Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



ĐỐI THOẠI VĂN CHƯƠNG





Chương Bảy

ĐỐI THOẠI THÁNG BẢY

(câu 193 - 228)


193. Nguyễn Đức Tùng:

Không tài năng nào yên ổn ở quê hương

Trẻ con bây giờ cũng chẳng còn nói thật

Cái trông thấy cũng có khi không thật…

(T. N. M.)

Trong khoảng mấy chục năm trở lại đây, trường ca được mùa.

Nhà thơ Đỗ Quyên cũng có nghiên cứu và thống kê một danh sách rất dài các tác giả trường ca Việt Nam, trong đó có anh.

Nhưng theo tôi, anh là một trong vài người đầu tiên đưa cảm hứng thế sự vào trường ca, thay vì (chỉ là) cảm hứng sử thi.

Trần Nhuận Minh:

Tôi có đọc danh sách ấy và ghi nhận sự quan tâm rất hệ thống của nhà thơ Đỗ Quyên đối với một thể loại chưa được nghiên cứu thấu đáo ở Việt Nam là trường ca. Đây là thể loại có sức ôm chứa lớn, với các đặc trưng nghệ thuật từ truyền thống và đang phát triển, có nhiều thuận lợi để các nhà thơ sáng tạo những tác phẩm lớn, nhất là về chiến tranh và cách mạng ở Việt Nam.

Cho đến nay, trường ca ở Việt Nam hay hơn cả, vẫn là các trường ca dân gian của các dân tộc thiểu số, đã đạt đến giá trị cổ điển, mà trong đó, Trường ca Tây Nguyên, với Đam San, Xinh Nhã… là những thi phẩm kiệt xuất cả về tư tưởng và nghệ thuật. Trong các trường ca dân tộc thiểu số nói trên, yếu tố huyền thoại, với nhân vật là các thần linh có vị trí rất quan trọng. Người Kinh có truyện thơ, viết theo thể lục bát, gọi là truyện Nôm, do các ông đồ sáng tác và nhuận sắc, rồi trở thành khuyết danh, nhưng nói chung không có trường ca nào xuất sắc được lưu truyền. Những huyền thoại trong sáng tác dân gian của người Kinh cũng ít và thường bị nghi ngờ là không biết chuyện đó có thật hay không. Nếu tôi nhớ không nhầm thì câu kết bài thơ lục bát kể chuyện Phù Đổng Thiên vương, mà tôi đọc từ năm còn học cấp 2: Chuyện xưa kể lại, lưu truyền, có không? Nghĩa là người viết ngờ vực về sự có thật của ông Thánh Gióng ba tuổi, cưỡi ngựa sắt, nhổ tre đằng ngà đánh giặc Ân rồi bay về trời.

Không rõ các nhà nghiên cứu chuyên sâu sẽ giải thích điều này như thế nào, nhưng tôi cho rằng, cách tư duy sát với hiện thực của người Kinh, do đời sống quá nghiệt ngã trong đấu tranh với cái đói, với thiên tai và giặc ngoại xâm, từ hàng nghìn năm để tồn tại, đã làm cho trường ca dân gian và cổ điển, với đặc trưng huyền thoại khó xuất hiện. Vì thế, có thể nói, gia sản tinh thần này của người Kinh, nói chung, là rất nghèo nàn.

Cũng cần phân biệt trường ca với truyện thơ và bài thơ dài. Một nhà thơ như Tố Hữu có nhiều bài thơ dài hay, nhưng ông không có trường ca. Trường ca đầu tiên ngay sau cách mạng tháng Tám là Ngọn quốc kỳ của Xuân Diệu.

Năm 1956, Văn Cao cho in Cửa biển, có âm hưởng trường ca nhưng về cơ bản vẫn là một bài thơ dài. Nếu chỉ tính trong vòng 20 năm (1960 – 1980), thời kỳ trường ca hiện đại Việt Nam được coi là đã ghi được những dấu ấn rõ rệt nhất, thì trường ca giai đoạn này bắt đầu là từ Lửa sáng rừng của Thái Giang (1962), Bài ca chim chrao của Thu Bồn (1962), Đi đánh Thần Hạn (1970) và Khúc hát người anh hùng của Trần Đăng Khoa (1974), Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm (1974), Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh (1977) Những người đi tới biển của Thanh Thảo (1977), Sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu (1980)… là những trường ca đáng chú ý. Sau năm 1980, trường ca tiếp tục phát triển với Trần Mạnh Hảo (Mặt trời trong lòng đất, 1981, Đất nước hình tia chớp, 1994) Anh Ngọc, Thi Hoàng… và nhiều nhà thơ khác, chủ yếu là những nhà thơ từng mặc áo lính… tạo thành một vệt sáng trong thơ hiện đại Việt Nam.

Xin nói thêm: trong khoảng 5 năm, từ 1969 đến 1974, không hiểu vì sao, Trần Đăng Khoa rất ham viết trường ca, tổng cộng hoàn thành và viết dở đến 6 tác phẩm. Ngoài hai trường ca trên, mà tôi cho là thành công, Khoa đã hoàn thành hai trường ca khác là Làng quê (1969) Trừng phạt (1972). Hai trường ca viết dở là Lá truyền đơn ngày trước (1969) và Đi đánh Thần Lụt (1971). Hiện tôi còn lưu giữ được bản thảo viết dở Lá truyền đơn ngày trước, với 5 chương ngắn chép tay, chữ của Khoa, nắn nót khá đẹp. Tôi thấy Khoa chưa từng nói với ai, kể cả với tôi, về trường ca này. Tôi tình cờ thấy trong đống giấy nháp chắc là Khoa sẽ thải loại khi tôi từ Hồng Gai về nhà năm 1969. Mãi gần đây, tôi mới nói với Khoa điều ấy, Khoa ngạc nhiên bảo: em ném nó đi rồi cơ mà…

194. Nguyễn Đức Tùng:

Anh Khoa bảo anh: em ném đi rồi, thì chắc là dở?

Nhưng anh ấy còn có những trường ca hay chứ?

Ví dụ Khúc hát người anh hùng: Vị trí của nó ở đâu giữa các tác phẩm cùng thể loại đi trước, đi sau, và cùng thời với nó?

Trần Nhuận Minh:

Trường ca Khúc hát người anh hùng, đăng toàn văn trên tạp chí Văn nghệ Quân đội tháng 7 năm 1974, tháng 12 năm 1974 đã ra sách ở Nhà xuất bản Phụ nữ, với số lượng lớn, 18 200 bản. Tác phẩm đã được tặng thưởng của tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1974, được tặng giải A cuộc vận động sáng tác về đề tài Thương binh liệt sĩ của Bộ Thương binh xã hội và Hội Nhà văn Việt Nam năm 1975. Hầu như các tờ báo lớn đều có bài khen trường ca này. Cũng phải thôi, vì đó là một bản trường ca viết về người phụ nữ anh hùng, lại viết rất công phu và tâm huyết của một tác giả 16 tuổi. Nhà xuất bản Phụ nữ đã ký duyệt tái bản năm 1975 thì có bài phê bình của Xuân Diệu, đáp lại lời khen quá nồng nhiệt của nhà phê bình Hoàng Ngọc Trì. Hoàng Ngọc Trì coi đó như một tác phẩm đặc biệt xuất sắc. Xuân Diệu chỉ khen vừa vừa thôi và cho rằng, về nghề đã nâng cao, nhưng đó chính lại là hạn chế của tác phẩm, vì các thành thạo kỹ thuật đã làm mất đi ít nhiều sự chân quê chất phác mà thơ Khoa đã có. Xuân Diệu về giới thiệu trường ca này ở thư viện Hải Dương, cũng với nội dung ấy, rất đông người háo hức nghe, vì thơ Khoa viết về anh hùng quê hương Mạc Thị Bưởi, lại do chính Xuân Diệu vô cùng nổi tiếng đăng đàn.

Nhà xuất bản Phụ nữ thấy ngại, nên dừng việc tái bản.

Bây giờ thì trường ca này đã in trong Tuyển tập thơ Trần Đăng Khoa đến sáu, bảy chục lần rồi.

Nói chung, Xuân Diệu dị ứng với trường ca, và ý kiến của ông không phải lúc nào cũng đúng. Ví như trường ca Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh, đến bây giờ vẫn là một trong số ít những trường ca hiện đại hay nhất Việt Nam, nhưng ông chê còn nghiệt ngã hơn trường ca của Khoa rất nhiều, cho rằng trong trường ca này, chất thông tấn đã lấn át chất thơ.

Xuân Diệu không tiếp cận được cái mới và những yếu tố hiện đại mà các nhà thơ sau ông đã mang đến cho loại thơ dài hơi này. Không biết có phải vì Xuân Diệu không, mà sau năm 1974, Khoa hoàn toàn từ giã trường ca cho đến nay…

195. Nguyễn Đức Tùng:

Anh đã đến với trường ca ra sao? Cái gì đã thúc đẩy anh viết trường ca thay vì viết những bài thơ ngắn? Cường độ của xúc động thẩm mỹ hay là sức chứa về đề tài và chất liệu?

Trần Nhuận Minh:

Cả hai thứ đó, anh nói đúng: cường độ của xúc động thẩm mỹ và sức chứa của hiện thực và tư tưởng. Không có sự hài hòa của hai yếu tố ấy, trường ca không thể thành công.

Trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979, tôi có viết hai bài thơ dài là Thành phố bên này sông, tặng thưởng thơ hay tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1979, Một trăm bước cuối cùng và một trường ca là Miền Đông, giải nhất giải thưởng văn nghệ Hạ Long lần thứ hai (1980 – 1985) của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, đã in trong tập Thành phố bên này sông năm 1982. Sau đó, Thành phố bên này sôngMột trăm bước cuối cùng được in lại trong tập Gửi lại dọc đường năm 2005, in lần thứ 6 trong tuyển thơ Bốn mùa năm 2011. Nhân đây tôi nói thêm: tôi đã 5 lần nhận giải cao nhất giải thưởng này, rồi sau đó, thôi, không dự giải nữa, kể cả một lần, lần thứ 6, báo đã công bố giải nhất, tôi cũng xin rút và đề nghị đưa nhà thơ khác, kế tiếp, lên thay. Lần thứ 7, tôi cũng không dự. Rất tiếc cả hai lần, tôi không dự, thơ đều không có giải nhất.

Như vậy, dấu ấn của cuộc chiến tranh mà tôi cho là đau xót nhất trong lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XX, ít nhất cũng còn lưu lại ít nhiều trong ba thi phẩm đó của tôi. Chưa kể tác phẩm của các nhà thơ khác. Tuy vậy, Miền Đông là một trường ca có cấu trúc còn lỏng lẻo. Trong Phụ lục thơ Gửi lại dọc đường, tôi cũng không đưa vào, dù nó đã từng được tặng giải nhất một giải thưởng văn học, như tôi đã nói ở trên.

Còn trường ca Đá cháy, tôi viết đi viết lại nhiều lần và lần nào cũng không hài lòng với mình. Vì từ giai cấp công nhân, tôi chưa tìm được con đường thơ để đến với tất cả mọi người. Tôi tự biết rất rõ những hạn chế ấy mà không sao khắc phục được. Cuối cùng thì tôi cũng đã viết xong, tại mỏ Hà Lầm và dốc Bồ Hòn, nơi tôi ở, năm 1985, sau 3 năm đi thực tế sáng tác tại mỏ Hà Lầm ( mỗi tuần tôi chỉ vào mỏ từ 2 đến 3 buổi sáng – khi có việc, hoặc đi lò cùng thợ mỏ, mới ở đến chiều – liên tục đi và về như thế trong 3 năm), với danh nghĩa chính thức là “Trợ lý văn hóa của bí thư đảng ủy mỏ”, theo công văn giới thiệu của ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Ninh (ông Vũ Cẩm, Thường vụ Tỉnh ủy, trưởng ban, ký). Bản trường ca này, được coi là tác phẩm thành công nhất của thơ viết về người thợ mỏ Việt Nam(*). Trường ca gồm 5 chương và 1 vĩ thanh, khoảng hơn 4500 dòng thơ, phản ánh cả một quá trình hình thành và phát triển trong máu lửa, mồ hôi và trí tuệ của đội ngũ thợ mỏ và giai cấp công nhân Việt Nam.

Cuối cùng, tôi chỉ chọn lại 4 chương đoạn in trong tuyến tập thơ Bốn mùa với 631 dòng thơ.

Lý do để đến với trường ca là tôi muốn thử sức mình trong một cấu trúc mới, có quy mô rộng lớn về hiện thực và suy tưởng, mà từng bài thơ ngắn, riêng lẻ, không đạt tới được, và thao tác nó theo kiểu của tôi.

Sau này, qua Bản Xônat hoang dã (2003) mà anh gọi là trường ca, và 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh (2007), mà nhà thơ Đỗ Quyên, cũng gọi là trường ca, tôi biến dạng nó trong một hình thức khác là liên hoàn trong cùng một ý tưởng, một cấu trúc, một bút pháp, một giọng điệu cho toàn bộ các khúc thức dài ngắn khác nhau trong tập.

Các khúc thức đó đều là thơ tự do, rất ít vần hoặc không vần, nhưng câu thơ có hình ảnh và nhạc điệu, chúng gắn bó lỏng lẻo với nhau và đưa đón nâng cao nhau lên theo mạch cảm xúc của từng tác phẩm.

Nói thực với anh, khi soạn hai tập thơ trên, nhất là Bản Xônat hoang dã, tôi không xác định trước được thể loại của nó là cái gì? Và tôi nghĩ, nói cho cùng, điều ấy cũng đâu có quan trọng. Cái quan trọng là cố gắng làm sao để có thể viết hay.

Nếu anh đọc cả hai tác phẩm trên cùng một lúc, anh sẽ thấy cả hai tác phẩm này có một nét chung như tôi đã nói trên, nhưng cả hai đều triển khai theo hai mạch nguồn hoàn toàn khác nhau, nhất là về mặt bút pháp. Nhà thơ Đỗ Quyên, Canada, nói với tôi rằng, đây cũng là một loại trường ca, trong khi chưa có tên gì mới để đặt cho nó, thì tạm gọi như thế, bởi nó không phải là truyện thơ, lại càng không phải là những bài thơ ngắn làm trong nhiều thời gian khác nhau rồi tập hợp lại. Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng có lần nói với tôi rằng, cố gắng của tôi nằm trong số những tác phẩm có ý thức mở đường về mặt thể loại của một số nhà thơ Việt Nam hiện nay.

Tiếc rằng chúng ta chưa có nhiều lý luận và hội thảo về trường ca.

196. Nguyễn Đức Tùng:

Trường ca Đá cháy của anh có nhiều xúc động lịch sử:

Người đi rừng nấu bữa ăn trưa

Vô tình chụm lại ba hòn đá

Lửa bếp đượm

Và một điều kỳ lạ

Bỗng hiện lên

sửng sốt

kinh hoàng

Hòn đá nhặt tình cờ

bên bờ suối hoang

CHÁY ĐỎ!...

Lịch sử sai lầm

Không ghi tên

người đi rừng đó

Cùng buổi trưa kia

trời mây gió thế nào…

Như ta vẫn thường quên

Những điều lớn lao

Để nhớ mãi một vui buồn vặt vãnh…

Tôi thắp nén hương thơ

thành kính

Tạ linh hồn nhà địa chất vô danh…

Tôi vẫn nghe đêm đêm

Tiếng vó ngựa vang ròn

Chở mười vạn cân than

Vun vút lao về kinh thành Huế…

Tôi hình dung một sớm

Các đại thần đổ xô ra Cửa Ngọ

Những con ngựa đầu tiên

lưng ướt đẫm mồ hôi

Vắt trĩu bên sườn từng bao tải…

Công bộ Thượng thư

Mắt tròn xoe

Sợ hãi

Khi thấy hòn đá đen

Bắt lửa

Cháy bừng bừng…

Tiếng trống âm âm

vọng ra ngoài Hoàng Cung

Cả Hoàng Thành kinh ngạc

Vua Minh Mạng chênh chao

như uống rượu say

Lập tức bãi triều…

Nếu được tâm sự với độc giả về trường ca Đá cháy, anh sẽ nói gì?

Trần Nhuận Minh:

Trước hết xin nói về “xúc động lịch sử” mà anh vừa nêu ở trên. Cái xúc cảm ấy có lẽ có từ năm 1954, khi tôi 10 tuổi, viết bài thơ đầu tiên Việt cường nổi tiếng Á Đông mà ở phần đầu, anh cũng đã có lời bàn. Chẳng ngờ từ đó, nó thấp thoáng đi suốt cuộc đời thơ của tôi và hiện ra tập trung ở trường ca Đá cháy.

Tôi nghĩ mỗi người chỉ sống có một lần, và như hòn than, phải tự cháy lên, phải tỏa sáng để có ích. Chủ đề xuyên suốt bản trường ca của tôi là như vậy và đó cũng là điều tâm sự mà tôi muốn được chia sẻ với bạn đọc. Sống ở kiếp này:

Bài học của than TOẢ SÁNG

KHÔNG TOẢ SÁNG THÌ KHÔNG TỒN TẠI

Tôi cho rằng, trời cũng chẳng thể nào thành trời được

Nếu đêm đêm không tự đốt cháy mình

Bằng những ngôi sao…

Và, kiếp sau, nếu có:

Sao cháy đầy trời – Những linh hồn lang thang

Lú đường về, không tìm ra xứ sở

Tôi sẽ đầu thai làm Ngọn Lửa

Cháy điên khùng trong đất tối âm u…

197. Nguyễn Đức Tùng:

Thơ thế sự bao giờ cũng có quan hệ với các vấn đề lịch sử. Chính cảm xúc lịch sử sẽ làm cho thơ thế sự có chiều sâu. Tôi nhận ra yếu tố sử thi trong thơ anh có nguồn gốc riêng tư từ rất sớm.

Trần Nhuận Minh:

Trước hết, xin thưa là tôi rất mê lịch sử. Có nhiều chuyện để nói. Ví như ngành than đã tìm được sắc chỉ của vua Minh Mạng ký ngày 06 tháng 12 năm Minh Mạng thứ 20, tức ngày 10 tháng Giêng năm 1840, cho phép tỉnh Quảng Yên được khai thác than ở nơi hòn than đầu tiên được tìm thấy, mà tôi đã viết ở đoạn thơ trên. Nơi ấy từ lâu đã có miếu thờ. Và ngày đó, được coi là ngày ra đời ngành khai khoáng Việt Nam, vua Minh Mạng được suy tôn là người sáng lập. Tôi đã viết sự kiện đó trong bút ký Miếu Mỏ được đăng báo in sách nhiều lần.

Trong việc này, phải ghi nhận ở đây, cái tâm đối với bậc “đại tiền bối”, và cái trí (kể cả cái ý chí) tìm kiếm những giá trị lịch sử, để làm giầu thêm cho gia tài tinh thần phong phú của những người thợ mỏ, của ông Đoàn Văn Kiển, Tổng giám đốc Than và Khoáng sản Việt Nam, một người suốt đời tâm huyết và tận tuỵ với sự nghiệp của những người thợ mỏ. Bởi tôi biết, cuối năm 2001, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ra thông báo cho huyện Yên Hưng và thị trấn Quảng Yên, được kỷ niệm 200 năm thành lập (1802 - 2002). Vậy mà trong một cuộc họp để triển khai thực hiện thông báo trên, do chính Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì, chỉ có một ý kiến, rằng: tại sao mình lại đi kỷ niệm việc làm của vua Gia Long, tên cõng rắn cắn gà nhà, kẻ thù của phong trào Tây Sơn và anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Dự cuộc họp đó, tôi vội đứng lên thưa: Vua Gia Long có “tội”, nhưng cũng có “công”, mà công lớn nhất là thống nhất đất nước và triều Nguyễn thì cũng là cha ông chúng ta. Đây là ta kỷ niệm 200 năm sự nghiệp xây dựng thị trấn từng là thị xã tỉnh lỵ hơn 100 năm và công lao hai thế kỷ của các thế hệ nhân dân ta, nhất là qua hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và đổi mới đất nước…

Vậy mà Chủ tịch Tỉnh rất ngại, tuyên bố kết thúc ngay cuộc họp để bàn lại sau. Rồi sau đó, không ai nhắc đến nữa. Chỉ có một chương trình duy nhất do Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh làm, phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Yên Hưng, do tôi làm trưởng ban tổ chức, là tổ chức rất trọng thể tại Quảng Yên, Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ XV (29/3/2002) và bà Phạm Thị Hoè, Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, đọc diễn văn khai mạc Ngày thơ Quảng Ninh, chào mừng 200 năm thị xã Quảng Yên ra đời. Bà Hoè hiện là Phó Chủ nhiệm ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nói thế để thấy tôn vinh một ông vua triều Nguyễn là việc làm có tính đột phá của ngành Than và Khoáng sản Việt Nam, với sự đóng góp quan trọng của Tổng giám đốc Đoàn Văn Kiển..

Tôi muốn bạn đọc biết thêm một chuyện khác.

Năm 1973, đọc hai cuốn của cụ Trần Văn Giáp: Lược truyện các tác gia Việt NamTìm hiểu kho sách Hán Nôm, tôi viết luôn tám trang thư trên giấy khổ rộng học trò mà thưa với cụ ba điều, một là những điều cụ “dứt khoát sai”, hai là những điều cụ “có thể sai” và ba là những điều cụ “nên tham khảo thêm”. Bây giờ nghĩ lại thấy mình thật liều. Cụ Giáp viết thư trả lời, chỉ vẻn vẹn có mấy chữ: “Anh Minh ơi! Lên gặp tôi ngay. Tôi ở Thư viện Khoa học xã hội, 26 Lý Thường Kiệt, Hà Nội, trên gác. Ngoài cửa có người gác, nếu hỏi, anh cứ bảo: bạn của Giáp”. Tôi kính sợ mà lên. Cụ cùng tỉnh Hải Dương với tôi, con cháu các tiến sĩ làng Từ Ô nổi tiếng. Ở vùng văn hóa xứ Đông, dòng họ Trần Từ Ô, xếp sau dòng họ Vũ Mộ Trạch và dòng họ Trần Điền Trì. Lần hai, thư cụ: “Tôi khó qua khỏi. Anh lên tôi ngay đi”. Tôi lên, cụ nằm không dậy được. Cụ khuyên tôi nên chuyên tâm vào sử học. Cụ bảo: thanh niên bây giờ mà có óc nghiên cứu lịch sử như tôi là hiếm lắm. Cụ gọi con trai đến và dặn rằng: Đây là anh Minh, dòng dõi các tiến sĩ Trần Điền Trì. Sau khi bố mất, con cho anh Minh được đọc và ghi chép tại đây các tài liệu lưu trữ của bố, cần thì chụp ảnh, không được mang ra ngoài. Con phải giúp anh hết lòng”. Rồi cụ trầm trầm vừa kể vừa ứa nước mắt, nói với tôi như trăng trối vậy, về những bứt rứt khôn nguôi của cụ về cách xử sự của một số đồng chí lãnh đạo đối với các giá trị văn hóa của cha ông, đối với di sản Hán Nôm, đối với Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, đối với triều đại nhà Nguyễn… Cụ cũng nói bốn điều cụ đề xuất với Thủ tướng Phạm Văn Đồng mà tôi cần tiếp tục quan tâm. Cụ bảo tôi, nếu cần, có thể công bố những ý kiến của cụ. Tôi thấy hiện lên một trí thức cao cả, một nhà văn hóa vô cùng lớn lao, niềm thức tỉnh khôn nguôi của những giá trị hiền minh thâm hậu của cả dân tộc đang bị lãng quên… Tôi đã phụ lòng tốt và sự “ủy nhiệm”, nếu có thể nói được như thế, của cụ. Tôi không đến được với sử học, cũng không truyền đạt được những nỗi niềm thiêng liêng mà cụ đã mang xuống suối vàng…

Cụ mất ngay sau đó, ngày 25/11/1973.

Năm 2002, xảy ra một chuyện lạ. Con trai tôi ở Hà Nội báo tin: các bác sĩ đã xác nhận bằng văn bản là con ung thư giai đoạn cuối. Tôi bàn với vợ là sẽ bán ngôi nhà mình đang ở để có tiền chạy chữa cho con tới phút cuối cùng. Hai vợ chồng tôi lên với con. Đêm ấy, chúng tôi nằm trên đệm rải dưới bàn thờ. Tôi chợt thấy một ông già chống gậy đến. Ông mặc quần nâu, áo nâu, đều nhạt màu, chân đất, gương mặt gầy, râu đốm trắng và rất thưa, trông như một thày lang ở nhà quê. Tôi thấy ông quen quá, chắc chắn là mình đã gặp ở đâu rồi, nhưng không sao nhớ ra. Ông bảo: Anh cứ về đi. Con anh không làm sao đâu. Tôi thưa: Tạ ơn cụ. Được thế thì con mừng không có gì sánh bằng. Nhưng xin phép cụ, cho hỏi: Sao cụ biết ạ? Cụ bảo: Ta biết. Anh quên ta rồi sao? Tôi nói: Con đội ơn cụ. Cụ bảo: Được rồi. Thế anh không cấp tiền tàu xe cho ta về à? Vâng, con xin lỗi, có ngay ạ. Thưa cụ, cụ cần bao nhiêu? Cụ nói: 12 nghìn. Tôi móc trong túi, không hiểu sao, có đúng 15 nghìn, tôi đưa cho cụ, cụ trả lại 3 nghìn, rồi đi ngay.

Tỉnh dậy, tôi đánh thức vợ và thuật lại cho vợ nghe. Nhà tôi bật ngọn đèn mờ trong phòng, rồi lặng lẽ leo lên thang gỗ vẫn kê sẵn bên cạnh lên thắp hương, khấn vái. Xong, nhà tôi đếm số tiền vàng trên bàn thờ, đúng có 12 tờ. Cả hai chúng tôi đều kinh ngạc. Nhà tôi đem xuống sân tầng dưới, đốt. Lúc ấy là 5 giờ sáng. Con trai tôi vẫn còn ngủ. Lúc cháu dậy, hỏi sao con chưa đốt vàng. Cháu bảo con quên mất.

Tôi lục mãi trong ký ức và chợt nhận ra, ông cụ trong mơ giống cụ Trần Văn Giáp lạ lùng. Tôi nhảy lên xe ôm đến 26 Lý Thường Kiệt. Tiện tay, tôi đưa cho lái xe ôm 20 nghìn, anh ta chẳng nói chẳng rằng, rút trả tôi 8 nghìn rồi đi thẳng. Anh ta đi rồi, tôi mới ngẫm lại và thấy ngạc nhiên…

Năm ngày tiếp đó, cháu đi đến ba bệnh viện khác nhau, chiếu chụp, làm sinh thiết, tất cả đều được xác định bằng văn bản là không có bệnh…

Tôi đã thuật lại điều đó trong Chuyện từ một giấc mơ đăng báo Tiền phong chủ nhật.

198. Nguyễn Đức Tùng:

Chuyện anh kể rất có ấn tượng.

Nhân chúng ta nói về trường ca: tôi được biết Đỗ Quyên, nhà thơ hiện sống ở Canada, cũng vừa ra mắt tập thơ Lòng hải lý ở Hà Nội tháng 7/2011. Tôi có đọc một số tham luận được trình bày trong buổi ra mắt, như của Văn Giá, Đặng Thân, Phạm Xuân Nguyên rất thú vị, có ích.

Trước đó hai tháng, lại có cuộc hội thảo lý luận phê bình lớn hơn về thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn ở Hải Phòng, gần nơi anh ở, mà tôi nghĩ là có tiếng vang. Mai Văn Phấn cũng là người viết trường ca nổi tiếng.

Trần Nhuận Minh:

Tôi có biết và gửi lời chúc mừng nhà thơ Đỗ Quyên.

Nhưng tôi không có dịp tham dự buổi ra mắt tập thơ ở Hà Nội.

Riêng cuộc hội thảo về thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn ở Hải Phòng thì tôi có được mời và đã tham dự.

199. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi vừa có dịp thăm Hải Phòng lần đầu tiên.

Cùng với các vị Dương Tường, Nguyễn Thụy Kha, Trần Thị Trường, Khánh Phương, Nguyễn Đặng Mừng, Nguyễn Đình Toán, thăm nhà văn Bùi Ngọc Tấn, bạn thân của nhà thơ Dương Tường. Tôi cũng được gặp các nhà văn nhà thơ Thi Hoàng, Công Nam, Đào Trọng Khánh, Đình Kính và người bạn của tôi, Mai Văn Phấn, một nhà thơ được nhiều người quý mến. Đi dưới những vòm hoa phượng đỏ, giữa những ngõ hẻm quanh co còn giữ vẻ rêu phong cổ kính, tôi thấy Hải Phòng thật sạch sẽ, xinh đẹp. Và phụ nữ Hải Phòng trông cũng dịu dàng, hiền lành chứ không dữ như tôi thường nghe nói.

Nhân đó, các bạn cũng vui vẻ nhắc đến hội thảo vừa qua.

Trần Nhuận Minh:

Dư luận đều khen, nếu có chê thì cũng chỉ chê kheo khéo một chút thôi. Cũng phải lẽ. Bởi Đồng Đức Bốn đã mất rồi và những bài thơ lục bát của anh rõ ràng là những đóng góp có giá trị và Mai Văn Phấn là một cây bút luôn chịu khó tìm tòi để đổi mới thơ mình. Cái hay của hai nhà thơ nói còn chưa hết thì hà cớ gì mà săm soi vào những cái còn khiếm khuyết tất yếu trên chặng đường phát triển. Trong phần phát biểu cuối cùng, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, đã nêu nhiều vấn đề sâu sắc, ông biểu dương tham luận của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo về thơ Đồng Đức Bốn và tham luận của nhà thơ Thi Hoàng về thơ Mai Văn Phấn.

Về thơ Đồng Đức Bốn, người khen đầu tiên, rất nồng nàn, và gây được ấn tượng mạnh là nhà văn nổi tiếng Nguyễn Huy Thiệp. Rồi sau đó, chính Nguyễn Huy Thiệp lại viết một bài khác, ký tên khác, để phê bình Nguyễn Huy Thiệp kia, đã “thái quá” khi khen thơ Đồng Đức Bốn. Có người chê cười Nguyễn Huy Thiệp, nhưng tôi nghĩ đấy là thái độ ứng xử văn hóa rất đáng nể trọng.

Trước hội thảo này khá lâu, Nguyễn Hòa, một nhà phê bình văn học nổi tiếng về sự nhạy bén, thẳng thắn và sắc sảo, khiến nhiều người nể sợ, đã viết rằng: “Phải chăng sự dông dài của những câu thơ “rỗng ruột” là một trong những đặc điểm làm nên phong cách thơ Đồng Đức Bốn…”. Tôi gặp Nguyễn Hòa, ở tiền sảnh của phòng họp, hỏi: Em có tham luận không? Hòa bảo không, và tỏ ý chê trách một số nhà văn có bài viết về Bốn đã đăng báo từ mấy năm trước, nay gửi đến hội thảo này như những bài viết mới.

Có người đã chọn ra được đến 80 bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn và cho là vô địch. Đến Nguyễn Trọng Tạo thì ông cho rằng thơ lục bát của Bốn chỉ có ba bài hay là Chăn trâu đốt lửa, Trở về với mẹ ta thôi Ăn mày vào chùa. Nguyễn Trọng Tạo viết điềm tĩnh và rất có sức thuyết phục. Ông bình giảng khá dài bài Chăn trâu đốt lửa, nhưng riêng tôi, tôi thấy bài thơ không hay đến mức ấy.

Tôi thích bài Ăn mày vào chùa hơn. Chi tiết “đang trưa” thể hiện người ăn mày đang đói, cần vào chùa xin ăn, sư cho bùa là cho cái tinh thần không ăn được. Tôi thích cái ý ấy vì nó có cái ý ở ngoài lời. Tuy nhiên, sự sắp đặt ấy có gì như cố ý, để diễn đạt tư tưởng, nghĩa là không tự nhiên. Hơn nữa, Sư ra cho một lá bùa rồi đi… Nếu tôi nhớ không nhầm thì bùa là của thầy pháp, thầy phù thủy, không phải của nhà sư trong chùa, hay nhà sư này kiêm thày phù thủy… Có thể lắm chứ, vì bây giờ các danh hiệu, học hàm, các chức năng… cũng pha trộn nháo nhào cả rồi… Hoặc là Đồng Đức Bốn thiếu thực tế nên viết như thế chăng?

Đồng Đức Bốn là một nhà thơ có tài và thơ lục bát của anh nồng ấm, có nhiều câu hay, có câu hay vào loại đặc sắc, tôi chép theo trí nhớ:

Đừng buông giọt mắt xuống sông

Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm

Hoặc:

Trở về với mẹ ta thôi

Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ…

Về Mai Văn Phấn, một nhà thơ mới nhất trong số các nhà thơ sau thế hệ tôi. Theo tôi, Mai Văn Phấn là một nhà thơ có tài và thông minh, rất tự hiểu mình. Nhìn vào mắt Phấn, tôi nghĩ thế và quý mến anh.

Phải nói ngay là tôi có cảm giác rằng, nhiều người khen thơ Phấn, nhưng không phải ai cũng hiểu Phấn. Có lẽ hiểu Phấn hơn cả là Vũ Quần Phương và Thi Hoàng. Tôi rất đồng tình với hai bản tham luận của hai ông về thơ Phấn, nên tôi không nói thêm.

Trong một phát biểu, hình như trên báo Thể thao văn hóa thì phải, Mai Văn Phấn có nói rằng, anh đã cố gắng từ thơ truyền thống mà đến với các phương pháp sáng tác hậu hiện đại, như siêu thực, tượng trưng, biểu hiện, tân hình thức… vân vân. Các tham luận đều khen khá nồng nhiệt bước chuyển biến táo bạo và cô đơn này, ghi nhận những thành công của anh. Theo tôi, thơ Mai Văn Phấn muốn vươn tới chất suy tưởng và trí tuệ. Anh làm thơ như người vẽ tranh sơn dầu, phết lên toan từng mảng màu một, vì quá nhiều màu nên mảng cũng khó nhớ, nói gì đến từng nét vẽ.

Tôi thích câu thơ này:

Nhắm mắt anh nghe trong thân cây, biết mặt trời đã mọc

và ngôi sao lơ đãng đổi ngôi…

Sau những tìm tòi, cách tân đó, Mai Văn Phấn lại thấy, nó “không còn mới mẻ” gì. Anh nói thẳng ra rằng: tại sao chúng ta không tự tìm lấy một khuynh hướng nào đó của mình, mà cứ phải “lệ thuộc vào thằng Tây”. Những khuynh hướng ấy bên Tây, “họ đã xếp vào viện bảo tàng từ thế kỷ trước, trong khi chúng ta vẫn lúng túng tranh cãi”… Và bây giờ, anh muốn “tìm về với cội nguồn thi ca để cho cảm xúc trôi chảy tự nhiên và tìm cách nói hồn nhiên, tối giản, trong trẻo nhất” để viết những bài thơ mới.

Và những bài thơ mới nhất của anh lại là trở về với cái trong trẻo của thuở ban đầu…

Tôi tin vào bước đi của Mai Văn Phấn và chờ đợi ở anh. Có lẽ lại là cái tạng chăng?

Vâng, từ cái tạng của tôi, tôi vẫn muốn thơ của các nhà thơ hậu hiện đại gắn bó hơn nữa với hiện thực đời sống của xã hội, dù hiện thực đó được bộc lộ qua bất cứ hình thức khác biệt nào.

Thơ cần phải có ích.

Thơ quay lưng lại với đời sống xã hội, với những vui buồn của nhân dân, mà hy vọng tồn tại đến mai sau thì tôi chưa thấy bao giờ.

Anh Nguyễn Đức Tùng là người từ xa nhận lời mời của ban tổ chức, gửi tham luận về thơ Mai Văn Phấn, để đọc trong hội thảo. Anh nghĩ sao?

200. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi tin rằng một hội thảo cần có nhiều ý kiến khác biệt nhau, thậm chí càng khác biệt càng sôi nổi, vì đó chính là đời sống văn học thật sự. Miễn là chúng đều dựa trên các tiếp cận thuần túy văn chương, điều mà hiện nay không phải bao giờ cũng làm được. Tôi thiết nghĩ một hội thảo muốn thành công cần đến nhiều yếu tố, xin tạm kể như sau: Giá trị các tham luận. Thành phần tham dự và chủ tọa. Phong cách buổi hội thảo - cởi mở thẳng thắn. Dư luận trước và sau đó. Tác động của hội thảo, ý nghĩa của nó lên dòng chảy của đời sống văn học. Cuối cùng và quyết định lâu dài nhất vẫn là bản thân giá trị tác phẩm được bàn đến, được khen chê.

Trong hội thảo về Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn, giữa các yếu tố trên đây, yếu tố thứ hai và thứ ba tôi hoàn toàn không biết, nhưng các yếu tố khác tôi nghĩ là tốt đẹp, so với nhiều hội thảo khác. Theo tôi hiểu, công của những người góp phần vào hội thảo như nhà văn Đình Kính, nhà thơ Thi Hoàng, là rất lớn. Việc hội thảo ấy, mặc dù có những hạn chế nào đó, có thể có các ý nghĩa:

- Đối với thơ Việt Nam

- Đối với các nhà thơ được bàn đến

- Đối với nền phê bình văn học

Tôi đã đọc và thấy nhiều tham luận hay, có giá trị, thậm chí có tham luận làm tôi ngạc nhiên. Đối với tôi, chúng đặc biệt hữu ích, mang lại suy nghĩ, gợi ra các tranh luận khác, như của: Đặng Thân, Văn Giá, Đỗ Quyên, Đào Duy Hiệp, Nguyễn Trọng Tạo, tôi cũng chú ý các bài của Vũ Quần Phương, Thi Hoàng, Hữu Thỉnh, Nguyễn Chí Hoan, Phạm Quang Trung, Liêu Thái, Khánh Phương.

Về Mai Văn Phấn, tôi cho rằng anh là một trong những nhà thơ cách tân quan trọng hiện nay. Cách viết của anh, trong những bài thành công, có thể tạo ra một xung lượng thơ mới, mặc dù với loại thơ này không thể có từng bài thơ hay trọn vẹn, từng câu thơ hay theo kiểu cổ điển. Thơ của những người có khuynh hướng mới nhưng rất khác nhau về đề tài, nội dung và phong cách như Mai Văn Phấn, Nguyễn Đăng Thường, Thường Quán, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Viện, Đỗ Quyên, Nguyễn Tôn Hiệt, Đỗ Kh., Thi Hoàng, Lê An Thế, Inrasara, Khế Iêm, Nguyễn Linh Khiếu, Nguyễn Tấn Cứ, Nguyễn Viện, Nguyễn Lương Vỵ, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Thái Sơn, Công Nam… và của những nhà thơ trẻ tuổi hơn như Đỗ Lê Anh Đào, Khánh Phương, Vi Thùy Linh, Lê Vĩnh Tài, Lê Đình Nhất Lang, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Văn Cầm Hải, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lưu Diệu Vân, Phan Trung Thành, Lưu Mêlan, Nguyễn Lãm Thắng… đang tạo ra những dòng chảy mới. Thơ của họ có lẽ sẽ không có nhiều người đọc, và những người đọc họ cũng khác nhau, nhưng chúng tạo ra một trường thẩm mỹ mới đang cần thời gian để chinh phục, và chúng làm cho không khí sinh hoạt văn học hiện nay bớt ảm đạm.

Nếu anh hỏi thẳng tôi, nhìn chung, thơ họ đã làm tôi hoàn toàn hài lòng chưa, thì tôi sẽ trả lời là chưa, tất nhiên là chưa, trừ một số bài cụ thể và một vài tác giả.

Tôi đã nói vài điều mình nghĩ trong bài tham luận về thơ Mai Văn Phấn. Bài ấy được biết là ban tổ chức đã nhờ một người đọc giùm, vì tôi không về dự được.

Trần Nhuận Minh:

Còn thơ Đồng Đức Bốn, theo anh?

201. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi cho rằng bài Chăn trâu đốt lửa là một bài thơ hay và mỗi khi đọc lại tôi vẫn thấy thú vị lắm, có lẽ một phần vì mình sinh ra và lớn lên ở thôn quê.

Chăn trâu đốt lửa trên đồng

Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều

Mải mê đuổi một con diều

Củ khoai nướng để cả chiều thành tro

Nhưng chỉ được một vài bài như thế hay gần như thế. Anh Nguyễn Trọng Tạo đọc thơ cũng tinh lắm. Các bài thơ khác của Đồng Đức Bốn tôi đọc đều thấy phần nhiều chưa được, thiêu thiếu một điều gì. Nguyễn Huy Thiệp chỉ nói quá lên, có lẽ ra ngoài tầm tay của một nhà viết truyện ngắn. (Vì vậy mà sau này tự mình sửa lại cũng là đúng chăng?). Bài thơ sau đây:

Đang trưa ăn mày vào chùa
Sư ra cho một lá bùa rồi đi
Lá bùa chẳng biết làm gì
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày

Tôi đọc chỉ thấy ngớ ngẩn về nghệ thuật, không thấy hay ở chỗ nào cả. Trong khi đó hai câu có vẻ ngớ ngẩn sau đây, cũng của Đồng Đức Bốn:

Xong rồi chẳng biết đi đâu
Xích lô Bà Triệu lên cầu Chương Dương

thì lại không ngớ ngẩn chút nào, rất hay. Sự khác biệt giữa hai câu này và bốn câu trên là ở chỗ: một bên là sự ngớ ngẩn thực sự của cuộc đời và một bên là sự ngớ ngẩn giả tạo, mà anh nói là sự sắp xếp cố ý.

Nhân đây tôi muốn nói về sự phân biệt rất quan trọng giữa hai khái niệm trong thi pháp: ngôn ngữ hiển lộ (literal) và ngôn ngữ ẩn kín (non-literal).

Xin ví dụ bằng thơ của chính Trần Nhuận Minh:

Trong sương mù lãng đãng

Núi như người đàn bà đang yêu

Đó là một câu thơ có vẻ giản dị nhưng là một câu thơ hay, tuy thế ngôn ngữ của nó là ngôn ngữ hiển lộ, không có tí gì là ngôn ngữ ẩn kín. Chú ý rằng tôi đang nói về ngôn ngữ chứ không nói về ý tứ.

Ngôi nhà cũ chật mùi quần áo cũ

Tôi đi đây

Cũng hay vì tính hiển hiện của nó. Tức là hiểu theo nghĩa đen như thế, đúng hoàn cảnh xảy ra như thế, vẫn thấy hay.

Nhưng khoan đã. Có một cái gì đó làm tôi muốn dừng lại, muốn quay lại để đọc câu thơ ấy một lần nữa, như một người sắp sửa đi xa muốn ngoái nhìn căn nhà cũ, người đàn bà cũ đứng phơi áo quần bên cửa sổ, niềm tin cũ, bởi vì khi đi xa rồi có khi thương nhớ bạc đầu. Nhớ thương mà vẫn đi.

Trở lại với Đồng Đức Bốn. Có một ý khác nữa là vì trong hai câu cuối cùng của Đồng Đức Bốn vừa dẫn có hơi hướm của, và là một trong những chìa khóa mở cửa vào, thơ Bùi Giáng, mà tôi hy vọng có một dịp nào đó được bàn thêm với anh cho vui.

Vì đọc những bài hay của Bùi Giáng hoặc, ở một mức độ khác, của những nhà thơ khác nữa, tôi thấy vui lắm. Đó là một đặc điểm của thơ đương đại. Nhưng đó là chuyện khác.

Trần Nhuận Minh:

Anh nói đúng. Hai câu:

Xong rồi chẳng biết đi đâu

Xích lô Bà Triệu lên cầu Chương Chương

có cái hồn vía của Bùi Giáng.

Trong ba bài thơ của Đồng Đức Bốn mà nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo khen hay, tôi cho là Nguyễn Trọng Tạo đọc rất tinh và chọn đúng bài, nhưng tôi nói, tôi thích Đang trưa ăn mày vào chùa hơn là do cái tạng của tôi, vì bài ấy giầu chất thế sự hơn cả. Điều này, tôi đã nói ở trên, nhưng do anh bàn lại, nên tôi nói thêm chút ít. Trong thơ của Bốn, rất ít bài ý tràn ra ngoài lời, vì thế tôi chú ý đến bài này hơn. Cái ý tràn ra ngoài lời ở đây là con người cần thực tế - trong bài là cần miếng ăn, nên ăn mày mới vào chùa đang trưa, nhưng xã hội lại trả lời con người bằng thuyết giáo - trong bài là đạo bùa, dù tôi vẫn cho rằng, trong chùa, sư - nếu đúng là sư - thì không có bùa. Và đó là cách hành xử thông thường, hiển nhiên, rất dễ thấy của một thời đã qua. Tôi thích bài thơ này hơn vì cái lẽ ấy. Tư tưởng ở ngoài bài thơ lớn hơn bài thơ.

Cám ơn anh đã nhớ câu thơ của tôi và viết về nó rất “thơ”, có hình ảnh người đàn bà phơi áo bên cửa sổ. Với cái ý là niềm tin cũ để nhớ thương. Cũng có lý. Thực ra ý của tôi là ngược lại: đoạn tuyệt. Tôi mượn cái nhà cũ và mùi quần áo cũ (ngột ngạt, rất khó chịu) để ám chỉ cái cũ (cuộc sống khốn khó trước 1985) không thể chấp nhận được nữa rồi. Anh nghĩ thế, tôi rất mừng. Và tôi cho là bài thơ của tôi đã thành công, khi anh đọc nó mà nghĩ về nó khác tôi. “Đổi mới hay là chết”, từng vang lên như một khẩu hiệu vĩ đại của năm 1986. Tôi đi đây là phải thoát ra ngay khỏi cái ngôi nhà đã cũ ấy, nó có thể sập không biết lúc nào. Đã thế, lại chật cái mùi bốc ra của quần áo cũ, rất khó “ngửi”. Cả ngôi nhà và quần áo, nhất là cái mùi lưu cữu của nó, đều là hình ảnh tượng trưng.

Rất may là đường đi vẫn còn ở dưới chân mình.

202. Nguyễn Đức Tùng:

Anh nói: “Tôi vẫn muốn thơ của các nhà thơ hậu hiện đại gắn bó hơn nữa với hiện thực đời sống của xã hội, dù hiện thực đó được bộc lộ qua bất cứ…”

Tôi đồng ý với anh về quan điểm cho rằng thơ hiện nay cần có gắn bó hơn nữa với hiện thực. Nhưng sự khác biệt ở đây nằm trong mấy điểm sau.

Thơ gắn bó với hiện thực chỉ là một trong các quan điểm nghệ thuật, sự tin tưởng vào quan điểm ấy không cùng lúc loại bỏ sự tồn tại, và thái độ công bằng đối với sự tồn tại ấy, của các quan điểm khác. Chúng ta lưu ý rằng chủ trương của trường phái thơ Dada ở Pháp, nhóm thơ Xuân thu Nhã tập, nhóm Dạ đài… ở Việt Nam chưa chắc đã gắn bó gì với hiện thực.

Điều thứ hai là, và quan trọng hơn, thơ được cho là hậu hiện đại ở Việt Nam hiện nay đã gây ra một ấn tượng rất kỳ lạ trong dư luận, và ngay cả trong giới phê bình, là chủ nghĩa hậu hiện đại xa rời hiện thực đời sống.

Theo tôi, nói ngược lại mới đúng.

Trước hết về lý thuyết, chủ nghĩa hậu hiện đại (post-modernism) là một khuynh hướng lớn về mỹ học, triết học, văn học, xuất hiện từ rất lâu ở phương Tây, tiềm ẩn ở nhiều khía cạnh khác nhau, với lịch sử ra đời phức tạp, không thể nói bao gồm trong một câu là xong. Tuy nhiên nếu giới hạn trong lý luận và phê bình văn học thì có thể xem các tác phẩm của Liotard và Derrida ở Pháp, Lodge ở Anh, Jameson ở Mỹ như là những công trình đầu tiên, dựa trên các quan điểm hậu cấu trúc và giải kiến trúc. Đó là những phản ứng chống lại chủ nghĩa hiện đại (modernism) vốn nặng tinh thần duy lý và kỹ trị, vốn xem khoa học là thống trị. Chủ nghĩa hậu hiện đại có các đặc tính như: không tin vào các đại tự sự, các hệ thống lớn, chống trung tâm hóa, chống hệ thống hóa, hoài nghi các nhận thức và khả năng hiểu biết của trí óc con người, chống phép đối xứng, đem triết học và văn học đến gần hơn đến các giá trị ngoại biên, cá thể, vụn vặt, kêu gọi người nghệ sĩ cúi xuống gần hơn với các số phận con người riêng lẻ, không điển hình. Nhưng chủ nghĩa hậu hiện đại cũng không hoàn toàn chống lại chủ nghĩa hiện đại; mặt khác nó là sự bổ sung, sự phát triển rộng hơn, sự nâng cao hơn nữa của chủ nghĩa hiện đại.

Các nhà văn thuộc dòng văn học hậu hiện đại ở phương Tây và các tác phẩm của họ hình như chưa được tìm hiểu một cách tường tận ở Việt Nam. Khác với nhiều người tưởng, dòng văn học này không phải là “một dòng”, chưa bao giờ được tuyên bố một cách rõ ràng như kiểu một trường phái, sự ra đời của nó không có dấu mốc; nó được hướng dẫn bởi nhiều nhà văn khác nhau.

Theo tôi, các nhà thơ hậu hiện đại ở Mỹ, Anh và Canada thường là những người không những sáng tác mà còn có học vấn rất cao, sức đọc ghê gớm, có khả năng lý luận, và trong thực tế họ thường viết các tác phẩm giải thích và phê bình về chính tác phẩm của họ. Văn học hậu hiện đại phá bỏ các quy ước, mở rộng đề tài, chống lại các thói quen thẩm mỹ thông thường, vì vậy xuất hiện trước công chúng như một thái độ nổi loạn, chống nô lệ hóa con người, sử dụng các phong cách hài hước, châm biếm, giễu nhại, kêu gọi nhà văn dấn thân vào đời sống nhưng chống lại quan điểm điển hình hóa nhân vật trong văn học, đòi hỏi độc giả phải nâng trình độ của họ lên rất cao nhưng cũng chính vì vậy làm cho tác phẩm trở nên khó hiểu, khó đọc đối với công chúng. Tuy nhiên, không phải nhà thơ nổi tiếng nào ở phương Tây hiện nay cũng đi theo khuynh hướng hậu hiện đại; theo tôi thì ngược lại: có lẽ chỉ một số ít là thuộc khuynh hướng này. Thậm chí những nhà thơ như Richard Wilbur, Robert Creeley, John Ashbery, Rae Armantrout, Donald Revell, Margaret Atwood cũng ít khi tự mình tuyên bố điều này một cách rõ ràng.

Chủ nghĩa hậu hiện đại chưa bao giờ chết ở các nước nói tiếng Anh nhưng cũng chưa bao giờ chinh phục hoàn toàn các nền văn học ở đó cả.

Theo tôi, giá trị lớn nhất của chủ nghĩa hậu hiện đại là chống huyền thoại.

Trần Nhuận Minh:

Bất cứ cái gì ra đời, nhất là ra đời rồi, lại tồn tại được, đều có cái lý chính đáng của nó. Sự xuất hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học thế giới, tôi cho rằng, đó là một tất yếu và cần thiết, trên chặng đường phát triển của nhân loại, nhằm khai thác và thăng hoa cái phần còn tiềm ẩn trong sáng tạo những giá trị tinh thần của con người. Và đi theo cái này, ủng hộ cái này, không bao giờ nên bài xích hoặc ruồng bỏ cái kia, như tôn giáo và màu da, chúng cần phải được cùng tồn tại và bình đẳng trong mọi giá trị. Tôi nghĩ thế và không hề lạnh nhạt hay thành kiến với các sáng tác theo các khuynh hướng nghệ thuật khác tôi, thậm chí trái ngược với tôi. Nhưng tôi có hai yêu cầu. Một, anh viết theo kiểu nào cũng phải làm cho con người sống với con người tốt hơn và như thế, cái thước để đo nó vẫn là giá trị nhân văn. Hai, làm giầu thêm cho văn hoá, chứ không chống lại văn hoá. Chống lại huyền thoại thì có nghĩa là tôn trọng hiện thực, có cả hiện thực cần được phát hiện khi nhắm mắt lại, trong đó có cả cái hiện thực của những giấc chiêm bao, mà tôi đã nói ở trên. Tại sao lại không, khi quả thực là nó vẫn hiện hữu…

Đọc nhiều thơ của các bạn trẻ hiện nay, tôi không thấy hiện thực đang diễn ra và những buồn vui của nhân dân, trong một giai đoạn rất điển hình của đất nước đang thay đổi, hoặc cần phải thay đổi nhiều hơn nữa. Tất nhiên như tôi nói, điều đó cần được bộc lộ qua bất cứ phương pháp nào, miễn là có hiệu quả, kể cả các phương pháp hậu hiện đại, hay thậm chí cả “hậu hậu hiện đại” nữa, thì có sao đâu. Có thể là tốt, là hay hơn nữa ấy chứ. Tại sao lại không? Nếu tác giả là một người có tài.

Ngay cả khi viết những câu thơ “kín mít” đi chăng nữa, tôi cũng không nhận ra có cái chất của hiện thực xã hội, dù được nhìn bằng con mắt mở hay con mắt nhắm, và tâm tư, mồ hôi, xương máu của nhân dân mình trong ấy. Chỉ thấy tác giả nói về những cái rất ít được chia sẻ và cảm thông của riêng mình. Anh cứ đọc lại xem tôi nói, về đại thể, có đúng không. Tất nhiên, tôi vẫn nói qua cái tạng của tôi là: thơ cần có hiện thực đời sống, cần quan tâm đến nhân dân, đến con người và nhất là cần có ích, có ích cho nhiều người. Tuy thế, tôi cũng không phản đối, thậm chí có thể chấp nhận và hoan nghênh, những nhà thơ nào viết khác thế, hoặc khác biệt, ngược hẳn thế, nếu nhà thơ đó thiện tâm và chân thành, như tôi đã nói ở trên. Nếu cái điều cần nói ấy là bất khả kháng. Bởi thơ là của muôn nhà, đến từ muôn nẻo đường khác nhau, không chỉ của hiện thực cuộc sống mà còn của cả cõi tâm linh xa xăm… trời mây hư ảo mơ màng.

Tôi cũng biết trên thế giới có loại thơ không cần có nghĩa, không cần ai hiểu, không cần có ích. Ví như Archibald Macleish nói: “Bài thơ không nên có nghĩa, nó chỉ hiện hữu” hoặc như lời của Charlton Laird: “Không có ai biết ý nghĩa (bài thơ) là gì, và cũng không có ai biết làm thế nào để định nghĩa được nó”.

Tôi không phản đối các ý ấy của các nhà thơ nước ngoài, nhưng tôi cho rằng, bạn là nhà thơ Việt Nam, trước hết cần cho người Việt Nam, sống trong lòng người Việt Nam.

Với ý nghĩa ấy, nếu bạn là người Việt Nam mà làm loại thơ đó, thì, với tư cách là một nhà thơ, một người sáng tạo cái đẹp cho con người, bạn đã tự sát, hoặc tương tự như đã tự sát.

203. Nguyễn Đức Tùng:

Xin nhắc lại câu nói của anh: “Chỉ thấy tác giả nói về những cái rất ít được chia sẻ và cảm thông của riêng mình. Anh cứ đọc lại xem tôi nói, về đại thể, có đúng không”.

Như thế sự khác biệt hình như không phải chỉ ở một vấn đề duy nhất là thơ cần có hiện thực đời sống hay không cần. Mà còn là ở việc “những cái được tác giả nói” ấy có được chia sẻ và cảm thông hay không.

Ngoài ra, anh có cho rằng một trong những “vấn đề” hàng đầu của thơ (trẻ) Việt Nam đương đại là việc một số tác giả sử dụng ngôn ngữ tục và sex một cách lan tràn, gây cảm giác khó chịu ở người đọc?

Trần Nhuận Minh:

Điều tôi nói trên nằm trong vấn đề chung cần quan tâm hiện nay, là trách nhiệm của nhà thơ về các vấn đề có ý nghĩa cốt lõi của nhân dân, của đất nước. Gần đây, đã có một số bài thơ hay, xúc động, viết về biển đảo và bảo vệ chủ quyền trên biển của đất nước. Những chủ đề lớn đã thấy xuất hiện trở lại.

Vâng, đúng thế, thơ cần phải được “chia sẻ và cảm thông”. Cần phản ánh hiện thực, dù trực tiếp hay gián tiếp, cũng có thể không cần phản ánh hiện thực, thậm chí chỉ nói về những nỗi niềm rất riêng của mình, không giống ai, hoặc khác hẳn mọi người, thì những điều phi hiện thực hay khu biệt ấy, anh cũng phải viết thế nào để thơ anh tìm thấy sự “chia sẻ và cảm thông” của bạn đọc.

Theo tôi, hướng tới bạn đọc là điều quan trọng nhất, có ý nghĩa sống còn, nếu anh muốn tác phẩm của anh sống trong lòng người, hôm nay và cả mau sau…

Sử dụng ngôn ngữ tục và sex” không còn là vấn đề mới. Vấn đề chỉ là ở chỗ, viết thế nào để được “chia sẻ và cảm thông”. Các bạn trẻ chắc chả lạ gì bài thơ “rất gớm” (chữ thường dùng của nhà thơ Trinh Đường) mà một số sách, in, ghi là của cụ Tam Nguyên Yên Đổ (1835 – 1909), một nhà nho “mũ cao áo dài” thời Nguyễn.

VŨNG LỘI ĐƯỜNG NGANG

Đầu đường ngang có một chỗ lội

Có miếu ông Cuội cao vòi vọi

Đàn bà đến đó vén quần lên

Chỗ thì đến háng chỗ đến gối

Ông Cuội ngồi trông mỉm miệng cười

Cái gì trông trắng như con cúi

Vội vàng khép nép đứng lên thưa

Trót dại hở hang xin xá tội

Ông rằng: mày cũng chẳng tội gì

Chỉ tội làm ông cứng con buội

Muốn tốt mày về bảo làng mày

Ra đây ông cho giống ông Cuội

Từ đó làng ấy sinh ra người

Chỉ sinh rặt những người nói dối.

Cũng lạ đấy chứ. Tuy nhiên, bài có một số câu khác nhau trong các bản in khác nhau. Và đặc biệt, hơi thơ bài này tách hẳn ra, rất khác, so với bút pháp của tác giả Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo… Vì thế, tôi e rằng, có thể, đây cũng lại là thơ dân gian gán cho cụ, chứ chưa chắc đã phải là thơ của cụ Tam Nguyên. Tôi ghi lại cảm nhận này, rất mong được các vị có tư liệu đáng tin cậy hoặc có cao kiến, minh xét thêm.

Nhưng điều tôi nói ở đây, không phải là vấn đề tác giả, mà là cách xử lý nghệ thuật, để cái tục, cái sex được hiện ra như một sản phẩm văn hóa.

Đến câu ca dao dân dã miền Trung:

Hỡi cô gánh nước sau chùa

Cho anh đụ chịu đến mùa trả khoai

Miền Trung nhiều vùng chỉ trồng được khoai. Chữ “đụ chịu” thì lạ thật, và cũng rất thật, nhưng đâu có thô. Cái quang cảnh và không khí “sau chùa” thì trong sạch tinh khiết quá rồi.

Thử thách đối với các nhà thơ là cái tục lại phải viết không chỉ cho thoát, mà còn phải cho thanh, thậm chí cho cao sang. Tôi nhớ câu thơ dân gian trong giai thoại về cụ Nguyễn Công Trứ, gợi lại cái chuyện cụ “ứ hự” với một nàng ca kỹ ở giữa đồng:

Giang sơn một gánh giữa đồng

Thuyền quyên ứ hự… anh hùng nhớ chăng?

Học các tiền bối, tôi cũng thử mình trong cách biểu đạt này, khi viết:

Ngày nào em đẹp, em dòn

Em qua, chó đá cũng còn vẫy tai

Bây giờ em đã nghe ai

Mà môi em mỏng, mà vai em gầy…

Ối giời ơi! Đến nỗi này

Ăn gì mà bụng mỗi ngày một to…

Hoặc:

Trời cho nhan sắc hơn người

Chị tôi cùng thủ trưởng tôi, cặp bồ

Khi xoắn xuýt, lúc hững hờ

Người nhàu váy ngắn, kẻ trơ thân gầy…

Chị tôi đi Nhật đi Tây

Muốn cái gì cũng được ngay cái gì…

Tôi chỉ gợi để người đọc hình dung “cái chuyện ấy”, mỗi bài chỉ có một câu thôi: Mà môi em mỏng mà vai em gầy, hoặc rõ hơn: Người nhàu váy ngắn, kẻ trơ thân gầy… Cả hai chữ “gầy” ở hai câu, đều có ý ám chỉ về cái kết quả cuối cùng của “chuyện ấy”. Tôi nghĩ thế là đủ.

204. Nguyễn Đức Tùng:

Bác sĩ William Carlos Williams, được xem là người khai sáng nền thơ Mỹ đương thời, đã từng tha thiết đề nghị bạn ông, Marianne Moore, đọc và nâng đỡ một nhà thơ mới viết, lúc ấy chưa ai biết tên. Trong một bức thư ông tỏ ra rất yêu mến tác phẩm của nhà thơ này nhưng không nói rõ lý do. Marianne Moore đọc bản thảo của tập Tấm gương trống rỗng và viết cho chàng thi sĩ trẻ tuổi một bức thư lịch thiệp nhưng đầy giọng khiển trách. Cho rằng đó là một tác phẩm kém, bà viết:

Bạn chẳng đi đâu xa cả, ngay trong phần mở đầu, bạn viết “tôi đi ra ngoài để tìm cái toa lét” và tôi cũng đã đi theo bạn. Bạn nhớ chứ? Thế rồi tôi tự hỏi: tôi có phải đi theo bạn không? Tôi sẵn sàng đi theo, nếu bạn dẫn tôi đi bằng tác phẩm của bạn.

Và viết tiếp:

Bài thơ bắt đầu bằng câu “đêm qua tôi nằm mơ thấy người tôi yêu”. Đã viết thế rồi sao bạn lại không viết tiếp theo hướng đó? Bạn phản bội người đọc với sự nhạo báng của mình.

Theo tôi, ngày trước các nhà thơ vẫn dùng giọng nghiêm khắc như thế trong phê bình văn học, mà không ai dám trách họ, vì sự phê bình của họ là công khai, đàng hoàng, trong sáng, dù đúng hay sai.

Đây là bài thơ mà Moore nhắc đến:

Đêm qua tôi nằm mơ

Thấy người tôi yêu

Đã bảy năm trời

Nhưng không có mặt

Chỉ thân hình quen thuộc

Mồ hôi, da, mắt

Phân nước tiểu tinh trùng

Nước bọt tất cả một

Mùi hôi và vị chết chóc.

Nhà thơ ấy là Allen Ginsberg, về sau nổi tiếng lừng lẫy. Như thế, tự thân việc sử dụng ngôn ngữ dung tục không có gì sai, hay xấu; vấn đề là anh sử dụng chúng như thế nào, có mang lại các hiệu quả nghệ thuật hay không.

Các nhà phê bình, đứng đắn và tài năng, cũng phải có đủ khả năng giải thích và hướng dẫn công chúng về việc ấy. Và hướng dẫn các nhà thơ mới viết, nếu như họ có khả năng ấy. Tôi sợ rằng hiện nay chúng ta không có các nhà phê bình như thế.

Đọc bài thơ của Ginsberg trên đây, anh có thấy khó chịu không?

Trần Nhuận Minh:

Hoàn toàn không.

205. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi chú ý đến câu nói của anh: “Tôi thấy hàm lượng có ích trong đó ít hơn, mà tôi luôn coi sự có ích là yêu cầu tối thượng của mọi việc làm của con người…”.

Đọc câu này tôi đoán ra phần nào tại sao anh không thích đọc thơ của Trần Dần, Lê Đạt (giai đoạn sau), Đặng Đình Hưng, Dương Tường, hay thơ của các nhà thơ trong Nam như Đinh Hùng, Phạm Thiên Thư, Du Tử Lê, Tuệ Sĩ, Viên Linh, Nguyễn Thị Hoàng, Trần Dạ Từ.

Tôi muốn nói về một hệ thống văn hóa, một hệ thống giá trị khác.

Ngay cả trong cả những điều kiện lý tưởng nhất, và việc hòa hợp dân tộc về mặt chính trị đã được thực hiện một cách căn bản và đúng đắn, giả sử điều đó xảy ra trong một ngày nào đó, ngay cả vào lúc ấy sẽ vẫn còn tồn tại lâu dài hai khuynh hướng thẩm mỹ khác nhau.

Cũng như:

Thèm ăn một chút hoa hoang dại

Và ngủ như loài muông thú kia

(Đinh Hùng)

Khác với:

Tương lai đó trước mặt ta biển rộng

Trên đầu ta lồng lộng gió trời cao

(Tố Hữu)

Theo tôi, không phải chỉ là hai khuynh hướng văn học khác nhau mà thôi, mà còn là hai hệ thống tâm hồn khác nhau.

Một bên trở về với thiên nhiên như về trong lòng mẹ, biến mất trong nó, hóa thân thành thiên nhiên. Một bên yêu mến cuộc đời, chinh phục thiên nhiên, chiếm hữu nó, giành lấy nó vì con người. Điều này cũng đúng cho hai thứ tâm trạng trong cuộc chiến tranh vừa qua, cũng đúng cho nhiều thứ khác còn tiếp diễn lâu dài.

Thưa anh, một bài thơ như thế nào thì gọi là có ích, thậm chí làm thế nào để biết là “hàm lượng có ích” trong đó nhiều hay ít?

Trần Nhuận Minh:

Theo tôi, hai cặp câu thơ anh trích trên, đều là thơ có ích, vì nó đều hay. Tự nó đã “hòa hợp” trong nền thơ dân tộc, chả cần phải đợi đến một ngày nào. Và ngay ngày ấy, thơ vẫn cần rất khác nhau.

Nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng và các nhà thơ lớp sau mà anh vừa kể trên, thơ đều có ích cả đấy chứ. Riêng Lê Đạt, tôi còn có hai hay ba cuộc đi ngắn ngày với ông, trong khuôn khổ hoạt động của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông có ký tặng tôi tập thơ Bóng chữ. Bài Cha tôi của ông rất hay, tôi đọc lần đầu tiên ở Văn tuyển lớp 10, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục in năm 1957, mà tôi tình cờ mua được với giá 800 đồng, ở một hiệu sách nhỏ thị trấn Nam Sách, khi tôi học lớp 5, hiện tôi còn giữ được. Tôi thuộc lòng bài thơ từ đó đến tận bây giờ. Chỉ có hai tập thơ của Trần Dần: Jờ Joạccon OEE là khó hiểu, và theo tôi là cũng không hay, thậm chí không có ích, mà tôi đã dẫn ở trên. Tất nhiên, Trần Dần còn có các tập thơ khác nữa. Nhà thơ Dương Tường có ký tặng tôi tập thơ rất mới và lạ, tràn đầy các biểu tượng là tập Tiếng đàn. Tôi cũng tìm mua được hai tập thơ Bến lạÔ mai rất mới của Đặng Đình Hưng. Tôi rất trân trọng ba tập thơ đó. Nếu tôi nhớ không nhầm, thì Đặng Đình Hưng còn là một nhạc sĩ, tác giả của bài ca mà tôi thuộc và hát hằng ngày sau hòa bình, 1954. Lời ca mở đầu như sau:

Nông dân là quân chủ lực đội quân hùng mạnh

Không có nông dân thì kháng chiến ta không thành công…

Có người nói: ca khúc này ảnh hưởng tư tưởng Mao Trạch Đông về nông dân, cho nông dân, tức bần cố nông, mới là trụ cột của cách mạng vô sản, chứ không phải giai cấp công nhân, lấy nông thôn bao vây thành thị… Chả biết có đúng không, nhưng sau đó thì không thấy ai hát hoặc nhắc đến nó nữa.

Còn thơ không có ích của một số bạn trẻ, tôi lưu được vài tập, có tập in “nội bộ”, có bài hoặc chùm bài in dưới hình thức tờ rơi, tờ gấp. Thơ của vài ba nhà thơ mới ở Sài Gòn, tôi thấy rất phản cảm. Những bài thơ ấy, những câu thơ ấy, tôi thấy không nên dẫn ra ở đây, để làm phiền bạn đọc.

Thơ có ích hay không, hàm lượng có ích đến đâu… tôi tin là bạn đọc sẽ nhận ra và phân biệt không khó lắm. Đo bằng cái gì? Bằng thước đo văn hóa, mà ai cũng có trong tâm trí mình, để hướng dẫn và tự kiểm soát các cảm nhận, các hành vi của chính mình, cũng như của những người xung quanh…

206. Nguyễn Đức Tùng:

Trên kia, tôi đã nói đến một số nhà thơ miền Nam. Tôi cũng nhận ra rằng nhiều người hiện nay, đặc biệt các nhà văn nhà thơ truyền thống, không thể nào thưởng thức được văn chương của họ, tất nhiên mỗi người đọc có một lý do, mỗi tác giả có một lý do khác nhau. Tôi có nói qua ý này rồi, khi trả lời câu hỏi của anh ở đoạn trước. Nay tôi trở lại vì vấn đề Bùi Giáng

Theo tôi, Bùi Giáng là một trường hợp đặc biệt. Ông thuộc về một thế giới khác, còn nhà thơ Trần Nhuận Minh thuộc về một thế giới khác.

Chúng chi phối toàn bộ đời sống văn học. Trước đây thì rõ hơn, còn ngày nay chúng đã xen kẽ vào nhau, xuyên qua nhau, giao hòa với nhau nên sự phân chia như thế bề ngoài không thấy rõ nữa, nhưng theo tôi thực chất vẫn là hai hệ thống thẩm mỹ.

Những người nghiên cứu về văn hóa và văn học cố tình bỏ qua sự tồn tại song phương này sẽ vấp phải những vấn đề không lý giải được khi muốn tìm hiểu các quy luật vận hành sự phát triển của văn học hiện đại Việt Nam như một thực thể, xét từ góc độ học thuật, cũng như khi tìm hiểu quá trình giao hòa dân tộc, xét từ góc độ chính trị, lịch sử.

Ví dụ thơ đẹp, thơ tình, thì có một loại thơ như thế này:

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

nh yêu ta như cánh kiến hoa vàng

(Chế Lan Viên)

Rất hay. Thơ như thế quyến rũ nhiều người. Có thể gọi là thơ có ích cho cuộc đời.

Nhưng cũng có một loại thơ như thế này:

Tôi nhớ trong vườn cây quế mọc

Tôi đứng gọi Hương suốt buổi chiều

(Phạm Công Thiện)

Hai câu sau ít phép tu từ hơn nhiều. Nó có thể không tài hoa hơn, nhưng làm ta cảm động hơn.

Mà cũng chưa chắc đã không tài hoa hơn.

Thơ như thế chỉ viết khơi khơi, không nhắm vào ai, không phục vụ cho ai, có vẻ không có ích gì cho cuộc đời. Và tôi cố tình chọn một câu thơ của một nhà thơ chỉ trên trung bình (vì Phạm Công Thiện là nhà văn, nhà triết học lừng lẫy, còn về thơ chỉ có thể gọi là nhà thơ trên trung bình), nhưng lại đầy xúc cảm, và trong trường hợp này, phần nào là một phép thử đối với hai loại người đọc. Anh yêu nó hay không yêu nó, chỉ có thế thôi.

Trần Nhuận Minh:

Tôi hoàn toàn không thấy mình có gì xa cách với thơ Bùi Giáng. Sự cảm nhận của tôi, nhất là về ngôn ngữ thơ Bùi Giáng, tôi đã trình bày ở phần trên. Theo tôi, cần phải hiểu ông thêm và đánh giá ông cho phải hơn, tránh ngả hẳn về bên này hay bên kia, không căn cứ vào chính thơ của ông mà vào cảm tính, thậm chí vào cả những gì mà tôi ngờ ngợ rằng có thể ở ngoài văn học.

Nhiều người không biết Phạm Công Thiện, thậm chí chưa nghe nhắc tên bao giờ. Tôi cũng mới đọc ông ấy gần đây.

207. Nguyễn Đức Tùng:

Phạm Công Thiện vừa qua đời ở Houston, Hoa Kỳ, ngày 8 tháng 3 năm 2011.

Nói về ông, tôi muốn bắt đầu từ… Đặng Thân, một nhà văn ở Hà Nội, trẻ hơn thế hệ của anh, một người mà tôi kính trọng về tài năng và được phép xem là bạn. Anh viết trên Tiền vệ ngày 11 tháng 3, năm 2011 nhân cái chết của Phạm Công Thiện như sau. Xin phép trích vài đoạn ngắn.

Không biết tôi đã đến với Henry Miller hay là Henry Miller đã từng đến với tôi như thế nào nữa.

Khi cầm trong tay những Tropic of Cancer, Tropic of Capricorn bản tiếng Anh (ở miền Bắc chả tìm đâu được bản dịch tiếng Việt, đã có ai dịch đâu, các bản dịch từ miền Nam trước đây cũng khó sủi tăm trên đất Bắc) được photocopy từ một người bạn tôi đã không biết là ông đã đến với tôi hay tôi đã đến với ông. Lúc đó là lúc nào, cách đây đã lâu hay mới gần đây thôi? Tôi không nhớ (nhưng chắc chắn lúc đó đã có máy copier). Sau này thì tôi có mua được bản paperback Black Spring từ một hiệu sách tiếng Anh của một ông chủ người Anh tại Hà Nội. Dấu chân Henry Miller trước đây ở đất “thần kinh” với chả “quỷ kệ” chỉ có vậy…

Chưa từng biết gì về ông nhưng lần đầu nhìn những con chữ ông viết thấy biết thế nào là sự động tâm mãnh liệt. Lạ lắm…

Thế nhưng đọc Phạm Công Thiện, thì người ta thấy gì? Đây là một cảm tưởng cực ấn tượng:

Dạy tuổi trẻ tôi những bài học làm sao sống đến cạn cùng sự chán chường, sự thơ mộng, sự rồ dại, sự khao khát, sự giận dữ, sự phóng thả, và quan trọng nhất là nó làm tôi “cháy”.

Có đêm tôi đã nằm ôm cuốn sách và muốn đốt rụi tất cả. Tất cả!

Đó cũng chính là cuộc sống của Phạm Công Thiện, như Henry Miller cũng từng sống như vậy. Có điều khác là sau khi “bốc lửa” hết mình cho tuổi trẻ, Phạm Công Thiện đã thấy “nước chảy” không ngừng trong lòng “Đại Đức Thích Nguyên Tánh”, khi mà thi sĩ luôn “có một dòng sông nhẹ nhàng chảy bên trong”.

Ông đã sống như ông đã từng viết hoa:

CHÁY

VÀ CHẢY

CHÁY VÀ CHẢY KHÔNG NGỪNG...

Tôi đã từng tưởng rằng không bao giờ tôi quên được bố tôi (đã mất) trong từng khoảnh khắc. Nhưng bố tôi lúc sinh thời dường như luôn đưa ra những thông điệp cả bằng những lời xa xôi và bằng lối sống cụ thể, rằng: đừng có nhớ ta, đừng có nhớ ta, nếu mà cứ nhớ ta là làm ta có lỗi, vì cuộc sống tươi đẹp là phải quên, quên nữa, quên hết... Tôi thầm nghĩ, bố tôi quả cũng giống như một cuốn sách của Henry Miller. Mà cuốn sách ấy, nản thay, tôi cũng chưa dám nói là đã đọc hết.

Đầu óc và tình cảm tôi giờ này quả có thấy trống rỗng, không lưu một chút gì, thế mà hình như có giọt lệ ở đâu đó đang rơi. Tôi đã quên hết rồi cơ mà, quên cả chính tôi...

Nhưng mà, Phạm Công Thiện vừa mất, hôm kia.

(Nguồn: Tiền vệ)

Cũng có thể bắt đầu từ Inrasara, một nhà thơ ở Sài Gòn:

Tôi tin tưởng vào thiên tài.

Với tôi, Phạm Công Thiện là thiên tài.

Thiên tài không ở trí tuệ anh, không ở các sáng tác của anh, càng không phải thiên tài ở tư tưởng anh, mà chính là ở sức hút kinh hoàng của hơi thở ngôn ngữ Phạm Công Thiện. Dù hiểu hay không hiểu, ngôn ngữ kia vẫn ẩn chứa sức lôi cuốn ma quái khó cưỡng. Như chớp lửa thiêng sẵn sàng thiêu trụi mọi lưỡng lự, e dè, triển hạn ngáng đường những tâm hồn đồng thanh đồng khí ý hướng tìm đến nhau trong chân trời hủy phá và sáng tạo.

Ý thức mới trong văn nghệ và triết học do An Tiêm tái bản lần thứ ba với những ghi chú kiểu hậu hiện đại, không biết từ đâu rơi vào tay tôi. Lúc đó tôi đang vào tháng cuối của năm cuối Trung học Đệ nhất cấp Trường Trung học nội trú Pô-Klong tại thị xã Phan Rang. Sau giờ ngồi lớp, ngày qua ngày tôi lãng phí tuổi trẻ thơ mộng tôi qua những Việt Nam văn học sử yếu, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên,... trong ý định làm bộ Văn học sử Chăm sau này, thì Phạm Công Thiện xuất hiện như bão tới. Đột ngột, và bứng tôi khỏi giấc mộng cụ non khờ khạo kia.

Tôi đọc và đọc. Trời tối mịt vẫn đọc. Chuông bấm báo giờ ăn tối, vẫn cứ đọc. Quên trời, quên đất.

Hay Nhã Thuyên, một nhà thơ nữ Hà Nội, trẻ tuổi hơn, và theo tôi là rất có tài:

Mình biết đến Thiện muộn màng. Không phải Phạm Công Thiện. Mà là Thiện, ở tuổi 19, khi mình đang cùng quẫn trong thế giới sách vở ngột ngạt của trường Đại học, vô hướng, say sưa, tin tưởng, tuyệt vọng, bơ vơ. Mình thờ ơ với bản in mà người bạn Sài Gòn chuyển qua email cho một người bạn của mình, mà bạn ấy quý như một thứ gì thiêng liêng và bí mật. Họ kẹp những trang viết của Thiện trong những cuốn sổ kín đáo. Những cái tên. Như những mật tự về tình bạn. Họ gọi Thiện, như thể của riêng họ, như thế mình không nên can dự vào, không cho phép sự xâm phạm. Mình thờ ơ như một kẻ khinh bỉ tất cả những thứ sách vở rườm rà không chạm được đến trí não và tâm hồn mình lúc đó. Mình là kẻ đã bị nhồi nhét quá nhiều, đã uống thuốc ngủ quá liều, và đang tìm một cái gì mạnh mẽ của đời thực xốc mình dậy, đẩy mình ra đường.

Nhưng lẽ ra lúc ấy mình nên đọc Thiện, mà mình đã nhất quyết không đọc.

Tôi khinh bỉ mùa thu trên tóc em...

Đầu óc mình và trái tim mình bỗng trở nên hời hợt với xung quanh, nó không còn bén nhậy được trước những cảm xúc của chính nó. Mình đã ngập chìm quá lâu trong một thứ di sản văn chương hỗn tạp, cả những thứ giáo điều và những mơ mộng lạ lùng dồn đến cùng một lúc từ những ngày chập chững thời trung học. Kể từ đó, người bạn thân của mình luôn sợ hãi mình sẽ để mất cuộc sống. Vậy mà mình đã luôn say sưa tin rằng mình sẽ bước vào cuộc sống một cách tự nhiên như thể mình là cỏ cây. Văn chương dường như đẩy chúng ta rời xa cuộc đời, trong mắt nhìn của những kẻ thực dụng, những kẻ luôn nói chúng ta “không biết sống”, nhưng chúng ta lại biết rằng mình sẽ đến được với cuộc sống thực và rộng rãi, phóng khoáng, để vừa đắm chìm, vừa bung thoát.

Mình chẳng biết gì thêm về Thiện từ độ ấy. Thiện, một sở hữu vô hình của tuổi trẻ, kẻ mọi tuổi trẻ đều muốn giành cho mình, gọi bằng tên như gọi một người bạn, một người yêu, một bí mật, một của riêng. Mình không nói về Thiện với bạn và bạn cũng chưa từng nói về Thiện với mình. Chúng ta đều đọc theo kiểu đôi lúc nảy ra một câu, một trang, một từ, một huyễn hoặc, một giấc mộng, một cái tên, một cuộc trò chuyện bất thần trong đêm. Khi bạn gửi cho mình đường link website của Phạm Không-Lộ, con trai của Thiện, mà mình cũng vẫn tưởng Thiện chẳng bao giờ còn hiện diện xương thịt trong đời. Những kẻ thuộc về huyền thoại hình như đều tan loãng như hơi thở.

Như thế, Nhã Thuyên đã gọi Phạm Công Thiện bằng một cái tên giản dị, như một người bạn. Có lẽ nhiều bạn khác cũng thế.

Bởi vì, đối với họ, Phạm Công Thiện chính là tuổi trẻ.

Anh giải thích như thế nào việc thanh niên ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, vẫn còn tiếp tục yêu mến Phạm Công Thiện như trước đây thanh niên miền Nam đã từng?

Trần Nhuận Minh:

Vì tác phẩm của Phạm Công Thiện vẫn sống trong lòng họ. Bản thân tôi, mới đọc ông, cũng thật khó quên ông, Bất luận thế nào, ông cũng vẫn là người tâm huyết và trung thực, đã trút linh hồn mình vào chữ.

208. Nguyễn Đức Tùng:

Trong một cuộc trò chuyện riêng trước đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Phan Cảnh, tác giả cuốn Ngôn ngữ thơ, có nói với tôi rằng Bùi Giáng không chỉ là một nhà thơ lớn, ông còn là một “hồn Á khổng lồ” (nguyên văn). Tôi đồng ý và kính phục nhận xét ấy của ông. Tuy nhiên việc có nhiều đánh giá khác nhau về Bùi Giáng là chuyện hoàn toàn dễ hiểu, và theo tôi sự khác nhau ấy là thú vị, vì chúng thể hiện những quan điểm thẩm mỹ khác nhau, cũng như các khuynh hướng sáng tác trong văn chương.

Trần Nhuận Minh:

Lúc mới tiếp xúc với tác phẩm của Phạm Công Thiện, thực tình là tôi rất khó chịu. Những đoạn văn như thế này quá sức chịu đựng của tôi: “Shakepeare hay Goethe, Dante hay Heidegger, tao coi như những thằng hề ngu xuẩn”. Rồi nữa: “Somerset Maugham, André Gide, Fédénico Schmidt, Aldous Huxley, Hemingway, Sean – René Huguenin, tao thấy nên liệng họ vào cầu tiêu công cộng”. Rồi tiếp nữa: “Còn Jean Paul Sartre và Simone de Beauvoir, nếu họ muốn gặp tôi, tôi sẽ không cho gặp, mà có lẽ sẽ chửi vào mặt họ”… (Những chữ in nghiêng là do tôi nhấn mạnh). Có chỗ Phạm Công Thiện còn“muốn mửa máu đen” vào những tên tuổi đã từng đứng một mình một chương trong lịch sử văn học thế giới, mà tác phẩm đã chinh phục toàn thể nhân loại… Hãy khoan, chưa nói tới điều đó, hay hay dở, đúng hay sai; tôi chỉ nói họ đã già, đã mất, có người mất đã vài trăm năm… Nói thế đâu có được. Phủ nhận họ để vượt lên, dẫu sao cũng còn có chỗ để cảm thông, chứ xúc phạm họ thì không bao giờ nên làm, nhất là người đó lại là một nhà văn hóa, hoặc cao hơn, là một nhà thơ như ông. Những câu nói như trên, tôi trích từ Hố thẳm tư tưởng, một trong các tác phẩm xuất sắc nhất của Phạm Công Thiện, mà có người cho đó là biểu hiện của thiên tài. Còn về thơ, thì các ý kiến dè dặt hơn, có người cho là thơ Phạm Công Thiện “làng nhàng”. Anh Nguyễn Đức Tùng nói thơ Phạm Công Thiện “trên trung bình”.

Tôi đọc thơ Phạm Công Thiện cũng khá nhiều.

Có bài rất lạ lùng, đập thẳng vào thần kinh của tôi:

Tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng

Tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người

Cho quê hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớ

Mặt trời có thai

Mặt trời có thai

Sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt…

Tôi mỉm cười mà nghĩ rằng: Cái “bố” này, đúng là nói lấy được, nói cho sướng miệng đây. Thơ nói khoác thì cũng phải có cái lý của nó. Mà không có lý thì cũng đành chấp nhận thôi, vì nó là “thơ”, cơ mà. Chưa kể mặt trời 8 đến 10 nghìn độ lửa, (tôi nhớ thế, đọc đã lâu) chạm vào làm sao được, thôi cho qua, nhưng mặt trời lại là giống đực, thì làm sao mà “giao cấu” được (đồng tính không phải là “giao cấu”), lại nữa “thủ dâm” thì làm sao mà sinh được con…

Nhiều bài thơ khác, không gây được ấn tượng gì. Ví như bài tứ tuyệt sau, thường được các báo nhắc đến:

VÔ ĐỀ

Bôn ba ngoài vạn dặm

Cũng chỉ một trăng rằm

Bao nhiêu là hố thẳm

Xoáy về nốt ruồi đậm.

Tôi đồng tình với ý kiến rất thẳng thắn và cũng rất chân tình của nhà văn Đặng Tiến, một cây bút phê bình văn học hàng đầu ở hải ngoại mà tôi luôn trân trọng: “Người đọc khó nói đến một “sự nghiệp” Phạm Công Thiện “triết gia”, vì tư tưởng không thành hệ thống, cuộc đời bồng bềnh của Thiện cũng góp phần soi sáng điều này, như “đi cho hết đêm hoang vu trên mặt đất”… Chỉ nên dành cho Thiện một kỷ niệm, một chút tình cảm, một niềm suy nghĩ, vậy là đủ”.

Tháng 3 năm nay (2011), vào lúc nằm liệt giường vì chấn thương xương sống, tôi nhận được tin Phạm Công Thiện đã mất tại Hoa Kỳ. Tôi không quen biết ông và cũng chưa từng có bất cứ sự liên hệ nào, dù là gián tiếp, nhưng đã đọc thơ ông qua các nguồn khác nhau. Bởi thế, tôi có nhờ một nhà thơ tôi quen gửi lời chia buồn tới gia đình ông. Rồi nằm ngẫm nghĩ về những dòng ông đã viết, chợt thấy có một điều rất lớn về ông mà trước đó mình chưa cảm thông hết. Ấy là một tấm lòng đa cảm đã bế tắc, một trí tuệ thông minh đã cùng quẫn, và một tài năng xuất sắc đã không tìm thấy chỗ đứng cho chính mình trong cuộc đời này. Do đó, ông muốn tự giải thoát, muốn tự khẳng định mình và cuối cùng, chọn con đường đập phá, chửi bới, nôn ọe… Chứ chắc bản tính ông, đâu có thế và muốn thế. Tôi hình dung, khi tỉnh rượu, lúc tàn canh (Nguyễn Du), ông sẽ ôm mặt khóc, vì cuối cùng thấy mình không bằng bất cứ một ai trong số những người mà mình đã hơn một lần chửi và nôn vào mặt họ. Đó là bi kịch của cá nhân ông, cũng là bi kịch của cả một lớp người trong một thời đại đầy bi kịch.

Tự nhiên, thấy thương ông. Lại nhớ những câu thơ ông viết:

Thân anh như con chó

Đứng đợi giữa trời chiều

Một chiều em qua đó

Con chó đứng nhìn theo…

Rõ ràng là có vị mặn của nước mắt.

209. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi thấy tình cảm rất đáng quý ở anh.

Nhân anh nhắc đến Phạm Công Thiện và những tác giả khác, tôi muốn nói thêm một vài ý: cho đến nay các tài liệu được chính thức lưu hành (trong nước) về văn học miền Nam chỉ có vài ba cuốn, như cuốn Văn hóa văn nghệ Nam Việt Nam 1954-1975 của Trần Trọng Đăng Đàn và cuốn Nhìn lại tư tưởng văn nghệ thời Mỹ ngụy của Lê Đình Kỵ. Đó là những cuốn sách phiến diện, không mấy chính xác, nặng về đả kích một chiều. Sau đó hình như không có cuốn sách nào bổ túc. Một trong những nhà lý luận lưu tâm rất sớm về văn học miền Nam là Phạm Xuân Nguyên, một người tôi rất kính trọng, và sau anh hình như chỉ có Huỳnh Như Phương và Khánh Phương theo đuổi một cách hệ thống vấn đề này cho đến nay.

Theo ý kiến riêng của tôi, vấn đề thơ và văn học miền Nam nên được nhìn trên nền tảng sau đây: Thứ nhất, đó là một nền thơ lớn, nền văn học lớn, có những đóng góp quan trọng đối với văn hóa nước nhà. Thứ hai, nó là một bộ phận của nền văn học Việt Nam nói chung, đã và sẽ còn tiếp tục tác động lên dòng chảy văn học với những giá trị đã được xác định và chưa được xác định của nó.

Trong lần tiếp xúc với các anh Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Du Tử Lê, Nguyễn Thụy Kha, Trần Mạnh Hảo năm 2008 (trong phần cuối của Thơ đến từ đâu), tôi nhận ra vấn đề người “miền Nam” tìm hiểu người “miền Bắc”, người “miền Bắc” tìm hiểu người “miền Nam” một cách trung thực với lịch sử như nó vốn có, quả thật là một nhu cầu tinh thần rất lớn, nhu cầu của sự hóa giải, hay dùng chữ của anh Nguyễn Thụy Kha, là giao hòa.

Trong thâm tâm, và về mặt cá nhân, anh có một nhu cầu như vậy hay không? Theo anh thì văn học có vai trò gì trong quá trình hóa giải và hòa giải này?

Tôi hỏi thế vì tôi biết rằng đối với rất nhiều người hiện nay, xin tạm gọi là các nhà văn chính thống, việc tìm hiểu về miền Nam trước đây, về một nền “văn học của kẻ địch”, là hoàn toàn không cần thiết. Nó không đóng góp gì cho chiến thắng trước mắt.

Trần Nhuận Minh:

Đất nước đã thống nhất, đó là một bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc. Và như thế, trong quan niệm của tôi, cả nước đã thành công chứ không phải chỉ là thành công của nửa nước phía bên này. Nếu thực sự thất bại, chỉ có lực lượng ngoại bang mà thôi. Chỉ có điều cái giá mà chúng ta phải trả là quá lớn, đó là xương máu của nhiều lớp người trong suốt 20 năm (1955 – 1975) dù ở phía bên này hay phía bên kia của cuộc chiến, cũng đều là con dân nước Việt cả. Như vậy, sau chiến tranh, hóa giải hay giao hòa là mệnh lệnh của cả dân tộc. Ai làm việc đó? Tất cả mọi người. Nhưng trước hết, tôi nghĩ đến các nhà thơ, những người mang lương tri của cả dân tộc và cũng là những người nhạy cảm nhất trước những diễn biến vi diệu trong đời sống tinh thần của nhân dân mình.

Tôi có đọc bài về cuộc tiếp xúc của các nhà thơ mà anh đã nói ở trên (trong Thơ đến từ đâu) và quan tâm rất nhiều đến trang thơ của các nhà thơ hải ngoại, mà tôi nghĩ, nếu bắt đầu, thì phải bắt đầu ở chính chỗ này, vì các bạn là những người nhạy cảm và bị cuộc chiến tranh này ám ảnh một cách vô cùng nặng nề. Điều ấy, tôi có sự thông cảm vô cùng sâu sắc.

Cụ Nguyễn Du từng dạy:

Thịt da ai cũng là người

Lòng nào hồng rụng thắm rời chẳng đau…

Bây giờ, muốn hóa giải hay giao hòa, vì nghĩa lớn của cả dân tộc, nỗi đau ấy phải dần nguôi quên đi, và nếu chưa quên được ngay, thì nuốt vào trong cho nó lặn chìm dần… Tôi đã đọc không ít thơ hải ngoại để lắng nghe… và thấy có bạn không nuốt nổi, hoặc có nuốt thì cái tiếng “ực” còn quá to, có khi còn rung cả hồn người… Thế thì làm sao mà thực hiện được “một nhu cầu tinh thần rất lớn” như anh nói. Có thể vấn đề lại chính là từ phía các bạn.

Cụ Nguyễn Trãi có câu thơ rất tài hoa và tinh vi về mùa xuân:

Ong thấy tinh thần, cây chưa thấy…

Mùa xuân đã đến với chính cái cây. Nhựa mới đang sinh thành dưới cái vỏ cành cây đã khô héo sau nhiều tháng giá rét, rồi da cây sẽ xanh dần, lộc sẽ nhú lên… Nhưng khi cái cây còn chưa chuyển những giọt nhựa đầu tiên của mùa xuân, chưa biết là mùa xuân đã sắp đến, thì con ong ở xa đã nhận ra rồi… Các bạn phải là những con ong ấy đấy…

Kinh nghiệm cho hay rằng, không có nền văn học nào xây dựng trên sự thù hận cả. Bởi văn học là hành trang tinh thần, giấy thông hành cho mọi cuộc giao tiếp, kể cả khi cái bắt tay đầu tiên còn chưa được chìa ra… Vì vậy, hóa giải hay giao hòa là mệnh lệnh của sứ mệnh thi ca, đồng thời cũng là trách nhiệm của mọi ngòi bút, của mọi tấm lòng…

Hãy bắt đầu ngay đi, từ chính các bạn, từ mỗi chúng ta! Còn tôi ư? Tôi đã nhận ra điều đó từ ngày mùng 1 tháng Giêng năm 1976, khi nhạc sĩ Trần Hoàn đưa tôi đến gặp các văn nghệ sĩ của thành phố Huế, mà tôi đã nói ở trên.

Còn văn học miền Nam trước năm 1975, đang được biết đến nhiều hơn. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều số báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam đã có chuyên trang cho mảng văn chương này. Tôi đã hơn một lần thưa với bạn đọc: tôi tin vào định luật Archimed của văn chương…

210. Nguyễn Đức Tùng:

Đọc thơ Trần Nhuận Minh, thấy anh viết nhiều về bạn bè, đủ loại, nhưng đều thân tình, đôn hậu. Thơ về bạn của anh lại không phải là thơ thù tạc như thường thấy trong thơ Việt Nam và phương Đông. Từ các số phận riêng lẻ, thơ anh bộc lộ những vấn đề cốt tủy của thời đại mình. Tương tự thế, thơ viết về phụ nữ (viết về phụ nữ chứ không phải là thơ tình). Tuy vậy, thơ có nhiều nỗi buồn, những băn khoăn về lẽ sống, đạo lý, nhất là thời gian sau năm 2000. Có thể coi đây là bước chuyển biến. Do thay đổi của hiện thực hay do nhận thức của tác giả?

Trần Nhuận Minh:

Có lẽ là cả hai. Hiện thực thay đổi buộc nhận thức cũng phải thay đổi theo. Cảm ơn anh đã chỉ ra điều này. Nếu anh có điều kiện thống kê các bài tôi viết về bạn bè (đều là bạn nam) và phụ nữ, sẽ thấy một hệ thống nhân vật với đủ các sự kiện và các tình huống, như anh nói là cốt lõi của một thời mà thế hệ tôi đã trải qua. Về phụ nữ, anh sẽ thấy từ bà mẹ Việt Nam anh hùng (bài Bá Kim – khi tôi viết, danh hiệu này chưa từng có ở Việt Nam) đến một cô cán bộ chuyển nghề làm thày bói, vẫn cái cặp ấy, trước đựng công văn chỉ thị của cấp trên, giờ đựng thẻ với bùa; từ các bà cán bộ rất chịu khó đi họp trung ương, đi họp tỉnh, nhưng các cuộc họp đó chỉ là cái cớ để các bà tìm thầy tìm thuốc chữa cho mình khỏi béo phì, vì sợ chồng chê, chán tất cả các món ăn ngon hảo hạng… đến một cô bị xô đẩy làm gái điếm, nhưng đốm lửa cuối cùng của nhân phẩm vẫn chưa tắt hết… Rồi bạn bè nam cũng đủ các hạng người… tôi chả thống kê ra đây làm gì, như đời sống xã hội hiện đang tồn tại… Anh nói đúng, thơ bạn bè của tôi không phải là thơ thù tạc. Tôi nhìn người thường không tinh, xét việc thường không kỹ, nên sự nhầm lẫn thường xảy ra, đôi khi rất xót xa…

Trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung có nhiều nhân vật chủ chốt, đọc xong không quên được. Nhưng tôi thích nhất ba nhân vật. Một là Gia Cát Lượng, việc gì cũng biết trước. Hai là Tư Mã Ý, việc gì cũng phải xảy ra quá nửa chừng rồi mới biết. Và ba là Tào Tháo, việc gì cũng xảy ra xong rồi mới biết. Việc chia ba như thế, khác hẳn nhau, dù tài cán của ba nhân vật có thể nói là ngang nhau, cũng là một đặc sắc hiếm có, trong việc phản ánh sự đa dạng của hiện thực về hình tượng người anh hùng thời loạn. Về nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, tôi cho rằng, Tào Tháo là nhân vật thành công nhất của tác phẩm. Tôi không có cái tài của Tào Tháo, cũng không đa nghi như ông ta, càng không có cơ mưu quyền biến để mà gian hùng như ông ta, nhưng hầu hết các việc, sau khi diễn ra xong rồi, tôi mới dần dà hiểu ra sự tình. Vì thế, tôi rất chịu khó rút kinh nghiệm, nhưng tất thảy đều vô ích, vì việc hôm nay không bao giờ giống việc hôm qua.

Trong chiến tranh, san sẻ lớn nhất là máu. Tuy gầy yếu, tôi cũng đã ba lần hiến máu cứu người, trong đó hai lần cứu học sinh khi tôi còn là thầy giáo cấp 2, một lần cho máu nhân đạo, do đoàn thanh niên phát động, khi tôi là bí thư chi đoàn Văn nghệ và Ngoại vụ tỉnh Quảng Ninh. Trong hòa bình, san sẻ lớn nhất là đất. Tôi cũng đã một lần nhường đất được cấp cho một người khác.

Tôi có bài thơ đánh số 26 trong 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh…

San đất

Xẻ nhà

Máu còn không nỡ tiếc

Đếm hết tóc trên đầu

Không hết nghĩa Tử Sinh

Mắt này ngủ thì mắt kia phải thức

Lúc gian nguy

Mình canh chính thân mình…

Bởi mình không thức một mắt mà canh cho chính mình trong lúc mình ngủ, thì biết đâu, mình sẽ bị hại. Chưa bao giờ, sự vong ân bội nghĩa lại nhiều như bây giờ: với người đã chết, mà nắm xương còn lang thang trong đất rừng Trường Sơn, với cả những lợi ích thiêng liêng của toàn dân tộc…

Tuy nhiên, tôi cũng được an ủi nhiều, vì lòng tốt trong thiên hạ cũng có không ít.

Nhân đây, tôi kể một chuyện vui. Trại trưởng trại giam Hang Son của Công an tỉnh Quảng Ninh là ông Tô Thâu, có mời tôi lên chơi. Đêm ấy, tôi đi loanh quanh bên các nhà tạm giam. Tôi dừng lại khi thấy có một giọng hát cải lương buồn đến não ruột. Tôi nhìn vào trong phòng mờ mờ ánh đèn dầu hỏa và nhận ra một anh chàng cởi trần khoảng hơn 30 tuổi. Tôi hỏi: Này chú mày ơi, hát chi mà buồn vậy? Anh ta quay ra nhìn tôi: Cán bộ ở đâu đến đấy? Tù thì làm sao mà vui được. Tôi trả lời: Tớ đi chơi thôi. Anh ta cười: Ai đi chơi trong nhà tù bao giờ. Tôi hỏi: Vậy chú mày buồn tênh thế nào mà lại tếch vào đây thế? Có tội đấy. Anh ta nói. Khuyết điểm gì? (tôi hỏi và tránh dùng chữ “tội”). Anh ta hỏi lại giọng xẵng hẳn lên: Này tôi hỏi thật, ông hỏi làm cái quái gì? Tớ bảo là chơi mà! Thế thì tôi nói thật, anh ta nói: tôi chỉ đ… mẹ thằng chủ tịch xã thôi. Sao lại thế? Nó làm con đường làng đi qua cái vườn cây ăn quả của nhà tôi. Chưa trả tiền bồi thường, cũng chẳng nói gì trước với tôi, nó đã cho người đến chặt cây luôn… Tôi hỏi, thế nhà chú mày ở đâu? Anh ta nói tên cái xã tôi đã dạy học. Tôi hỏi thế chủ tịch xã tên gì, rồi kêu lên, ồ nó là thằng học trò cũ rất đáng yêu của tớ đấy… Ngày xưa nó hiền lành lắm cơ mà… Thấy vui vui, tôi hỏi thêm, vợ con thế nào, có ai đến thăm không? Anh ta cho hay là không. Vì mẹ gần như mù và vợ có mang sắp đẻ, không biết sẽ là trai hay gái đây… Tôi ái ngại: Chả nhẽ chỉ chửi có một câu mà đến nỗi thế? Anh ta chỉ vào mặt tôi: Thế ông tưởng tôi là thằng ăn cắp à? Đây nói cho mà biết, đừng có đùa với lính Quảng Trị. Vẫn còn một vết sẹo to tướng ở bẹn đây này. Tôi cảm thấy là anh ta sẽ vạch bẹn ra chiềng vào mặt mình, nên bỏ đi. Nghe vọng một tiếng chửi: Cút mẹ ông đi!

Khuya ấy, tôi nói với trại trưởng, nên xem lại cụ thể trường hợp này và nếu có thể thì nên xin với cấp trên, tha cho anh ta… nên rộng lượng, rón tay mà làm phúc…

Rồi một chiều, khoác phao đi bơi biển thì một cái xe công an đỗ trước mặt và một khuôn mặt rất phúc hậu nhô ra cửa xe: Anh Minh ơi, cái thằng ấy tôi cho về rồi! Thế à. Cảm ơn. Tôi xin lỗi đang đi tắm… Anh công an cười, thân mật vẫy tay rồi xe đi luôn… Khi nằm ngửa trên phao bơi, tôi nghĩ mãi mới nhớ ra anh công an kia là ai và cái câu “cho về rồi” là như thế nào. Lại thấy hối là mình vô tâm quá…

Mấy năm sau, xã mời tôi về dự lễ khánh thành nhà văn hóa. Sực nhớ đến anh chàng hát cải lương, tôi nảy ra ý đến chơi xem sao, bèn mượn cái xe đạp của bí thư đảng ủy xã, rồi đạp đi. Dắt xe vào sân, cái sân đất khá rộng, thấy anh ta mặc mỗi cái quần đùi, đang kéo nước dưới giếng khơi lên, bên một bụi tre rất mát. Anh ta chào trước rồi hỏi bác vào đây có việc gì. Không hiểu sao, tự nhiên, tôi bật ra: Tớ thấy có bụi tre hay thì ghé vào, định mua một cây đan cái rá vo gạo. Đấy, thích cây nào, tôi bán luôn, rẻ không ngờ. Anh ta vào nhà lấy con dao khá sắc ra, lấy ngón tay cái gại gại vào lưỡi dao. Ưng cây nào, tôi chặt cho. Thế thì gay rồi. Tôi ngó một lúc rồi đánh tháo: Tre đực, gầy bỏ mẹ. Anh ta quát: Tre mập thế mà kêu đực. Mù à! Cút mẹ ông đi. Ờ thì tớ cút… Lúc đi một quãng xa rồi, nghĩ lẩn thẩn buồn cười và quên mất không để ý xem cái con đường làng đi qua vườn cây ăn quả của nhà cậu ta ra làm sao… Tôi kể lại cho bí thư xã nghe và cùng cười vui rồi cũng quên đi.

Khoảng hơn một tuần sau, cả hai vợ chồng cậu ta đi xe đò, tìm bằng được nhà tôi ở thành phố Hạ Long, tặng một quả mít rất to, nói là quả của cây trong vườn nhà, rồi cứ trách tôi đã cất công đến chơi sao lại nói là đi mua tre đan rá…

211. Nguyễn Đức Tùng:

Chuyện vui và có ý nghĩa.

Thơ anh thường được tái bản nhiều lần. Ví dụ Nhà thơ và hoa cỏ, tôi thấy đề là in đến lần thứ 19 vào năm 2011. Anh có sửa đổi không?

Anh có kể là có người đã sửa cho anh một chữ thôi, mà thay đổi cả quan niệm về sáng tác của anh.

Trần Nhuận Minh:

Vâng, có đấy. Bài viết của tôi, đã lần lượt đăng tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam tháng 7 năm 2009, báo Văn nghệ Công an và báo Quảng Ninh cuối tuần đều đăng cuối tháng 11 năm 2010, nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, chưa kể các trang mạng… Chắc anh đọc qua mạng chăng?

NGƯỜI DẠY MỘT CHẶNG ĐƯỜNG THƠ
CHO TÔI CHỈ QUA MỘT CHỮ

(trích)

Năm 1993, bà xã tôi nghỉ hưu bèn bày một cái bàn ra trước cửa nhà bán nước trà chát, mà khách chủ yếu là các bạn thơ hâm hâm của chồng. Tôi cũng không nhớ vào một chiều nào, tháng nào và có phải năm 1993 hay là năm sau, tôi ngồi vẩn vơ ở đó, thì thấy một chiếc xe con màu trắng đỗ xế về phía trái trước cửa nhà và bước xuống là một người đàn ông cao, hơi gầy, trán cao, dáng rất nhanh nhẹn, bước rất hoạt và hơi chúi về phía trước. Ông dừng trước cửa nhà bên cạnh, chung tường với tôi, và nói với chủ nhà là ông Vũ Đà, chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh vừa nghỉ hưu: phiền bác cho tôi hỏi có phải nhà anh Trần Nhuận Minh ở đây không? Tôi ngồi gần đấy, vội đứng lên ngay: tôi đây, kính mời bác vào nhà. Mình bận, ông khách nói, giọng nhỏ nhẹ: mình đọc cái Đá cháy của Minh, có câu thơ:

Đi trắng tóc chưa qua miền thơ dại

Yêu làm sao, thăm thẳm gió thu ơi!

Mình muốn hỏi, Minh viết là Yêu hay là Yên, vì có thể do lỗi morát, chữ n ngửa sẽ thành chữ u là Yêu. Tôi rất nhớ là ông phát âm chữ morát có hơi gió của chữ s ở đằng sau, nên chợt nghĩ người khách này có Tây học. Đoán là ông hơn tuổi, tôi đáp ngay: em viết là Yêu. Ông khách nói: Yêu thì vứt. Yêu hay không Yêu là thơ của người khác, không phải thơ của Minh. Thơ của Minh là Yên hay không Yên. Thơ của Minh là thơ của các số phận người, không bao giờ Yên vì những va đập của đời sống xã hội và của cả thời đại. Sao lại là Yêu? Yêu với ghét là chuyện của muôn đời, còn Yên hay không Yên mới là hiện thực lớn nhất của thời đại chúng ta ngày hôm nay.

Tôi rất cảm động, mời ông bằng được vào nhà. Mình bận, ông nhắc lại, giọng rất nhẹ rồi phẩy tay cũng rất nhẹ một cái và bước lên xe. Xe đi, tôi nhìn theo để ghi nhớ số xe đó và thấy đoạn đối thoại diễn ra rất nhanh, là lạ và hay hay. Đêm ấy, tôi nằm nghĩ và chợt thấy, ý kiến ngẫu hứng của ông khách sâu sắc vô cùng. Đó quả thực là một người thầy dạy mình về nghề. Mình là học trò của nhiều người, trong đó có người rất danh tiếng, nhưng chưa ai dạy mình cụ thể, chân thành và sâu sắc tới mức ấy. Và từ đó, tôi kiên trì hướng thơ mà ông đã chỉ cho.

Về Hà Nội, gặp bạn bè, tôi kể lại và nói là rất biết ơn sự dạy bảo của ông khách và muốn được coi ông là người thầy tinh thần của mình. Lần ấy, tại Hội Nhà văn Việt Nam, tình cờ có Lưu Khánh Thơ, cán bộ nghiên cứu của Viện Văn học, chả biết có việc gì qua văn phòng Hội, nghe tôi kể thế và nói rõ số xe (rất tiếc là bây giờ, tôi không còn nhớ số xe nữa), Lưu Khánh Thơ bỗng kêu lên: ô, đấy là xe của viện em và người anh nói đó chính là ông Lưu Văn Bổng, Viện phó Viện Văn học. Tôi mừng vô cùng. Về Hồng Gai, tôi viết thư cho ông theo địa chỉ Viện Văn học. Tôi nói rằng: tôi đã nghe ông chữa lại chữ Yêu thành chữ Yên cho lần tái bản tới (Yên làm sao? / Thăm thẳm gió thu ơi!); rằng: ông đã chỉ cho tôi, để tôi dứt khoát lựa chọn cho mình một hướng đi; rằng: một chữ cũng là thầy, câu nói trong dân gian không ngờ lại đúng đến mức tuyệt đối như thế, ở đây là một chữ, cũng có thể chỉ là một phần ba chữ, nhưng mở ra cho tôi cả một tầm nhìn mà trước đó, tôi không ý thức hết được... Không thấy ông trả lời, tôi viết thư thứ hai rồi thư thứ ba, ông đều không trả lời. Tất cả trong vòng hai, ba tháng gì đó rồi thôi không viết nữa, coi như là mình không có duyên để được liên hệ với ông. Tôi có kể cho nhà văn Ngô Vĩnh Bình ở tạp chí Văn nghệ Quân đội nghe, sau đó, thấy chuyện đó được viết thành giai thoại với cái tít Yêu thì vứt, đăng trên tờ báo tuần của Thông tấn xã Việt Nam.

Thế rồi, vào dịp một đại lễ nào đó của Hội Nhà văn Việt Nam, tổ chức tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, tôi không còn nhớ thời gian và lễ kỷ niệm gì của Hội, chính ông Lưu Văn Bổng hỏi tôi có về dự không và ông đi tìm tôi. Ông bảo mình nhận được đủ ba thư của Minh nhưng tính mình lười lắm, thường không viết thư cho ai cả. Cảm ơn Minh. Tôi hỏi sao bác ở Viện Văn học mà em không biết. Ông bảo, mình chuyên về văn học phương Tây, nên anh em ngoài lĩnh vực chuyên môn của mình, mình rất ít quen biết và cũng rất ít quan hệ…

212. Nguyễn Đức Tùng:

Cũng là một chuyện hay về nghề.

Đêm biên cương nổ súng

Tôi dạo quanh đại sứ quán Trung Hoa

Đường Điện Biên Phủ lá rơi rào rào

Đứng một mình trước tượng Lênin

Tự nhiên tôi bật khóc.

Đọc thơ, tôi tin là tác giả thành thực.

Xin anh nói thêm về bài thơ này.

Trần Nhuận Minh:

Tôi thường trú ở Quảng Ninh, nhưng may sao, những sự kiện lịch sử rất lớn của đất nước diễn ra, thì tôi lại có mặt ở thủ đô Hà Nội vào lúc đó, và ở Hà Nội khá dài, có khi ở gần với trung tâm của sự kiện, đến vài tháng trời. Đêm 17 tháng 2 năm 1979, tôi ở trại sáng tác quân đội tại Vân Hồ, chỗ Trần Đăng Khoa, để chuẩn bị đi dự trại sáng tác ở Nha Trang, hai tháng. Đây là trại sáng tác duy nhất của trung ương mà tôi tham dự, cho đến tận bây giờ. Tôi đã viết liên tục ở đó tập truyện vừa Hòn đảo phía chân trời, (160 trang in - sách vừa in lại lần thứ 5, năm 2010) về việc những người dân chài bên bờ sông Bạch Đằng, con sông đã ba lần là trận địa thắng giặc phương Bắc thời xưa, mà vĩ đại nhất là thời Trần năm 1288, tình nguyện đi lập một làng mới, tại một hòn đảo xa, trên biển Đông, lấy tên là làng Bạch Đằng Giang, để xác lập chủ quyền của nhà nước Việt Nam trên vùng biển của mình. Sách đã được giải thưởng văn học của nhà xuất bản Kim Đồng. Từ non 10 năm nay, tác phẩm đã được trích một đoạn in trong sách giáo khoa phổ thông cho học sinh lớp 5 học.

Chuyện đó, vào lúc ấy, hoàn toàn do tôi “bịa” ra, vì tôi đã nghĩ, biển Đông mới là vấn đề của tương lai.

Tôi băn khoăn không biết có nên đi Nha Trang nữa hay không? Một câu hỏi đặt ra với tôi ở thời điểm đó, là, cuộc chiến tranh Trung - Việt ở biên giới phía Bắc, mà tôi chắc là rất tàn bạo, sẽ như thế nào, quy mô đến đâu, vì anh em giết nhau, bao giờ cũng kinh khủng hơn người khác, để tôi phải quyết định ngay, là đi Nha Trang hay trở về Hồng Gai, trước hết là lo cho vợ và ba đứa con còn nhỏ, chênh nhau khoảng hai đến ba tuổi.

Khoa bảo để em hỏi cho.

Vì ở trại quân đội, nên biên cương nổ súng là chúng tôi biết tin ngay. Và các nhà văn trại viên, đều là các sĩ quan quân đội, thấp nhất là Trần Đăng Khoa, chuẩn uý, lập tức đi đâu hết, cả Khoa cũng đi. Tôi sang phòng bên thấy nhà văn Thái Bá Lợi đang ngồi bên bếp lửa luộc sắn, anh em còn lại mấy người ngồi quanh, nghe Thái Bá Lợi kể về một cán bộ cao cấp (mà tôi không tiện nêu tên) bị thất sủng về một điều gì đó... hằng tháng phải xin cấp tiêu chuẩn gạo, mà vợ Thái Bá Lợi, cán bộ lương thực của địa phương ông tạm trú, đã lo thủ tục này cho ông, mỗi tháng một lần. Tự nhiên, tôi nảy ra ý định nên đến khu vực đại sứ quán Trung Hoa, cạnh đường Điện Biên Phủ, xem ra làm sao. Đêm ấy, tôi đã đi suốt sáng như một gã dở người. Tòa nhà đại sứ chìm trong bóng tối, tuyệt đối không có ánh sáng hay tiếng động. Dưới ngọn đèn điện sáng choang trước cổng, một anh công an đứng gác, im phăng phắc. Một anh công an khác đi tuần tra xung quanh, súng lục đeo trễ bên hông. Tôi nghe rõ tiếng lá rụng rào rào trên đường Điện Biên Phủ, trong gió bấc thổi hun hút lạnh. Tôi thích chữ Điện Biên Phủ trong bài này, vì nó còn có ý nghĩa tượng trưng. Trước cửa đại sứ quán Trung Hoa là công viên Lênin, có tượng đài Lênin. Đứng ở đây, quả thực tôi đã khóc. Điều đó hoàn toàn là có thật. Những chi tiết đó khắc sâu vào tâm khảm của tôi, nhưng phải 20 năm sau, tháng 2 năm 1999, tôi mới viết bài thơ Đêm… chỉ có 5 câu như anh vừa dẫn ra. Đây là thơ thuộc loại tôi cố viết thật ngắn về những việc thật dài. Lúc ấy vào khoảng 4 giờ sáng:

Đứng một mình trước tượng Lênin

Tự nhiên tôi bật khóc…

213. Nguyễn Đức Tùng:

Tại sao anh lại khóc?

Trần Nhuận Minh:

Vì tôi yêu nước Trung Hoa vô cùng, chỉ sau Việt Nam.

Người dạy tôi tình yêu ấy, chính là cụ Nguyễn Du với quyển Kiều mà tôi thuộc lòng cả quyển từ năm hơn 10 tuổi. Chính cụ mới là đại sứ vĩ đại nhất của tình hữu hảo Việt-Trung. Cái đại tài của cụ là đã Việt hóa (hay phương Đông hóa) được, tất cả mọi nỗi niềm của các nhân vật trong Truyện Kiều, khiến một người như mẹ tôi, chỉ biết cô Kiều, ông Từ Hải… mà không bao giờ quan tâm là những người ấy ở Trung Hoa hay ở Việt Nam.

Trước đây, ở Việt Nam, tôi thấy Truyện Kiều thuần Việt, ví như câu thơ mô tả bãi tha ma trong tiết tháng ba đi tảo mộ:

Ngổn ngang gò đống kéo lên

Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay…

Mà ta có thể thấy ở bất cứ làng quê Việt Nam nào, đều có vàng vó và tiền giấy sử dụng trong tang ma… nhưng sang Trung Hoa, tôi lại thấy Truyện Kiều thuần Tàu, đặc biệt là cảnh sắc thiên nhiên. Chỉ nêu một câu thơ: Hải đường lả ngọn đông lân. Cây hải đường lả ngọn sang (đất hay nhà) phía đông. Ở Việt Nam, tôi thấy cây hải đường thấp, cành cứng, lả làm sao được. Nhưng nghĩ, đây là cụ Nguyễn sáng tác, hơn nữa tình cảm của cô Kiều lúc ấy cũng xiêu xiêu rồi, vì vừa gặp Kim Trọng, đã mê anh chàng, nên hải đường lả ngọn cũng phải thôi, vì cô này rất đa tình. Đến khi sang Bắc Kinh, quê của cô Kiều, mới hay ở đây có một loại cây hải đường cao hơn, mảnh hơn, cành mềm hơn và lá cũng nhỏ hơn, dày hơn, do vậy mới lả ngọn được.

Tôi tình cờ biết vậy, lặng im ngồi vỗ gối một hồi lâu mà thấy sợ ông cụ vô cùng.

Những câu thơ:

Lâm Tri chút nghĩa đèo bòng

Nước non để chữ tương phùng kiếp sau

Bốn phương mây trắng một màu

Trông vời cố quốc biết đâu là nhà…

Cố quốc ở đây là nước Tề, nơi có thành Lâm Tri. Lâm Tri là nơi cô Kiều ở lầu xanh, gặp Thúc Sinh, được chàng Thúc yêu, chuộc nàng từ tay Tú Bà và lấy nàng làm vợ hai, giấu bố và vợ cả. Đây là tâm trạng nhớ chồng, một mối tình “chút nghĩa đèo bòng” của cô Kiều, khi cô đã bị lũ Ưng Khuyển “bắt cóc” về Vô Tích, theo mưu sâu kế hiểm của Hoạn Thư mà nàng chưa biết là vợ cả của chàng Thúc. Nàng nghĩ rằng, sẽ không bao giờ được gặp lại chàng - người chồng, đồng thời là ân nhân, đã cứu mình khỏi sự đọa đầy không có cách nào giải thoát. Câu thơ đẹp và buồn, sâu sắc đến khôn cùng. Lần nào ngâm ngợi mấy câu thơ này, tôi cũng ứa nước mắt. Cả đời tôi, chỉ mong một lần được trông thấy Bắc Kinh, nơi cô Kiều đã được sinh ra, một lần được trông thấy Lâm Tri, nơi cô Kiều đã yêu và bị đầy đọa tủi hờn, và một lần được trông thấy sông Tiền Đường “nổi sóng đùng đùng”, nơi cô đã gieo mình xuống, tự vẫn. Người dân địa phương cho hay, sông Tiền Đường mỗi năm chỉ nổi “sóng thần” như thế có một lần vào ngày 18 tháng 8 âm lịch, sóng cao đến 10 mét trong khoảng 5 – 7 phút thì thôi.

Trong tâm hồn tôi, Trung Hoa trước hết là như thế. Còn những cái khác chỉ là thêm vào. Dù tôi rất yêu Thơ Đường với Đỗ Phủ, Lý Bạch, rất thích Tam Quốc chí diễn nghĩaHồng lâu mộng… Trong bài thơ Nguyễn Du, tôi viết trong chuyến thăm Trung Hoa lần đầu tiên, có đoạn bốn câu về sông Tiền Đường, mà nhà phê bình văn học trẻ Trần Tố Loan (tạp chí Văn nghệ Đồng Nai, số 50, tháng 9-10 / 2009) cho rằng: có thể xếp vào hàng “kiệt tác”:

Thời nào thì cũng như nhau

Nỗi buồn ly biệt, nỗi đau dối lừa

Tiền Đường sầm sập đêm mưa

Nước âm u chảy như chưa vớt Kiều…

Bây giờ, đọc lại nỗi ngậm ngùi, xót xa của cô Kiều trước khi nhảy xuống sông Tiền Đường, của thơ Nguyễn Du, tôi vẫn còn thấy nát cả gan ruột:

Đành thân cát dập, sóng vùi

Cướp công cha mẹ, thiệt đời thông minh

Chân trời mặt bể lênh đênh

Nắm xương biết gửi tử sinh chốn nào?

Duyên đâu ai dứt tơ đào

Nợ đâu, ai đã dắt vào tận tay

Thân sao thân đến thế này

Còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi...

Tôi phải nói dài dài như vậy để anh dễ cảm thông. Tôi đã khóc vì không chịu nổi nỗi đau ngay trong cốt tuỷ, ở chỗ tận cùng của cõi lòng mình, chỗ mà tôi cho là thiêng liêng nhất. Những câu thơ của các nhà thơ lớn Việt Nam mà tôi đã thuộc làm lòng, ám ảnh suốt cuộc đời tôi:

Bốn phương vô sản đều là anh em…

Bên đây biên giới là nhà

Bên kia biên giới cũng là quê hương…

Quê hương lãnh tụ mây thêu nắng

Thấy mặt trời lên, nhớ bác Mao…

Bác Hồ ta đó chính là bác Mao...

Bây giờ nhào sang bắn nhau, chém giết nhau tàn bạo. Một cuộc chiến tranh thực sự đẫm máu. Bên kia đã sử dụng đến 20 sư đoàn bộ binh, tấn công suốt sáu tỉnh biên giới, vào sâu bên trong lãnh thổ Việt Nam đến 8 km, với đặc điểm trước đó chưa từng có, như tôi đã viết trong bài thơ dài Thành phố bên này sông, đăng tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1979 và được tạp chí danh tiếng này trao tặng thưởng thơ của Tạp chí năm 1979, có câu: Chúng vừa hát Quốc tế ca, vừa bắn vào những người Cộng sản... Rồi máu của hàng trăm ngàn người dân và chiến sĩ phải ngã xuống; hệ lụy của nó, tôi nghĩ là rất khủng khiếp, không thể nào, không có cách nào và không bao giờ bù đắp lại được… Trong bài thơ dài Một trăm bước cuối cùng, in trong tập thơ Gửi lại dọc đường, tôi viết cuối tháng 4/1979, có đoạn:

Ngôi sao đỏ tôi hằng tin yêu

Suốt những tháng năm tôi thơ ấu

Tuổi thơ ấu của tôi đã bị phản bội

Niềm tin yêu của tôi đã bị phản bội…

Ngôi sao đỏ quen thuộc trên mũ quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, đã mê hoặc tôi từ thuở trẻ con khi tôi xem phim Đổng Tồn Thụy.

Và như thế, quyển Kiều của cụ Nguyễn Du, thánh kinh của tâm hồn tôi, cũng đã bị phản bội.

214. Nguyễn Đức Tùng:

Nghe lời kể và tâm sự tận đáy lòng của anh, có lẽ cũng tiêu biểu cho một số đông người, tôi thấy cảm động.

Nhưng tôi lại nhớ ra một chuyện khác. Mùa hè năm tôi học đệ thất, tức lớp sáu bây giờ, một hôm, trên đài phát thanh Gươm thiêng ái quốc, tôi nghe được bản tin nhân dân Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông, người cầm lái vĩ đại, đã diệt được con chim sẻ thứ một trăm triệu, đưa sản xuất nông nghiệp Trung Quốc tiến lên, tôi ngạc nhiên lắm, liền hỏi ba tôi thực hư ra sao. Ba tôi cho biết chuyện ấy có thật, và các việc khác như hồng vệ binh đốt sách Khổng Tử cũng có thật. Ông hỏi lại là tôi cảm nghĩ thế nào?

Có lẽ vì lúc ấy tôi rất thích chim, và mới có hai con chim sẻ hôm trước bị tôi bắt nhốt vào lồng (mặc dù chúng không hề tự nguyện), nên tôi trả lời ông ngay lập tức, đại ý: có một cái gì đó rất bậy bạ.

Đến nay, sau mấy chục năm, tôi vẫn giữ nguyên cảm giác vào lúc ấy: có một cái gì đó rất bậy bạ trong lịch sử cận đại và lịch sử các phong trào cách mạng kiểu như cách mạng văn hóa. Anh có biết cảm giác ấy không, khi bị ai hỏi bất ngờ thì mình nhất thời không chỉ ra được, hoặc vì không nhanh mồm nhanh miệng, hoặc chưa nghiền ngẫm kỹ, hoặc cả hai, nhưng cái linh cảm nhân tính bao giờ cũng đúng. Tiếng Pháp gọi là bon sens thì phải.

Nước Trung Hoa mà anh yêu mến ấy, nước Trung Hoa của cụ Nguyễn Du, của cụ Lý Bạch, có phải là nước Trung Hoa của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình đâu, thưa anh?

Lẽ ra càng yêu Trung Hoa thứ nhất lại càng căm ghét Trung Hoa thứ hai chứ? Hay có một thời chúng ta trộn lẫn vào nhau?

Trần Nhuận Minh:

Anh nói thế cũng có lý. Nhưng tôi cho rằng, trước sau, nước Trung Hoa vẫn là nước Trung Hoa. Trong tâm hồn tôi, Truyện Kiều còn, thì nước Trung Hoa ấy còn. Nước Trung Hoa ấy là nước Trung Hoa trong Truyện Kiều qua sự tưởng tượng của tôi. Tôi không ghét nước Trung Hoa. Tôi chỉ ghét bọn Hồ Tôn Hiến, lũ Tú Bà, Sở Khanh và bầu đoàn Ưng Khuyển mà thời nào ở Trung Hoa cũng có. Lặng nghe lẩm nhẩm gật đầu, cái dáng điệu thâm hiểm ấy của Sở Khanh thì làm sao mà quên được. Nhưng tôi lại nghĩ, nếu lũ cặn bã, lừa đảo và tàn ác ấy chết, chắc gì cụ Nguyễn Du còn sống, và cô Kiều chắc gì còn lại đến ngày hôm nay và luôn hiện ra thăm thẳm trong tâm hồn tôi đến như vậy. Cho nên, trong bản chất vấn đề, sự sống nó tự trộn lẫn với nhau, anh ơi…

Nhân đây, tôi nói thêm một điều.

Nguyễn Du đã dựa vào cốt truyện văn xuôi trong tiểu thuyết 20 hồi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mà viết lại thành truyện thơ Đoạn trường tân thanh, ta quen gọi là Truyện Kiều, đẩy Kim và Vân sang một bên, để Kiều thành nhân vật chính. Trong chuyến thăm Trung Quốc năm 1999, tôi được một nhà văn Bắc Kinh cho hay: Thanh Tâm Tài Nhân là bút danh của Từ Văn Trường tức Từ Vị. Kiều là một người có thật, sinh năm 1524 ở Bắc Kinh, chết khi tự vẫn trên sông Tiền Đường, năm 1554, khi cô tròn 30 tuổi. Đoạn Kim Kiều tái hợp là Từ Vị bịa ra cho có hậu. Từ Vị sinh năm 1521 tại huyện Sơn Âm, tỉnh Chiết Giang. Như vậy, Vị hơn Kiều 3 tuổi. Từ Vị từng đến nhà chứa của Tú Bà nhiều lần để “chung chạ” với Vương Thúy Kiều. Chắc Kiều cũng yêu ông ta, nên khi Kiều đã bỏ Thúc Sinh (Thúc Kỳ Tâm) vượt tường trốn đi, vì sợ Hoạn Thư hiểm độc và tàn ác khôn lường, đến tu ở chùa Chiêu Ẩn của Giác Duyên, ở hẳn trong chùa rồi, ông ta vẫn tìm đến để tiếp tục “quan hệ”. Vì thế khi đi theo Hồ Tôn Hiến, chính ông ta đã bày mưu cho Hiến rồi trực tiếp đến gặp Kiều, cùng với một người nữa, tôi không nhớ tên, đã đút lót vàng cho Kiều, khuyên Kiều dụ Từ Hải ra hàng. Điều đó có lẽ giải thích được vì sao, trong số các tác phẩm viết về cuộc đời cô Kiều, Kim Vân Kiều truyện của ông ta vẫn phong phú và sinh động hơn cả.

Từ Vị mất năm 1593, thọ 72 tuổi.

215. Nguyễn Đức Tùng:

Trong thơ Trần Nhuận Minh luôn có tình cảm nhân hậu. Tôi nghĩ là hiếm có vì giữa các nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ ở miền Bắc ngày trước, tình cảm yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, thậm chí tình cảm giai cấp, là chủ đạo.

Đọc Trần Nhuận Minh, thế hệ sau chắc chắn sẽ còn nhắc đến những dòng này:

Hai em trai chết trận

Chiến tranh ở hai đầu

Ảnh thờ mờ sương khói

Vẫn không nhìn mặt nhau…

Đó là những dòng anh viết về chiến tranh thời kỳ 1954 - 1975. Tôi tưởng rằng anh phải lạc quan hơn chứ?

Trần Nhuận Minh:

Tôi không lạc quan cũng không bi quan. Tôi chỉ gọi đúng tên sự vật. Mà sự vật thì trong bản chất của nó, nó không lạc quan cũng không bi quan, nó chỉ tồn tại. Nhà biên khảo và phê bình văn học Thái Doãn Hiểu đã phát hiện ra ý nghĩa của đoạn thơ này. Khi cuộc chiến tranh đã kết thúc, trong phạm vi quốc tế, hai bên đã:

Tủi mừng cùng chén rượu

Bẽ bàng ôm hôn nhau…

Tất nhiên là chỉ tủi mừng, bẽ bàng lần đầu thôi, còn lần sau, quen dần, thì có thể còn hào hứng và thắm thiết. Nhưng như thế là tốt. Bởi phải đến lúc các vị chủ chiến cùng ôm hôn nhau thắm thiết, xương máu muôn dân mới hy vọng ngừng rơi. Cuộc chiến tranh đã thực sự khép lại. Nhưng trong một quốc gia, nhỏ nhất là trong một gia đình, ở đây là hai anh em ruột đã chết trận ở hai chiến tuyến, cuộc chiến tranh ấy không bao giờ khép lại được. Ấy là với người chết. Còn với người sống, sau non nửa thế kỷ rồi… khi hai nguyên thủ chủ chiến của hai quốc gia đã dắt tay nhau bước vào bàn tiệc, mở ra giai đoạn thân thiện và phát triển, cuộc chiến tranh ấy đã khép hẳn lại được đâu, cả phía bên kia và phía bên này. Nói thì thế, nhưng sự thực thì không phải thế… Những thù hận vẫn còn âm ỉ, ngấm ngầm, như xăng còn lẫn ở trong nước, chỉ cần chạm lửa là bốc cháy… Thì ra vấn đề trong một nhà, trong một nước, phức tạp và nan giải hơn nhiều… Anh chả lạ gì. Hình như trước tôi, chưa ai viết về điều này. Không phải là họ không biết.

Tôi cũng đã có lần nói rằng, thơ tôi đã đi từ nông dân đến với công nhân, rồi từ công nhân, tôi tìm đến với nhân dân, rồi từ nhân dân tôi tìm đến với con người… Chỉ khi nào anh tìm đến với con người, tự lặn vào trong những vấn đề của con người, anh mới ngộ ra được nhiều điều, mà trước đó, anh không thể nào thấu hiểu nổi…

216. Nguyễn Đức Tùng:

Trước khi đi sâu vào vấn đề này, tôi xin nói rõ hơn về một điểm: đúng là giữa các nhà thơ cùng môi trường và thế hệ như anh, tôi cũng nghĩ rằng, có lẽ anh là một trong những người đầu tiên nói được điều này. Vì cũng có các nhà thơ khác, từ môi trường khác, ví dụ ở miền Nam trước đây, hay ở hải ngoại hiện nay, đề cập đến nó một cách sâu sắc. Nhưng tiếng nói của họ ít được nhận ra trong công chúng người đọc đông đảo hiện nay, vì nhiều lý do phi văn học, như anh có thể đoán được.

Nay nhân tiện, tôi muốn hỏi rõ hơn: theo anh tại sao dân tộc chúng ta, từ hai phía, từ nhiều phía, chưa thể thực sự hòa giải? Tại sao, như anh nói, “những thù hận vẫn còn âm ỉ, ngấm ngầm, như xăng còn lẫn ở trong nước, chỉ cần chạm lửa là bốc cháy”?

Trần Nhuận Minh:

Thực tình, tôi cũng không tự giải thích thấu đáo cho mình được. Có lúc, tôi cũng đã đặt ra câu hỏi ấy mà không tự trả lời được. Và tôi biết, bên trên, bên dưới và xung quanh tôi, cũng có những người không muốn trả lời, thậm chí còn khó chịu khi tôi gợi ra câu hỏi ấy. Chợt nhớ, mẹ tôi có lần nói với tôi về nỗi tức giận của một người hàng xóm: cứ chờ, mọi nồi nước nóng đều đến lúc phải nguội. Nhưng “nồi nước nóng” này khó nguội, vì ta đã đun quá lâu, mà lại “đun bằng máu" hàng mấy chục năm, tức là đến hai ba đời người. Đấy có lẽ là lý do vì sao, đến tận bây giờ, đống tro tàn ở dưới đáy nồi vẫn không chịu tắt hết. Ấy là chưa kể, thỉnh thoảng lại có những luồng gió nhẹ, chả biết vô tình hay hữu ý, thổi vào, có thể cả vô tình và hữu ý, nhưng hữu ý nhiều hơn… làm cho nó bùng lên.

Trong tất cả mọi thứ trên đời, máu người là thứ khó khô nhất, bởi nó không phải là nước lã… Tôi có câu thơ:

Có cơn mưa chết cháy cả lúa đồng

Lời ngon ngọt mà thân người đổ gẫy…

để chỉ cái thực tại ấy đấy…

217. Nguyễn Đức Tùng:

Có lần anh tâm sự bên lề rằng, “đọc thơ (Việt Nam) bây giờ không còn hào hứng nữa”.

Tại sao không còn hào hứng nữa, thưa anh?

Bởi vì:

Nhưng trong tim chúng ta cuồng nhiệt vẫn y nguyên
Trong đêm tân hôn, anh lại một phen
Chảy nước mắt
nghẹn ngào
Vì em cao giọn
g đọc Đồi gió hú

Trần Nhuận Minh:

Quả thực là tôi đọc thơ bây giờ không còn hào hứng nữa. Xin chỉ nói về thơ Việt.

Hiện đang là cuộc “bàn giao” giữa hai thế hệ, tạm gọi là thế hệ trước và thế hệ sau 1975. Cuộc bàn giao này theo tôi là không thành công. Cả hai thế hệ đều không vươn tới cái mình muốn, để lại một khoảng trống rất lớn ở giữa…

Đọc thơ Việt bây giờ là trực tiếp tiếp xúc với cái khoảng trống ấy. Có lúc nó rõ rệt đến mức, khiến một nhà thơ bạn tôi, đã hỏi tôi rằng: Anh đứng về phía nào, khi bên này các ông bà “trống đánh xuôi”, còn phía bên kia là các anh chị “ kèn thổi ngược”. Tôi không rõ sự xa cách có đến mức ấy không và cách đặt vấn đề như thế có đúng không? Tôi chỉ thấy là nó có khoảng cách, và cái khoảng cách ấy, làm cho thơ của cả hai bên đều giảm sút độc giả. Có lúc tôi lại nghĩ: Rất có thể, từ đó, những đột phá mới sẽ ra đời chăng? Tôi hy vọng thế. Dù sao, thì điều ấy đã không xảy ra đối với hai thế hệ thơ trước và sau năm 1954. Anh cứ ngẫm mà xem tôi nói có đúng không? Trước và sau 1954 là một quá trình chuyển tiếp liền hơi… Bây giờ là đứt đoạn.

Các nhà thơ xuất hiện sau 1975, chủ yếu là sau 1986, đang xác lập một hệ thống thẩm mỹ mới qua các xu hướng nghệ thuật mới, có những trường hợp mới hẳn, nghĩa là người ta thấy nó ít, hoặc không còn dính dáng gì với truyền thống của quá khứ, dù vẫn dùng tiếng Việt… Tôi nghĩ cũng có thể như vậy. Suy cho cùng, nó cũng có cái hay của nó và tôi ủng hộ. Nó hé ra một cuộc cách mạng mới về nghệ thuật thi ca mà tôi chờ đợi và hy vọng. Nhưng cuộc cách mạng ấy, rốt cuộc đã không xảy ra, hiện nó như là “sống” dở mà “chết”… cũng dở. Lý do ư? Có thể có nhiều lý do, nhưng lý do chính là, trong các đồng nghiệp của tôi ở thế hệ này, không có những Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, không có những Phạm Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận của mình…, cũng không có cả một Hoài Thanh của mình nữa. Nghĩa là lực lượng chưa đủ sức thuyết phục cho một cuộc ra quân giành chiến thắng. Trong thơ ca, lý luận không bao giờ giải quyết được vấn đề. Khát vọng vươn tới của nhà thơ mà tôi thấy đã có, rất sung sức, thậm chí là bạo liệt, trong các đồng nghiệp trẻ của tôi, cũng không giải quyết được vấn đề. Chỉ có sáng tác mới giải quyết được những vấn đề của sáng tác. Mà sáng tác, thì các bạn trẻ của tôi chưa tới được cái cần phải tới, để ngã ngũ các giá trị… Có lẽ phải chờ thêm ít lâu nữa chăng?...

218. Nguyễn Đức Tùng:

Nhận xét về “cuộc bàn giao không thành công giữa hai thế hệ” của anh chắc chắn là ý kiến sẽ gây nhiều tranh cãi. Tôi xin hỏi cụ thể hơn. Anh nói: cả hai thế hệ đều không vươn tới cái mình muốn. Vậy xin bắt đầu vấn đề từ thế hệ trước, tức là thế hệ của anh.

Cái gì đã làm cho anh tin rằng thế hệ đó không vươn tới được cái mình muốn?

Trần Nhuận Minh:

Về thực tế, theo tôi, thì đúng là như thế, trong hiện trạng phát triển của thơ hiện nay. Tôi thấy rất rõ sự cách xa nhau giữa thơ hai thế hệ và khoảng trống chưa thể lấp đầy, bởi, chưa xuất hiện một hoặc những tài năng thơ ca nào, có tầm cỡ đảm trách được chức năng nghệ thuật đó.

Thế hệ thơ chống Mỹ của tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, một số người còn sức, đang làm những phần việc cuối cùng. Cái mà họ cần vươn tới để lấp chỗ trống, đó là tính hiện đại với các yêu cầu mới, khả năng tự vượt qua các giới hạn, để đưa thơ mình ra với thế giới, đồng thời đến với đông đảo người đọc ngày hôm nay và tạo được các nhịp cầu đi tới trong các tìm tòi nghệ thuật, các xu hướng nghệ thuật mới, có ý nghĩa mở đường, cho các nhà thơ thế hệ sau. Rải rác cũng có những “bứt phá”, nhưng rời rạc, lẻ tẻ và cô đơn làm sao. Cái làm cho họ không vươn tới được cái cần vươn tới đó, chính là “rào cản” của bản thân mình, ở ngay trong chính bản thân mình. Có “vấn đề xã hội” không? Có! Nhưng cái chính vẫn là sức sáng tạo và tầm vóc trí tuệ, tài năng của cá nhân nhà thơ.

Thế giới đã ở ngay trước mặt. Bạn đọc cũng chờ anh ở ngay bên cạnh anh. Chỉ cần ấn một ngón tay trong một giây, thơ bạn đã bay khắp thế gian.

Nhưng không thể bay, nếu thơ bạn là chim… cánh cụt.

219. Nguyễn Đức Tùng:

Đó là anh đang nói về thơ ở trong nước. Còn thơ Việt hải ngoại, anh có theo dõi không?

Trần Nhuận Minh:

Tôi xin thưa ngay là có, dù không nhiều và cũng không đều. hy vọng có sự bù đắp. Một tháng trời ở Canada, năm 2010, anh biết đấy, tôi đã tập trung thời gian có thể, để đọc được càng nhiều càng tốt thơ của các tác giả, chủ yếu ở Hoa Kỳ và Canada mà tình cờ tôi có trong tay. Trước đó, tôi cũng đã đọc được ít nhiều. Tất nhiên không thể đọc hết - những tập, những bài, tôi không có trong tay - nhưng tôi nói là đã đọc khá nhiều, thơ của một số tác giả và thơ in chung trong một số tạp chí tiếng Việt. Tôi rất ngạc nhiên một điều, anh có hiểu là điều gì không? Không ít các bạn “cổ lỗ sĩ” không thể tưởng tượng được. Từ cấu tứ, nhạc điệu, ngữ ngôn, cảm giác như là sự kéo dài của thơ tiền chiến, thậm chí thơ tiền chiến cũng không “cũ mèm” đến thế. Nhiều bài ẻo lả và mòn sáo, đôi khi mùi mẫn cải lương, thậm chí có bài có thể nói là dung tục. Ấy là chưa kể một vài nhà thơ có phần cực đoan, quan tâm nhiều hơn đến tác động xã hội của văn học hơn là chính bản thân văn học. Đó là sự bất ngờ quá lớn đối với tôi. Cũng là sự thất vọng quá lớn đối với tôi. Cứ viết như thế, thơ các bạn sẽ không bền và giá trị cái đã có sẽ bị thu hẹp thêm. Cũng có một số tác giả mới hơn, thanh thoát và trí tuệ, nhưng không nhiều. Thì ra, chất lượng thơ Việt Nam ở hải ngoại cũng có rất nhiều điều phải bàn… Nhưng đó là việc của nội bộ các bạn, dù thơ của các bạn là một bộ phận của thơ Việt Nam.

220. Nguyễn Đức Tùng:

Anh hoàn toàn đúng khi nói câu này: “Thì ra, chất lượng thơ Việt Nam ở hải ngoại cũng có rất nhiều điều phải bàn…”

Thưa anh, không những thế, mà gần như chưa ai bàn hay bàn đến nơi đến chốn cả.

Còn về sự yếu kém của phê bình văn học và phê bình thơ, theo tôi có mấy lý do, xin tạm kể như sau:

- Cộng đồng hải ngoại thoạt nhiên là sự nối dài của miền Nam trước đây. Miền Nam đạt được nhiều thành tựu rất lớn về sáng tác, nhưng nghiên cứu và phê bình văn học thì yếu hơn.

- Cộng đồng hải ngoại là một thực thể phức tạp xét về lịch sử, chính trị, văn hóa. So với các cộng đồng di dân khác, như người Nhật, người Tàu, nó còn quá trẻ mà lại mang quá nhiều gánh nặng trên đôi vai mỏng mảnh của mình.

- Tâm trạng tha hương những năm đầu tiên vẫn tiếp tục kéo dài cho đến hiện nay. Đó là một tâm trạng lá lành đùm lá rách, thương yêu lẫn nhau, rất đáng quý. Đã nặng về bao bọc thì nhẹ về phê bình. Đã nặng về tình cảm thì nhẹ về lý trí. Về một mặt nào đó, hãy còn là một cái làng văn học.

- Tiếng Việt ngày càng ít được nói trong cộng đồng người Việt hải ngoại, vì vậy văn học nói chung cũng không thể phát triển mạnh, mặc dù có sự tiếp sức của nhiều đợt di dân.

- Phê bình là một bộ phận của văn học. Sự cắt đứt về học thuật giữa trong nước và hải ngoại là vì các lý do địa lý chính trị. Ngoài ra, nền lý luận phê bình trong nước hiện nay đang gặp khủng hoảng như chúng ta đã đồng ý vừa rồi, vì vậy nó không có khả năng gì trong việc “tiếp sức” cho học thuật hải ngoại.

Tuy nhiên, tôi vẫn hy vọng sẽ chuyển được thông điệp này của anh đến các nhà thơ ở hải ngoại. Theo tôi, đây là một ý kiến thẳng thắn, còn đúng hay sai lại là chuyện khác. Quan tâm trước hết của tôi là: trong phê bình văn học, cần nhất là sự thẳng thắn, chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Đó là điều mà phê bình văn học Việt Nam, hải ngoại cũng như trong nước, theo tôi hiện nay không có nhiều.

Mặt khác, văn học hải ngoại là một bộ phận của văn học Việt Nam, nên tôi cũng sẽ không cố tình so sánh thơ hải ngoại và thơ trong nước, v.v… Khái niệm trong và ngoài hiện nay cũng không rõ ràng, có những người sinh sống trong nước nhưng đăng bài ở hải ngoại nhiều hơn, lại có người sinh sống ở hải ngoại mà đăng bài trong nước nhiều hơn.

Thơ hải ngoại cũng có nhiều loại: thơ ở Mỹ khác thơ ở châu Âu, thơ Đông Âu khác thơ Tây Âu, v.v… Thơ của người thế hệ xưa cũng khác thơ của người viết trẻ.

Có thể anh còn đọc chưa nhiều như anh tưởng, hoặc nếu có thì chỉ tập trung vào một số nhà thơ nào đó, đã lâu rồi, họ viết cũ lắm rồi. Nếu muốn tìm khuôn mặt của thơ ca hải ngoại thì anh nên đọc nó trong khoảng mười năm trở lại đây trên các báo giấy (một số hiện nay đã đình bản) như Hợp lưu, Việt, Tạp chí Thơ ở Cali (tạp chí về thơ đầu tiên của người Việt nói chung), các website nổi tiếng như Talawas, Diễn đàn, Tiền vệ, Da màu, Văn chương Việt, Thư viện sáng tạo, Nguyễn Trọng Tạo, Mai Văn Phấn, Gió o, Ăn mày văn chương, và các blog cá nhân khác.

Tôi không thể nói về một nền thơ trong một câu ngắn, vì thế nào cũng thiếu sót, còn nếu tôi buộc phải nói rất ngắn, và hãy giới hạn trong khoảng mười năm gần đây, thì tôi xin đồng ý phần nào với anh về một điểm và không đồng ý về một điểm.

Đồng ý: nhìn chung, thơ hải ngoại hiện nay có thể chưa hay lắm, thậm chí dở, không hay. Thì cũng như văn học trong cả nước, một bộ phận của cái toàn thể, tấm gương của cái toàn thể.

Không đồng ý: nó mới, chứ không cũ như anh tưởng. Và một bộ phận của văn học trong nước, đặc biệt ở những người viết trẻ, cũng mới như nó hoặc có thể hơn nó.

Tuy nhiên, dù khác nhau hay giống nhau như đã nói, những ý kiến của bạn bè góp ý thẳng thắn, thật lòng, bao giờ cũng cần thiết.

Trần Nhuận Minh:

Tôi chỉ nói ở những tập thơ và thơ ở một số tạp chí mà tình cờ tôi có được, nên ý kiến nhận xét của tôi có thể còn phiến diện. Và như thế, cũng may, vì tôi còn có cái cớ để mà chờ đợi thêm và lại có lý do để mà hy vọng tiếp. Xung lực của xúc cảm và khả năng biểu đạt rộng rãi, phóng khoáng, thậm chí tân kỳ… là cái thế mạnh của các bạn. Tuy nhiên, những cái đó chưa đủ để làm nên thơ hay.

Cảm giác chung của tôi là thơ các bạn còn cũ và rối. Đặc biệt là rối, rất rối. Rối trong tư duy chính trị, với những định kiến, làm cho những câu thơ mất đi cái xanh mát, tự nhiên, như nó cần phải có. Rối trong tư duy nghệ thuật, trong cả cấu tứ và ngôn ngữ thơ. Nhiều bài cho thấy sự trống rỗng và bế tắc. Chính là một nhà thơ – nhà văn, có tầm quan trọng hàng đầu của văn chương hải ngoại, đã chỉ thẳng ra những hạn chế của thơ các bạn, rằng: “Từ đó, ta toàn thơ nhan sắc, thơ rỗng ngực với cái xu chiêng nylon hiệu Wonderbra, thơ tô son bôi mắt, thơ lắp chữ làm dáng, thơ tối nghĩa hơn đêm ba mươi mượn hơi ẩn dụ, thơ đĩ thõa, thơ văng tục… Nói chung, đó là những loại thơ vô hồn và thơ cô hồn, có thời gian nhiều đến nỗi không còn ai muốn đọc (trừ người viết và một dúm thân hữu, dĩ nhiên…). Thơ cứ thế xuống cấp và tạo ra hiện tượng dị ứng thơ là một nguy cơ văn hóa (Nam Dao – dẫn nguyên văn trong Thơ đến từ đâu). Đó là những cảnh báo sáng suốt và chuẩn xác của người trong cuộc, mà tôi có nói, cũng không bằng được.

Tôi nghĩ thanh thoát là cần thiết lắm chứ. Mới mẻ, tân kỳ, cũng vẫn thanh thoát được cơ mà… Tâm lý của người Việt chúng ta thường ưa thích sự thanh thoát, nhẹ nhàng, đôn hậu, nếu các bạn muốn thơ mình có nhiều người đọc.

Tôi có đọc được các trang thơ và truyện ngắn trong một số tạp chí anh đã kể trên. Có một tạp chí mà anh không kể, Văn ở Hoa Kỳ, xuất bản hằng tháng, mỗi số đăng khoảng hơn chục bài thơ. Về thơ văn in sách, tổng cộng cũng khoảng hai hay ba chục tập, trong đó có cả tiểu thuyết 2 tập, 3 tập. Số lượng như thế, không phải là nhiều, nhưng cũng không thể nói là quá ít. Tôi mở rộng lòng để chấp nhận tất cả mọi điều. Vậy mà, tôi không thấy có tập nào hay. Chọn được một bài thơ hay hoặc một truyện ngắn hay cũng khó, tuy nhiên là vẫn có thể chọn được. Và không nhiều. Gây ấn tượng hơn cả thì thường là những truyện trong nước, các bạn in lại. Ở đây, những truyện ấy như được hiện ra trong một ánh sáng mới. Trước đây, một số truyện tự thuật hoặc có tính tự thuật của các bạn làm tôi xúc động. Có truyện đọc xong, tôi bàng hoàng cả người và những điều ấy ám ảnh tôi rất nhiều ngày đêm. Đằng sau những nỗi đau lòng rất đáng được chia sẻ cảm thông, tôi nhận ra một khát vọng trong sáng, hướng tới những giá trị cao cả của con người trong cõi thế gian đầy những bất trắc này. Càng về sau, tôi càng thấy nhiều trang viết mờ đi, hoặc là nhàn nhạt, hoặc chỉ là lạ chứ không còn hay mấy nữa. Bởi gan ruột của các bạn đã nằm ở ngoài chữ rồi. Chữ là cái tâm của người viết mà người ta dễ dàng nhìn thấy bằng mắt thường ở trên giấy hay trên mạng. Cảm giác chung là thế.

Tôi rất ngạc nhiên và vô cùng thất vọng, anh có hiểu vì sao không? Vì tôi đánh giá các bạn cao hơn thế. Vì các bạn vẫn cho là mình không bị vướng mắc, không bị ràng buộc bởi bất cứ cái gì. Các bạn là ông trời của chính mình. Đời sống các bạn lại rất sung sướng, hay ít ra cũng không phải lo “tồn tại hay không tồn tại” trên cơ sở vật chất thông thường. Chỉ riêng các bạn viết trên máy vi tính mà không mất điện, đã là sướng lắm rồi. Ở thành phố của tôi, có tuần, ngày nào cũng mất điện, mà không được báo trước, có ngày mất điện đến ba bốn lần, mỏi mệt và mất hết cả hứng thú. Chưa kể trời thì nóng như nung. Bây giờ, tôi không thể cởi trần, thắp ngọn đèn dầu hỏa mà ngồi viết như những năm 60 của thế kỷ trước. Các bạn lại có nhiều học vấn, ngoại ngữ, đi khắp đó đây, Muốn cái gì cũng được ngay cái gì…. Đấy là điều khác hẳn nhau, chứ không phải “như nhau” như anh nói. Thơ văn trong nước chưa hay, còn có chỗ mà đổ cho khách quan, ai tin hay không tin vào điều đó, thì tùy, chứ các bạn thì không có cái khách quan nào hạn chế mình. Tổ quốc, dân tộc và số phận của con người ở mọi thời đại, mọi quốc gia, là mối quan tâm chung của chúng ta, cũng là vấn đề chung của mọi nền văn học. Đúng không? Vậy mà thơ các bạn rất ít bài hay. Văn cũng thế. Ít nhất là những cái tôi đã đọc. Người có xung lực nội tâm thì quẩn quanh những mặc cảm xưa cũ và nặng nề, không cất mình lên được. Tôi chấp nhận cả cái mặc cảm lịch sử ấy, như một điều khó tránh, nhưng đòi hỏi các bạn phải “cất mình lên được” ở trong văn chương, như ông Solzhenisyn người Nga, hay ông Cao Hành Kiện người Tàu… Nhưng có đâu. Còn số đông thì quẩn quanh với những mối quan tâm mà tôi nghĩ là rất cá nhân vặt vãnh, không xứng với các bạn.

Đã có một trường hợp, theo tôi là “cất mình lên được”, nhưng ở trong hội hoạ. Đó là Nguyễn Đại Giang, người Việt ở Hoa Kỳ, sáng lập một khuynh hướng mới trong hội họa, làm kinh ngạc nhiều họa sĩ hậu hiện đại Tây phương, và đang có ảnh hưởng rộng rãi trên thế giới: khuynh hướng nghệ thuật “đảo ngược” mà báo chí Hoa Kỳ ghi là upsidedownism. Năm 2010, khi chúng tôi thăm Canada, ông đã bay từ Hoa Kỳ sang, dự cuộc tiếp xúc, trò chuyện của chúng tôi với các bạn văn nghệ sĩ và công chúng yêu thơ ở thành phố du lịch Vancouver. Ông lưu lại chơi với chúng tôi mấy ngày, vẽ tặng tôi bức tranh chân dung theo khuynh hướng “ đảo ngược” rất kỳ lạ và độc đáo này. Bức tranh hiện để tại phòng viết của tôi. Ông được chọn là 1 trong 100 họa sĩ nổi tiếng nhất Tây bán cầu thế kỷ XX.

Cái rất “hậu hiện đại” trong nghệ thuật upsidedownism của Nguyễn Đại Giang, theo tôi, đã khởi nguồn từ những câu ca dao rất xa xưa của truyền thống Việt Nam:

Bao giờ cho đến tháng ba

Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng

Hùm nằm cho lợn liếm lông

Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi

Nắm xôi nuốt trẻ lên mười

Con gà chai rượu nuốt người lao đao

Lươn nằm cho chúm bò vào…

Như vậy, vẫn có một con đường nối dài từ các ngã ba ca dao tục ngữ, rụng đầy lá tre của làng quê dân dã Việt Nam, đến những đền đài sang trọng và xa khuất của xứ người, thậm chí của toàn nhân loại, trong sáng tạo nghệ thuật.

Tôi xin nhắc lại một câu nói rất sâu sắc mà bây giờ tôi không còn nhớ là của ai, hình như của nhà thơ Pháp, Alfred de Musset (1818 – 1857) thì phải: “Hãy đập vào trái tim bạn. Thiên tài là ở đấy”.

221. Nguyễn Đức Tùng:

Nhân anh nói, có đọc thơ trên một số tạp chí hải ngoại. Xin anh nói thêm về việc đọc của anh.

Trần Nhuận Minh:

Trong vòng mười năm trở lại đây, như anh nói. Tất nhiên không thể kể dài, làm mất quá nhiều thì giờ của các bạn. Ví như thơ ở Talawas, Gió O, Hợp lưu Người Việt hải ngoại, mà tôi luôn thấy chững chạc, nhiều tìm tòi. Talawas đã đăng nhiều bài thơ khá. Hợp lưu ra hai tháng một số, mỗi số khoảng hai, ba trăm trang, thơ chỉ xen kẽ dăm bảy bài, như vài cái cửa sổ nhỏ thông gió cho một ngôi nhà kín mít hình chữ nhật. Thơ Hợp lưu “nó mới chứ không cũ”, đúng như anh nói, nhưng khô, nhiều bài khô cứng, chỉ còn trơ ra cái ý tưởng, nhiều bài khác như văn xuôi xuống dòng, đã thế lại thường viết dài.

Đây là thơ thế sự:

những chất thải bùn đỏ baza

ngoài những xâm hại môi sinh

còn gây bệnh ác tính

biết có thua gì chất độc da cam

rồi thì những nạn nhân

sẽ sống lắt lay khốn khó

(Hợp lưu số 106, tháng 7 & 8/2009)

Và thơ trữ tình:

thức giấc tôi

nửa phiêu bồng

chiều thắt một búi mây hồng

cổ nghi

(Hợp lưu số 90, tháng 8 & 9/2006)

Cũng phảng phất một chút hơi hướng Bùi Giáng. Tôi rất chú ý hai bài thơ này, trong số nhiều bài tôi lưu tâm khác, nên mới chép trích ra làm ví dụ. Gió O cũng chẳng hay hơn, dù thơ đăng liên tục và rất nhiều. Thơ hay cũng như con gái đẹp, liếc mắt là biết ngay. Tôi chọn trong chùm mới nhất, và cũng theo tôi, thuộc loại khá nhất, mà tôi có nhiều cảm tình. Có câu rất thương, cũng có câu tôi đọc hết bài mà cũng chịu, chả hiểu nhà thơ nói gì:

Bến đất người thiếu mộ

Trời mưa ơi mưa đến Nojamj

Trời nước mắt là mùa ráo lệ

Hỡi mỗi thu điền

Phải là tim chếch vào chiều edenlap

Người đi đâu từ cõi sấm truyền

Mất mắt Liên một Rồng tôi chết

Mùa chiêm bao chim lã với sắc gì

Hỡi nước mắt với cả mùa lá úa

Và từ đâu Remmén lo tos

Một người đắng từ tim

Tim eden ôi thấy Ré

GioO.com 2011

Thơ trên Người Việt hải ngoại (tạp chí xuất bản như sách, tôi đã đọc được hơn chục số), thấy gần gũi hơn, dễ chia sẻ hơn. Trong số các tác giả quen thuộc, tôi rất có cảm tình với thơ Vân Hải, rất giầu nội tâm, gần với truyền thống, thơ Nam Dao, rất giầu chất chiêm nghiệm (ông là một trong những nhà văn trụ cột của văn xuôi hải ngoại), thơ Đỗ Quyên mới mẻ, táo bạo, giầu liên tưởng, nhưng nhiều câu gần với văn xuôi, thơ Nguyễn Đức Tùng mới hơn và cũng tươi trẻ hơn, bút pháp rất tinh, và thơ Lâm Quang Mỹ, nồng ấm, nhẹ ngọt và rất thấm. Số lượng bài hay, có thể chọn thêm được, nhưng tôi muốn bạn đọc thưởng thức hai bài dưới đây, theo tôi là tiêu biểu cho hai bút pháp khác nhau.

Bài Lá cỏ của Lâm Quang Mỹ và bài Thầy tử vi nói với mẹ tôi của Nguyễn Đức Tùng. Cả hai tác giả đều là biên tập viên của tạp chí Người Việt hải ngoại.

LÁ CỎ

LÂM QUANG MỸ

Nhiều khi ta là lá cỏ

Dập dờn xanh mặt nước hồ

Nhiều khi ta là lá cỏ

Nổi chìm bao đợt sóng xô

Nhiều khi ta là lá cỏ

Uống mưa suốt cả đêm dài

Nhiều khi ta là lá cỏ

Khát khô chờ giọt sương mai

Nhiều khi ta là lá cỏ

Đung đưa dưới ngọn gió trời

Nhiều khi ta là lá cỏ

Nát nhàu dưới dấu chân người…

THẦY TỬ VI NÓI VỚI MẸ TÔI

NGUYỄN ĐỨC TÙNG

Cô sẽ gặp một chàng trai mà cô yêu bằng nước mắt
Sau đám cưới, chồng cô sẽ bị bắt

Đừng lo, anh ấy sẽ được thả ra
Sau ba mươi ngày, nhưng phải trốn đi xa

Cô cẩn thận coi chừng nhà cửa
Nhà sẽ cháy ba lần, dựng lại ba lần nữa

Cô sẽ có năm đứa con rất xinh
Đứa đẹp nhất sẽ chết vì chi
ến tranh

Cô sẽ đi qua cánh đồng có nhiều xác chết
Sẽ khóc người thân ba lần nhưng không được cho ai biết

Nếu trên đường cô gặp một lão già áo đen
Đừng sợ hãi, cứ chơi đùa vui vẻ

Với trẻ con hắn chỉ đến nhìn mặt thôi mà
Nhưng cô sẽ gặp lại hắn bên kia sa mạ
c Sahara

Mỗi bài hay một cách khác nhau.

Lâm Quang Mỹ là một nhà thơ người Việt nổi tiếng ở Ba Lan, đồng thời là một nhà dịch thuật có tầm ảnh hưởng, có nhiều hoạt động sôi nổi, anh cũng đi đọc thơ nhiều nơi. Tôi rất yêu cái chất nồng đượm hồn người, thấm thía trong thơ Lâm Quang Mỹ. Lá cỏ là một trong các bài thơ hay của anh.

Thơ Nguyễn Đức Tùng, tôi mới đọc gần đây. Tôi rất thích cái chất tinh tế trong trẻo, mang âm hưởng trí tuệ trong thơ Nguyễn Đức Tùng.

Như bài Thầy tử vi nói với mẹ tôi trên đây, trong chùm thơ chín bài giã biệt Talawas. Theo tôi, đây là một bài thơ hay, nằm trong số ít những bài thơ hay nhất của thơ hải ngoại, và có thể xếp bài thơ này là một trong số những bài hay nhất viết về người mẹ của thơ Việt Nam gần đây, với cách tiếp cận hiện thực rõ ràng là rất mới. Anh có thể tâm sự với bạn đọc về sự ra đời của bài thơ, được chăng? Là hiện thực, hay hư cấu, hay trong giấc mơ? Tôi rất quan tâm đến hình ảnh “lão già áo đen” bí hiểm. Vì sao lại chỉ có thể gặp lại hắn ở “bên kia sa mạc Sahara”?

222. Nguyễn Đức Tùng:

Trước khi mẹ tôi mất, tôi có vài lần về thăm bà. Lúc đầu bà ở trong nhà của chị tôi ở Sài Gòn, về sau các chị tôi bàn bạc đưa bà về quê để gần bà con nội ngoại. Mẹ tôi không có bệnh gì đặc biệt, chỉ yếu dần đi như một cái cây ngày càng hết nước, khô đi, cơ thể từ từ hoạt động chậm lại, mẹ tôi nằm thiêm thiếp trên giường, lúc đầu còn ăn chút cháo, hỏi thì trả lời, về sau thiêm thiếp, chỉ khi bị kích thích mới mở mắt. Dần dần mọi người đều quen với trạng thái ấy, nên người nào đến thăm hoặc đi ngang qua đều chỉ liếc nhìn bà chứ không hỏi han. Một hôm, vào lúc sáng sớm, tôi đi qua giường bà trước khi xuống nhà dưới, bỗng có linh cảm hơi lạ, tôi liền quay lại, bắt gặp ánh mắt đang nhìn tôi, tia mắt sáng tinh anh. Tôi bước lại, lên tiếng hỏi thì mẹ tôi gật đầu, mở to mắt, mấp máy môi. Tôi hỏi nhiều câu nữa, hét lớn bên tai, bà trả lời ngắn, nhỏ nhưng rành rọt. Tôi mừng quá. Trong câu chuyện bà nhắc đến ba tôi, con cháu, căn nhà cũ, như thời còn minh mẫn, nhưng điều làm tôi ngạc nhiên nhất là bà nhắc đến đồi cát Ái Tử, nhắc tên một người cậu ở làng bên, làm nghề thầy bói. Cậu tôi là em họ của mẹ tôi, nhưng lớn hơn bà nhiều tuổi. Sau hôm ấy, tôi lần hồi nhớ ra nhiều chuyện.

Thời nhỏ mỗi năm vào dịp Tết, giêng hai rảnh rỗi, người làng quê tôi thường đi tảo mộ, đi chùa, cờ bạc, cưới hỏi, riêng mẹ tôi có thói quen là dẫn tôi và anh trai tôi đi thăm bà con ở các vùng xa. Thích nhất vẫn là đi thăm người cậu làm nghề bói toán. Con đường đi qua đồi cát dài, trước mặt chùa Ái Tử, rộng mênh mông, ngày nay hình như không còn nữa. Ai cũng biết chiến tranh, loạn lạc làm cho con người và xã hội thay đổi, nhưng tôi ngạc nhiên là cả thiên nhiên cũng thay đổi theo. Đồi cát ở quê tôi xưa rất trắng, có nhiều sim, mùa xuân nở hoa tím biếc bâng khuâng, đường đi qua ba con suối, một cái giếng cổ nước trong vắt, khi nào cũng có cái gàu và lu sành bên cạnh, đi mệt mấy mẹ con lại ngồi nghỉ chân, uống nước giếng. Có hôm đang đi sau lưng mẹ, tôi chạy lên đồi cát một mình nằm ngửa ra nhìn bầu trời xanh đẹp đến nghẹt thở. Lúc ấy, còn nhỏ xíu, tôi đã mơ hồ nghĩ: hạnh phúc của con người không phải tìm đâu xa, chỉ cần nằm ngửa trên cát dịu dàng nhìn con chim chao liệng, miệng ngậm hạt giống trong trời mùa xuân, rồi được ngủ thiếp đi một lúc, và trong giấc mơ của mình, tất cả những thứ ấy của quê hương lần lượt bay qua. Chúng ta đi tìm kiếm hạnh phúc ở đâu xa hơn nữa, thưa anh? Thưa các anh?

Người đi coi bói đầu năm ngồi chật cả nhà cậu tôi, lan cả ra sân. Có lần mẹ tôi kể với tôi rằng cậu đã bói cho mẹ một quẻ tử vi từ hồi còn nhỏ, sau này lớn lên lấy chồng rồi lập gia đình quả nhiên đều thấy đúng lắm. Nhưng có lẽ lúc ấy là thời kỳ hòa bình ở miền Nam, mẹ tôi không bao giờ ngờ rằng có ngày sẽ mất đứa con trai yêu quý của mình trong chiến tranh. Khi nhớ lại những câu chuyện mà mẹ tôi kể, lúc hai mẹ con đi lang thang qua đồi Ái Tử, góp nhặt chúng lại, nhớ khuôn mặt dịu dàng của bà thiếp đi trong giấc ngủ ngàn thu, tôi đã viết bài thơ mà anh nhắc ở trên. Có lẽ hình ảnh cái sa mạc Sahara trong bài thơ bắt đầu từ đó. Lão già áo đen là ai? Là thần chết, là chiến tranh, ly loạn, là bi kịch của dân tộc chúng ta.

Thơ đối với tôi, đó là trách nhiệm của trí nhớ.

Trần Nhuận Minh:

Tôi cũng đoán ra cái “lão già áo đen” rất bí hiểm kia là Thần Chết. Nhưng sa mạc Sahara thì tôi chịu, không hình dung ra nó là đồi cát Ái Tử ở quê anh. Như vậy, bài thơ đã được ra đời từ ký ức. Câu chuyện của anh làm tôi nhớ đến lần xem bói duy nhất trong đời tôi, năm 1963, tôi 19 tuổi, dạy học ở xã Yên Thọ, Đông Triều. Có người nói nhỏ với tôi rằng, có ông già mù người làng Quế Lạt, xã bên, xem bói rất hay. Tôi đến nhà ông trong đêm, giấu không cho ai biết, vì điều đó, vào lúc ấy, có thể gây cho tôi sự phiền toái. Ông già mù cầm tay tôi và hỏi ngày sinh tháng đẻ rồi phán ba điều, một là về sự nghiệp văn chương, hai là về vợ con. Hai điều này, tôi không nói ra đây. Còn điều thứ ba là tôi sẽ bị học trò phản, không có cách nào tránh được, vì những đứa học trò này đều muốn vượt thầy, nhưng chúng cho rằng không bao giờ chúng vượt qua được.

Tất nhiên tôi hiểu, số đó là rất ít. Nhưng trong trường hợp trò mà phản thầy, thì dù chỉ có một người thôi, cũng không phải là ít vậy.

Điều ấy thi thoảng lại ám ảnh tôi, nên mở đầu một bài giảng, tôi thường nói: các bạn hãy tiếp thu những gì cốt yếu nhất mà tôi truyền đạt, với toàn vẹn cõi lòng, bởi sau đó, ruột gan tôi trống rỗng, không còn gì giữ lại. Nhưng các bạn phải vượt tôi, vượt càng xa càng hay. Bởi tôi chưa là cái gì cả, hơn nữa, nếu các bạn giống tôi, thì người ta chỉ cần tôi mà không cần các bạn nữa. Các bạn hãy giành lấy cái của mình. Nó là cái gì, ở đâu? Ấy là cái nỗi buồn của đất đai trong sắc mây mùa thu bay lảng vảng ở bên trời kia, hay là cái nỗi vui của vầng mặt trời trong cơn mưa mùa hạ ào ào trút xuống đám cây lá bên đường làng, mà chả mấy khi ta nghĩ đến chúng. Nghĩa là tất cả đều ở trên đầu tôi. Nếu bạn cho tay vào cuộc đời tôi mà khoắng, sẽ không có cái gì của các bạn cả, trừ lòng tốt.

Vì thế, các bạn không nên tranh hơn thua với tôi, cũng không nên tranh hay dở với các đồng nghiệp của mình. Các bạn hãy tranh với Tự nhiên, với ông Trời, vì làm văn chương nghệ thuật là sáng tạo, mà chữ “sáng tạo” ban đầu được sử dụng để chỉ hành động của Đức Chúa Trời đã sinh ra thế gian…

223. Nguyễn Đức Tùng:

Ngay cả những lời tâm sự đó cũng đậm chất thế sự. Bây giờ thì tôi nghĩ: ngay cả tâm sự, nếu không có chất thế sự, cũng không phải là của Trần Nhuận Minh.

Trần Nhuận Minh:

Tôi hiểu đó là một câu nói đùa vui, nhưng rất chân tình.

Thời thơ ấu của chúng ta, khi thì thật buồn, lúc lại thật vui, nhưng bao giờ cũng đẹp. Tôi cũng có những bài thơ như anh, nói về cái thời ấy mà không phải chỉ là nhắc kỷ niệm. Có những điều sâu xa hơn đằng sau những kỷ niệm ấy, hoặc như anh nói, đó là “trách nhiệm của trí nhớ”.

Tuổi thơ

Tôi ở nhà ngoại

Cậu tôi bế vẹo xương sườn

À ơi con cò con vạc…

Tôi lê la vày đất, nghịch cát

Chơi một mình, ngủ một mình

Mẹ tôi vào phường cấy thuê

Với câu hát buồn tứ xứ

Gặp cha là lại cãi nhau

Tôi không hiểu vì đâu

Đứng khóc một mình không ai dỗ…

224. Nguyễn Đức Tùng:

Đoạn thơ này cảm động, kể chuyện mà vẫn rất trữ tình, dùng lời của trẻ nhỏ mà vẫn người lớn. Theo anh, nghề làm thơ có học được không?

Trần Nhuận Minh:

Thơ là một nghề. Và đã là một nghề thì như mọi nghề, đều học được và cần phải học. Học cái gì? Có rất nhiều cái phải học: học các xu hướng, các đặc trưng nghệ thuật và các cách thao tác để tạo dựng một bài thơ, từ cấu tứ, ngôn ngữ, nhịp điệu, hình tượng…, cả cách viết, cách sửa chữa, chữa câu chữ, chữa kết cấu…, ngay chỉ một dấu phảy ( , ) cách ngắt nhịp hay xuống dòng, có khi cũng biến đổi ý nghĩa của cả bài thơ… Rồi học cách nâng cao chất lượng về nội dung và hình thức một bài thơ, một tập thơ… mà thành tựu của các nhà thơ lớp trước, trong đó có các tài năng lớn, các bậc thầy của cả nền thơ, đã chỉ ra… Mỗi bài mỗi khác, mỗi tập mỗi khác, mỗi nhà thơ mỗi khác, mỗi thời kỳ mỗi khác, mỗi quốc gia mỗi khác... Học được chừng nào hay chừng ấy. Anh có thấy một điều là, hàng trăm năm nay, người ta bàn về thơ đã nhiều, có nhiều tập sách đã thành kinh điển, trong đó có những tài năng rất lớn, trí tuệ rất cao sâu của cả nhân loại mà phải vài thế kỷ mới có một người… Cứ tưởng đến thế là xong, ai ngờ không phải. Tất cả mới bắt đầu. Và người ta lại phải bàn tiếp. Thơ vẫn là một cái gì bí ẩn, thăm thẳm xanh trước mặt như biển cả, tầng tầng lớp lớp mênh mông như rừng đại ngàn. Ca dao ta có câu:

Vào rừng không biết lối ra

Thấy cây lúc lác ngỡ là vàng tâm

Anh và tôi đã vào rừng rồi, đang tìm lối ra, hy vọng phân biệt được cây “vàng tâm” và cây “lúc lác” đã là may lắm. Vì thế, nếu ai nói rằng, nghề thơ không cần phải học, họ đã hiểu hết mọi điều về thơ rồi, trên thông thiên văn của thơ, dưới tường địa lý của thơ, thì tôi tin đó là một kẻ dối trá, không biết xấu hổ.

Vậy thì học để hiểu “36 chước” của người, để anh tạo ra cái chước thứ 37 cho nghệ thuật của anh, cái mà chỉ anh mới có khả năng mang đến, trước anh không có ai, và sau anh, người ta phải tránh ra, phải rẽ ra, để chọn một chước khác cho sự hiện diện của mình.

Nhưng tài năng trong sáng tạo nghệ thuật thì không học được. Đấy là chỗ văn chương nghệ thuật khác với các bộ môn khác như khoa học tự nhiên chẳng hạn. Tài năng trong nghệ thuật thi ca cũng như các loại hình nghệ thuật khác, là một cái gì đó vừa rõ ràng, vừa bí ẩn ở trong anh, của riêng anh, được anh đánh thức và nuôi lớn dần thành một lực lượng, anh buộc nó lẵng nhẵng theo anh đi đến tận cùng, đến chỗ buộc phải chói sáng, buộc phải kêu thét lên, hoặc buộc phải tự phun trào như một ngọn núi lửa, làm sáng một góc trời, nếu anh thực sự là một tác giả lớn. Còn đạt được cái kỳ diệu, thì trong mênh mông của mảnh đất tài năng, dứt khoát phải rơi xuống đâu đó một giọt nước hư huyền và mong manh của Thượng đế.

225. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi tưởng là anh không tin vào Thượng đế?

Trần Nhuận Minh:

Mọi sự tồn tại ở trên đời, đều không bao giờ hoàn hảo, cũng không bao giờ có cái gì “vạn tuế”. Tất cả đều đang tự chuyển động và tự hoàn chỉnh, mà không bao giờ có chỗ tận cùng. Trong Bản Xônát hoang dã, tôi có viết:

Tất cả đều đang sinh nở và chuyển dịch

Đá đang biến mình thành đất

Đất đang biến mình thành cây

Cây đang biến mình thành khí trời

Vì thế mới có sự sống, tức là cái tiến hóa, cái phát triển. Thượng đế chống lại sự tiến hóa, chống lại sự phát triển, vì ông ta Sáng tạo một lần xong sông núi, xong cả thế gian, xong cả cõi người… Và cứ thế ổn định mãi. Vĩnh viễn. Tất nhiên là ông ấy tưởng thế. Cho nên ông ấy mới “muôn năm”. Theo Feuerbach, Marx, Nietzsche, Freud và Darwin, thì Thượng đế đã chết rồi. Tôi cũng nghĩ như vậy.

Nhưng như tôi đã nói ở trên, ở đời vẫn có cái gì đó mình không sao hiểu được, thì mình cứ gọi béng cái đó là Thượng đế cho xong, chả phải băn khoăn gì. Cũng chẳng ai bắt bẻ được. Cũng như chính phủ và đàn bà, đối với tôi cũng là Thượng đế, vì tôi chả hiểu họ ra làm sao… Đôi khi nói gì, họ cũng chả nghe, còn họ có hiểu hay không thì mình cũng chả biết…Ấy là nói chung thế, không có ý ám chỉ thời nào hay quốc gia nào.

Tôi đọc anh nghe đoạn thơ bốn câu:

Chẳng ai lắng nghe, dù ai cũng biết

Tiếng nói của Dân là tiếng nói của Ông Trời

Quyền lực vào nhà. Chân lý ra ngoài cửa

Một đời mình chỉ nói với mình thôi…

226. Nguyễn Đức Tùng:

Anh nói rất vui. Nhưng ngẫm ra cũng có cái lý của nó. Nhưng hình như anh không thích phụ nữ?

Trần Nhuận Minh:

Cũng là “cái lý của người Mèo” như câu nói trong dân gian thôi… Trong bài thơ Tiếng vĩ cầm mùa thu, viết ở Canada mà tôi đã đọc cho anh nghe, có câu đề từ:

Mọi ngón đàn tài hoa

Âm thanh đều phải ký hợp đồng với quỷ…

Quỷ ở đây cũng là Thượng đế đấy.

Tôi ví đàn bà với Thượng đế là rất tôn trọng, thậm chí rất “kính cẩn” họ. Vai trò của họ trong gia đình quan trọng vô cùng. Các cụ xưa dạy: một thầy giáo dốt thì làm hỏng một thế hệ. Còn một người vợ hư thì làm hỏng cả ba đời. Cho nên “phúc đức mới tại mẫu” (mẹ). Trong mỗi gia đình hạnh phúc, bao giờ ở đó cũng phải có ít nhất là một người đàn bà tử tế.

Tài sản quý nhất của người phụ nữ mang về nhà chồng là sự dịu dàng, sức mạnh vô song của người đàn bà cũng là sự dịu dàng, nhưng thông thường thì họ không tự biết điều ấy. Sự dịu dàng của người vợ làm chồng không nỡ có nhân tình. Đối với trẻ con, nó chỉ thực sự mồ côi khi mẹ mất. Tục ngữ ta có câu: Mồ côi cha ăn cơm với cá / Mồ côi mẹ liếm lá ngoài chợ đó thôi.

Chưa kể trong chính trị, nhiều nhà lãnh đạo quốc gia kiệt xuất; trong văn chương, nhiều văn hào thi hào là đàn bà, làm vẻ vang cho nền văn hóa của cả nhân loại.

Tôi lại nghĩ: hạnh phúc của mỗi cá nhân ta, có khi không phải là số phận, mà chỉ đơn giản là sự lựa chọn, nhất là với các bạn trai. Bởi bạn hoàn toàn có thể “bỏ” người bạn gái này mà tìm đến với cô bạn gái kia. Và cái cô bạn “trời cho” ấy, sẽ có thể tạo ra thăng hay trầm cho cả cuộc đời bạn. Tục ngữ có câu: giầu vì bạn, sang vì vợ. Anh nghĩ xem, câu ấy nếu bị đảo ngược, thì với bất cứ kẻ “hảo hán” “mày râu” nào, cũng là sự bẽ bàng…

Trở lại với vấn đề học nghề.

Tôi rất nhớ câu nói ngược lại, của ông Nicolas Boileau (1636 – 1711), nhà văn Pháp, hình như trong Nghệ thuật thi ca (1674) thì phải: “Thơ không phải là một nghề. Thơ vọt lên từ số phận”. Ông ấy nói cũng đúng đấy. Đó là nghề khi đã qua sự học, đã ở giai đoạn thăng hoa, ở chặng thứ hai mà tôi đã nói ở trên. Nghĩa là tài năng đã đạt đến độ “kỳ diệu” rồi. Nhưng sự học nghề của thơ khác hẳn với lối học trong trường ốc. Ở đây, cần sự thẩm thấu các tầng văn hoá, các giá trị văn chương nghệ thuật, của dân tộc anh và của cả nhân loại, qua cái tâm thức giầu năng lực tiếp nhận của anh. Nó cũng phải tự nhiên nhi nhiên, như khi tâm hồn ta hòa nhập vào cây cỏ, để hiểu ra được cái huyền bí muôn thuở của đất trời. Cho nên, việc học ở đây là việc của một đời người, suốt một đời người, không lúc nào ngưng nghỉ. Học trường ốc là cần thiết, có tính cơ sở, nhưng học quá kỹ, rất dễ hình thành những công thức xơ cứng, câu nệ, sẽ hạn chế sáng tạo, vì đứng trước trang giấy hay bàn phím của anh, bao giờ cũng có những trái núi sừng sững, dễ khiến anh nép vào trong cái bóng âm u của nó. Đó chính là các Ông Thầy. Cho nên, theo sự chiêm nghiệm của tôi, những nhà sáng tạo vĩ đại nhất đều học ở nhà trường “vừa vừa” thôi. Chủ yếu là học ở ngoài đời. Hình như vì thế, họ mới có gan bay qua các đỉnh núi…

227. Nguyễn Đức Tùng:

Như thế, thiên tài có thể không cần qua trường lớp; nhưng ngoài những ngoại lệ đó ra, việc học tập, rèn luyện là quan trọng, thậm chí quyết định đối với tài năng trong khoa học cũng như nghệ thuật. Riêng trong văn chương, tôi tin rằng việc mở các lớp dạy văn như trường Viết văn Nguyễn Du ở Hà Nội trước đây là cần thiết. Ở Canada và Mỹ, các trường như thế cũng có sớm và nhiều, tồn tại như các phân khoa MFA- creative writing, của trường đại học, do các nhà văn nổi tiếng phụ trách.

Trần Nhuận Minh:

Tôi e là ở chỗ này, anh lại có chút nhầm lẫn đấy. Ở Việt Nam, cũng có nhiều nhà văn, thậm chí nhiều nhà thơ có danh hẳn hoi làm hiệu trưởng, hiệu phó, hay trưởng các khoa văn nhiều trường đại học, kể cả trường đại học văn hoá. Nhưng ở đấy chỉ xem văn chương là đối tượng nghiên cứu khoa học, chứ hoàn toàn không dạy gì, học gì liên quan đến sáng tác với tư cách là một nghề. Những cuộc tọa đàm về sáng tác, nếu có, chỉ được xem là một thứ ngoại khóa, nhằm làm rõ hoặc bổ sung cho chương trình. Trường Viết văn Nguyễn Du và trường Quảng Bá trước đây, là trường dạy chuyên về sáng tác, vì thế về mặt nội dung, nó rất khác với khoa văn các trường đại học mà anh đã biết.

Theo tôi biết, trên thế giới, chỉ có Việt Nam và Liên Xô trước đây, là có loại trường này. Ở Liên Xô là trường Viết văn Gorky mà Trần Đăng Khoa được cử sang học khóa 5 năm, thêm một năm chuyên tiếng Nga, trước khi chính thức vào học là 6 năm. Tôi đi học trường Quảng Bá liên tục 9 tháng

228. Nguyễn Đức Tùng:

Anh từng là học sinh trường viết văn, cũng từng là sinh viên khoa Văn trường đại học Tổng hợp Hà Nội. Nhân bàn về trường Viết văn Nguyễn Du, anh nghĩ sao về việc dạy và học viết văn, và rộng hơn nữa là việc đào tạo nhân tài trong các lãnh vực khác?

Trần Nhuận Minh:

Về việc học để trở thành nhà văn, tôi nghĩ chả có ví dụ nào hay hơn là một nhà văn rất lớn đã dạy con mình thành một nhà văn trẻ rất xuất sắc. Đó là lời dạy con của nhà thơ cộng sản Chế Lan Viên mà nhà văn Phan Thị Vàng Anh ghi lại trong bài Cha tôi, in ở cuối tập sách Chế Lan Viên, người trồng hoa trên đá, của Hà Minh Đức, Nhà xuất bản Văn học, 2010: “Phải học, học không phải để vui, mà để không ai giết được mình”.

Tôi chưa thấy ai dạy con sâu sắc đến kỳ cùng như thế.

Ngẫm kỹ mới thấy ông nói đúng, dù điều đó thật đáng sợ.

Còn suy rộng ra nữa ư? Xin thưa: chắc anh vẫn nhớ câu: Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế, các bậc đế vương thánh minh, không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia, làm công việc cần thiết.

Câu nói bất hủ trên của phó Tao đàn nguyên suý Thân Nhân Trung được khắc vào bia đá Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long năm 1484, năm đầu tiên vua Lê Thánh Tông cho dựng bia tiến sĩ. Câu nói ấy trong văn bia, Thân Nhân Trung soạn cho khoa thi năm 1442, rất đáng cho chúng ta suy ngẫm. Phải “coi trọng việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ”, rồi, trên cơ sở ấy, mới “vun trồng nguyên khí quốc gia”. Và đến khi trở thành nguyên khí quốc gia thì mới là hiền tài. Do đó, có cơ sở để ta nghĩ đến hai cấp độ: nhân tài để phục vụ chế độ, hiền tài để phục vụ quốc gia. Như vậy, chế độ (như triều đình nhà Lê) và quốc gia (nước Đại Việt) là hai khái niệm rất gần nhau, nhưng không phải là một. Hiền tài là kẻ sĩ đã được kén chọn, đã được vun trồng, tức là các sĩ phu, như ta nói bây giờ là trí thức. Chợt nhớ câu nói rất nổi tiếng của lãnh tụ một nước có nền văn hiến rạng rỡ vào bậc nhất thế giới là ông Mao Trạch Đông. Ông bảo: “Trí thức là cục cứt!”

Trở lại với điều đang bàn. Theo tôi, ta đã làm rất tốt cấp độ thứ nhất, và điều đó là cần thiết. “Chủ nghĩa lý lịch”, bằng chứng của tư duy công cụ, vẫn còn là một ám ảnh rất nặng nề, dù không một ai danh chính ngôn thuận xác nhận là nó vẫn còn đang hiện hữu. Lý lịch là cái nhìn của chế độ, trong việc đào tạo con người với tư cách là một công cụ, chứ không phải là cái nhìn của quốc gia, đối với một hiền tài hay trong việc chọn lựa và đào tạo các hiền tài. Tất nhiên, xét lý lịch cũng là cần thiết, nhưng là cái cần thiết của tư duy công cụ, cho một thời kỳ. Nó là cái ở bên trong, dường như không thay đổi, như một nguyên tắc. Dù công cuộc đổi mới đã tiến hành ở bên ngoài rất thành công 25 năm nay rồi.

Tôi được nghe thuật lại một cuộc xét duyệt để đào tạo nhân tài. Cần chọn bốn người, danh sách đưa lên là bảy. Hai người giỏi nhất bị loại ngay trước khi xét chính thức, vì một người có anh ruột vượt biên và một người kia, có bố là địa chủ lại thêm một tí cường hào, dù sau 17 năm xuống thành phần, anh này là con út, mới được sinh ra. Như vậy, tính công cụ phục vụ chế độ đã được coi là yếu tố tiên quyết để chọn người. Một vị rất tốt, nổi tiếng là cấp tiến, cũng nổi tiếng là tích cực chống bảo thủ, vậy mà ông đã nói thẳng ra rằng: chúng ta thiếu gì người mà phải đào tạo hai thằng này. Cuối cùng chọn bốn, đều yếu kém hơn, nhưng được cái là con cán bộ chủ chốt đương chức cả, “đáng tin cậy” hơn. Với cách chọn người “tài” như thế, rồi thả họ vào đời sống quan trường, trao cho họ quyền lực, sự thoái hóa và chủ nghĩa cơ hội tất yếu sẽ nảy sinh và được chính chúng ta nuôi dưỡng cho nó phát triển, mặc dù về ý thức, chúng ta chống lại nó. Ấy là chưa kể điều quan trọng hơn: với tài và trí như thế, họ sẽ đưa đất nước ta đến đâu và nguy cơ ngày càng tụt hậu rõ ràng là đã được báo trước. Tất nhiên, trong số con cháu cán bộ đương chức hoặc có công, cũng có nhiều người thực sự tài giỏi, nhưng số đó không nhiều và chúng ta không nên chỉ nghĩ đến họ, không nên chỉ chọn họ. Tôi nghĩ ai cũng biết điều đó, nhưng không ai thực lòng muốn sửa cả, vì người sửa là người đang cầm quyền, luôn e rằng, nếu làm thế, con cháu mình, rồi bản thân mình, có thể sẽ sớm bị thải loại. Ở đây, cần một bước đột phá, một cuộc cách mạng, vì lợi ích của quốc gia.

Cụ Hồ xưa, từ năm 1946, khi nước nhà vừa mới độc lập, đã gửi thư cho học sinh nhân ngày khai giảng, mong các thế hệ trẻ gắng công học tập để đưa dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh quang”, “sánh vai với các cường quốc năm châu”, tức là Cụ nghĩ đến hiền tài. Một trường hợp như Ngô Bảo Châu, tôi nghĩ là hiền tài, vì ở lĩnh vực của mình, ông đã làm cho Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu”, vì đã thành công chứng minh Bổ đề cơ bản, cống hiến tuyệt vời cho nền toán học thế giới. Ngô Bảo Châu là người Việt Nam nhưng được đào tạo ở nước ngoài. Hiện cùng với quốc tịch Việt Nam, ông mang quốc tịch Pháp và làm việc tại Hoa Kỳ. Và như vậy, nền giáo dục tiên tiến nước ngoài mới giúp ta đào tạo được hiền tài, tức là nhân tài “đã được vun trồng” ở cấp độ thứ hai, tạo hiền tài từ nhân tài, vì họ chỉ lấy cái đẳng cấp của tài năng làm chuẩn, không quan tâm đến lý lịch hay màu da. Họ lấy tổ quốc và nhân loại làm cái đích để các hiền tài vươn tới, chứ không phải vì một chế độ hay vì những cái ghế quan chức của các vị cầm quyền. Tôi nghĩ: chính Cụ Hồ đã nghĩ như vậy, đã đặt ra vấn đề như vậy, khi nước Việt Nam mới vừa được thành lập.

Những điều ấy, chả lẽ không đáng để cho chúng ta suy ngẫm hay sao? Tôi có câu thơ:

Tập thể là lá chắn

Quay phía nào cũng thấy gương mặt cũ…

Chỉ cần đoàn kết. Chẳng cần tài năng

Cây cỏ thu mình trong hàng rào danh dự…

Bông hoa không thể nở ở ngoài tường…

Lịch sử hưng phế của mọi quốc gia đều chỉ ra rằng: dù chiến thắng bằng quân sự hay bằng chính trị mà văn hóa suy đồi, kẻ sĩ thấp hèn, hoặc quay lưng lại, thì quốc gia vẫn bị tiêu vong. Nhà vua khi bàn việc nước mà trong triều ngoài trấn không thấy có ai giỏi hơn mình, không thấy có ai dám nói khác mình, để mình xem xét và điều chỉnh, là điềm nước sắp mất. Cho nên, nước mất là tại quan trên và nước loạn cũng thường là từ trên xuống.


(*) Giải thưởng Đặc biệt của tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam, nhân 75 năm ngày Truyền thống Công nhân mỏ (13/11/1936 – 13/11/2011) – BT.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 16.11.2013.