TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ĐỖ TIẾN THỤY



Sinh ngày 12.10.1970.
Tại Tốt Động, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.

. Sĩ quan quân đội.

. Giải thưởng truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội.













Ngõ Quê Tranh của hoạ sĩ Trần Nhương







CHUYỆN KHÔNG MUỐN KỂ

Rét đồng chiêm mạ tía hơ tía hất
Mẹ ăn trầu nuốt cái lạnh vào trong
Thân mạ cắm xuống vạt bùn buốt cóng
Ngậm phèn chua bén rễ trổ đòng...


Mẹ bệnh. Một bên ngực mẹ, nơi tám chị em con bấu vào, hút kiệt và lớn lên đã được bác sĩ khoét bỏ. Khuôn ngực sáu mươi lép kẹp giờ lại thêm hõm xuống. Mẹ nằm đó, bàn chân sần sùi nứt nẻ, kẽ móng còn vương bùn đất đồng chiêm quá tương phản với giường ga trắng. Ngồi bên mẹ bây giờ chỉ có con, đứa con mà mẹ đặt nhiều hi vọng và thương yêu nhất, mặc dù con chưa làm được gì cho mẹ ngoài “những câu thơ vô bổ” như lời các em con. Lúc này đây, dưới ánh đèn xám lạnh, mẹ đang trong trạng thái mê, nhưng mẹ ơi, mẹ hãy nghe những lời trần tình của con.

Bà ngoại kể... Trong một chầu tổ tôm, ông lí trưởng và ông phó lí đã gật gù thoả thuận. Mẹ về làm dâu lúc tuổi mười lăm. Đêm tân hôn mẹ đóng chặt cửa không cho cậu ấm mười tám tuổi vào động phòng hoa chúc. Ông lí trưởng đập tan tành chiếc điếu bát nõ vàng se bạc, sai người đi gọi ông phó lí. Bà ngoại tất tả mang trầu rượu xuống nhà thắp hương quì lạy mẹ. Mẹ cuống cuồng chạy ra nâng bà ngoại dậy. Cửa buồng được mở. Chúng con lần lượt ra đời.

Có lần con xem một bộ phim hài: Một ông nhốt gà chờ vợ đẻ, và khi nghe tin vợ sinh con gái thì thả gà ra... Mọi người cười rần rần, còn con thì bật khóc. Con thấy bộ phim ấy như nói chuyện nhà mình. Nhưng chuyện nhà mình không được như phim. Lý, Sự, Sinh, Mong, Mỏi - năm chị con ra đời trong sự hằm hè. Chỉ có con, con sinh ra trong tiếng bom rền, trong chớp đạn phòng không và sự hân hoan tột cùng của bố. Con sống trong sự tưng tiu chằm bặp của cả nhà cho đến ngày con vào lớp một. Một chiều con mang bộ mặt mực lem tím ngoét nhưng vô cùng hớn hở, nhảy chân sáo về nhà để khoe điểm mười đầu tiên. Nhưng chân con khựng lại. Nhà cửa tanh bành nồi niêu vỡ. Năm chị con ôm nhau rúm ró góc nhà. Lọ mực xách dây trên tay con rơi xuống sân tím toé. Bố đang đập bàn hầm hố: “ Họ nhà này chưa bao gìơ chịu độc đinh!”.

Mẹ ơi, đêm đó sáu chị em con đã gào khản giọng tìm mẹ khắp nơi. Mãi sau có người đi cấy về chỉ cho chúng con chạy lên đồng Mả. Mẹ nằm vật vã, rũ rượi trên mộ ông ngoại, mười đầu ngón tay bứt cỏ máu bầm. Mặt mẹ sưng húp, khóc không thành tiếng: “ới cha ơi, sao cha lại gả con như thế hở cha?!”. Các dì các mợ và sáu chị em con ôm nhau khóc theo trong nghĩa địa đêm gió lùa hun hút. Mãi sau dì Thêm đứng phắt lên gạt nước mắt, gắt: “Chị cứ về tháo vòng ra mà đẻ, xem nó có nuôi được không.”. “Hời... ơi...Suốt ngày chỉ rượu với tổ tôm... Đẻ nữa thì lấy gì cho chúng nó ăn?...”. “Nó đã tuyên bố thế, không đẻ mà yên được với nó à?”.
Và mẹ cắn răng mang bầu lần thứ bảy. Phú, Quí - hai em con chào đời trên bờ ruộng mạ chiêm gió đông bắc lùa tím tái. Tiêu chuẩn ăn bồi dưỡng của mẹ là một ổ trứng gà mười quả và một tuần cơm không độn sắn. Mẹ ơi, đến bây giờ con vẫn không thể nào quên, sau những buổi học về, con trai lớn của mẹ vẫn được mẹ phần cho một bát cơm và nửa quả trứng. Trong căn buồng ấm sực khói gộc tre khai nồng nước giải trẻ con, con đã ăn những miếng cơm ngon nhất trần đời, trong ánh mắt chứa chan của mẹ và nụ cười mụ dạy của hai em.
Bỗng: “Đàn ông chui vào buồng gái đẻ để cái đầu nó ngu như lợn à! M...a...ạt! Họ nhà này mạt đến nơi rồi!”, bố đang ngồi nhắm rượu với ngô rang đập bàn quát khiến con giật nảy, nhè miếng cơm đang nuốt dở. Bà nội lom khom chui vào mò mẫm dắt tay con ra ngoài sịt soạt: “Đừng vào trong ấy cháu ơi, nó mà đánh thì bà cũng chịu chẳng dám can.”.

Mười lăm ngày mẹ đã phải ra đồng theo vụ cấy. Hai em Phú Quí khóc ngằn ngặt trên tay chị Mỏi chị Mong. Bà nội mắt toét nhèm mang đĩa bột nấu muối đen màu tro bếp ra dử dê. Hai em nhóp nhép được vài miếng lại ré lên oe oé. Buổi trưa mẹ quần sắn tận bẹn bổ sấp bổ ngửa chạy về. Mẹ ngồi dựa lưng vào cột đỡ cho hai em bú cùng một lúc. Khi hai bầu vú lép xẹp, nổi gân xanh chằng chịt cũng là lúc mặt mẹ tái dại như dây khoai kiệt nước. Mẹ nói không ra hơi: “Mừng...vào lấy...sắn cho mẹ. Mẹ...đói quá!”. Bát sắn lát đen sì mang ra mẹ chửa kịp ăn thì bà Mão láng giềng bế thằng cháu bụ tròn như hạt mít sang, trên tay là bát cơm trắng muốt: “Thím ăn rồi cho cháu ti nhờ một tí. Cái con mẹ nó ăn thủng nồi trôi rế, béo ị như con trâu chươn mà vẫn không có sữa.”. Mẹ bải hoải, đôi môi tái nhợt, lắp bắp: “Đợi...cháu nghỉ... một tí...”. Bà Mão dài môi ghé tai mẹ thẽ thọt: “Thím Mừng này, mai sang nhà tôi lấy lúa về mà ăn. Người khác tôi lấy lãi dững bảy phân. Nhưng thím thì tôi lấy năm thôi...”. Mẹ nhắm mắt gật đầu, vén áo. Thằng bé háu đói ngoạm vú rít choàm choạp.

Bà Mão bế đứa cháu cười toe toét ra về, cố ý bỏ lại bát cơm. Bà vừa khuất cổng, mẹ vồ lấy bát cơm bốc vội bốc vàng, nuốt lấy nuốt để. Bất ngờ bà Mão quay lại: “Uí da, suýt nữa thì tôi quên cái bát!...”. Mẹ sững lại. Miếng cơm nghẹn tắc nơi cuống họng phồng to như quả ổi. Mắt mẹ dàn dụa nước.

Sau vụ cấy mẹ bị một trận kiết lị đè cho ngã quị. Lá mơ lông và trứng gà vừa đỡ mẹ gượng dậy, mẹ đã phải vào rừng Găng đốn củi. Mỗi ngày mẹ gánh hai bó củi gồi to hơn người để đổi lấy một khăn vuông gạo nấu cháo cho bà và các em ăn. Một hôm tối mịt mà mẹ vẫn chưa về. Mọi người bổ đi tìm, mãi mới ra. Một người Mường thấy mẹ nằm gục bên bờ suối, cạnh mo cơm sắn rã rời. Thuốc thang mãi mẹ mới qua đận ấy. Nhưng cũng từ đó mẹ mang trong người một căn bệnh kinh niên.

Nhà thiếu đói triền miên, hai em còi cọc, cóm róm như cặp mèo đi kiết. Các dì các mợ góp tiền mua sữa bột cho, thứ sữa bột đóng bao năm mươi cân thời đó thường vón cục do quá hạn. Các em uống thứ sữa đó đi ngoài như tháo cống. Thương con, mẹ cương quyết chỉ cho các em bú mẹ, bú đến ba tuổi chưa thôi. Kể từ khi biết ngồi, hai em Phú Quí bú quen mỗi đứa một bên, đổi vú chúng nhất quyết không chịu bú. Mỗi khi trái gió trở trời, hai em cùng đau một lúc. Một li thuốc chia đôi, mẹ cầm thìa khuấy leng keng rồi cho Phú uống trước. Đến lượt Quí, nó giãy nảy không chịu uống. Dỗ dành mãi nó mới ngọng nghịu: “Con uống cái leng keng cơ!”. Mẹ bật cười, lại khuấy. Leng keng leng keng. “Nào, u ti tráng miệng nào!”, mẹ gọi. Hai đứa ngồi chồm hỗm hai bên như hai con chó con kéo dài vú mẹ...

“Nhà này bảy đời đa đinh!”, bố gật gù mỗi khi giỗ tết. Những ngày ấy, bốn bố con con ngồi xếp bằng trên ghế phong thư với cỗ mâm đồng. Mâm chõng tre dưới đất là mâm đàn bà, cả bà nội bảy mươi tuổi cũng phải ngồi mâm đó. Và con, con là người đầu tiên phản đối chuyện ấy bằng việc lẳng lặng mang bát xuống ngồi mâm dưới. “Đồ mất dạy! Mày phá gia phong nề nếp nhà tao!”, bố gầm lên chỉ mặt con. Xung đột giữa bố và con bắt đầu từ đó.
Con học giỏi nhờ những buổi trên lưng trâu đọc sách. Dưới tán phi lao chờ mãn buổi cày luôn có những hình vẽ toán học của con. Bố so bì : “Mày chẳng được cái tang trạng gì sất. Nhìn thằng Khoan nhà Tụ kìa, mỗi buổi chăn trâu về nó còn bắt được mấy xóc cua.”. Mẹ kêu lên : “Có ai như ông không, ai đời đi khen đứa ham bắt cua hơn ham học. Bố hằn học: Mày có học nát xương lòi tỉ chế độ này nó cũng không dùng mày!”. Mẹ tự tin: “Chế độ nào chẳng cần người tài? Con cứ học đi, không được bắt chước mấy thằng lêu lổng!”. Mẹ chỉ nói thế thôi, vậy mà bố gầm lên lao vào mẹ mà đấm đá. Con nhào vào bênh mẹ và nhận lấy cái bạt tai nổ đom đóm mắt cùng với bao nhiêu Dế mèn phiêu lưu kí, Sông Đông êm đềm, Chiến tranh và hoà bình...bay vào hố xí. Lạ một điều là mẹ không hề khóc. Mẹ gom góp gạo tiền cho con thi đậu cấp ba. “Con cứ học đi. Ông nội ông ngoại con mang tiếng địa chủ nhưng chỉ tối ngày tổ tôm, không có nợ máu với cách mạng. Bố mày hận vì bị tịch thu tài sản. Đang sung sướng quen rồi mà.”. Bà nội thêm vào: “Bố mày dong dóng ăn chơi từ bé, có phải đụng tay vào việc gì đâu, muốn gì được nấy. Có lần bố mày đòi ăn trứng Trời, bà phải bắc thang lén bỏ trứng gà lên nóc nhà...”.

Những tháng năm đói kém ấy con đã bấm tuột mười đầu ngón chân trên đường lầy để lên trường huyện học. Trời chưa sáng con đã phải dậy đón từ tay bà hai củ khoai nóng hổi hoải bỏ vội vào túi quần, vừa chạy vừa ăn cho kịp giờ vào lớp. Vào lớp rồi lại ngồi run. Hai củ khoai hết veo trên chặng đường năm cây số. Trong bụng thấy réo sôi lên, còn đầu thì loáng thoáng những phưong trình tang cots...Con tưởng đã phải bỏ học nửa chừng nếu như mẹ không vay lãi mua cho con một chiếc xe đạp tòng tọc không chắn bùn chắn xích. Lũ bạn phố huyện con nhà phe phẩy, lượn lờ trên những chiếc xe Viha, Diaman, Favorit...trề môi diễu con. Con có độc một bộ đồ xanh chéo, vừa đi học về là phải cởi ngay ra, treo lên, chủ nhật mới dám đem đi giặt. Có đứa ngồi sau bàn con hỏi kháy: “Bố mẹ đằng ấy là công nhân nhà máy dệt hay sao mà mặc mỗi một bộ vải xanh Nam Định thế?!”. Con đỏ mặt chống chế: “Tớ có hai bộ thay đổi đấy.”. Nó không tin lén lấy bút bi đánh dấu rồi đem ra làm trò cho chúng bạn cười. Cũng may con học giỏi hơn nên bọn chúng chửa dám khinh.

Nhưng ghét thì có. Ấy là từ buổi đi lao động cộng sản trên Tiên Phương. Sợ con xấu hổ với bạn bè, mẹ cắt lá dong gói bánh chưng cho con mang đi ăn trưa. Trưa đó khi chúng bạn túm tụm bày cơm trắng với giò, tôm khô, ruốc thịt...ra ăn thì con một mình lủi thủi mang "bánh chưng" ra sau gốc thông già. Có đứa trông thấy, con vội vàng gói lại rồi bỏ đi. Bọn bạn con cười hô hố bảo con là đồ ăn tham, có bánh chưng mà ăn hẫm một mình. Con không một lời thanh minh, không dám thanh minh, bởi bên trong khuôn bánh chưng lá dong xanh mỡ ấy là những lát sắn đen sì. Nhìn nét nặt con chiều hôm ấy, mẹ đoán ra ngay.

Khi hai em con đi học, mẹ thường đem chuyện này ra kể để làn gương. Bố chửi hất đi bằng điệp khúc cũ: “Có học nát xương lòi tỉ chế độ này nó cũng không dùng chúng mày. Học biết đọc biết viết là được.”. Nghe lời bố, sau mỗi buổi học, hai em con vác gàu ra đìa tát cá về cho bố nhắm rượu. Lớn thêm chút nữa, bố sắm cho mỗi đứa một chiếc cần câu quăng. Sau mỗi buổi câu về ba bố con quây quanh đĩa thịt ếch nấu chuối xanh. Hai em Phú Quí cũng tì tè uống rượu. “Tập cho chúng bay biết uống thì về sau tao già, tao mới uống ké được chúng mày.”. “Giời ơi là giời! Ông làm hỏng con tôi mất!”. Bố gầm gừ: “Mày làm hỏng con ông thì có. Rồi xem hai thằng này sẽ khá hơn thằng nửa đời nửa đoạn kia!”, bố ném ánh mắt hằn học về phía con. Mẹ thở dài kéo con ra ngoài: “Tuổi hai bố con mày xung khắc.”.

Khi bà và mẹ bàn cho con nhập ngũ, con đồng ý tức thì. Trong đầu con lúc đó chỉ xoáy cồn một ý nghĩ duy nhất: Thoát khỏi ngôi nhà ngột ngạt này càng nhanh càng tốt. Bố mỉa mai: “Lấy máu mà viết đơn! Hai thằng chú mày bỏ xác ngoài chiến trường chưa đủ à?”. Bà nội mắt đã mờ loà vịn cột đứng dậy quơ quào: “Trời cao đất dày ơi! Hai thằng nó chết mày mới có tiền đổ vào họng mỗi ngày đấy!”.

Ngày con lên đường, bà lần bao tượng dúi vào tay con: “Bà cho, tiền tuất tháng này của hai chú mày đấy. Vào bộ đội thì cố gắng mà học nữa. Ở nhà có đậu đại học thì mẹ mày cũng không có tiền cho mày ăn học đâu.”.

Ở đơn vị, khi nghe tin bà mất con đã khóc mấy ngày liền. Sực nhớ lời bà dặn hôm nào, con lao vào ôn. Con về phép với tin đỗ trường Lục quân. Bố khinh khỉnh: “Hữu danh vô thực. Sĩ quan đói như ngan ấp, đang xin ra quân cả lũ kia kìa. ”. Còn mẹ thì mừng. Hai mắt mẹ ăm ắp nước.

Hai em con học đì đẹt, hai năm một lớp. Hết lớp ba đã bỏ. Bố sắm cho mỗi đứa một chiếc xe đạp và một thùng xốp. Hai đứa nhận những que kem nước lã pha đường hoá học vào tận bản Mường để đổi ngô đổi nếp. Tận bây giờ con vẫn còn nghe văng vẳng tiếng còi “kem...mút” và tiếng rao dẻo quẹo của hai đứa: “Ai ăn kem nào. Kem dừa kem sữa, ngọt lử ngọt lừ, dừa quấn dừa quýt, dừa vít cong que, già ăn trẻ laị, gái ăn đắt chồng. Ai ăn kem rẻ chạy khoẻ ra mua. Kem mậu dịch đơ...ây!...". Mỗi buổi chiều về, từ thùng xốp bọc cót, hai đứa lôi ra đủ nấm hương, mộc nhĩ, có khi là cả một cặp sừng hươu nguều ngoào. Mắt bố sáng rỡ lên, miệng cười tấm tắc. Lúc đó thì con còn đang đắm chìm trong những phạm trù triết học. Vật chất và ý thức, cái nào chi phối cái nào?

Khi con ra trường, khoác trên mình bộ quân phục sĩ quan thì hai em con đã biết chui vào mấy bãi xe do máy bay Mĩ bắn cháy ở Miếu Môn, móc ngoặc mua xăm lốp, phụ tùng bán kiếm lời. Chúng khụng khiệng áo bay quần bò mũ cối trong sự thèm thuồng xoa xuýt của trai làng. Làng bên có tin đồn: “Cô Hoa bán quán đầu cầu đẻ, đứa con trai giống Phú Quí y tạc. Mẹ áo khăn te tái “đi đón cháu về”. Thằng Quí lừ mắt: “Bà già hâm tỉ độ. Nó ngửa cho cả trăm thằng, biết con ai?”. Bố tợp một ngụm rượu, đế vào: “ừ, sang mà đón về. Ông thì băm cho ngan nó ăn!”. Mẹ bất lực thở dài, chỉ dám thỉnh thoảng lén sang thăm và dúi cho cháu chút quà bánh nhỏ.Giỗ bà năm đó, hai em Phú Quí mặt rượu đỏ cay đỏ cợi tuyên bố: “Mẹ kiếp! Cái đất này giờ khó làm ăn rồi. Hai thằng con tính vào Tây Nguyên xem sao.”. Bố rung đùi gật gù: “Có chí làm ăn lớn thế là tốt!”. Mẹ can: “Thôi, ở nhà no đói có mẹ có con. Chẳng đâu bằng quê mình con ạ!”. Thằng Phú gằn giọng: “ở để cho mấy thằng xã nó hạnh hoẹ à? Mẹ kiếp! Cán bộ gì mà ngu như chó, mở miệng là đường lối chủ trương. Lí thuyết hão. Dân đ. khá lên được.”.

Hai em đi, con năng về với bố mẹ hơn. Bố không còn hằn học với con nhưng cũng chẳng tỏ vẻ thân tình. Số phận đưa đẩy thế nào con lại chuyển sang làm báo. Mẹ tự hào về con lắm, đi khoe khắp làng. Bố xì một tiếng rõ dài: “Tưởng mày theo nghiệp võ tao còn mong được nhờ mơ. Vẻ vang đếch gì cái nghề ấy, như thằng mõ làng ngày xưa!”.

Mừng thọ mẹ sáu mươi, con cháu kéo về cả đàn cả lũ. Mẹ ngượng ngùng trong áo gấm dài thêu. Hai em Phú Quí mang về biếu mẹ nhung hươu, cao hổ. Mẹ thờ ơ nhận: “Mẹ bệnh đại tràng mãn tính, đâu có ăn được những thứ này.”. Con chẳng có gì biếu mẹ, chỉ có bài thơ đọc trước cả nhà. Thế mà mẹ mừng, nước mắt rưng rưng.

Bữa cơm, con hỏi chuyện làm ăn, hai em hãnh diện khoe: Ban đầu vào buôn bán nhì nhằng, mua được miếng đất rộng vung vinh trên đường 14. Đùng một cái, tách tỉnh. Miếng đất ấy nghiễm nhiên thành thành trung tâm thị xã. Tấc đất tấc vàng, cứ việc cắt khoanh ra mà bán. Giờ giàu. Một đứa là chủ tiệm kinh doanh xe Hon-da, một là chủ cửa hàng kim khí điện máy. Hai đứa ăn uống nhồm nhoàm. Thằng Phú dốc li rượu một cách lục lâm, kẻ cả với con: “Ra quân, vào bọn tôi nhượng cho miếng đất mà làm ăn. Ham hố đếch gì ba đồng lương chết đói!”. Con tự ái: “Chúng mày mới giàu mà đã lên mặt dạy đời.”. Thằng Quí xí: “Ông chỉ được cái sĩ bọ! Ông đóng góp được đếch gì cho đất nước ngoài mấy bài báo hô hào cổ động suông? Bọn tôi đây này, thuế mỗi tháng hai triệu, ấy là chưa kể mấy thằng chó Công an, mấy thằng Thanh niên, mấy mụ Phụ nữ...tháng nào cũng cho người đến xin xỏ tổ chức phong trào này nọ. Ông tưởng nhà báo các ông là to hử? Trong tôi ngày nào chả có mấy thằng nhà báo đến kì kèo xin làm quảng cáo. Thí cho mấy đồng thì bảo viết gì chả viết. Đây này...”, nó móc ra một loạt bài báo cắt ép plastic đàng hoàng. Đủ những cái tít kêu như chuông: Doanh nghiệp tư nhân Hưng Phú - đơn vị đi đầu trong phong trào đền ơn đáp nghĩa; Nguyễn Hưng Quí - ông giám đốc hào hiệp với trẻ thơ; Nguyễn Hưng Phú - nhà doanh nghiệp giàu lòng nhân ái... “Đấy, nhà báo đấy!”, thằng Phú ném toẹt những bài báo ấy ra mặt bàn khinh bỉ. Mẹ gắt: “Hỗn nào! Anh con nhờ làm nhà báo nên mới có tên trong Ban soạn thảo hương ước của làng đấy.”. Thằng Quí bĩu môi: “Tưởng gì! Nếu mẹ thích, tên hai thằng con sẽ được khắc vào bia đá!”.

Chúng nói và làm được thật. Ngay ngày hôm sau, tấm bia đá đã có tên hai đứa với mức đóng góp tu bổ đình làng cao nhất: mười triệu. Mẹ hỏi: “Mừng, sao con cũng đóng góp mà không được khắc?”. Thằng Phú cướp lời con: “Ôi dào! Ba đồng tẹp nhẹp ai thèm khắc. Làng qui định rồi, dưới triệu chỉ ghi sổ vàng, trên triệu mới khắc vào bia đá.”. Mẹ kêu lên: “Giời ơi là giời! Làm thế thì bia đá toàn tên những đứa lắm tiền vô học à?”. Thằng Phú vằn mắt quát: “Bà câm mồm đi! Bà muốn thì ôm lấy thằng con lắm chữ mà húp cháo!”. Mẹ điếng người ôm ngực ho rũ rượi trước câu chửi giả bất ngờ. Mẹ tuyên bố từ cả hai thằng.

Suốt những tháng ngày sau đó, mẹ sống vật vờ như cái bóng. Con đã linh cảm sẽ có chuyện không lành. Và đúng. Bao nhiêu mưa nắng gió sương tích tụ trong dần trong người mẹ đã trở thành ung nhọt. Khi đưa mẹ từ phòng mổ ra, bác sĩ nói với bố: “Bà ấy tạm thời qua khỏi.”. Bố thủng thẳng: “Bà ấy sống được là nhờ tiền hai thằng con tôi trong kia gửi ra. Chứ như cái ngữ kia ấy à, bà ấy có mà chôn sớm!”. Con nuốt nỗi mặc cảm yếm thế vào lòng mà không dám ngước lên, bởi những điều bố nói đều là sự thật. Đưa mẹ đi bệnh viện, trong túi con vẻn vẹn một tháng lương ứng trước. Tất cả chi phí cho ca mổ và cả giọt giọt những sự sống đang truyền vào cơ thể mẹ kia đều là tiền của hai em em gửi ra.

Mẹ ơi, khi vừa tỉnh, mẹ mở mắt nhìn khắp lượt sáu chị em con, ánh mắt lần tìm mong mỏi. Con hiểu ý và đi gọi điện. Thằng Phú hỏi con: “Mổ rồi hả? Thế thì ổn. Tôi nhờ ông một việc nhé. Ông nghỉ phép chăm mẹ hộ tôi!”. “Chú phải về. Lúc này mẹ cần đông đủ cháu con...”. “Căng quá! Độ này dân trúng cà phê, mua xe nhiều lắm, tôi về một ngày là đứt mấy triệu...”. Con gặp Quí. Nó hỏi ngay: “Tôi đã gửi tiền về, anh nhận được chưa?”. “Tiền tiền tiền. Chúng mày chỉ biết có tiền. Mẹ không cần tiền lúc này nữa, mà cần chúng mày bên cạnh, hiểu chưa!”. “Thì...có quái gì mà ông làm ầm lên thế? Được rồi, tôi nhờ ông thuê lấy một đứa giặt giũ, đổ bô cho mẹ. Thế là được chứ gì?”. “Khô...ô...ông! Những việc đó tao làm được hết. Tao cần chúng mày về thôi...”. “Nhưng... em không thể bỏ cửa hàng lúc này...”.

Lần tỉnh thứ hai, mắt mẹ sáng lên vì bên cạnh con còn có thêm một người nữa. “Phú...Quí...phải không con?”, mẹ chìa tay hỏi. Thằng Hận, con chị Hoa, đứa bé ngày xưa mẹ te tái định đón về, vội nhào đến ôm lấy mẹ mếu máo: “Bà nội ơi! Bà đừng chết nhé!...”. Khuôn mặt mẹ giãn nở ra một chút rồi cười như mếu.

Lần tỉnh thứ ba, con có cảm giác mẹ rùng mình khi chỉ thấy mình con bên cạnh. Các chị đã phải về với lũ con bìu ríu. Mẹ ú ớ đưa tay ra dấu. Con khiếp sợ cuống cuồng chạy đi gọi điện: “Phú, anh van em đấy! Em về ngay. Mẹ rất mong em...Nếu kẹt quá thì một đứa về cũng được”. Thằng Phú im bặt, trong máy léo xéo tiếng mua hàng và tiếng Hon- da gầm rú. Hồi lâu thằng Phú hỏi con: “Anh Mừng, mẹ mổ vú nào?”. “Vú trái.”. “Anh chờ em bàn với thằng Quí xem sao, có gì chút nữa em điện lại”. Con đợi mãi chuông điện thoại mới reo. Tiếng thằng Quí hỏi độp con: “Anh Mừng, anh còn nhớ ngày xưa em bú vú nào không?”. Con chưa hiểu nó định nói gì nên chưa trả lời. Bỗng con nghe tiếng thằng Phú quát vọng vào trong máy: “Mày bú vú trái chứ còn ai nữa!”. Con hiểu ra và con sững sờ. Con bật khóc và con gào như vỡ máy: “Khốn nạn chúng mày! Chúng mày không phải về nữa đâu...ừ, tao được bú cả hai bầu vú. Trách nhiệm với mẹ bây giờ là tao...”. Con vùng chạy về bên mẹ khóc nức nở như không còn mẹ nữa. Mọi người tưởng mẹ làm sao nên vội vàng chạy lại. Bác sĩ kiểm tra và động viên con: “Anh yên tâm. Nếu không để lại di căn, mẹ anh sẽ sống.”.

Vâng, mẹ ơi, nỗi đau thể xác của mẹ đã được khoét bỏ, nhưng nỗi đau trong lòng mẹ thì lại đang nhức nhối. Mẹ vẫn dạy con: Anh em trong nhà đóng cửa bảo nhau. Con đã vâng lời nên những chuyện đau buồn trong nhà mình không ai biết. Nhưng hôm nay thì con phải nói. Nỗi đau nhân luân của mẹ phải được biết đến, phải được khoét bỏ. Con phải nói...phải nói...Mẹ ơi!



Tháng 7 - 2001




ĐỖ TIẾN THỤY


© Cấm trích đăng lại nếu không được sự chấp thuận của tác giả .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC