Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





HÒN ĐẢO PHÍA CHÂN TRỜI




PHẦN THỨ NHẤT
NGÔI NHÀ BÊN CỬA SÔNG




Chương III

Đêm qua, ông cũng không ngủ nhà. Cái phản của ông vẫn trống không. Gọi là phản nhưng thực ra, đấy là nắp một cái quan tài bằng gỗ lim, rất dày và nặng, mà ông đã tự đóng sẵn cho mình. Ông gọi là "cỗ hậu sự". Ông kê "cỗ hậu sự" quý hoá đó vào sát tường, trong gian nhà dành riêng cho ông. Ông kê liền một tấm gỗ tương tự như nắp "cỗ hậu sự" thành một cái phản. Rồi ông trải lên chiếc chiếu cói. Những ngày ở nhà, ông uống rượu với cá rán, hay ăn khoai lang luộc với cá kho, hoặc ngủ rất ngon lành, ngay trên cái nắp ván dành sẵn cho mình.

Một lần, ngồi trên cái phản kỳ lạ đó, ông rót rượu vào cái nắp phích (ông thường rót rượu vào cái nắp phích con, dùng thay chén) rồi chậm rãi nói với Nhụ:

- Nhà ta từ thượng cổ đến giờ, chưa ai khuất sóng mà lại được chôn trong một cái áo quan. Có lẽ ông là người đầu tiên đây...

Ông ngừng một lúc, nhắp một ngụm rượu rồi ông chầm chậm nhắc lại ba tiếng dính liền nhau, trong một nụ cười tư lự và đầy vẻ mãn nguyện.

- Đầu - tiên - đây...

- Thế các cụ xưa... nằm ở đâu ạ? - Nhụ rụt rè hỏi.

- Đâu à? - Ông bĩu môi làm khuôn miệng méo hẳn đi, rồi khoát tay một cái. Nhụ hiểu là ở trong sóng biển.

- Chết trôi à?... Sợ thật! - Nhụ buột miệng lẩm nhẩm, giọng bỗng hơi khàn.

- Ngu! - Ông mắng, mặt ông cau lại, mắt đảo rất nhanh.

Nhụ không hiểu ý nghĩa của cử chỉ đó là như thế nào, nên có ý đề phòng. Nhưng ngoài dự đoán của nó, ông lại nói rất du dương... Nghe như có một âm điệu nào đó của tiếng sóng, lẫn vào.

- Sống tháo mồ hôi trên mặt biển thì... (ông cố ý tránh nói tiếng chết) ngả mình xuống đáy biển thôi...

Nhụ thật sự ngạc nhiên về vẻ giản dị và nhẹ nhàng trong cách diễn đạt của ông. Một con người mà nó biết là sống không dễ dàng gì và đã từng trông thấy bao nhiêu cái chết dữ dội. Nó cũng biết chẳng ai được ngả mình dưới đáy biển cả. Các loài cá lớn sẽ xơi ngay. Nhưng nó vẫn im lặng không dám nói gì. Nó chợt nhớ ra rằng, cụ nó, cũng đã chết như thế, trước mắt ông nó, trong một đêm giông, lật thuyền. Ông nó, lúc đó mới mười lăm tuổi, một mình bám vào một mảnh thuyền vỡ, bơi suốt đêm tối trời trong sóng cấp bẩy. Đến sáng thì được cứu thoát. Ông nó đã có lần kể tỉ mỉ chuyện đau thương ấy với toàn thể gia đình...

Thấy ông vắng nhà, Nhụ hỏi:

- Hôm qua, ông đi đâu hả mẹ?

- Ông đến nhà ông Trương Sần. - Mẹ Nhụ nói rồi cúi xuống cắn đứt một sợi ni-lông. Xong, mẹ đứng dậy, đi ra trước cửa, bước từng bậc đá ngắn xuống sông Bạch Đằng. Mẹ lấy tay vục nước mặn, vỗ lên mặt.

Ông Trương Sần là một ông già nổi tiếng về nghề bắt rắn độc, chữa người bị rắn độc cắn và nuôi rắn độc để bán cho người ta ngâm rượu, trị các chứng phong. Đôi khi, ông bán nọc rắn cho công ty Dược ở trên tỉnh. Vợ ông, con ông và cả các cháu ông nữa, đều đã bị giặc Mỹ giết hại trong một trận bom trút xuống trúng hầm, cuối năm 1966. Ông ở với cô cháu gọi vợ ông bằng cô. Cô cháu này chuyên làm nghề phơi cá khô cho hợp tác xã. Ông đã hơn bảy mươi tuổi. Những người trạc tuổi con ông trở xuống, ông thường không nhớ tên. Khi gọi họ, bao giờ ông cũng gọi thẳng tên bố hay tên ông họ một cách thân mật đến mức suồng sã. Nhụ biết từ xưa vùng nó vẫn có cái tục ấy. Người ta có thể gọi tên một người thay cho cả nhà, chỉ thay đổi tiếng đệm hay thái độ, giọng điệu, để phân biệt nam nữ, trên dưới.

Một lần gặp Nhụ đi học về, từ xa, ông đã kêu lên: "Cu Cõn! Học thế nào, cháu?" (Cõn là tên lọt lòng của ông nội Nhụ). Rỗi lúc nào là ông hát lúc ấy. Những câu hát đều do ông nghĩ ra ngay lúc bấy giờ. Hát xong là ông quên. Nhưng nhiều người nghe ông hát một lần là nhớ mãi. Lần ấy, Nhụ thấy ông Trương Sần không biết đi đâu về, qua bến phà Rừng. Ông gặp một ông già bán kẹo kéo, đang đứng giữa đám học trò xúm xít. Ông già này, người nhỏ bé, gày còm, hom hem, râu thưa và đỏ quạch như râu tôm luộc. Ông ta đang nhẹ nhàng vuốt kẹo dài ra, trông sợi kẹo trắng và nhỏ như củ sắn dãi. Rồi bằng một động tác mau lẹ, thành thạo, ông chỉ khẽ gõ ngón tay dài và thon, là cái kẹo dài và tròn, rụng xuống mặt bàn, từng đoạn nhỏ rất đều nhau. Lũ trẻ phục lắm. Bỗng phía sau vang lên một tiếng hát trầm và sâu, nghe vừa ngộ nghĩnh, hài hước, lại vừa có gì bi thảm, không sao lột tả được:

Hờ... ơ... ơ...

Hôm nay, ông kéo cho đời

Ngày mai, ai sẽ là người kéo ông...

ơ hờ hờ...

Ông già kẹo kéo trợn mắt lên, kinh ngạc. Ông thấy trước mắt mình, một ông già khác, thấp lùn, béo mập mạp, mặc quần soóc lửng, ngực trần, da đỏ màu đồng điếu, tóc bạc trắng, cằm nhẵn nhụi, không râu, cổ quấn quanh một con rắn hổ mang bạnh đang phun phì phì.

Sau phút kinh ngạc về vóc dáng của ông Trương Sần, ông già kẹo kéo mới kinh ngạc đến mức sợ hãi về ý nghĩa thâm thuý ẩn trong câu ca của ông già lạ mặt. Và thế là, chẳng nói, chẳng rằng, ông già kẹo kéo ù té chạy. Một tay ông xách cái chân bàn, một tay ông cắp cái mặt bàn đã đóng nắp lại, nhỏ và vuông như một cái hộp gỗ. Được một đoạn, không biết nghĩ thế nào, ông già bỗng đứng khựng lại, tung hết số kẹo dư thừa cho lũ trẻ... Từ ấy đến giờ, Nhụ không thấy ông già kẹo kéo qua vùng nó nữa. Không hiểu vì sao...

Nhụ chợt nhớ rằng, cũng đã lâu, nó không gặp ông Trương Sần. Chắc là ông đi bắt rắn và đi bán rắn ở một nơi nào đó. Nghe nói ngày xưa, ông Sần làm nghề lái đò ngang qua sông Bạch Đằng rộng mênh mang. Đò của ông bao giờ cũng đông khách vì ông có giọng hát hay. Ông có thể hát hết tuần trăng mà vẫn không hết những câu hát. Mà vẫn không nguôi những nỗi niềm tâm sự của ông đối với sông nước và trời mây, với những mối tình dang dở từ những thuở nào... Người ta thấy ông giống Trương Chi trong truyện cổ, nên đệm cho ông là Trương. Chứ họ thực của ông thì không mấy ai biết...

Chương IV

Mẹ Nhụ đã rửa mặt xong, ngồi im lặng đến mấy phút trên bậc đá cuối cùng ngang với làn nước. Bấy giờ là khoảng thời gian duy nhất nước dừng trong một ngày đêm. Mặt sông Bạch Đằng mênh mông, tiếp liền với biển, vậy mà trong khoảng nước dừng này, sóng vẫn không sao gợn lên được, nước chỉ khẽ rung rung như một làn da nhạy cảm. Cái bệ chân cột đèn biển hình thang, xây bằng đá hộc, ngả bóng xuống, trông rõ cả góc nhọn góc tù, trông rõ cả các mạch miết bằng xi măng xanh, quanh những mặt đá phẳng, hình sáu cạnh, lởm chởm bám vào những vỏ hà trắng mốc.

Nhụ đứng lặng nhìn mẹ đang soi bóng xuống mặt sông. Dưới làn nước xanh, gương mặt mẹ dường như đang nhìn Nhụ. Một gương mặt tròn, phúc hậu, điềm tĩnh, rất đỗi yêu thương và quen thuộc. Một món tóc không được đen lắm (như tóc của mọi người đàn bà chài lưới khác) rủ xuống một góc trán, làm cho đôi mắt không bao giờ mơ mộng, thêm đằm thắm, dịu dàng. Mẹ Nhụ vốn là người ít nói. Nhưng những người xung quanh đều có thể hiểu được lòng bác. Chỉ nhìn vào mắt bác, người ta sẽ nhận ra một tâm hồn thành thực, trong sáng đến mức đơn giản, một khả năng chịu đựng mọi khó khăn, chịu đựng mọi tổn thất, không nản, không kêu ca, một sự vượt lên chậm rãi, kiên trì, nó nằm ngay trong quy luật sống của bác mà bác không ý thức được. Sống bên một người ít nói, đã từ lâu, Nhụ có thói quen hay để ý các cử chỉ của mẹ để hiểu mẹ. Nhụ nghĩ rằng bố mình đã đi khơi một chuyến không bình thường. Xưa nay, đi lộng hay đi khơi, bao giờ bố nó cũng đi đánh cá với những người đánh cá. Từ ngày miền Nam được giải phóng, mỗi năm vài ba lần, đoàn tàu đánh cá của bố Nhụ vào tận đảo Phú Quốc... Việc đi vào tận những vùng biển xa ngái của phương Nam chỉ gây xao động trong những ngày đầu. Bây giờ việc đó đã rất bình thường. Vậy thì lần này, bố Nhụ dẫn đoàn tàu cá đi đâu?...

- Bố đi đêm qua rồi, phải không mẹ?

- Ừ

- Bao giờ về, hả mẹ? - Nhụ vội hỏi lại ngay. Theo nó, đây là câu hỏi quan trọng nhất. Đi Phú Quốc, Côn Lôn thì ba tháng, đi Nha Trang, Cam Ranh thì hai tháng. Đi Huế, Đà Nẵng thì một tháng. Lần nào cũng đại loại như vậy.

- Không biết được. - Mẹ nó đáp sóng sượt. Và cùng với lời đáp mệt mỏi ấy, nó nhận ra ở mẹ nó một vẻ gì rất quen thuộc, mỗi khi phải kiên nhẫn chờ đợi, và có thể, phải đón nhận cả những điều không lành. Đấy cũng là cái "vẻ" chung, phổ biến ở những người đàn bà vùng biển có chồng con luôn luôn ra khơi. Nhưng ở mẹ Nhụ, Nhụ thấy có một biểu hiện khác. Ấy là sự trầm tĩnh, trầm tĩnh đến mức làm cho người khác sốt ruột lên được.

- Sao thế, mẹ? - Chờ một lúc không thấy mẹ nói thêm, Nhụ sốt ruột hỏi.

Mẹ Nhụ bước lên hiên nhà, chăm chú nhìn ra cửa sông. Mặt sông rất phẳng, bóng nhẫy như vừa được tráng lên một lớp mỡ. Ở tận đường chân trời, một cánh buồm nâu, cô độc, trông như một chiếc lá khô dựng nghiêng. Con đê ngăn nước mặn chạy dài. Vài cái lò vôi màu hung hung, thong thả nhả ra từng đụn khói trắng đục, dẻo quánh. Tự nhiên, một nỗi gì như là nỗi buồn, xâm chiếm lòng nó. Nó không quen chịu thứ tình cảm đó. Nó hắng to lên một tiếng.

Mẹ Nhụ xổ tóc ra vấn lại, dáng điệu rất thanh nhàn. Những sợi tóc dài, hơi cứng. Màu đen của tóc đã bị phai đi, trông nhờ nhờ, có lẽ là do ảnh hưởng của nước mặn và gió muối.

- Đêm qua, bố mày đã định đánh thức mày dậy, nhưng mẹ bảo thôi.

- Lúc mẹ chuyển lưới cho bố, con cũng biết đấy.

- Thế à? Sao con không dậy?

- Mi mắt con làm sao cứ nặng chình chịch. Hình như con có nói một câu gì, phải không mẹ?

- Không. Không nói gì cả.

- Thế à. Lạ nhỉ? Thế bao giờ bố về? - Nhụ trở lại câu hỏi ban nãy.

Mẹ nó đã vấn xong tóc.

- Lần này, bố mày không phải chỉ có đi đánh cá.

Nhụ ngạc nhiên quá. Bố nó chuyển thêm lưới xuống tàu ra khơi, mà lại không chỉ đi đánh cá. Điều đó, nó chưa thấy bao giờ. Sợ mình nghe chưa rõ, nó vội hỏi lại, giọng hấp tấp:

- Thế thì bố làm việc gì là chính, hả mẹ?

- Giữ đảo. Lập một làng chài mới ở một hòn đảo.

- Xa không, mẹ?

- Tàu cá đi một ngày một đêm, thì trông thấy nó ở đường chân trời.

- Tên hòn đảo là gì, mẹ?

- Mõm Cá Sấu.

- Mõm Cá Sấu á? Sao nghe khiếp thế?

- Bố mày bảo đấy là một hòn đảo rất lành. Ông mày xưa cũng đã ghé qua...

- Thế bố phải ở lại đấy á?

- Ừ!

- Mãi mãi á, mẹ?

- Hình như thế.

- Ớ... - Nhụ thốt lên một tiếng khẽ, nhọn và nóng hổi.

- Bố mày không chỉ đi... bốn năm tàu cá như trước, mà những mấy chục tàu, với gần hai trăm người...

Mẹ nó kể tên vài người bằng một giọng chậm rãi, bình thản quen thuộc. Nó có biết gần hết những người đó. Họ đều là những người dân chài, khỏe mạnh, và dũng cảm có tiếng ở hai bên bờ sông Bạch Đằng. Nó cũng biết chỗ nó đang đứng đây, chính là mảnh đất chiến trường, đánh thắng giặc Nguyên xưa của cụ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Trong những buổi lao động, đào mương thoát nước bên bờ sông, bọn nó còn đào được cả những cây cọc nhọn bằng lõi lim đã vùi xuống cát sâu, từ bảy trăm năm trước. Những chiếc cọc mới to, dài và cứng làm sao, y như thép vậy.

Vừa lúc ấy, một bóng nhỏ màu nâu rám, lẫm chẫm chạy qua khoảng cách giữa hai mẹ con, rồi nhảy bọp một cái xuống sông Bạch Đằng mênh mông nước mặn. Người mẹ giật mình, toan nhảy xuống theo, nhưng đã kịp dừng lại ngay lập tức. Có đến hàng trăm động tác thống nhất và chồng chéo lên nhau, trong toàn bộ cơ thể người mẹ, diễn ra chỉ trong mấy giây, khi chân vẫn đứng ở chỗ cũ. Cái bóng nhỏ ấy là thắng Đé, năm tuổi. Một thoáng sau, Đé đã nổi cái đầu cạo trọc tếu lên và lóp ngóp bơi, trông như một con nhái.

- Không được bơi ra! Không được bơi ra! - Mẹ nó thét lên, vừa hoảng hốt, vừa mừng rỡ.

Đây là lần đầu tiên, bác trông thấy đứa con út của mình biết bơi. Tuy thế, bác vẫn ở tư thế sẵn sàng. Chân bác một co, một duỗi, hai cánh tay hơi cong lên, toàn bộ con người như xù ra. Chỉ cần một linh cảm nào đó, chứ chưa cần đến một điều gì kịp ý thức được, bác sẽ nhảy ngay xuống sông. Và thế là, mọi điều không lành có thể xảy ra sẽ được loại trừ ngay tức khắc. Bây giờ thì không phải chỉ có hai con mắt, mà cả gương mặt, cả con người của bác, đều nhạy bén, sinh động lạ thường. Da nổi gai lên trong sự theo dõi căng thẳng.

- Không được bơi ra! Không được bơi ra!...

Bác nhắc lại, giọng đã dịu nhẹ hơn, bình thản hơn. Và một niềm vui không giấu giếm, bỗng bừng lên, long lanh trong hai con mắt bác...


... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 16.11.2013.

Quay Lên Đầu Trang