồng Gai, thì ngoài các băng đỏ treo ngang đường, những phông lớn hàng chục mét vuông về Ngày thơ nền đỏ chữ vàng, buông xuống từ nhiều nhà cao tầng. Riêng việc treo cờ thơ ở trước hội trường huyện ủy, thị ủy hoặc ủy ban nhân dân các huyện thị trong tỉnh, có tổ chức chương trình thơ, trong Ngày thơ, chỉ có một địa phương không đồng ý là huyện ủy huyện Hải Ninh (sau này gọi là Móng Cái), tôi phải về tận nơi giải thích, và được sự ủng hộ của Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, qua điện thoại, mới được thực thi. Cờ thơ, là cờ ngũ sắc, cờ lễ hội, có chữ Lê rất lớn (chỉ vua Lê Thánh Tông) - chữ Hán - ở giữa, rồi in những câu thơ hay của các nhà thơ cổ điển viết về Quảng Ninh vào lá phướn đỏ treo lên cây nêu xanh ở ven đường hoặc treo dưới bóng các cây cổ thụ, nơi tổ chức chính của Ngày thơ, lúc đầu làm nhiều người thấy rất ngỡ ngàng… Sau này mới có thả thơ và bán các tập thơ của công ty sách.
Hội tụ đủ các nội dung như thế, thì Quảng Ninh là tỉnh làm đầu tiên, từ 1988, đến nay. Nếu Đêm thơ Nguyên tiêu Phú Yên, từ 1981, cũng đã làm với các nội dung và các hình thức như thế, thì Quảng Ninh là tỉnh thứ hai. Trong đó hình ảnh vua Lê và bài thơ khắc trên vách đá núi Truyền Đăng được dựng thành màn biểu diễn hoành tráng, có tiếng trống, tiếng chiêng hòa âm, mở đầu, rất linh thiêng, nhiều người nghe lần đầu nói với tôi là rất xúc động.
Sau này, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Ngày thơ, về cơ bản, cũng theo mô hình này, dựng trên sàn diễn là bài thơ Nam quốc sơn hà…, với hình ảnh Lý Thường Kiệt và đội quân hào hùng giáo mác của ông… Dĩ nhiên, Hội Nhà văn tổ chức chuyên nghiệp hơn và hoành tráng hơn, tầm vóc cũng rộng lớn hơn.
Và điều quan trọng nhất là, Ngày thơ Quảng Ninh với những nội dung đó, nhất quán và ổn định ngay từ ngày đầu, 28 - 29/3/1988, cho đến tận ngày hôm nay, dù màu sắc mỗi năm mỗi khác. Đó là những cố gắng dân gian hóa và xã hội hóa, để hy vọng Ngày thơ bổ sung vào những ngày lễ hội văn hóa dân tộc ở một vùng quê.
Các hình thức khác như hội thảo khoa học, đã từng làm với tầm quốc gia, như hội thảo 10 năm đổi mới thơ Việt Nam, nhân 40 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam, tại trung tâm Tổ chức hội nghị của tỉnh; xét và trao giải thưởng thơ hằng năm mang tên Lê Thánh Tông của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh (nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã một lần được trao Giải A thơ Lê Thánh Tông và nhà văn Vũ Tú Nam, Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, được mời trao cho ông tại Lễ trao giải Lê Thánh Tông, tổ chức tại Nhà Văn hóa hữu nghị Việt Nhật). Trực tiếp đến trao giải còn có thủ trưởng các đơn vị thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh; thành lập một tổ chức nghề nghiệp là câu lạc bộ thơ Lê Thánh Tông do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh lãnh đạo, có sự tham gia của các huyện thị trong tỉnh, có hội đồng nghệ thuật để thẩm định tác phẩm; xuất bản chuyên san THƠ, đã in được sáu số, mỗi số một chuyên đề như: số 1 - thơ đổi mới; số 2 - thơ công nhân mỏ và về công nhân mỏ; số 3 - thơ về vịnh Hạ Long; số 4 - thơ về chiến thắng Bạch Đằng; số 5 - thơ về danh sơn Yên Tử và thiền phái Trúc Lâm; và số 6 - thơ của thi xã Bích Động ở thời Trần (thuộc Đông Triều, Quảng Ninh) mà chúng tôi coi là tổ chức đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam… Người trực tiếp phụ trách in ấn cả sáu số đó, là ông Đàm Hiển, lúc đó là ủy viên hội đồng nghệ thuật, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Ninh và bìa do họa sĩ, nghệ sĩ nhân dân – nhà thơ Lê Huy Quang (Hà Nội) trình bày chung cho các số, còn đến số nào thì in số thứ tự đó vào góc bìa, chỗ hoạ sĩ đã trình bày mẫu ở số 1.
Chính nhà thơ – họa sĩ Lê Huy Quang đã có lần nói rằng, ở một mức độ còn sơ khai, vẫn có cơ sở để nói rằng, tạp chí THƠ đầu tiên của Việt Nam cũng đã ra đời lần đầu tiên ở đây.
Rồi tổ chức thi thơ, thi ngâm thơ, thi hát các bài thơ phổ nhạc, thi hát dân ca và ca trù, vì lời ca cũng là thơ, hoặc thơ dân gian, với sự tham gia của các nhà thơ và nghệ sĩ vùng trọng điểm phía Bắc là ba tỉnh, thành phố: Quảng Ninh - Hà Nội - Hải Phòng, đã được thực hiện đầu tiên ở Quảng Ninh… Cùng với nữ nghệ sĩ Vũ Kim Dung và các nghệ sĩ của Đài Tiếng nói Việt Nam, tham gia nhiều năm, có đến ba năm, nghệ sĩ Thúy Cải và đoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh đã được mời tham gia Ngày thơ Quảng Ninh cũng là vì lẽ đó.
Tất cả những điều trên đều được hình thành đồng bộ và cùng một lúc, bắt đầu từ ngày 28 - 29/3/1988 và được thực hiện suốt 24 năm qua. Cùng với sự ủng hộ và vào cuộc của nhiều ngành, nhiều người, bản thân tôi có thêm một số thuận lợi: đã 5 khóa, 25 năm liền, là ủy viên ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, là người trực tiếp tham gia sáng lập Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ninh, rồi làm trưởng ban Thơ của Hội khi Hội vừa thành lập, rồi phó chủ tịch, chủ tịch Hội, bí thư đảng đoàn, tổng biên tập báo Hạ Long… miệng nói tay làm, không nề hà bất cứ khó khăn gì, và đã làm là cố gắng để có hiệu quả cao nhất, nếu còn có thể. Tôi cũng không dành cho cá nhân mình bất cứ cái gì, kể cả tiền thù lao… cho nên mọi việc mọi xong.
Trong Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ 17, tổ chức tại khu du lịch Quốc tế Tuần Châu, có Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phúc Thanh tham dự, sau lời khai mạc của Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Quang Hưng, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, đọc lời chào mừng, có câu: Quảng Ninh được ghi nhận là nơi khai sinh Ngày thơ. Sáng kiến có tầm văn hóa quốc gia đó đã được nhân rộng ra cả nước. Sinh ra được Ngày thơ đã khó. Duy trì và phát triển để nó tồn tại đến ngày hôm nay và sau này nữa, còn khó hơn nhiều.
Bài phát biểu này của nhà thơ cũng được đăng báo rất trang trọng ngay sau ngày đó.
Suốt 18 lần trực tiếp tổ chức Ngày thơ Quảng Ninh, nghĩa là thời gian tôi còn làm việc ở Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, trước khi về hưu, Ngày thơ Quảng Ninh thường được tổ chức ba ngày liền, từ 28 đến hết 30, có lần đến hết 31 tháng 3, ngày 01 tháng 4 mới tiễn khách. Nhiều nhà thơ nổi tiếng từ Sài Gòn, Huế đã về Ngày thơ, đọc thơ ở các địa phương, các xí nghiệp công trường, trường học… và giao lưu với khán giả, tổng cộng ba đến bốn ngày, có buổi đến dăm bảy trăm người dự, có buổi đến hàng nghìn người dự.
Các nhà thơ từ Nguyễn Đình Thi, Huy Cận, Vũ Cao, Vũ Tú Nam… đến Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đức Mậu, Thúy Toàn, Trần Lê Văn, Vũ Quần Phương, Vương Trọng, Nguyễn Bùi Vợi, Vân Long, Phan Thị Thanh Nhàn, Ngô Văn Phú, Nguyễn Bao, Định Hải, Quang Huy, Võ Thanh An… Rồi các nhà phê bình: Phong Lê, Phạm Xuân Nguyên, Lê Thành Nghị, Hồng Diệu, Vân Thanh, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ… Rồi nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Minh, Lâm Thị Mỹ Dạ… ở Huế, Lò Văn Cậy ở Sơn La, Thạch Linh ở Lai Châu, Trần Ngọc Tuấn ở Đồng Nai, Tạ Văn Sĩ ở Tây Nguyên, Song Hảo ở đồng bằng Nam bộ… nhà văn Ma Văn Kháng, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Lê Minh… nhà văn Hoàng Lại Giang từ TP Hồ Chí Minh vân vân… đều đã có mặt trong một, hai, hay nhiều Ngày thơ Quảng Ninh. Có riêng chương trình thơ Huy Cận, thơ Nguyễn Đình Thi. Nhạc sĩ Trần Hoàn cũng có một chương trình ca khúc phổ thơ do chính nhạc sĩ tự trình bày… Khi đang hát, mệt quá, nhạc sĩ Trần Hoàn ngồi phịch xuống bục gỗ trên sân khấu, tay vẫn gảy đàn và hát, làm cả hội trường vỗ tay vang dội…
Đã có nhiều bài thơ của các nhà thơ viết về Ngày thơ Quảng Ninh. Xin dẫn hai bài, một của nhà thơ lão thành, từ Hà Nội, trích ra từ tuyển tập thơ của ông:
VỀ PHỐ HÀM LONG NHỚ HẠ LONG
Ghi tặng cuộc Hội thảo thơ
trong Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ X (29 – 3 - 1997)
TRẦN LÊ VĂN (1920 – 2005)
Đêm về Hàm Long không ngủ được
Còn tưởng đứng trên tầng gác cao
Đối diện với núi hàng triệu tuổi
Muôn kiếp người qua như chiêm bao
Còn tưởng soi mình vào biển cả
Phút giây choáng ngợp trước Vô cùng
Phút giây nguôi quên cái lắt nhắt:
Tơ rối đêm ngày gỡ khó xong
Còn tưởng đang vui cùng Hội Thơ
Tao Đàn thuở trước đến bây giờ
Vẫn còn vang bóng vua – thi sĩ
Thơ núi không mòn với nắng mưa…(*)
Đêm về Hàm Long không ngủ được
Đứng trước hiên nhà mỏi mắt trông
Chỉ thấy đường phố quá quen thuộc
Đâu thấy núi, biển, trời Hạ Long!
Phố Hàm Long, Hà Nội, đêm 30/3/1997
Và hai, của nhà thơ lúc đó còn trẻ, Trần Ngọc Tuấn, từ Đồng Nai Nam bộ, trích ra từ báo Hạ Long và tập thơ riêng của ông:
CÓ MỘT NGÀY THƠ NHƯ THẾ…
TRẦN NGỌC TUẤN
Có một Ngày thơ như thế ở Quảng Ninh. Thành phố Hạ Long xôn xao như hội. Tấm băng zôn mừng NGÀY THƠ… căng ở bến phà, căng khắp phố. Nhà thơ thong dong giữa xứ sở của mình
Có một đêm thơ như thế ở Quảng Ninh. Ai hát Trường Sơn Đông để Trường Sơn Tây thương nhớ. Ai gửi nỗi niềm qua Thằng Bờm, Thị Nở… Ai xé lòng nghe Tiếng cuốc kêu…
Có một đêm thơ như thế ở Quảng Ninh. Ai hờn, ai ghen, ai chờ, ai đợi. Ai buốt giá khi tình yêu hóa đá… Ai não lòng khi thế giới này thiếu bóng đàn ông… Ai… và rất nhiều ai nữa… Một đêm thành ký ức Hạ Long. Một đêm thành chuyện kể trăm năm…
Có một tình yêu như thế ở Quảng Ninh. Ai ngây ngất trong vòng tay thi hữu. Giữa đong đếm đắng cay chợ đời cơm áo. Tình thơ Quảng Ninh dịu ngọt đến không ngờ…
Có một đất thơ như thế ở Quảng Ninh. Thợ mỏ làm thơ, thầy giáo làm thơ và dường như tất cả… Hồn thanh thản mà không sao ngủ được. Chợt hiểu vì sao Lê Thánh Tông khắc thơ trên đá tại nơi này…
Có một trời thơ như thế ở Quảng Ninh…
Ngày thơ Quảng Ninh
29/3/1997
241. Nguyễn Đức Tùng:
Xin cho nghe bài thơ của vua Lê.
Trần Nhuận Minh:
Vâng. Xin có ngay. Tốt nhất là tôi chuyển thẳng ra đây toàn văn bài thơ của vua Lê và bản dịch, chép từ Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông, tổng tập, của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, do nhà Hán Nôm học Mai Xuân Hải chủ biên, Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2003, rồi sau đó, tái bản nhiều lần:
NGỰ CHẾ THIÊN NAM ĐỘNG CHỦ ĐỀ
Quang Thuận cửu niên xuân nhị nguyệt, dư thân xuất lục quân, duyệt binh vu Bạch Đằng giang thượng. Thi nhật phong hòa cảnh lệ, hải bất dương ba, Hoàng Hải tuần An Bang, trú sư Truyền Đăng sơn hạ, ma thạch đề thi nhất luật
Cự tẩm uông dương triều bách xuyên
Loạn sơn kỳ bố bích liên thiên
Tráng tâm sơ cảm Hàm tam cổ
Tín thủ dao đề Tốn nhị quyền
Thần Bắc khu cơ sâm hổ lữ
Hải Đông phong toại tức lang yên
Thiên Nam vạn cổ hà sơn tại
Chính thị tu văn yển vũ niên
Thiên Nam Động Chủ đề
Dịch
Tháng 2 mùa xuân năm Quang Thuận thứ 9 (1468), ta thân chỉ huy sáu quân, duyệt võ trên sông Bạch Đằng. Hôm ấy, gió hòa cảnh đẹp, biển không nổi sóng, ta vượt qua Hoàng Hải, đi tuần An Bang, đóng quân dưới núi Truyền Đăng, bèn mài đá đề một bài thơ:
Nhận nước trăm sông sóng cuộn đầy
Núi bày cờ thế, biếc liền mây
Xưa theo người khác luôn bền chí
Giờ đã tung hoành một chớp tay
Đế Chủ điệp trùng quân hổ mạnh
Hải Đông đã tắt khói lang bay
Trời Nam muôn thuở non sông vững
Yển vũ tu văn dựng nước này!
Trần Nhuận Minh (dịch)
Bài thơ và bản dịch này đã được phổ nhạc, hát múa trong các Ngày thơ Quảng Ninh từ 29/3/1988 đến nay, có lần đã có trong dàn trình diễn tại Lễ hội kỷ niệm ngày thành lập tỉnh, tại sân vận động của tỉnh, khiến đồng chí Phan Diễn, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, về dự lễ, rất chú ý. Sau đó, tôi được mời đến gặp đồng chí Phan Diễn, nói rõ thêm cho đồng chí biết, rồi đưa đồng chí và đoàn công tác của Ban Bí thư ra thăm bài thơ của vua Lê.
Có mấy chữ xin anh lưu ý: “Thiên Nam Động chủ” là bút danh của vua Lê Thánh Tông; “Hàm tam cổ”, được xác định là “hào tam của quẻ Hàm” trong Kinh Dịch, với ý là: nếu mình còn yếu, phải phụ thuộc vào người khác, thì phải giữ được cho vững cái chí của mình; “Tốn nhị” là Thần Gió (không phải “hào nhị quẻ Thuần Tốn” trong Kinh Dịch), đó là hai luồng gió đông nam rất lớn chồng lên nhau, thể hiện sức mạnh cuồng phong sấm sét của nhà vua khi đã vững vàng và Hải Đông là tên vùng đất, có nửa tỉnh phía tây của Quảng Ninh hiện nay ở thời Lê; núi Truyền Đăng xưa, tức núi Bài Thơ nay, nằm ở miền đất phía tây này, nay ở trung tâm thành phố Hạ Long.
242. Nguyễn Đức Tùng:
Anh mong đợi điều gì ở các ngày hội thơ như anh đã tổ chức ở Quảng Ninh trước đây? Xin nói thêm về lịch sử và các tổ chức của các Ngày thơ ở Việt Nam hiện nay, kể từ lúc đề xướng? Người đề xướng, chắc có, vậy là ai?
Trần Nhuận Minh:
Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VI, do nhà thơ Hữu Thỉnh làm tổng thư ký (nay chức danh đó gọi là chủ tịch) là người sáng lập Ngày thơ Việt Nam. Tất nhiên đóng góp cá nhân của nhà thơ Hữu Thỉnh trong việc này rất lớn. Còn ai đề xướng? Tôi đã có bài cụ thể viết về vấn đề này, đã đăng toàn văn trên các báo Văn nghệ Bà Rịa - Vũng Tàu, tháng 2/2011, báo Hải Dương cuối tuần số tân niên, 13/2/2011, báo Quảng Ninh cuối tuần 20/2/2011, báo Văn nghệ 19/2/2011… (Riêng báo Văn nghệ có lược bớt những dòng về việc tổ chức hội thảo, về tham luận của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, và đổi đầu đề là Những ý tưởng đầu tiên về Ngày thơ Việt Nam, số chào mừng Ngày thơ Việt Nam lần thứ 9), rồi đăng nhiều trang mạng nhà nước và tư nhân. Tốt nhất mời anh và bạn đọc cùng xem trích đoạn.
NGƯỜI ĐẦU TIÊN ĐỀ XUẤT NGÀY THƠ VIỆT NAM
(Trích)
TRẦN NHUẬN MINH
Đến bây giờ thì Ngày thơ Việt Nam đã thành một lễ hội văn hóa mới, rất quen thuộc, không chỉ với các nhà thơ và những người yêu thơ Việt Nam. Nhưng người đầu tiên đề xuất là ai? Tôi xin thưa: nhà thơ, đại tá Vương Trọng. Ông đề xuất ở đâu và vào thời gian nào? Xin thưa: tại hội trường khách sạn Công đoàn Bãi Cháy trong Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ VII, ngày 29 tháng 3 năm 1994.
Năm 1994, kỷ niệm 50 năm thành lập quân đội nhân dân Việt Nam (1944 – 1994) và năm có ngày kỷ niệm lớn của cả nước, bắt đầu ở Quảng Ninh: 30 năm chiến thắng trận đầu 5/8 (1964 – 1994). Ngày 5/8/1964, giặc Mỹ bắt đầu dùng không quân đánh phá miền Bắc. Tại vịnh Hạ Long, Quảng Ninh, chiếc máy bay đầu tiên của Mỹ đã bị bắn rơi, và tên giặc lái đầu tiên A. Anvơrét đã bị bắt sống…
Từ cuối năm 1993, tôi đã đề xuất với anh Hoàng Thuận, Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Ninh lúc đó, được anh Hoàng Thuận đồng tình, tôi soạn tờ trình rồi theo anh Hoàng Thuận vào báo cáo với lãnh đạo tỉnh và lãnh đạo tỉnh đồng ý cho tổ chức với quy mô lớn, phối hợp với Quân khu 3, bộ Tư lệnh Hải quân, Hội Văn nghệ Hải Phòng, Hội Nhà văn Việt Nam, Viện Văn học, tạp chí Văn nghệ Quân đội và báo Văn nghệ. Địa điểm chính tổ chức tại Bãi Cháy, nơi diễn ra chiến thắng 5/8. Tại Bãi Cháy có Hội thảo 50 năm (1944 – 1994) thơ chiến tranh cách mạng Việt Nam và hình ảnh Anh bộ đội Cụ Hồ vào sáng 29/3. Tối 29 tháng 3, tại Nhà văn hoá Việt Nhật, thành phố Hạ Long, diễn ra đêm thơ 50 năm Anh bộ đội Cụ Hồ, mà nội dung là thi ngâm thơ và thi hát thơ phổ nhạc Quảng Ninh - Hải Phòng. Sáng hôm sau, thăm vịnh Hạ Long và nơi tên phi công đầu tiên bị người dân chài bắt (thực ra là bộ đội bắt rồi giao cho người dân chài) áp tải về Bãi Cháy. Chiều và đêm đó, các nhóm nhà thơ ở lại mới đến với các chương trình thơ tổ chức trong mỏ than, huyện thị xã, và đơn vị quân đội.
Chủ trì cuộc hội thảo tại Bãi Cháy có nhà thơ Hữu Thỉnh, đại diện Hội Nhà văn và báo Văn nghệ; nhà văn Nguyễn Trí Huân, đại diện tạp chí Văn nghệ Quân đội; nhà phê bình Phong Lê, đại diện Viện Văn học và tạp chí Văn học, anh Hoàng Thuận và tôi. Anh Hoàng Thuận có mời đại diện Hải quân và Hải Phòng, nhưng các anh bảo không cần, hai chủ nhà và ba quan khách là đủ.
Trong hội thảo này, có hai tham luận gây được ấn tượng hơn cả. Một là tham luận của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, Viện Văn học, về thơ của các tác giả, phần lớn đã cầm súng trong quân đội Sài Gòn. Nhà văn Lê Minh có gọi tôi ra, nói nhỏ rằng, em nên có ý kiến nói lại vài điều, kẻo các đồng chí lãnh đạo tỉnh và quân đội có mặt ở đây băn khoăn… Tôi nói: em đã báo cáo Thường trực tỉnh ủy rồi. Có một cái cửa sổ nhỏ mở ra về người lính phía bên kia cho đa dạng, chị ạ. Chị yên tâm, em nghĩ là các anh ấy không băn khoăn gì đâu. Tất nhiên em sẽ nói thêm vài câu trước khi anh Hữu Thỉnh kết luận hội thảo. Hai là tham luận của nhà thơ, đại tá Vương Trọng: Kỳ vọng một Ngày thơ Việt Nam, có đoạn nguyên văn như sau:
Một tỉnh Quảng Ninh khá nhỏ bé, tiềm năng kinh tế khá hạn hẹp, thế mà từ năm 1988 đến nay, năm nào cũng tổ chức được một ngày hội thơ, năm chẵn có thể mời hàng chục đoàn đại biểu của Trung ương và một số tỉnh trong cả nước, năm lẻ ít ra cũng mời được ba bốn tỉnh lân cận. Hình thức tổ chức hết sức đa dạng và hiệu quả, năm thì tập trung ở thành phố Hạ Long, năm thì tụ về các huyện như Đông Triều, Vân Đồn, Móng Cái… Ở đâu cũng được quần chúng nhiệt liệt hoan nghênh, ở đâu thi ca cũng được tôn vinh, nhà thơ được mọi người yêu mến. Cứ mỗi lần đi dự Ngày thơ Quảng Ninh về, tôi lại tự hỏi rằng: tại sao không có Ngày thơ Việt Nam. Nghĩa là trong 365 ngày của một năm, sao không dành một ngày cho thơ… Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Ngày thơ Việt Nam (năm thì ở thủ đô, năm thì tổ chức ở các tỉnh thành phố khác), giải thưởng thơ hằng năm của hội cũng trao vào ngày này…”
Cuối cùng, nhà thơ Vương Trọng đề xuất luôn: “Các bạn phân vân không biết Ngày thơ Việt Nam tổ chức vào ngày nào? Tôi nghĩ rằng: có thể chọn luôn ngày Lê Thánh Tông đề thơ trên núi Truyền Đăng 29 tháng 3, hoặc xa hơn nữa, trước bốn thế kỷ, tìm lại ngày Lý Thường Kiệt viết bài thơ Nam quốc sơn hà… bên bờ sông Như Nguyệt, làm Ngày thơ Việt Nam”.
Những chữ in đậm là do tôi nhấn mạnh. Bài đã đăng báo Nhân Dân. Tôi đã phôtô cả trang báo Nhân Dân này nộp cho nhà thơ Hữu Thỉnh.
Lúc đó nhà thơ Vương Trọng chưa có thông tin về bài thơ Nam quốc sơn hà… không phải do Lý Thường Kiệt viết.
243. Nguyễn Đức Tùng:
Anh có dự các ngày hội thơ được Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ở Văn Miếu hằng năm hiện nay?
Trần Nhuận Minh:
Đó là ngày hội thơ sang trọng và ấm nồng tình người, rất văn hóa, được tổ chức với trình độ cao.
Trong nhiệm kỳ là ủy viên hội đồng Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam, 5 năm, năm nào tôi cũng được phân công vào ban tổ chức vì tôi đã có ít nhiều kinh nghiệm tổ chức các ngày thơ ở Quảng Ninh. Trong đó, có những năm và những việc đáng chú ý. Ví như năm 2007, tôi được giao điều hành chương trình Lễ hội thơ tại sân khấu chính của Ngày thơ Việt Nam. Năm 2008, tôi được giao tham gia chuẩn bị chương trình thơ và tôi cũng đọc trên sân khấu Văn Miếu một bài thơ (bài Dặn con). Năm 2009, tôi cũng được phân công đọc một bài thơ trên sân khấu chính, vào buổi sáng (bài Mũi Cà Mau), rồi buổi chiều, được giao cùng nhà thơ Vũ Quần Phương chủ trì hội thảo thơ tại nhà Thái Miếu. Tại đây, giáo sư Bùi Văn Tân – nhà nghiên cứu hàng đầu văn học trung đại Việt Nam, đã chính thức thông báo bài thơ Nam quốc sơn hà, thường được dàn dựng hoành tráng trong các Ngày thơ Việt Nam, không phải của Lý Trường Kiệt. Ông và các nhà soạn sách giáo khoa đã sai lầm khi ghi tên Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ trong sách học chính thức của các cấp phổ thông và đại học… Năm 2010, tôi được phân công cùng nhà thơ Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương… tham gia chấm thơ dự thi và thơ trình diễn của sinh viên bốn trường đại học tại sân Văn Miếu, là trường Đại học Xã hội và nhân văn, Đại học Văn hoá, Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Thái Nguyên… Từ năm 2011, tôi không về dự, vì tuổi đã cao (67 tuổi) và không có việc gì phải làm. Còn đọc thơ thì tôi đã lên sân khấu Văn Miếu hai lần rồi, không nên xuất hiện lần thứ ba…
Có dự những Ngày thơ như thế, mới thấy thơ là một giá trị thiêng liêng và thấy thêm yêu nhân dân mình vô cùng, một nhân dân nồng hậu, cởi mở, chân thành và rất giầu văn hoá, cội nguồn của mọi sáng tạo.
244. Nguyễn Đức Tùng:
Tôi có nhiều bạn bè ở Hà Nội, có người rất khen, nhưng có người lại rất chê các ngày hội thơ. Theo tôi biết, họ đều là những người có suy nghĩ chín chắn, là các nhà văn nhà thơ nổi tiếng. Những người khen thì cho rằng đó là những ngày vui của các nhà thơ và những người yêu thơ. Ý kiến những người chê, đa số cho rằng ngày hội thơ có tính cách lễ hội phô trương. Anh nghĩ thế nào?
Trần Nhuận Minh:
Ý kiến khen thì cho hội là vui, ý kiến chê thì cho hội là phô trương. Dĩ nhiên là phải như thế rồi, bởi không vui và không có yếu tố phô trương thì đã không phải là lễ hội.
Đối với các Ngày thơ, khuynh hướng muốn biến nó thành lễ hội là hướng phát triển tất yếu trong tư duy của bất cứ ai đã sáng lập ra nó. Xin nói thêm: khi đề xuất Ngày thơ Quảng Ninh, tôi đã nêu xu hướng phát triển của nó là: cải tiến từng bước đi, để trong tương lai, nó sẽ thành một lễ hội thơ, mang yếu tố xã hội và sắc thái dân gian, do nhiều lớp người tự nguyện tham gia trên cơ sở cơ bản là xã hội hóa. Nhà nước chỉ tạo những điều kiện nhất định và làm nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với nó mà thôi. Cái đích đến phải là như thế thì nó mới bền vững được.
245. Nguyễn Đức Tùng:
Thơ Trần Nhuận Minh:
Ánh mắt gian manh
Chữ nghĩa thì giả dối
Sự hấp dẫn của tội lỗi
Say người như men rượu…
Thế nào là sự giả dối trong văn học và của văn học?
Trần Nhuận Minh:
Đoạn thơ trên trích trong 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh của tôi, nói về sự giả dối có thể hấp dẫn người ta đến mức nào.
Trước hết là các nhà viết sử. Viết sử bao giờ cũng là công việc của người chiến thắng và không phải người chiến thắng nào cũng có chính nghĩa. Và khi chính nghĩa đã có rồi, không phải ngòi bút sử gia nào cũng trung thực. Tôi được biết, sau khi Stalin mất, rồi bị đưa ra khỏi lăng, chính Đảng Cộng sản Liên Xô đã viết lại lịch sử của mình.
Văn chương thì khác.
Người nước ngoài có câu ngạn ngữ rất hay: “Một nửa cái bánh mì vẫn là cái bánh mì, còn một nửa sự thật không bao giờ là sự thật”. Rất sâu sắc và thấm thía.
Có ba khái niệm cần phải phân biệt.
Một: Có thể anh nói có “một nửa sự thật” mà người đọc không cho là anh giả dối, nếu anh viết thật lòng và anh tin vào điều anh viết là thật, cũng thật lòng. Khi đọc câu thơ Đường ra trận mùa này đẹp lắm của Phạm Tiến Duật thời Trường Sơn đánh Mỹ (mà sau đó nhiều người phàn nàn, chê trách), tôi cho là một câu thơ thật, vì lúc ấy, nhà thơ thấy sự thật đúng là như thế và viết với niềm tin như thế mới là sự thật. Đấy là đặc trưng của thơ. Ở đây, tấm lòng đã trở thành thước đo mọi sự thật ở đời. Toàn bộ các tác phẩm của tôi viết trong 25 năm thời bao cấp, cũng ở trường hợp ấy. Dù bây giờ về cơ bản, tôi đã tự loại bỏ.
Hai: Nếu lòng anh không thật, thì anh thuật lại việc có thật 100%, người đọc vẫn thấy là không thật. Điều ấy dễ được cảm thông.
Ba: Ở cấp độ cao hơn: anh biết rõ ràng là nó không có thật mà anh cứ làm cho mọi người phải tin là nó có thật. Đó chính là sự giả dối, và điều đó rất khó được lượng thứ.
Trân trọng sự thật, để sự thật tự lên tiếng trong tác phẩm, bao giờ cũng là phẩm chất cao nhất của mọi đời người, của mọi nhà văn và của mọi trang sách, dù được sinh ra ở bất cứ thời đại nào.
Tôi có câu thơ:
Trên cõi đời này, chẳng có cái gì cao hơn Sự thật
Sông lặng lẽ trôi mà mài mòn cả bóng những đền đài…
là nói cái ý ấy.
246. Nguyễn Đức Tùng:
Đồng ý với anh về những nhận xét thú vị. Tôi cũng cho rằng, sự thật thường bị bóp méo hoặc che khuất, về mặt cá nhân là do sự ích kỷ, và về mặt xã hội là do lợi ích của các phe nhóm, các khuynh hướng, các hệ tư tưởng hay tín ngưỡng.
Nghề nghiệp y khoa dạy tôi rằng: những người lúc nào cũng chỉ biết lo lắng cho bản thân mình, không chú ý đến người khác, không biết tự đặt mình vào vị trí của người khác, bao giờ cũng là những người đến với sự thật rất khó khăn.
Đó là những người đau khổ. Bất kể họ là ai, học vấn ra sao, lập trường chính trị thế nào, giàu hay nghèo, khi mắc bệnh, đều rất khó chữa.
Xin quay lại với thơ của anh. Có phải nhà thơ Trần Nhuận Minh đang có khuynh hướng rời bỏ thơ thế sự không?
Trần Nhuận Minh:
Xin thưa ngay là không. Tôi biết anh hỏi thế, vì tập thơ mới nhất của tôi đã xuất bản năm 2008: Miền dân gian mấy trắng và các bài thơ tôi mới viết trong năm vừa qua, trong đó có mười bài viết trong một tháng ở Canada đã đọc cho anh nghe, chất thế sự có loãng hơn…
Tôi muốn tìm một giọng điệu mới…
247. Nguyễn Đức Tùng:
Tôi biết anh có viết văn xuôi, nhưng không biết quá trình sáng tác của anh, các tác phẩm cụ thể và dư luận về giá trị nghệ thuật của chúng. Ở đầu tập Trần Nhuận Minh và ba lần định vị cho thơ, thấy có ghi tên ba tập văn xuôi đã xuất bản, một tập ký và một tập tiểu thuyết sẽ xuất bản. Tôi rất chú ý đến các hồi ký, ghi chép của các nhà văn Việt Nam, trong đó có những sự thật và phát hiện. Xin anh nói thêm.
Trần Nhuận Minh:
Rất ít ai biết rằng, tôi viết văn xuôi từ rất sớm. Hiện tôi vẫn còn giữ được bản thảo cuốn tiểu thuyết đầu tay, viết năm 1958, khi tôi 14 tuổi: Bên bờ sông Kinh Thầy. Tôi đã gửi tập bản thảo về Hội Nhà văn Việt Nam, sau đó nhận được thư trả lời cùng với bản thảo trả lại của nhà văn Bùi Hiển. Thư của nhà văn Bùi Hiển tôi vẫn còn giữ được. Giờ đọc lại, thấy văn mình rất buồn cười và ông Bùi Hiển vô cùng chu đáo, tử tế - cái chu đáo tử tế ấy ở làng văn bây giờ còn ít lắm.
Tôi có hai tập truyện vừa Trước mùa mưa bão (viết năm 1977) và Hòn đảo phía chân trời (viết năm 1979) đã được tặng ba giải thưởng văn học: một giải nhất, một giải A, một giải C - Văn học thiếu nhi, đều đã in lần thứ 5, năm 2010, được đưa vào sách giáo khoa phổ thông cấp tiểu học: lớp 3, lớp 4, lớp 5, từ năm 1980 và năm 2000.
Còn quyển ký mà anh nói, tôi cũng không biết rồi cuối cùng, có đem in hay không. Đây là những mẩu chuyện “người thật việc thật” ở quanh tôi, thậm chí ở ngay làng tôi, được kể thành những chuyện riêng, có cái như truyện ngắn, nhưng về bản chất, không phải là truyện ngắn, nghĩa là không có hư cấu. Chúng hoàn toàn độc lập với nhau. Tôi đã cho đăng báo hơn chục truyện như thế rồi đấy. Anh thử đọc một truyện về làng quê tôi nhé, xem có được không?
BÁC GIAO THÔNG LÀNG TÔI
Thời ấy, khoảng trước năm 1969, người làm công việc chuyển thư từ ở làng tôi gọi là “bác giao thông", nghĩa là chuyển giao thông tin, không phải là chuyện “giao thông” đường xá như bây giờ. Bác là một cán bộ cốt cán rất được tin cậy. Trong kháng chiến chống Pháp, bác từng tham gia nhóm “công tác đặc biệt”, chuyên “trừ khử gián điệp”, mà vài ba người bị trừ khử ấy, bây giờ ai cũng biết là chưa từng cộng tác với địch. Không biết người ta có biết là chính bác “trừ khử” không? Có dạo bác đã rất chú ý thăm dò việc này, nhưng không thấy có bất cứ dấu hiệu gì, ở chính những thân nhân của người xấu số. Bác cảm thấy không có ai căm thù bác. Lâu dần, bác cũng chẳng để ý nữa, nhưng trong bụng thì không thể nguôi quên việc mình đã làm. Có nhà còn mời bác sang ăn giỗ. Bác cắp cút rượu ngang vào nách sang, gọi là có tí cay góp giỗ và bác ngồi chơi cho đến tàn cuộc. Vì ngoài hàng xóm, còn họ hàng dây mơ rễ má “phi nội tắc ngoại”. Tôi biết điều ấy, vì có lần bác đã “xẩy miệng” mà nói với tôi. Và tôi cũng giữ kín cho đến tận bây giờ, vì tiết lộ điều này sẽ vô cùng nguy hiểm. Bác ít chữ nghĩa nhưng rất tận tụy với công việc chung và sống rất tốt với bà con xóm giềng. Hiện giờ, bác vẫn còn sống ở làng.
Những năm ấy, tôi dạy học ở khu mỏ Quảng Ninh, vài ba tháng mới về nhà một lần, và lần nào về, tôi cũng đến thăm bác xem có thư từ gì không. Bác có cái túi “dết”, may bằng vải thô và dầy, bác cho các loại công văn thư từ mà bác nhận được ở huyện vào đấy. Bưu điện huyện cách nhà khoảng 5 km. Bác đi bộ. Làng tôi lúc đó mới có vài người có xe đạp.
Khi từ huyện đi bộ về đến nhà, bác đổ cái túi “dết” ấy ra giường. Bác soạn lại, nếu công văn của cấp trên, thường phong bì làm bằng nhật báo, rồi dán mảnh giấy trắng viết tay nơi gửi, nơi nhận lên trên. Cái nào có đóng chữ KHẨN đỏ tươi trong khung hình chữ nhật là bác đi ngay. Còn lại thì cứ thong thả, “chả chết ai”. Bác bảo tôi: “Cái thằng Khoa, em chú ấy, bé thế mà rất cách mạng nhé. Thư của ai gửi về cũng khen nó là có ý chí chiến đấu. Chú nên khuyên nó đọc đều báo Nhân Dân để nắm vững lập trường quan điểm của cấp trên, không được sai lầm. Mất lập trường là mất tất cả. Mà tôi đoán những người viết thư cho nó đều là các cán bộ đảng viên cả”. Vậy là các thư, bác đều bóc ra đọc trước rồi dùng hạt cơm dán lại. Có cái thư dán bằng cơm nguội, hạt cơm còn kệnh ở mép giấy. Rồi bác để vào cót thóc, tiện ai thì đưa cho người ấy. Còn thư tình của bọn con trai con gái “tán nhau nhảm nhí” thì bác cứ để đấy, đứa nào đến hỏi thì bác đưa, không đến thì thôi. Có cái lâu lâu, không ai hỏi, bác xé ra chùi… đít, rồi vứt ở góc trong cùng của “hố xí hai ngăn” cùng với gio bếp, khi nào nhiều nhiều thì đốt một thể. Vì có phân người dính vào thư, nên con chó nhà bác có việc làm. Nó tha đi rồi khi gặp người, nó sủa một tiếng, thế là thư rơi ra lỏng chỏng ở vệ đường hàng xóm, cũng chẳng ai dòm nom làm gì. Nhưng có cô bé nhận được một nửa hoặc cả trang thư đó, đọc rồi bẽn lẽn mỉm cười hoặc khóc thút thít… Cô bé ấy trông thấy bác đeo túi “dết” đi hăm hở ở đường làng, thì chạy theo, bảo: “Bác ác thế, sao thư của cháu bác không chuyển cho cháu”. Bác bảo: “Ôi dào! Nó bảo nó muốn hôn mày một cái chứ gì”. Cô bé đỏ ửng mặt, chạy mất.
Cô bé ấy chính là cô em con bà dì tôi.
Sau đây, anh đọc một truyện khác, về nhà văn Nguyễn Hữu Đang, người được coi là thủ lĩnh của nhóm Nhân văn giai phẩm. Truyện này của tôi cũng đã đăng báo ở Việt Nam rồi.
MỘT KỶ NIỆM ĐƠN PHƯƠNG
VỀ NHÀ VĂN NGUYỄN HỮU ĐANG
Vào dịp kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, sau đại lễ tổ chức tại bảo tàng Hồ Chí Minh, các nhà văn vào dự tiệc chiêu đãi. Đây là dịp để các nhà văn ở các vùng miền xa cách nhau, có thêm điều kiện gặp nhau chuyện trò. Học mọi người, tôi cũng cầm chén rượu đi lung tung trong phòng tiệc rất rộng, tìm xem ai là người mình quen biết mà có những thành tựu mới thì chúc mừng, ai có những kỷ niệm gì, hoặc cần trao đổi, thì nói dăm câu ba điều cho vui. Trong hoàn cảnh ấy, ăn không phải là việc chính.
Sau chừng dăm ba phút đầu chạm chén ngồi ở bàn tiệc, các nhà văn hình thành từng nhóm một, đứng túm tụm với nhau, chả biết nói những chuyện gì, tất thẩy đều vui vẻ, thậm chí om sòm, có phần hả hê nữa. Nhiều nhà văn đã xách túi quà gồm sách báo được tặng, ra về. Tôi để ý, thấy chỉ có một người không hề quan tâm đến mọi việc có tính giao tiếp, nghĩa là chưa từng bao giờ đứng lên khỏi bàn tiệc, không nói một tiếng nào với ai và chỉ có ăn, lại ăn vô cùng say mê, như ăn cho cả thế kỷ thứ XXI (Tôi xin lỗi phải nói câu đó vì quả thực lúc đó tôi nghĩ đúng là như vậy). Ông đã già, đội một cái mũ phớt, quần áo, cà vạt, giầy đen, tất thảy đều mốt Pháp 100 %, nhưng đã rất cũ và dù có là, vẫn thấy rõ sự nhàu nát của bộ trang phục được giữ quá lâu và rất ít được sử dụng. Tôi thấy ở ông toát lên vẻ quý phái đã suy tàn. Ông là ai? Tôi lần lượt nhớ lại những gương mặt lão thành trong làng văn, như các vị Khương Hữu Dụng, Trần Lê Văn, Hoàng Cầm…vân vân… đều không phải. Tôi hỏi các nhà thơ cùng lứa cũng không ai biết. May quá, tôi gặp Huỳnh Huy Phượng đang xách túi chuẩn bị ra về. Ông Huỳnh là một dịch giả nổi tiếng, từng là chánh thư ký công đoàn, mà tôi làm phó cho ông, ở trường Bồi dưỡng những người Viết văn trẻ Quảng Bá khóa V (1972 - 1973) của Hội Nhà văn Việt Nam. Tôi từng tháp tùng ông đi làm một số việc cho nhà trường lúc bấy giờ. Ông bảo: ô, thế ra Minh không biết à? Nguyễn Hữu Đang đấy! Tôi đứng lặng. Tôi biết, Nguyễn Hữu Đang là một trong những người bị coi là cầm đầu nhóm phá hoại Nhân văn giai phẩm, từng bị tù đến mức không hề biết có trận Điện Biên phủ trên không năm 1972, B52 ném bom hủy diệt Hà Nội, cũng không hề biết đã giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước. Tôi cũng biết, Nguyễn Hữu Đang từng được Bác Hồ giao cho làm Trưởng ban tổ chức Lễ Tuyên bố Việt Nam độc lập tại Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945 và từng đứng trên Lễ đài, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ.
Tôi lẳng lặng đi đến đằng sau ông, thấy ông vẫn cúi xuống ăn một cách say mê, khi mọi người đã đứng dậy cả rồi, một cảm xúc thương cảm dâng lên khiến tôi nghèn nghẹn. Tôi đến các mâm bên cạnh dồn các thức ăn còn bỏ lại rất nhiều ở các mâm mang lại cho ông. Ông ngước mắt lên nhìn tôi rồi lại cúi xuống ăn, không có bất cứ biểu hiện gì trên nét mặt. Tôi loay hoay mãi mới tìm được một tờ báo mà ai đó đã ngồi lên rồi bỏ lại. Tôi lộn trái tờ báo để mặt báo đặt xuống ghế và đít ngồi lên vào phía trong, tôi trở trái đầu đũa, đi các mâm, gắp hết các thức ăn còn nguyên vẹn không ai đụng đũa, những khúc cá rán, những cái tỏi gà hay miếng thịt gà, những miếng giò… được khá nhiều, gói lại thành một bọc to, mặc dù có cô nhân viên mắt xanh mỏ đỏ đang dõi theo xét nét tôi, tôi cũng mặc kệ. Tôi lẳng lặng đến trước mặt ông, đặt gói báo trên bàn ăn của ông, không nói năng gì. Ông cũng ngước mắt lên nhìn tôi, không nói năng gì, trên nét mặt cũng không có bất cứ một dấu hiệu phản ứng gì. Tôi lẳng lặng đi ra trong lúc các nhân viên nhà ăn đang dọn dẹp bát đĩa. Thoáng một cái rất nhanh, nhanh đến mức không thể nào tưởng tượng được, tôi thấy ông ngoắt một cái, gói báo đã giấu xong sau vạt áo vét của mình. Rồi mặt ông tỉnh bơ đi… Tôi thấy tồi tội thế nào ấy… Lòng yên tâm hơn, tôi ra về, nhưng cứ thấy bâng khuâng trong dạ đến mấy ngày…
Khi báo Văn nghệ đăng tin ông mất, tôi ngồi lặng một mình trong phòng làm việc, rót ra một chén rượu, và từ từ im lặng, uống…
248. Nguyễn Đức Tùng:
Câu chuyện anh kể về Nguyễn Hữu Đang rất cảm động. Chúng ta cùng trở lại với thơ Tố Hữu. Tôi có vài nhận xét ngắn.
Yêu biết mấy những con người đi tới
Hai cánh tay như hai cánh bay lên
(Tố Hữu)
Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trước đây đã từng cố gắng xây dựng những hình tượng con người mới, tức là những kẻ tự ý thức về số phận của mình, tự giác về con đường đấu tranh cách mạng, những người sống vì mục đích cao cả để làm nên lịch sử. Thật ra bản thân giấc mơ ấy là tốt đẹp, giấc mơ về việc con người thoát ra khỏi các xiềng xích của quá khứ, tự do trước các điều kiện lịch sử, có khả năng phát triển các phẩm chất tốt đẹp như một con người. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là một nền văn học như thế có thể nhào nặn ra các tác phẩm như thế nào trong thực tế.
Việc xây dựng các hình tượng con người như vậy có thành công hay không?
Trong thơ Tố Hữu thì nó đã phần nào thành công. Trong các nhà thơ khác như Xuân Diệu thì không. Không thể không thừa nhận rằng tài năng ngôn ngữ ở Tố Hữu là có thật và khi nó được nuôi dưỡng bằng một thứ tình cảm mà tôi tin là chân thật vào lúc ông viết, ví dụ như tình cảm đối với miền Nam trong thời kỳ chiến tranh, bất chấp những cái nhìn khác biệt về cuộc chiến tranh này từ những phía khác nhau và từ ngày hôm nay, trong việc giải thích ý nghĩa của nó, tài năng ấy đã tạo ra những câu thơ xúc động:
Cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt
Cho tôi nâng bàn tay em nắm chặt
Ôi bàn tay như đôi lá còn xanh
Trên mình em đau đớn cả thân cành
Cần chú ý rằng nhà thơ hôn bàn chân chứ không hôn bàn tay. Mà lại nâng bàn tay chứ không nâng bàn chân.
Hôn bàn tay thì tầm thường, hơi sáo, có vẻ lợi dụng, hôn bàn chân thì trân trọng, quý phái, vì không có thực, nên có tính thơ ca.
Tôi nói là không có thực (unrealistic) chứ không nói là không thực (untrue) hay không thành thực (insincere) hay không trung thực (dishonest).
Đây là những khái niệm quan trọng về thi pháp mà tôi hy vọng sẽ có dịp nói sâu hơn vào một lần khác.
Nâng bàn chân thì thô tục, sexy, nâng bàn tay thì ấm áp, thân mật, mà trân trọng.
Đó là sự tinh tế đúng mực, rất mới mà vẫn rất dân tộc.
Bây giờ nhìn lại toàn bộ các tác phẩm của Tố Hữu trong thời kỳ ấy, chúng ta có thể thấy hương đồng gió nội bay đi ít nhiều, như câu thơ Nguyễn Bính mà anh đã dẫn, không phải là nằm ở từng tác phẩm cụ thể, hay từng giai đoạn, mà là nằm trong toàn bộ sự nghiệp của Tố Hữu, đặt trong mối quan hệ giữa cuộc đời và sáng tạo. Đọc các bài thơ ông viết trong Một tiếng đờn, tôi không khỏi có cảm giác thương hại, một cảm giác mà tôi không thể giải thích được rõ ràng: hình như có một cái gì rất không ổn mà ông đã nhận ra, như ông có lần nói ở Quảng Ninh mà anh đã kể lại.
Tôi tin những gì anh kể lại về Tố Hữu trong lần gặp ấy đã xảy ra trong thực tế, vì nhiều người đọc cũng nhìn thấy điều ấy trong thơ của ông về cuối đời, mặc dù họ không thể không thừa nhận sự chân thành trong thơ cách mạng thời tuổi trẻ của ông.
Giá trị của thơ Tố Hữu về lâu dài sẽ là điều gì, thưa anh?
Trần Nhuận Minh:
Tố Hữu có nhiều bài thơ hay ở các đề tài, trong đó ông xây dựng thành công nhiều hình tượng nghệ thuật cao đẹp về những con người mới: Hai cánh tay như hai cánh bay lên, như Trần Thị Lý, Nguyễn Văn Trỗi, mẹ Suốt…
Riêng về Bác Hồ thì ông là người viết nhiều nhất và đặc biệt viết hay nhất. Bài dài nhất là Theo chân Bác, đã in thành một tập riêng, tôi nhớ có khoảng 484 dòng thơ, mô tả toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người. Nhà thơ Xuân Diệu đã cùng nữ nhà thơ cộng sản Pháp Mireille Gansel dịch sang tiếng Pháp. Theo Xuân Diệu cho biết, bà M. Gansel chỉ dịch có 22 câu trong số 484 câu, đoạn mô tả sự trống vắng trong cảnh vật ở nhà sàn khi Bác không còn nữa Con cá rô ơi, chớ có buồn... Tố Hữu đồng ý. Xuân Diệu hỏi trực tiếp thì được M. Gansel trả lời rằng: Đó là thơ, là cái còn lại và không bị thay thế (TNM nhấn mạnh). Còn những câu khác, người ta có thể tìm thấy khi đọc tiểu sử của Bác Hồ.
Từ đó suy ra, về lâu dài, cái phần không thay thế được của thơ Tố Hữu sẽ là những giá trị bền vững, vượt thời gian.
249. Nguyễn Đức Tùng:
Tôi sinh ra và lớn lên ở nông thôn. Hình như anh cũng vậy.
Anh nghĩ sao về nông thôn, đất đai, mùa màng, người nông dân Việt Nam hiện nay?
Những tác phẩm về nông thôn và người nông dân có gì đáng chú ý?
Trần Nhuận Minh:
Anh đã đặt ra vấn đề rất lớn và đang được quan tâm hàng đầu hiện nay, là nông thôn, nông dân và nông nghiệp mà Trung Quốc gọi là tam nông. Ta cũng gọi như thế. Và cả vấn đề sáng tác hiện nay về tam nông, trong đó có đất đai, mùa màng, cũng là mối quan tâm hàng đầu của văn chương đương đại.
Câu hỏi của anh, rất may là đã có một bài báo trả lời hoàn toàn khớp với nội dung anh nêu ra. Bài trả lời phỏng vấn của Trần Đăng Khoa, do phóng viên báo Nông nghiệp Việt Nam ghi, vừa đăng toàn văn trên tạp chí Hồn Việt số tháng 2/2011, trước đó mươi ngày cũng đã in ra trên báo Nông nghiệp Việt Nam số xuân Tân Mão. Được phép của hai tác giả, tôi xin trích một số đoạn để chúng ta cùng tham khảo.
NÔNG THÔN BÂY GIỜ ...
(Trích)
Mươi năm trước, Trần Đăng Khoa có những nhận định khiến tôi ám ảnh mãi: “Nông dân thời nào cũng rất khổ. Hình như họ sinh ra để khổ. Có cho sướng cũng không sướng được. Có phủ lên vai họ tấm áo bào lộng lẫy của vua thì họ cũng không thể thành được ông vua. Họ có sức chịu khổ đến vô tận. Nhưng mất hoàn toàn thói quen để làm một người sung sướng. Thế mới khổ. Họ khổ đến mức không còn biết là mình khổ nữa…” Có đôi lúc, tôi hy vọng đó là nhận định nhất thời của vị thần đồng. Tôi đem chuyện ấy gợi lại với tác giả Hạt gạo làng ta, ông trầm ngâm một hồi rồi tâm sự:
Khoảng mấy chục năm nay, tôi sống ở thành phố nhưng mọi mối quan hệ vẫn ở làng quê. Bố mẹ tôi ngoài 90 tuổi rồi vẫn đang sống ở quê. Các cụ không chịu ra thành phố. Tháng nào tôi cũng về quê và cũng nhờ thế mà thấu hiểu được người nông dân. Tôi vẫn thấy “Nông dân thời nào cũng rất khổ”. Điều đó cho đến nay vẫn là một vấn đề thời sự. Theo tôi, muốn đánh giá hiệu quả của công cuộc đổi mới đất nước thì phải nhìn vào chất lượng đời sống của những người nghèo nhất xã hội là nông dân. Nếu người nông dân không thay đổi được số phận mình thì công cuộc đổi mới của chúng ta vẫn chưa đạt được hiệu quả đích thực. Ở thành phố hiện nhiều người giầu lên, có anh là tỷ phú và cũng có cả anh là trọc phú. Nhưng người nông dân thì vẫn không giầu. Theo tôi, hiện nay nước ta có đến 90 % nông dân. Tôi nhìn đâu cũng thấy nông dân. Nông dân cày cuốc, nông dân kinh doanh, nông dân làm quản lý, thậm chí có nông dân ở những cấp cao. Nhiều anh rất trang trọng, nhưng nhìn cung cách ứng xử của họ thì lại thấy hiện nguyên hình một anh nông dân quê mùa. Ở các làng quê, nhất là vùng sâu, vùng xa, vẫn không ít những nông dân còn trong cảnh bần cùng. Phần lớn họ đang bám đồng ruộng. Cái nan giải nhất hiện nay là nông dân mất đất. Trọn đời, Cụ Hồ chỉ có một mong muốn, “mong muốn tột bậc là ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Cụ đã làm hết sức mình để “người cày có ruộng”. Bây giờ người cày lại đang mất ruộng. Ở một số vùng nông thôn ven đường lớn, hay ven đô thị, bị thu hồi đất rất nhiều để làm khu công nghiệp, cả khu vui chơi giải trí mà ta quen gọi là du lịch sinh thái. Người nông dân còn bán đất hương hỏa đi. Họ bán với giá rất rẻ. Anh phố thị nào cũng muốn có cái nhà nghỉ, hay trang trại ở quê, chỉ bỏ ra chừng non tỷ bạc là đã có cả nghìn mét vuông đất quê. Người phố đổ về quê để được sống. Còn anh dân quê thì lại phải nhao về thành phố để kiếm sống. Nhà thơ Trần Nhuận Minh có bài thơ bốn câu viết về thảm cảnh này rất ám ảnh:
Những dân cày không còn ruộng đất
Táp về thành phố
Bán mình trong các chợ người
Định nói một điều
Nhưng rồi tôi im lặng…
Cái im lặng của nhà thơ, chúng ta có thể hiểu được. Đấy là một bộ phận. Còn một bộ phận khác may mắn hơn, có nhà, có đất, có việc làm, có chức vụ. Anh nhà quê ra phố, mang những luộm thuộm, nhơm nhếch của làng quê đi “khai hoá” thành phố. Còn anh thành phố thì lại mang xi măng sắt thép về bê tông hóa làng quê. Thế là tất cả nháo nhào. Rốt cuộc là hỏng ráo cả. Hiện nay, chúng ta đang quan tâm rất nhiều tới việc quy hoạch đô thị, có nhiều chiến lược, kế sách. Nhưng thử hỏi chúng ta có được bao nhiêu công trình, đề tài, bao nhiêu tâm huyết của lãnh đạo quan tâm tới nông thôn? Cho nên, tôi có cảm giác nông thôn hiện nay phát triển rất lộn xộn mang tính tự phát. Nhơm nhếch và hoang dại một cách rất hiện đại. Nhà văn hoá lớn Hữu Ngọc có nhiều năm hoạt động trong Quỹ Thuỵ Điển. Ông quan tâm nhiều tới những ngôi nhà mang đặc tính thôn quê, để rồi tìm cách tài trợ, phục dựng những ngôi nhà đó. Và rồi, khi đi khảo sát, ông phát hiện ra rằng chỉ còn một nơi giữ được, là làng Đường Lâm (Hà Nội). Nhưng Đường Lâm giữ lại được không phải vì người dân có ý thức, mà là vì nghèo, chẳng có nghề gì ngoài nghề tráng bánh đa và kẹo kéo. Nghề kẹo kéo, bánh đa thì không thể phá làng được. Và ông Hữu Ngọc có kết luật rất đau xót: “May mà cái nghèo đói đã cứu được cả một mảng văn hóa đang bị hủy diệt”.
Ây dà dà...
Tôi xin nhấn lại rằng, nguy nan nhất ở nông thôn hiện nay là mất đất. Công nghiệp hoá thì rất tốt. Đó là chủ trương đúng nhưng chúng ta phải tính xem thế nào. Tại sao không lấy những vùng đồi, vùng đất cằn không phát triển được nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp, mà cứ lấy khu “bờ xôi ruộng mật”? Bây giờ, cứ thử đi từ Hà Nội về Hải Phòng mà xem, những cánh đồng thẳng cánh cò bay cũng đã “bay” hết rồi.
Việc đưa các khu công nghiệp, nhà máy lên vùng đồi, tránh xa vùng “bờ xôi ruộng mật”, có thể nói ai cũng nhận ra, cũng nhiều người kiến nghị rồi nhưng tại sao chúng ta vẫn không làm được. Ông lý giải thế nào về vấn đề này?
Nhiều người đều nhận ra mà rồi điều đáng tiếc vẫn cứ xảy ra. Nếu tôi nhớ không nhầm thì người đầu tiên đặt ra vấn đề này thẳng thắn trên báo chí là nhà thơ Trần Nhuận Minh, lúc đó là đại diện báo Tiền Phong tại Quảng Ninh, trò chuyện với ông Hà Văn Hiền, lúc ấy là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Bài đã đăng trang đầu tạp chí Văn nghệ Quân đội từ thập niên 90 của thế kỷ trước, khi đó, các khu công nghiệp còn chưa nhiều. Nội dung bài báo đó, còn được đài phát thanh và truyền hình Hà Nội dàn dựng với nhiều cảnh quay rất có sức thuyết phục, nhưng hình như những người có trách nhiệm, chả mấy ai nghe, chả mấy ai xem. Ông Hiền nhiều năm nay là Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Nếu ông quan tâm hơn, tiếng nói của ông sẽ có trọng lượng về vấn đề này. Còn vì sao có hiện trạng nông dân mất đất ư? Có gì đâu. Vì ở đó tiện đường, dễ xây dựng cơ sở hạ tầng, làm họ giảm được một nửa tiền đầu tư. Và khi khu công nghiệp vào vận hành, lại thuận lợi về vận tải và tiện cho việc quảng bá sản phẩm mà lại giảm được đầu vào, hạ được giá thành để tăng lợi nhuận. Đối với nhà sản xuất, đấy là vấn đề sống còn của họ, nên họ làm bằng được, và có nhiều biện pháp để làm. Vì thế mà họ ép những người có trách nhiệm. Họ có nhiều cách ép rất hiệu quả để thực hiện bằng được ý muốn. Trong khi ta cứ nhân nhượng rồi lại nhân nhượng. Cuối cùng ta mất đất màu cho họ, cũng là điều dễ hiểu. Mà đất trồng lúa, phải qua hàng ngàn năm canh tác mới tạo ra được. Gần đây, trong buổi phát biểu góp ý cho văn kiện đại hội đảng, tôi đã nói một ý: chúng ta phải chọn và tìm được người lãnh đạo có tầm nhìn xa, tầm nhìn vượt nhiệm kỳ. Còn nếu tầm nhìn chỉ ở một hoặc hai nhiệm kỳ thì chúng ta chỉ giải quyết được những vấn đề trước mắt, mang tính vụ lợi cho một người hoặc một nhóm người, rồi hết nhiệm kỳ thì hạ cánh an toàn, còn mọi hậu quả, con cháu gánh chịu.
Tức là vấn đề mấu chốt vẫn là người lãnh đạo?
Đúng vậy! Chúng ta cần những người có tầm nhìn 20, 50 năm, thậm chí là cả trăm năm để mà giải quyết vấn đề trước mắt về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Tôi đi các nước thì thấy rằng, giữa nông thôn và thành phố không khác xa bao nhiêu. Thậm chí không phát hiện được đó là làng quê, nếu không có tiếng gà gáy. Quy hoạch của họ rất tốt, họ rất quan tâm tới nông thôn, nông dân. Còn chúng ta thì thiếu cái đó. Số phận người nông dân, có thể bị đẩy vào thảm kịch là vì vậy. Thậm chí có cả những thảm kịch nhìn bên ngoài không thể thấy được. Cái giàu của nông dân là cái giàu giả. Trước mắt, anh bán được ít đất, có thể mua được xe máy, thậm chí có người còn tậu được cả ô tô. Nhưng, ô tô xe máy để làm gì? Trong khi trong nhà rỗng tuếch và con cái không có tiền ăn học. Đấy là những lạc quan bi kịch mà hậu quả thì rất khó lường. Làng quê đã vỡ...
Làng vỡ? Tôi nhớ, đã lâu lắm, có lẽ chừng 15 năm trước, ông viết một tiểu phẩm ngắn có tên là Vỡ làng. Trong đó, ông chỉ kể những chuyện vui thôi nhưng ngẫm ra không thiếu những giọt nước mắt đau xót...
Đúng vậy! Bây giờ chuyện ấy vẫn là vấn đề nan giải. Cũng may, nhờ kết quả của công cuộc đổi mới, nhiều vẻ đẹp của phong tục cũ đã được khôi phục. Nhưng rồi cũng có người lại lợi dụng sự thông thoáng đó để trục lợi. Ví dụ như việc xây chùa chiền, đền miếu chẳng hạn. Bên cạnh ngôi chùa lớn, thấy có nhiều khách hành hương. Thế là người ta “cấy” thêm rất nhiều ngôi chùa bên cạnh để thu công đức. Cái đó lại không ổn rồi. Nó làm băng hoại văn hoá. Đâu phải tâm linh. Ngay văn hoá tâm linh ở làng quê cũng đang vỡ. Nhìn ở góc độ người làm văn hoá, tôi cho rằng điều đó hiện nay cũng rất đáng quan ngại.
Hồi bé, ông viết: “Hạt gạo làng ta / Gửi ra tiền tuyến”. Gửi gạo ra tiền tuyến là để nuôi quân đánh giặc, giành lấy giang sơn. Bây giờ, không còn giặc ngoại xâm nữa thì hạt gạo làng ta “gửi” ra thế giới, nuôi cả một phần nhân loại nhưng như ông nói thì chính người làm ra hạt gạo còn nghèo quá, nhiều vùng còn đói nữa. Cái nghịch lý này sao tồn tại dai dẳng vậy, thưa nhà thơ Hạt gạo làng ta?
Hiện nay, đúng là chúng ta xuất khẩu gạo đứng thứ nhì thế giới thật. Rồi có thể chúng ta sẽ đứng đầu thế giới về xuất khẩu mồ hôi nước mắt. Nhưng như thế không có nghĩa là đời sống người nông dân chúng ta giầu nhất nhì thế giới. Bởi làm ra hạt gạo khổ lắm. Mà giá gạo lại rất rẻ. Một tấn thóc bây giờ nếu quy ra tiền thì đáng bao nhiêu đâu. Ở ngoại thành Hà Nội, có một gia đình nông dân, cả một vụ mùa đầu tắt mặt tối, trừ chi phí tất cả chỉ còn lãi được có 500 nghìn đồng. Năm trăm nghìn đó thì làm được gì? Sao nuôi con ăn học được? Rồi còn việc ma chay, giỗ tết và trăm thứ ở làng nữa, chị nông dân ấy trông vào đâu? Chúng ta xuất khẩu gạo, nhưng cũng cần nghĩ đến việc đầu tư trí tuệ vào gạo. Ví như sản xuất được một loại gạo có khả năng chống béo phì, một căn bệnh mà thế giới rất sợ hãi chẳng hạn. Chỉ có thế, hạt gạo của chúng ta mới đắt giá. Và như thế, có thể nói rằng, chỉ khi nào chúng ta xuất khẩu được trí tuệ thì Việt Nam mới thật sự cất cánh. Một sản phẩm công nghệ của trí tuệ chỉ vài lạng thôi nhưng có khi bằng cả chục tấn thóc gạo của người nông dân chân lấm tay bùn. Nhưng nói gì thì nói, chúng ta cũng không thể bỏ cây lúa được. Điều quan trọng là chúng ta làm thế nào để đời sống của người nông dân giầu lên? Vai trò của người nông dân rất quan trọng. Hãy cứ xem trong cuộc kháng chiến, con em ai hy sinh nhiều nhất? Tất nhiên là con em nông dân. Bây giờ, vẫn còn hàng vạn con em nông dân nằm dưới lòng đất mà không tìm thấy hài cốt. Cho nên, chúng ta phải nghĩ ra cách nào đó để người nông dân có thể sướng được, giàu được thì sự hy sinh ấy mới có ý nghĩa. Làm sao để họ có thể sống được, sống đàng hoàng trên chính mảnh đất của mình.
Nếu mượn lời của một tiến sĩ có danh phận để “nói lại” với ông rằng, một bộ phận nông dân không nhỏ của chúng ta còn lười nên dẫn đến nghèo khó, ý kiến ông ra sao?
Tất nhiên cũng có người nghèo vì lười. Nhưng nông dân mình tuyệt đại bộ phận không lười. Nếu ai đó nói nông dân mình lười, tôi phản bác ngay. Nhưng chỉ có điều, họ đổ mồ hôi rất nhiều mà hiệu quả lại rất thấp. Vấn đề là ở đó. Và ở chỗ này, người nông dân không tự lo cho mình được, vì thế mới cần đến các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo, quản lý….
Thưa ông, giả dụ bây giờ đặt ông vào vị trí lãnh đạo một địa phương, ông sẽ làm gì để người nông dân mình bớt khổ?
Tất nhiên điều đó không bao giờ xảy ra (cười). Chúng ta không nên bàn chuyện ở trên mây. Tuy nhiên, những đấng cứu thế có khi vẫn đang nằm ở trong dân. Chúng ta đã từng có một Kim Ngọc đó thôi. Vấn đề làm sao để cho đời lại xuất hiện những Kim Ngọc mà không bị “đứt gánh”....
Còn trong văn học thì sao? Thực tế chứng minh rằng, những tác phẩm hay nhất, thăng hoa nhất là những tác phẩm về nông thôn, thân phận người nông dân. Nhưng gần đây, nói theo một nhà văn có tên tuổi, thì chính các nhà văn nhà thơ cũng đang rời xa nông thôn mà đang chạy theo vuốt ve thành thị. Là một nhà thơ, ông thấy nhận xét ấy thế nào?
Theo tôi, những sáng tác hay nhất của chúng ta vừa qua vẫn là về đề tài nông thôn. Người đầu tiên viết hay về nông thôn phải nói đến các cụ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Phạm Duy Tốn, rồi đến Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính… Sau này là Nguyễn Kiên, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Đào Vũ, Ngô Ngọc Bội, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Trần Nhuận Minh, Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ… và gần đây nhất trong giới trẻ là Nguyễn Ngọc Tư…. Đến bây giờ, tôi vẫn cho rằng, đề tài nông thôn không hề kém hấp dẫn. Đấy vẫn là mảnh đất mầu mỡ. Hy vọng ở đó, chúng ta sẽ có những tác phẩm lớn. Nông thôn vẫn gắn bó xương cốt với người viết, là vùng người viết thông thạo hơn cả. Trở về vùng đất màu mỡ ấy, hy vọng chúng ta mới có được những vụ mùa văn chương. Còn có ý kiến cho rằng văn sĩ quay lưng với nông thôn, vuốt ve thành thị thì tôi cho rằng cái đó không hẳn đâu. Tôi không tin như thế. Còn việc nhà văn sống ở đâu thì không quan trọng. Cái quan trọng là người đó có am tường nông thôn không và họ đã viết như thế nào. Tất cả những gì đã có, dù ít dù nhiều cũng cho chúng ta niềm hy vọng. Có phải thế không?
250. Nguyễn Đức Tùng:
Bài thơ lục bát của anh mà anh thích nhất?
Trần Nhuận Minh:
Trong Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam, mỗi người được chọn một bài, nhóm tuyển gồm các nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, Quang Huy, Vũ Quần Phương đã chọn của tôi bài Tình cờ gặp người quen trên tàu tốc hành Xêvaxtôpôn – Matxcơva, tôi viết ở Liên Xô năm 1990. Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi nói với tôi rằng: đề tài ấy rất khó viết, mà viết nhuyễn được đến thế bằng lục bát là giỏi nghề rồi.
Tôi đã nói là từ sau năm 1986, tôi chịu ảnh hưởng rất sâu sắc di sản tinh thần của thơ Nguyễn Du, vì thế nên tôi chọn bài khác. Mời anh và các bạn cùng đọc.
BẠN CHƠI TỪ THUỞ
QUÀNG KHĂN ĐỎ
Nửa đêm gõ cửa tìm nhau
Đèn che nửa bóng, mái đầu chụm đôi
Bác rằng cơm đã ăn rồi
Có chai rượu thuốc ta ngồi uống chung
Bạn chơi từ thuở khăn hồng
Đứa nhờ có vợ có chồng mà lên
Đứa đi đánh giặc liên miên
Về quê vẫn chú lính quèn, vậy thôi
Đứa thì đêm lạy van người
Ngày ngày vênh váo, coi trời bằng vung
Đứa làm đạo diễn văn công
Nỗi đau đời, giấu vào trong tiếng cười
Đứa đi buôn ngược bán xuôi
Vào Nam ra Bắc ăn chơi một mình
Đứa thì làm giám đốc ngành
Đi đâu cũng có nhân tình đi theo
Đứa thì áo túm quần đeo
Tinh mơ vác gạo, xế chiều bơm xe
Đứa liều vượt biển trốn đi
Nổi chìm nào biết tin gì thực hư
Đứa thì làm trưởng trại tù
Gặp nhau, tay bắt lạnh như đồng tiền...
Cùng thầy, cùng đội, cùng niên
Lớn lên ai biết làm nên thế nào
Tại trời hay tại ta sao
Nhảy ra thì thịnh. Bước vào lại suy…
Sự đời bác đến thế thì
Đã làm ông giáo còn đi buôn nhà
Sớm mai, bác phải ra toà
Khôn ngoan biết lấy chi mà đãi nhau
Kể gì hơn thiệt nông sâu
Lòng lành, mà chắc sự đâu đã lành...
Bâng khuâng nỗi bạn nỗi mình
Ngoài hiên trăng khuyết nửa vành xa xôi
Ước chi về tuổi chín mười
Vẫy khăn quàng đỏ giữa trời thẳm xanh...
Bồ Hòn 1987
Bài thơ thuộc loạt bài đầu tiên ngay sau khi có chủ trương đổi mới. Trong bài có thập loại chúng bạn, tôi học từ thập loại chúng sinh của cụ Nguyễn Du. Anh cứ đếm mà xem, đủ 10 loại người đấy. Nhưng tôi cảm tình hơn cả là đạo diễn văn công Nỗi đau đời, giấu vào trong tiếng cười và ông giáo thời kinh tế thị trường, vốn rất ngây thơ, thấy người ta đi buôn, cũng đi buôn, đến mức phải ra tòa Lòng lành mà chắc sự đâu đã lành. Cả hai người đó đều là hình ảnh phía bên này hay phía bên kia của tôi, dù tôi không thích sân khấu lắm, vì tôi thấy kịch của ta nó cứ hời hợt giả giả thế nào ấy, và tuyệt đối không biết buôn bán là gì.
Đọc Nguyễn Du, tôi thấy cụ thương nhất hai loại người, đó là đám văn nhân chúng ta và bọn ca kỹ, tức là chị em “xướng ca vô loài” phục vụ người đời ở các nhà chứa.
Anh đọc thơ tôi cũng thấy hai loại người ấy, tôi thương nhất.
Thơ tôi thường đi từng cặp hai câu một, đó là tôi học ở cụ Nguyễn Du, nhưng tôi viết khác cụ, khi đặt các cặp đối lập cạnh nhau trong quan điểm thẩm mỹ dường như bất biến của tôi, là: thống nhất các mặt đối lập theo khái niệm mờ của minh triết phương Đông.
Đứa liều vượt biển trốn đi
Nổi chìm nào biết tin gì thực hư…
Đứa thì làm trưởng trại tù
Gặp nhau tay bắt lạnh như đồng tiền…
Đứa này khóa tay đứa kia bằng còng số 8, nhưng đều là Bạn chơi từ thuở quàng khăn đỏ cả, cùng học một lớp, một ông thầy…
251. Nguyễn Đức Tùng
Tôi xin trở lại với trường hợp Quách Thoại, mà anh có nhắc đến ở trên và tôi chưa kịp trả lời. Theo tôi nhắc đến văn học miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 không thể không biết đến Quách Thoại, mặc dù ông có thể không phải là nhà thơ hàng đầu. Quách Thoại sinh năm 1930 ở Huế, hình như có tham gia kháng chiến chống Pháp một thời gian, về sau hay ít nhất từ năm 1954 thì sống ở Sài Gòn. Ông mất sớm, khi tuổi đời còn trẻ, năm 1957. Chỉ trong vài năm nhưng tên tuổi của ông được nhiều người nhắc đến. Là một trong những bằng hữu của nhóm Sáng tạo, ông xuất hiện trên bầu trời văn học như một ngôi sao băng.
Quách Thoại vừa chịu ảnh hưởng phần nào của thơ mới lãng mạn, vừa tiếp nhận những giá trị truyền thống của văn học dân tộc, vừa là một nhà thơ bám riết vào hiện thực cuộc đời và những vấn đề thời sự, lịch sử sôi động, viết nhiều thơ chính trị. Vì vậy, thơ Quách Thoại khác hẳn những người đi trước. Trong khi dịu dàng, trầm tư, minh triết:
Đứng im ngoài hàng giậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời em ca thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu
(Thược dược, Quách Thoại)
Nhà thơ vẫn ca ngợi lòng lạc quan dũng cảm, hướng tới những điều tốt đẹp của thế gian:
Đừng hoi hóp nữa
Đừng than khóc nữa
Hỡi linh hồn
Cũng như Keats, nhà thơ nước Anh nổi tiếng thế giới, mất năm 26 tuổi vì bệnh lao ở La Mã trong nghèo đói, Quách Thoại cũng mất vì bệnh lao năm 27 tuổi trong đói nghèo ở Sài Gòn.
Nếu tôi phải chọn một bài thơ tiêu biểu cho giai đoạn khởi đầu của văn học miền Nam nửa cuối thế kỷ XX thì tôi sẽ không ngần ngại chọn bài thơ sau đây của Quách Thoại.
CÒN SÁNG TẠO TA HÃY CÒN SÁNG TẠO
Chung tặng các văn thi hữu
Riêng tặng Thanh Tâm Tuyền và Mai Thảo
Tôi đổ lệ khóc đêm nay
Nào các anh có biết
Khi tôi đọc những bài văn anh
Bài thơ anh thắm thiết
Những mối tình yêu đời bất diệt
Của lòng anh của hồn anh trinh khiết
Hiện nguyên hình trên chữ mực vừa in
Tư tưởng giòng câu chứa đựng vạn niềm tin
Bao tâm huyết đổ dồn trên ý nghĩ
Thơm tho thay những ý tình tế nhị
Nói không cùng những cảm động ẩn trong lời
Tôi biết các anh những kẻ đã khóc cười
Là những kẻ còn tin yêu vững sống
Còn sáng tạo các anh còn sáng tạo
Mặt trời mọc
Mặt trời mọc
Rưng rưng mùa hoa gạo
Lỡ một mai tôi chết trần truồng không cơm áo
Thì hồn tôi xin phảng phất chốn trăng sao
Để nhìn các anh
Như vừa gặp buổi hôm nào
Và trong những câu chuyện tôi sẽ cười nhắc bảo
Còn sáng tạo ta hãy còn sáng tạo.
Trần Nhuận Minh:
Bài thơ này khá đẹp, còn lưu lại vẻ trong sáng của tâm hồn tác giả thuở ban đầu.
27 tuổi, Quách Thoại đã mất, thực đáng tiếc, còn tiếp tục, rất có thể, ông sẽ là một tác giả quan trọng, có vị trí hàng đầu của thơ miền Nam trước 1975. Nhưng ở tuổi ấy, nền thi ca thế giới đã từng có Petöfi, người Hungary và Lermontov, người Nga. Cả hai đều mất ở tuổi 26 và đều được suy tôn là thi hào dân tộc.

(*) Vừa mới xong, là hơn 100 nhà thơ đến từ 28 quốc gia trên thế giới, dự Liên hoan thơ Châu Á – Thái Bình Dương lần thứ nhất, đã thả thơ lên vòm trời vịnh Hạ Long, sau khi dâng hương trước bài thơ ở núi Thơ này.
(*) Vua Lê Thánh Tông làm thơ khắc vào vách đá núi Truyền Đăng (nay gọi là núi Bài Thơ) năm 1468.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 29.11.2013.

Quay Lên Đầu Trang