Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





Nhớ Văn Khoa Saigon





* Thân mến tặng các bạn đồng môn

Mỗi bận ngang qua đây,con đường Đinh Tiên Hoàng này - cạnh tòa tháp đài truyền hình TP.Hồ Chí Minh,tôi lại lan man nhớ Văn Khoa Saigon (nay là trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn),nhớ thời sinh viên hồn nhiên thanh thoát - có chút gì lâng lâng như đươc“nhấc bổng” giữa đời thường.

Nhớ lắm những bậc thầy đáng kính ngày ấy chỉ chuyên tâm cho công việc nghiên cứu giảng dạy: GS Nguyễn Văn Trung,Thanh Lãng,Nguyễn Khắc Hoạch,Trần Đức Rật,Phạm Việt Tuyền,Nguyễn Khắc Kham,Lê Ngọc Trụ,Lê Văn Lý,Nghiêm Toản,Phạm Văn Diêu,Bửu Cầm,cụ Tú Nhiễm,Lưu Khôn,Trần Trọng San,Nguyễn Khuê …

Nhớ vô cùng cái thời đằng tả,phiên âm,dịch nghĩa Hán Nôm - miệt mài với những nét trên dưới,trái phải,trong ngoài theo trật tự viết một cách rối rắm – bụng bảo dạ phải kiên trì chịu đựng - nếu không đừng vào Văn Khoa !

Tôi nhớ GS Lưu Khôn vỡ lòng cho bọn sinh viên dự bị môn Hán văn - thầy viết thật to nét chữ lên bảng và đánh số - ví dụ chữ “thiên”(trời) có 1,2,3,4 nét….Cách dạy cụ thể tỉ mỉ của thầy cho đến tận bây giờ - trời ơi,không làm sao bọn sinh viên chúng tôi quên được!

Nhớ GS Phạm Văn Diêu qua các giáo trình thơ văn Nguyễn Phi Khanh,Nguyễn Trãi - Nhớ GS Bửu Cầm tẩn mẩn chiết tự những bài thơ nôm vịnh truyện Kiều của Chu Mạnh Trinh…- Nhớ nhiều buổi đi “cua” nhờ các bạn nữ đến sớm xí chỗ,kéo ghế bu bám quanh thầy nghe giảng .

Nhớ những ngày cặm cụi đánh vật với Hán Nôm bằng “chiến thuật” học nhồi “lì lợm”- viết đi viết lại ra vở nháp,viết đầy lên tấm vách gỗ phòng trọ…- Nhớ sách gối đầu nằm- quyển tự điển Hán Việt Thiều Chửu,giấy in cũ mèm – mất cả chục trang khi gửi đóng lại,tôi phải mượn bạn hì hục chép tay thay thế dùng tạm.

Tài liệu tham khảo,các bộ cours in ronéo vàng ố, bây giờ nằm im trên giá sách buồn thiu - Hoàng Việt văn tuyển(Bùi Huy Bích),Ức Trai tập,Quân trung từ mệnh tập(Nguyễn Trãi),Vũ trung tùy bút(Phạm Đình Hổ),Sãi Vãi(Nguyễn Cư Trinh),Cao Chu Thần thi văn tập(Cao Bá Quát),Tì Bà hành(Bạch Cư Dị), Truyện Kiều(Nguyễn Du),Chinh phụ ngâm(Đặng Trần Côn),Cung oán ngâm khúc(Nguyễn Gia Thiều),Nhị độ mai,Truyện Phan Trần (Khuyết danh), Lược khảo Văn học(Nguyễn Văn Trung),tập tiểu luận Công việc của người viết Tiểu thuyết – (Nguyễn Đình Thi- in ronéo,NXB SINH VIÊN ĐI TỚI,1971)…- một số thất lạc,số còn lại tôi trân quý như đồ cổ - như kỉ niệm - như những ân sư - thỉnh thoảng đem ra phơi phong,thay bao nhựa,đóng dán lại những trang sút sổ.Lòng thầm nghĩ kính bái “vong linh hồn sách”,những kiến thức,những chữ nghĩa – từ đây đã ngấm vào tôi,đã đồng hành cùng tôi miệt mài hơn bốn mươi năm truyền lại cho đàn em thân yêu,chừng ấy thời gian là niềm vui râm ran tuy đạm bạc nhưng tâm hồn vô cùng sung mãn .

Từ Văn Khoa, tôi có chút vốn liếng chữ nghĩa nghiên cứu biên soạn giảng dạy,luận bàn văn chương…

1- Trong bài thơ “Chiều tối” -(nguyên tác Mộ - Nhật Ký Trong Tù ) – gặp hai từ “túc” nếu không phân biệt khó làm rõ nghĩa câu.

- Câu 1: Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ - (Chim mỏi về rừng tìm cây ngủ) - Túc(bộ miên): đỗ,đêm đỗ lại nghỉ. ; nghĩa khác : cũ,lâu,lão luyện (túc nho:người học đã lâu năm,thâm thúy).

- Câu 3,4 : Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc /Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng – (Thiếu nữ xóm núi xay ngô /ngô xay vừa xong,lò than đã đỏ) - Túc(bộ mễ): chỉ chung lương thực ngô,gạo,thóc lúa - nghĩa khác(bộ túc): chân – một bộ phận của cơ thể(túc cầu: bộ môn thể thao chơi bóng bằng chân); đủ,cũng đủ (tri túc:biết đủ) .

2- Trong câu“Thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ”- (Bảy mươi(tuổi)theo lòng mong muốn,không vượt khuôn khổ chuẩn mực đạo lý). - Du(bộ sước): vượt qua,vượt ngoài - nghĩa khác : đi chơi ,đến chỗ có cảnh đẹp kỳ thú để thưởng ngoạn cho thỏa thích(như du lịch).

3- Và nhân sự kiện Trung Quốc và Việt Nam thỏa thuận về việc thành lập học viện Khổng Tử trong khuôn viên đại học quốc gia Hà Nội (theo nhiều nhà phân tích, đó là một hình thức sử dụng “quyền lực mềm” để Bắc Kinh truyền bá văn hóa Trung Hoa với mục đích xâm lược lâu dài về văn hóa), tôi lại liên tưởng mặt hạn chế học thuyết Nho giáo như một thứ xiềng xích trói buộc đời sống văn hóa,xã hội ,chính trị các nước phương Đông - phát hiện thêm tệ phân biệt trọng nam khinh nữ một cách cực đoan đến độ nhiều khái niệm chỉ thói hư tật xấu về mặt dạng tự đều có thành tố (bộ nữ : người con gái) trong cấu trúc chữ !? - chẳng hạn :

- Gian : gian giảo, gian dối ,kẻ ác - một âm khác “can” : can phạm(người bị truy tố).

- Lam : tham lam

- Lãn : lười biếng

- Tật : ghen ghét (tật đố)

- Hiềm : ngờ vực (nói có ý bất bình,bất mãn)

- Đố : ganh ghen- mình không bằng người sinh lòng ganh ghen đố kỵ

-Vọng :sằng,càn( như vọng ngữ : nói sằng)

- Kĩ : con nữ phường chèo,con đĩ nhà thổ.

Thậm chí xem người con gái là nguyên nhân gây rối,chỉ khi nào cấm cung nhốt trong nhà (khuê môn bất xuất) mới yên ổn – cấu trúc chữ “an” = miên(mái hiên nhà)+nữ(con gái) .

Tất nhiên ngày nay cách nhìn đã đổi khác,tôi tán thành ý kiến ông Kofi Annan - nguyên Tổng thư ký LHQ có lần đã phát biểu :“chính phái nữ bình đẳng được học tập nâng cao trình độ đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế thế giới”.

Đại Học Văn Khoa Saigon giờ chỉ còn là hoài niệm.- đồng môn ngày ấy bạc phơ mái đầu.

“Nhất tự vi sư,Bán tự vi sư” - có được con chữ, ơn Thầy tạc dạ !


(Saigon,20/11/2013)
__________________________
Nguồn tham khảo :Hán Việt Tự Điển – biên tậpThiều Chửu-NXB Đuốc Tuệ,73 phố Richaud,HàNội-1942.
Việt Nam Tự Điển – Ban Văn Học Hội Khai Trí Tiến Đức Khởi thảo(Hà Nội-Imprimerie Trung Bắc Tân Văn,1931) – Mặc Lâm xuất bản- Saigon,1968.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 23.11.2013.

Quay Lên Đầu Trang