Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Chùa Đậu Thường Tín Hà Tây






Thông Điệp Chùa Đậu





Đoàn Phật tử chùa Yên Phú chúng tôi tâm nguyện ăn chay, niệm Phật, cùng nhau tìm về những ngôi chùa lễ Phật Mẫu, tầm sư, học Đạo, chắt lọc Tinh hoa Việt, mong biết cách tự mình sống yên bình trong náo loạn và truyền Tình Mẹ Việt đến cộng đồng Việt trong, ngoài nước.

Ngày 6- 11- 2013. Chúng tôi về chùa Đậu ngự tại thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín- Hà Nội. Chùa Đậu linh thiêng, bí ẩn, nổi tiếng thế giới, bởi hai pho tượng táng Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường cùng tu tại chùa này thế kỷ XVII, sau khi tịch, xác thân còn nguyên vẹn.

Năm 1990. Tôi thăm chùa Đậu, cảnh sắc u tịch, hoang sơ, cổ kính, huyền bí. Thoảng u trầm. Chiêm ngưỡng hai pho tượng táng chùa Đậu trong tâm thức u minh, mờ mịt.

Lần này thăm chùa Đậu, đang hồi sinh. Giữa cánh đồng trơ gốc rạ, những ruộng rau thơm màu sắc: tía tô, hành, thì là, rau mùi, húng, tỏi, ớt… nổi lên ngôi cổ tự thiêng nâu trầm mái ngói, tỏa hào quang một vùng quê lúa.

Chùa làng cảnh Phật

Chùa Đậu còn gọi là Thành Đạo Tự, Pháp Vũ Tự, chùa Vua, chùa Bà. Chùa Đậu là ngôi chùa làng cảnh Phật tụ Tinh hoa Phật Việt Nam Thành Đạo mà cả nhân loại ngưỡng mộ, nghiên cứu.

Thành Đạo hiểu sâu sa là đạt tới Phật Pháp nhiệm màu cả về Nhân sinh quan và Vũ trụ quan, mà ông Phật Thích Ca Mâu Ni truyền cho nhân loại. Hiển hiện qua hai xá lợi toàn thân của hai vị Thiền sư. Ai cũng nhìn thấy bằng mắt thường.

Tôi thong thả dạo vườn chùa đẫm sương mai. Những khóm mẫu đơn hoa vàng, đỏ gợi cảnh Thần Tiên. Những cây nhãn cổ thụ rong rêu, tầm gửi điểm trang màu cổ tích. Tiếng chim nhảy nhót trên cành. Những mảnh ao tròn, vuông, bán nguyệt tím hoa bèo, hoa súng. Những cây bưởi la đà, quả vàng nhuộm ánh trăng. Những cây bồ đề, hồng xiêm, mít, ổi, na, vải, đào, mận… tỏa xanh cành lá. Những khóm chuối nặng buồng đợi chín. Cây khế chiu chít quả chua ngọt lành. Những cây thuốc Nam nhỏ xíu, cứu người. Những cây đu đủ quả chín ngọt ngào, quả xanh, lá xanh, hoa trắng đều là những vị thuốc diệu kỳ, cứu bệnh nan y. Những bụi xả, hương nhu, gừng, nghệ ẩn mình, thơm mọi góc vườn. Đàn bướm đen bay lượn chập chờn bên hoa. Đám rau cải, rau muống, rau dền, rau đay, mồng tơi, ngải cứu, cải cúc, ngọn khoai… tươi sạch. Những mảnh ruộng lúa vòng quanh sân vườn chùa. Tiếng gà gáy xa xa. Thôn xóm yên lành trong sương mai se lạnh cuối Thu.

Tôi chầm chậm hít thở bầu không khí trong sạch. Linh diệu dâng đầy trái tim, lồng ngực. Trước cảnh Thiên đường vườn quê Việt ngự ngôi cổ tự thờ Thần Mưa giữa đồng làng, tôi nguyện cầu người dân tất cả xóm vắng, thôn cùng Việt Nam đều tỉnh thức, dang tay giữ chùa làng, vườn nhà để được quyền sống an vui, đời nối đời. Nguyện cầu Đại Tạng Vương Bồ Tát dùng Thần lực diệt liên minh ma quỷ, để người dân Việt được vui sống yên bình, thanh thản trong mái nhà, mái chùa làng của họ.

Ngôi làng là bất diệt. Ngôi làng nuôi dưỡng sự sống con người. Ngôi làng hòa từng hơi thở lòng dân. Ngôi làng không thể mất. Giặc ngoại xâm chiếm làng. Dân nhổ tre ngà đánh giặc. Giặc nội xâm chiếm làng. Dân dùng tiếng chuông chùa xua yêu ma tà độc, quỷ quái, diệt ác tham. Phép vua thua lệ làng.

Chắp tay trước Pho tượng Quán Thế Âm Bồ Tát trắng trinh đang từng giây tưới nước Cam Lồ cứu độ chúng sinh. Tôi nguyện cầu Mẫu Phật Man Nương, Tứ Pháp Việt Nam và Chư Phật mười phương, dẹp tội ác trần gian, đã chất chồng cao hơn núi, cạn những dòng sông, khô cháy những cánh đồng, quằn quại những xác thân.

Nghe được tiếng lòng tôi, chú tiểu nhẹ tay hái một chùm khế tặng tôi dâng Mẫu Phật Thánh Thần.

Tiếng chuông sớm ngân nga. Chúng tôi thành tâm kính lễ Mẫu Phật Thánh Thần. Phật Mẫu Pháp Vũ chùa Đậu linh thiêng, nhiệm màu. Một cơn mưa cát tường nhẹ nhàng tưới cây vườn và tắm hồn chúng tôi, khoảng hơn nửa giờ.

Trong nhà khách, sư ông Đại đức Thích Thanh Nhung trụ trì chùa Đậu, nhuộm răng đen, gương mặt tròn bầu, vừa bỏm bẻm nhai trầu, vừa trò chuyện:

- Sống sót từ chiến trường Quảng Trị về, thầy trụ trì ngôi chùa nhỏ thôn bên. Năm 1992, được dân làng mời trông nom chùa Đậu hoang tàn. Nhờ Phật tử mười phương công đức, chùa đang phục sinh. Chùa khởi dựng thế kỷ III, xây lớn vào đời Lý, trùng tu đời Lê (thế kỷ 17 - 18) theo cấu trúc hệ thống Tứ Pháp, gắn với truyền thuyết Man Nương. Chùa còn lưu giữ nhiều di tích quý như gác chuông Tam quan, cuốn sách đồng ghi lịch sử chùa, đặc biệt là tượng lưu cốt hai thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường. Chùa Đậu thờ Tứ Pháp. Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. (Mây, Mưa, Sấm, Chớp). Cuốn sách bằng đồng có từ thời Sĩ Nhiếp (năm 200- 210) hiện cất giữ tại chùa, cho biết rõ Phật giáo từ Ấn Độ du nhập vào Việt Nam.

Phật Mẫu Man Nương

Chuyện kể Man Nương là một cô gái rất sùng đạo, năm mười hai tuổi, học đạo ở chùa Linh Quang , nay là Tiên Du - Bắc Ninh . Chùa có Thiền sư Khâu Đà La là một vị cao tăng đầu tiên ở Ấn Độ sang Việt Nam truyền đạo. Một hôm Man Nương ngủ ở thềm, Khâu Đà La bước qua người, cô thụ thai . Cha mẹ Man Nương uất giận. Khâu Đà La dặn: “Đó là con Phật . Không phải lo phiền”. Mười bốn tháng sau, Man Nương sinh hạ một người con vào ngày 8 tháng Tư (âm lịch ), đem đến chùa trả Thiền sư. Ông gõ gậy tích trượng vào cây đa ở cạnh chùa. Cây tách ra, Thiền sư đặt đứa trẻ vào trong, cây khép lại. Khâu Đà La trao cho Man Nương cây gậy và dặn khi nào hạn hán thì đem gậy cắm xuống đất để cứu dân. Ông biến mất.

Khi vùng Dâu hạn hán ba năm liền, nhớ lời Thiền sư dặn, Man Nương đem cây gậy thần cắm xuống đất. Nước phun lên, cây cối, ruộng đồng sống lại. Chúng sinh thoát nạn hạn hán.Tiếp đó có trận mưa to, cây đa bị gió bão quật, đổ xuống sông sông Dâu, trôi về thành Luy Lâu . Thái thú Sĩ Nhiếp cho quân lính vớt lên, làm nóc điện Kính Thiên, nhưng không ai lay chuyển nổi. Man Nương đi qua liền xuống sông, buộc dải yếm vào, kéo cây lên dễ dàng.

Sĩ Nhiếp kính sợ. Tuyển mười người họ Đào tạc tượng Tứ pháp là Pháp Vân - Pháp Vũ - Pháp Lôi - Pháp Điện tượng trưng cho Mây , Mưa , Sấm , Chớp và cho xây chùa Dâu để thờ.

Khi thợ tạc tượng, gặp trong thân cây một khối đá bèn vứt xuống sông. Đến đêm thấy lòng sông rực sáng, Sĩ Nhiếp cho người vớt nhưng không tài nào vớt được. Man Nương đi thuyền ra giữa sông thì khì khối đá tự nhiên nhảy vào lòng. Khối đá ấy gọi là Thạch Quang Phật (Phật Đá tỏa sáng)

Chùa Dâu, còn có tên là Diên Ứng, Pháp Vân, hay Cổ Châu, thuộc thành Luy Lâu, ngự ở xã Thanh Khương - Thuận Thành - Bắc Ninh , cách Hà Nội khoảng 30 km . Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam . Tại vùng Dâu có năm ngôi chùa cổ: chùa Dâu thờ Pháp Vân (Mây Pháp), chùa Đậu thờ Pháp Vũ (Mưa Pháp), chùa Tướng thờ Pháp Lôi (Sấm Pháp), chùa Dàn thờ Pháp Điện (Chớp Pháp) và chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ của Tứ Pháp, thờ Phật Đá Thạch Quang Phật. Năm chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các Nữ Thần.

Thái thú Sĩ Nhiếp du ngoạn núi sông, thấy cảnh sông nước, đồng lúa, vườn thôn vùng Thường Tín khoáng đạt, trù phú, cho lập chùa Đậu đặt tên là Thành Đạo Tự, rước Đại Thánh Pháp Vũ Đại Bồ Tát về thờ, gọi là Pháp Vũ Tự. Năm 1635. Đời vua Lê Thần Tông, cung tần Ngô Thị Ngọc Nguyên làm hội chủ, trùng tu kiến trúc quy mô ngôi chùa. Chùa Đậu nổi tiếng từ đây. Ai về đây là đến được đất Phật, cầu mưa thuận, gió hòa.

Chùa Dâu, chùa Đậu gắn Phật Mẫu Man Nương minh chứng Đạo Phật du nhập từ Ấn Độ vào Việt Nam rất sớm, không phải từ Trung Quốc. Buổi đầu trinh nguyên ấy, Đạo Phật đã kết duyên với Đạo Mẫu và sinh nở Tinh hoa Đạo Phật Việt Nam, tinh tấn thành Thạch Quang Phật tỏa sáng muôn đời. Phật Mẫu Man Nương đẹp thánh thiện, cao cả, lộng lẫy, thanh tịnh, thâu được cả vũ trụ, như Đức Mẹ Maria, Trinh nữ thụ Thánh linh Thiên Chúa, sinh Đức Chúa Giê- su, cứu rỗi tội của loài người.

Xá lợi toàn thân hai Thiền sư

Các Thiền sư đầu tiên trong Chùa Đậu sớm học được Tinh hoa Thiền tông truyền đời sau, để thế kỷ XVII, Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường chứng minh được phép lạ của tu Thiền.

Thiền sư Đạo Chân Vũ Khắc Minh sinh ngày 15 tháng 11 khoảng 1579 tại xã Gia Phúc huyện Phúc Khê. Sư theo học Hòa thượng Đạo Long, người xã Thạch Lỗi, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên, nay là Thanh Hóa. Vũ Khắc Minh trụ trì chùa Pháp Vũ (chùa Thành Đạo), dân gọi chùa Đậu. Cả cuộc đời ăn rau, khoai, gạo, đậu, tương cà, hoa trái vườn quê, niệm Phật, tu tâm, tĩnh trí trong ngôi chùa tịnh thanh, thơm hương lúa, hương sen. Đến một ngày, biết mình sắp từ giã trần gian, Vũ Khắc Trường cho xây một am nhỏ bằng gạch, cửa am vừa thân mình chui vào, diện tích am đủ để ngài ngồi trong tư thế tọa Thiền. Vũ Khắc Trường nhập am, không ăn, chỉ uống nước mưa. Ngài dặn các đệ tử: “Ba tháng mười ngày, nếu xác thân trong am bốc mùi thì đem chôn, nếu nó tỏa hương thơm, thì bịt am lại, bảo toàn nhục thân”.

Thiền sư Đạo Tâm Vũ Khắc Trường, sinh ngày 15 tháng 8, không rõ năm, là cháu gọi Thiền sư Vũ Khắc Minh bằng chú, cùng quê, cùng tu với Vũ Khắc Trường ở chùa Đậu, ngày ngày cùng các đệ tử mang nước ra am cho Vũ Khắc Trường. Đúng ba tháng mười ngày, họ ngỡ ngàng trước hương thơm kỳ diệu tỏa quanh am. Biết Vũ Khắc Minh đắc Đạo. Hồn ông hòa vào vũ trụ. Còn thân xác ông, không bị hủy hoại mà kết linh khí Đất- Trời- Phật, tỏa hương thánh thiện giữa cõi nhân gian. Các đệ tử chọn nghệ nhân giỏi, dùng sơn ta bó cốt nhục làm thành tượng thờ.

Thiền sư Vũ Khắc Minh thay Vũ Khắc Trường trụ trì chùa Đậu (khoảng năm 1639) đã dựng bia, khắc chữ, nói về thành quả tu Thiền của Thiền sư Vũ Khắc Trường.

Noi gương chú, khi sắp tịch, Thiền sư Vũ Khắc Minh cũng lập am, nhập thất ngồi thiền rồi thị tịch, xác thân của ngài không tan rữa.

Hai chú cháu Thiền sư Vũ Khắc Trường- Vũ Khắc Minh, thực chứng hai nhà tu Thiền đắc đạo giữa làng quê Việt thơm nắng và gió lành nhân quả, truyền muôn đời. Truyền Phật Pháp ra với nhân loại.

Trải mấy trăm năm, hai cái am vẫn gìn giữ an lành hai nhục thân thiêng liêng ấy, nơi vườn chùa Đậu xanh cây trái, cỏ cây, hoa, ríu rít chim ca, ánh màu nâu đất đồng quê Việt.

Những thập niên cuối thế kỷ XX. Người ta phát hiện chuyện diệu kỳ này và đưa hai nhục thân của hai vị Thiền sư lên bệ thờ tại chùa Đậu, để cả nhân loại cùng chiêm ngưỡng, bái vọng. Nhục thân Thiền sư Đạo Chân Vũ Khắc Minh bị ngập trong trận lụt năm Ất Mão, có hỏng đôi chút, được tô đắp lại. Ngài ngồi trong tư thế Thiền, mắt nhắm như đang ngủ ngồi, gương mặt thanh thản, tĩnh lặng, an bình.

Nhục thân Thiền sư Đạo Tâm Vũ Khắc Trường còn vẹn nguyên, sống động, mình trần, dáng vẻ tự nhiên trong tư thế ngồi kiết già tham Thiền nhập định, tai Phật to, chân trái để lên đùi phải, chân phải để lên đùi trái, kéo sát vào thân, bàn tay phải để lên bàn tay trái, hai bàn tay đặt lên hai lòng bàn chân, những ngón tay chồng lên nhau, hai đầu ngón tay cái chạm nhau, ngón trỏ cong lên. Ngài ngồi thẳng lưng vừa phải, đôi mắt mở một phần ba, nhìn xuống không quá sáu tấc. Gương mặt Thiền sư thanh tao, tĩnh lặng thẳm sâu, vầng trán cao, đôi môi vương nụ cười hàm tiếu.

Thiền Sư Thích Thanh Từ viết: “Vẻ vui nhè nhẹ trên gương mặt Thiền sư Vũ Khắc Trường khi thị tịch mãi hơn ba trăm năm vẫn còn, người nay gọi là nụ cười hạnh phúc” (Thiền sư Việt Nam tr. 393- NXB Thành phố Hồ Chí Minh- 1999).

Điều bí ẩn, và khác biệt của hai pho tượng nhục thân thờ ở chùa Đậu so với các Phraon và nhiều nước trên thế giới là phương pháp tu luyện kỳ bí của Thiền sư, để có được một di thể bền vững, khi chết không bị phân hủy, mà không cần đến bất cứ loại thuốc tẩm ướp xác nào.

Di thể kỳ diệu ấy được kết hợp với nghệ thuật làm “Tượng sơn bó cốt nhục” Thiền sư, của các nghệ nhân truyền thống (còn gọi là tượng táng ở Việt Nam) đạt độ tinh hoa, vừa sinh động, thẩm mỹ, tâm linh, thờ tự, vừa bày đặt để dân chúng tận mắt chiêm ngưỡng, không phải đặt sâu trong hầm mộ. Đó là những kỳ tích bí ẩn của tài năng, trí tuệ khoa học, kiên cường, bất khuất của các Thiền sư Việt Nam và nghệ nhân sáng tạo tượng táng ở Việt Nam.

Thân vô sắc tướng, tướng sắc không

Ngày nay các nhà khoa học thi nhau xét nghiệm, soi chiếu, chụp kiểm nghiệm hai xá lợi toàn thân của hai chú cháu nhà sư chùa Đậu. Càng kiểm tra, họ càng kinh ngạc vì thấy các bộ phận nội tạng tim, gan, óc, ruột, phổi còn nguyên vẹn, không bị bóc tách và phá hủy.

Một nhà nhân chủng học nói: “Thi hài của hai Thiền sư là một hiện vật lịch sử quý hiếm, ở nhiều bảo tàng trên thế giới không thấy có loại hình tượng trên. Vì vậy, tạm đặt tên là phương pháp “tượng táng” Việt Nam.

Các nhà nghiên cứu lý luận, triết học đủ kiểu, tha hồ

viết th iên kinh vạn quyển, bán cả “của hồi môn của vợ” để ăn và ngồi lỳ suốt đời trong các thư viện lớn quốc tế, cũng không tài nào hiểu nổi vì sao hai Thiền sư chỉ uống nước lã, ngồi thở trong am đất chật chội, tối tăm, thế mà Thành Đạo.

Loại vô minh như chúng tôi lại càng mù tịt, chỉ biết chắp tay vái lạy, mụ mị, ú ớ, mê muội, cầu xin.

Hôm nay, gặp thầy Thích Thanh Nhung tại chùa Đậu. Trang phục màu đất nâu trầm tĩnh, tự tại, an nhiên, thanh bạch, thầy nhai trầu như bà, như mẹ, cười khà khà, lê thê kể chuyện. Năm 1972, thầy là chú tiểu chùa làng, được gọi vào lính, đánh trận Quảng Trị. Thầy vừa hành quân vừa niệm Phật, đọc chú Đại Bi. Có đêm buông màn trốn đồng đội, vào chùa, sớm mai lại lén vào màn. Bị phát hiện. Bị kiểm điểm tơi bời. Niệm Phật cũng không xong. Tuy vậy, Phật độ cho chú tiểu lành lặn trong lửa đạn bom. Trở về nhà. Lại lên chùa làng tu.

Chúng tôi hỏi bí ẩn Pháp tu của hai Thiền sư để lại xá lợi toàn thân. Thầy nói giọng chân quê:

- Giáo lý của Phật không bí mật gì. Đó là tám vạn, bốn nghìn phương pháp luyện rèn tâm, thân để đạt đến Chân thật. Chân, Thiện, Mỹ. Mỗi người một phúc, một nghiệp khác nhau. Ai phù hợp phương cách nào thì chọn cái đó. Giáo lý Phật chia hai mảng. Nhân sinh quan và Vũ trụ quan. Với người bình thường, chỉ tiếp nhận được những gì tai nghe, mắt nhìn thấy, ngửi, nếm… vật chất cụ thể, thì Phật dạy Nhân sinh quan (Luật Nhân Quả) để sống lương thiện trong kiếp người ngắn như hơi thở. Còn những người tiếp nhận được Vũ trụ quan (Luật Vũ trụ) hơi hiếm. Họ có khả năng thông hiểu được những gì vô hình mà thân xác vật chất không nhìn thấy.

Chuyện Man Nương bảo với ta rằng, người Việt đã tiếp thu được Tinh hoa Đạo Phật cả về Nhân sinh quan và Vũ trụ quan. Người Việt có Đạo Phật trước người Trung Quốc. Bởi người Việt trinh nguyên, gần thiên nhiên, giàu bản năng, có niềm tin, vô vi, không tính toán. Người Trung Quốc tính bằng trí não rất ghê gớm. Họ dùng bộ óc để cân đo mọi sự. Cái gì nhìn thấy lợi thì dùng mọi thủ đoạn để biến thành của mình. Họ nhiều mưu. Lắm kế. Hành động tàn bạo để mang lợi về mình.

Các ngài sư Tổ đã tổng hợp khoảng mười phương cách cho mọi người dễ tu luyện. Thiền và Tịnh độ song tu là phương pháp hai vị Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường luyện cả cuộc đời để Thành Đạo. Hai ngài gửi lại hai xá lợi toàn thân để nói với loài người biết rằng Phật Pháp là khoa học, thực chứng, nhưng lại là Niềm tin. Hiểu nôm na, Tịnh độ là Niềm tin. Thiền là Thở đúng cách. Vừa Thở vừa niệm Phật gọi là Thiền Tịnh Song Tu.

Hai Thiền sư để lại hai xá lợi toàn thân trong tư thế Thiền Tịnh Song Tu (hai tay lồng các ngón vào nhau, ngón trỏ cong lên) là lời dặn con cháu muôn đời sau biết về lợi ích cứu người bằng pháp tu Thiền và Tịnh kết hợp. Đây là bí truyền Phật Pháp, nhưng rất dễ thực hiện để cứu mình sống trong đời bể khổ, trầm luân. Ai cũng Thiền Tịnh được, để có sức khỏe và bình an tâm trí. Thân Tâm hòa hợp , bĩnh tĩnh, thông thái, đối mặt với mọi hoàn cảnh. Và nhận ra, sự Sống và sự Chết đều nhẹ nhàng, thanh thản…

Đoàn Phật tử chúng tôi đủ bạn già, bạn trẻ. Ai cũng ít nhiều cảm nhận được những điều phi vật chất, vô hình, vô tướng. Trong ngôi điện thờ xá lợi hai vị Thiền sư Thành Đạo, cô bạn nghe được lời nhắn nhủ của hai Ngài: “Thân vô sắc tướng, tướng sắc không”.

Chùa Đậu tuy đã trùng tu nhiều lần, nhưng giữ vẹn nguyên mái chùa nâu, mây sà xuống. Không có nhà xây hai tầng, phá vỡ không gian cổ kính. Chùa Đậu ghi hai kỷ lục Quốc gia “Ngôi chùa có sách đồng ghi lịch sử chùa”.

Ngôi chùa có hai điện thờ”.

Trong ngôi điện thờ Phật Mẫu Thánh Thần, chuông mõ nhẹ rung, tôi nghe Thông Điệp Chùa Đậu:

Thông Điệp Chùa Đậu

“Chùa Đậu Hà Nội thời Bắc thuộc/ Di sản Phật Việt Nam và Nhân loại/ Sách đồng ghi, huyền thoại Man Nương/ Thiếu nữ Việt nhận Tinh hoa Phật Pháp/ Hóa Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi/ Nữ thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp/ Tứ Pháp Việt, tiếp khí Trời vũ trụ/ An hòa sự sống nông nghiệp, nông dân/ Bà Đậu là Nữ Thần Pháp Vũ/

Đón Mưa về tưới lúa, rau, khoai/ Hòa nước mát dòng sông quê mẹ/ Ba trăm năm trước, hai chú cháu nhà sư/ Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường siêu việt/ Tu Thiền và Tịnh độ đạt Đạo/ Gửi đời sau, xá lợi toàn thân/ Dặn cháu con Song Tu Thiền Tịnh/ Giáo lý lớn, Phật pháp nhiệm màu/ Giản dị, dễ dàng mà cứu nhân, độ thế/ Trẻ già, trai gái đều Song Tu từng bước/ Thoát khổ đau, vô minh, mù mờ/ Kiếp người ngắn, Tâm thành quả hoa/ Xác thân hòa Đất Nước Gió Lửa/

Sống và Chết nhẹ tênh, có gì đâu/ Vui từng thời khắc thở niệm Phật”.

Tiến chúng tôi ra về, thầy Thích Thanh Nhung hướng lên ba tấm Đại Tự Hán cổ treo trên tường và dịch :

Thuyết Như Kinh/ Tâm Như Thủy/ Hành Như Pháp


Bài đọc thêm:

Phương Pháp Tu Thiền Kết Hợp Tịnh Độ (Mai Thục- Việt Văn Mới).


Hồ Gươm Mưa Bão 2013.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 16.11.2013.