Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





HÒN ĐẢO PHÍA CHÂN TRỜI




PHẦN THỨ NHẤT
NGÔI NHÀ BÊN CỬA SÔNG



Biển bạc của ta do dân ta làm chủ


HỒ CHÍ MINH



THAY LỜI GIỚI THIỆU


Hòn đảo phía chân trời thực chất là tiểu thuyết, gồm hai phần, có hai bối cảnh khác nhau, thông qua một gia đình làm nghề cá trên sông Bạch Đằng. Nhân vật trung tâm là Nhụ, con thứ ba của gia đình.

Thằng Nhụ, mà ông Trương Sần gọi là cu Cõn, không ngờ rằng, một phần cuộc đời nó lại gắn bó mật thiết với ông, một người có cuộc sống lạ lùng, làm cái nghề lạ lùng. Ông không gia đình, không vợ con, chuyên bắt rắn độc, nuôi rắn độc, và chạy chữa cho người bị rắn độc cắn. Cũng chính ông, có giọng hò đến say lòng người, từ hồi còn chèo đò trên sông Bạch Đằng. Có thể nói Trương Sần là nhân vật chính, nhìn ở góc độ khác. Giả sử tiểu thuyết Hòn đảo phía chân trời, thiếu nhân vật này, chưa chắc cuốn sách đã đứng được. Càng về cuối tác phẩm, vai trò ông Trương Sần càng quan trọng. Ngòi bút Trần Nhuận Minh dữ quá một chút nữa, ông Trương Sần sẽ biến thành phù thủy. Nhưng thật may, điều đó đã không xảy ra.

Trong Phần Một: Ngôi nhà bên cửa sông, tác giả mô tả ngôi nhà của Nhụ nằm sát mép nước, mỗi lần tàu chạy qua, sóng sông Bạch Đằng lập tức dào lên, vỗ oàm oạp vào bậc đá dưới thềm nhà. Vấn đề mà phần đầu sách khơi mở, chính từ ngôi nhà đó, bắt nguồn từ người ông. Nhà Nhụ có bốn chị em. Chị Chim sau đổi thành Chiêm, anh Thu, bộ đội hải quân, Nhụ và thằng Đé 5 tuổi. Thằng Đé thường ngủ muộn, bật dậy là bám vào chấn song cửa sổ, vén quần đái vo vo ra sông. Nó có biết gì đâu. Nhụ thì biết. Nhụ biết trong tâm trí ông nó, đang giằng co, về việc đi hay ở, đi là đến làng mới trên đảo xa. Việc hệ trọng đến vậy, ông cũng chỉ nói với Nhụ, kèm một chi tiết khá độc đáo, khiến Nhụ cứ ớ ra. Ông hay ngồi uống rượu trên tấm phản, nguyên là cỗ áo quan, ông tự chuẩn bị cho mình. Ông bảo Nhụ: Nhà ta từ đời thượng cổ đến giờ, chưa ai khuất sóng mà lại được chôn trong một cỗ áo quan. Có lẽ ông là người đầu tiên đây... Khi chết, không bị thả xác xuống biển ... mà được chôn trên đất liền, là điều đặc biệt thiêng liêng đối với người dân chài. Ông bám chắc vào cỗ áo quan dành cho mình, là có ý ngầm phản đối việc con trai ông, đang đi tìm miền đất mới trên biển khơi. Hình ảnh bố mẹ Nhụ ở phần đầu sách, chỉ thấp thoáng, đây là sự sắp đặt có chủ ý. Trong điện ảnh, người ta gọi đó là thủ pháp mờ chồng, không chủ yếu, song không thể bỏ qua. Người đọc dễ dàng nhận thấy, tác giả có chút rộng rãi với nhân vật, đôi khi thả lỏng, cho nhân vật hoạt động ngoài tầm kiểm soát của ngòi bút, làm cho một số chương buộc phải nới lỏng dung lượng.

Sang Phần Hai: Làng mới trên đảo biển, tiểu thuyết chặt chẽ hơn, đẩy các nhân vật vào hoạt động đa tuyến. Từ bối cảnh một làng đảo mới hình thành, ở địa danh lạ lẫm là Mõm Cá Sấu, cùng nhiều chi tiết, để lại nhiều dấu ấn.

Nhụ đã theo bố chuyển ra làng đảo. Ở làng biển, Nhụ có thêm mấy người bạn: Đức, Ngạnh. Mỗi người bạn của Nhụ, có một cảnh đời khác nhau. Đức, con nhà khá giả hơn, phải đeo kính, hai mắt cách xa nhau. Đức biết thương người, còn thương cả con chó Róc, bị cáy cắp chảy máu mũi...

Ngạnh thì khác. Ngạnh là thằng bé già trước tuổi. Vì nó sớm phải đối mặt với một cuộc đời buồn. Và càng buồn hơn, mười ba tuổi đầu, Ngạnh chưa hề biết chữ... Cần nói ngay rằng, ngòi bút Trần Nhuận Minh dễ làm xiêu lòng người đọc, ở các trang thể hiện tâm trạng. So với hai bạn, Nhụ có vẻ hiểu biết hơn. Cả ba đứa đều kết thân với chú Thuận, chiến sĩ bộ đội biên phòng, đóng trên đảo. Chú Thuận đã dạy Ngạnh biết đọc biết viết. Mõm Cá Sấu chỉ là một hòn đảo cù lao khô cằn, hoang vu, khi có con người đến sinh cơ lập nghiệp, sự sống mới bừng lên. Hãy nghe ba đứa trẻ đang đi trên mép sóng, bỗng reo to: Chúng ta phải đi báo với chú Thuận. Ngọc trai trước biến đi, bây giờ ngọc trai lại về...

Tháng sau, chú Thuận rời quân hàm xanh về làm Chủ tịch lâm thời xã đảo. Nhà văn phòng Ủy ban rất sơ sài, nổi bật lên trên hết là ngọn quốc kỳ. Hai lần Trần Nhuận Minh viết về lá cờ, cả hai đều hay: Lá cờ đỏ sao vàng động gió, bay như hát trên bầu trời . Và lần khác: Cờ đỏ sao vàng, chủ quyền của đất nước đối với hòn đảo, bay như một đốm lửa, lấp loáng cháy ở lưng trời... Các chi tiết này rất quan trọng, vì nó minh chứng cho việc hình thành thể chế của chính quyền nhân dân Việt Nam, được thiết lập trên hòn đảo rất xa đất liền.

Mọi việc đang được xúc tiến trôi chảy. Các đội tàu cá, dưới sự chỉ huy của bố Nhụ, một tướng cá, với các chuyến đánh bắt ở khơi xa, thì xã đảo xảy ra một chuyện buồn. Một đêm giông, tàu chở Chủ tịch xã vào đất liền, va vào cồn đá, gẫy bánh lái...Cả xã đảo buồn. Nhụ và hai thằng bạn là buồn nhất. Chúng nó truyền tin cho nhau: Đồn biên phòng đang xin trực thăng đi tìm xác chú ... Ở đây, tác giả đã nói một điều rất hợp lôgic cuộc sống: Thành công nào mà chả có mất mát hi sinh.

Người đọc lại chú ý một nhân vật phụ: Ông Quang. Ông già bán kẹo kéo ở cạnh cây lim Giếng Rừng (đầu tác phẩm), không ai ngờ lại chính là bố chú Thuận. Chú Thuận, đứa con duy nhất, chỗ dựa duy nhất của ông, không còn. Ông ra đảo, rồi tình nguyện ở lại đảo, nơi con trai ông đã hi sinh. Rồi ông Nhụ cũng ra đảo ở với con, với cháu. Ông đem theo cả cỗ hậu sự. Chi tiết này thật đắt. Cũng vẫn con người ấy, sự việc ấy, song tác giả hướng cái nhìn vào một quan niệm mới.

Cuối cùng là ông Trương Sần cũng ra đảo, sống vui cùng mấy bạn già. Cảm giác như cứ trang viết nào trong cuốn sách, có ông Trương Sần, là trang ấy sinh động hẳn lên. Bởi nhân vật này quy tụ được bọn trẻ. Ông Trương Sần hấp dẫn tụi trẻ ở nhiều lẽ. Câu chuyện bố con ông Trương Sần, vật lộn với con rắn hổ mang to đại, thì cả khu Giếng Rừng, người lớn, trẻ con, đều biết. Từ trong lòng, bọn trẻ rất cảm phục. Bằng những kinh nghiệm sống khổ đau, mất mát, cùng chút niềm vui hiếm hoi, ông truyền dạy cho lũ trẻ cái nhân ái của con người. Ở đây, bất chợt ta gặp một Trần Nhuận Minh – nhà thơ, tác giả tập thơ Nhà thơ và hoa cỏ, nâng hình tượng Nhân nghĩa và Tự do, lên thành chủ thể của tác phẩm.

Trong tập sách này, Trần Nhuận Minh có những trang viết hay và cảm động, về nhiều mặt của cuộc sống, như: gà đẻ trứng, ông lão chèo đò chống đỡ với con rắn hổ mang..., các trang viết về những câu hò sông nước, về phong tục tập quán, kinh nghiệm người đi biển, về nghề biển v.v... cả những câu thơ, câu hò trong tập sách, người viết dụng công đưa vào, dù rằng, đó là câu hò dân gian hay thơ của Trần Nhuận Minh, cũng đều đáng khích lệ, bởi lời hay, hợp với khung cảnh. Song, về phần thơ, bạn đọc muốn tác giả cân nhắc thêm. Dùng thơ để thể hiện cao trào của tiểu thuyết, xưa nay chưa có ai làm, mà phải bạo tay và vững nghề mới dám làm. Bài thơ đứng một mình Chương kết không đánh số là bài khá, khiến các bạn nhỏ tuổi phải suy nghĩ nhiều, cũng chấp nhận được. Sách có nhiều chương viết sinh động, chứng tỏ tác giả có vốn sống phong phú về nghề biển và người dân chài.

Tạo dựng đời sống hiện thực trong một tác phẩm văn chương về một làng đảo, đâu có dễ. Đây là một thành công trong truyện viết cho thiếu nhi.

PHAN THANH

( VĂN NGHÊ số 22 ngày 2/6/2001)


Chương I

Tiếng lịch kịch ở ngoài cửa làm Nhụ thoát ra khỏi tình trạng mê mệt của giấc ngủ. Trong cõi hỗn mang những cảm biết lúc nửa tỉnh nửa mê, Nhụ thấy một cái gì to lớn, xốp nhẹ bồng bềnh trôi đi giữa nhà, trong ánh sáng hồng hào và nhuếnh nhoáng như nước. Có lẽ là lưới. Lưới chuyển đi đâu? Bây giờ là mấy giờ?... Những ý nghĩ đứt đoạn thoáng hiện lên rồi mất đi rất nhanh trong trí óc còn rất mung lung của Nhụ. Rồi tất cả bỗng chìm ắng xuống. Và từ khoảng không vô tận, mờ ảo như sương mù, đột ngột hiện lên một cái bóng lực lưỡng, chắc nịch, lòa lòa ngọn đuốc trên tay. Không phải đuốc. Mà là đèn. Ngọn đèn trên bàn học của mình. Từ một nơi nào trong tâm trí Nhụ, vẳng lên câu nói đó.

- Thôi, cứ để cho nó ngủ.

Tiếng của cái bóng chắc nịch. "Bố mình. Đúng là bố mình. Nhưng sao bố mình lại bồng lên thế. Lạ nhỉ?" Nhụ muốn mở hẳn mắt ra để nhìn xem sao...

- Ban ngày bơi lội cho lắm vào. Bây giờ kìa... Nó đang nằm mê... Hai đứa... - Cái bóng nói tiếp. "Không phải bố mình mà là thầy giáo mình. Cũng không phải. A, đúng rồi, ông già đánh kẻng ở cổng trường học đấy. Nghe kìa: Keng! Keng!"... Những ý nghĩ và hình ảnh xen nhau lộn xộn, lại vờn lên ập xuống. Hai mi mắt Nhụ cứ nặng trĩu, không sao mở ra được. Và một con sóng tối mờ mịt của một giấc ngủ miên man trùm qua, nhấn Nhụ xuống một cái gì mềm mỏng, dịu ngọt, chơi vơi...

Đến lúc Nhụ mở được mắt thì trời đã sáng. Một màu trắng nhờ nhờ bụng cá loáng thoáng trong những kẽ ngói hở. Chăng ngang cửa sổ, một vàng lưới rê khẽ rung rung. Mẹ Nhụ đang vá lưới. Vá từ bao giờ? Dường như có chiếc ca nô vừa chạy qua, sóng sông Bạch Đằng lập tức dào lên, oàm oạp vỗ vào bậc đá dưới thềm nhà.

Nhụ tỉnh hẳn.

Chương Không Đánh Số

Bên cạnh mẹ Nhụ, ngọn đèn đã tắt. Dầu trong cái chai bia cổ rụt đã cạn, cấn màu vàng ố. Cái bấc làm bằng rẻ lưới cá nhâm, đen xỉn, mủn lẹm đi. Một chút khói ám hình ngọn tháp, in lờ mờ lên cái gờ tường đã lỗ chỗ tróc vôi vì nước mặn. Bác vẫn ngồi yên, tấm lưng áo bạc phếch màu mưa, hơi cúi xuống.

- Mẹ vá lưới từ đêm qua à?

Bác quay lại nhìn con. Đôi mắt lờ đờ, mệt mỏi. Gương mặt bác thản nhiên, không phản ánh một điều gì. Nhưng Nhụ vẫn hiểu... Chợt nhớ những hình ảnh rời rạc hiện lên trong giấc ngủ đêm qua, Nhụ biết đúng là bố mình đã ra khơi thật rồi. Đối với người dân chài, ra khơi là một việc thường ngày. Vậy mà vì sao...

- Em nó dậy đấy, con - Mẹ Nhụ nhẹ nhàng nói, mắt đăm đăm nhìn vào trong màn.

Đé đã lồm cồm bò dậy. Mắt nhắm, mắt mở, nó bỗng leo tót lên cái lập là chắn ngang song cửa sổ, đái vo vo ra mặt sông.

- Cái thằng bọ gậy kia, sao mày bậy thế? - Nhụ mắng em.

- Đừng làm nó giật mình... Nó quen như mọi hôm... Kẻo ngã đấy - Mẹ Nhụ nói, giọng nhỏ nhẹ, vừa nói với Nhụ, vừa nói với Đé. Rồi bác lại cúi xuống vá lưới. Ngón tay đưa thoăn thoắt.

Chương II

Nhụ có bốn chị em đặt tên thứ tự là Chim, Thu, Nhụ, Đé. Đé đã năm tuổi. Những hôm cả nhà đi vắng, cửa ra vào khóa lại. Đé ở nhà một mình. Nó tự bày ra đủ mọi trò chơi, ngổn ngang trên giường và trên nền đất những mẩu tre, những chiếc ghế và chai lọ. Thỉnh thoảng nó lại leo lên cửa sổ, hai tay nắm chắc song, hai chân thõng ra ngoài. Cái chìa khóa cửa, buộc vào sợi dây ni-lông gỡ ra từ một mảnh lưới rách, màu trắng, đeo lòng thòng ở cổ. Mắt nó hớn hở nhìn những cánh buồm qua lại. Có khi khoái chí, nó bỗng hát tướng lên, lời ca bao giờ cũng rất ngộ nghĩnh:

Ông Sấm ông Sét

Ông hét đùng đùng

Làm con cá Ngùng(*)

Cắn con cá Vược

Kiện mãi chẳng được

Cá Vược ra về

Gặp vua Thủy Tề

Đang nhai vụng tép

Ông Sấm, ông Sét...

Chị cả là Chim, lớn lên đổi là Chiêm. Năm 1972, học hết lớp bảy, chị tình nguyện đi thanh niên xung phong. Chị đã hy sinh ở miền Nam vào những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Hôm làng chài làm lễ truy điệu chị, những bạn học của chị đều khóc thút thít. Còn mẹ thì vẫn ngồi yên... Nét mặt bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Chỉ có đôi mắt của mẹ là bỗng bạc phếch đi, đờ đẫn nhìn vào một cái gì không thật rõ ràng. Đêm ấy về nhà, Nhụ thấy mẹ thắp một nén hương lên bàn thờ, rồi lại lặng lẽ ngồi vá lưới cho đến sáng. Đêm hôm sau, mẹ cũng ngồi vá lưới như vậy. Tấm lưng người dân chài vốn khá dày của mẹ, cứ mỏng dần đi, như cái xương cá...

Năm chị Chiêm lên đường, Nhụ mới lên sáu tuổi. Ở tuổi ấy, Nhụ còn nhớ được những hình ảnh lẻ tẻ. Khuôn mặt chị Chiêm, Nhụ vẫn hình dung là khuôn mặt mẹ, nhưng trẻ hơn độ mười lần. Chiếc ảnh duy nhất của chị chụp lúc chị cười thế nào mà gần như nhắm hết cả hai mắt lại. Chẳng biết có phải do ý muốn của chị hay không, mà ông thợ ảnh còn bôi cho chị những má hồng với môi son, trông không giống chị mấy. Tấm ảnh ấy, mẹ Nhụ cũng cất đi rồi. Cả nhà nhìn lên góc tường, thấy trống trếnh hẳn đi, nhưng không ai nỡ hỏi.

Dạo ấy đang vào kỳ đông ken. Nước ngọt rất khan hiếm. Có mấy cái giếng công cộng, rất to, cạn trơ cả những hòn đá cuội, nhẵn lì, mốc thếch. Trẻ con rủ nhau xuống tận đáy giếng mà chơi đình chùa. Giá một gánh nước ở ngoài chợ Rừng, lên đến ba đồng, bốn đồng, rồi năm đồng, sáu đồng, vẫn cứ phải mua về để uống. Sà lan cứu khát cập vào mé sông Bạch Đằng, cũng chỉ đủ nước phân phối cho mỗi gia đình liệt sĩ nửa gánh một ngày. Những ngày cuối cùng ở nhà, chị Chiêm chỉ đi gánh nước. Cái giếng còn nước cách nhà đến bốn cây số ở trong bóng mát của hai cây lim cổ bảy trăm năm có từ thời cụ Trần Hưng Đạo. Thùng cứ xếp thành hàng dài. Người ta nhường lối cho chị. Chị đổ đầy nước vào cái bể con. Chị đổ đầy nước vào các phuy và thùng. Chị đổ đầy nước vào các nồi to và chậu thau. Lúc vai chị rời đòn gánh, chị gác đòn gánh lên hai cái đinh thuyền, đóng ở đầu hồi nhà. Những hạt cát đen xỉn bám vào gấu quần, chị chỉ kịp phủi qua qua, rồi lấy lược làm bằng mảnh máy bay giặc Mỹ, giắt ở đằng sau cái gương, chải sơ sơ lên mái tóc. Thế rồi chị đi. Đơn giản như đi ra chợ Rừng mua mấy hào bồ kết về gội đầu. Mọi người trong nhà, và cả chính chị nữa, không ai ngờ rằng, lần ấy chị đi là đi mãi mãi...

Anh thứ hai là Thu, mới đi bộ đội hải quân, hiện đang đóng ở quần đảo Trường Sa xa tít tắp. Buổi sáng anh Thu đi, mẹ Nhụ gói cho anh một cái chả cá rất to, rồi tiễn anh ra tận bến Ngự. Thấy mẹ vui cười, tự nhiên anh Thu lại bật khóc. Nhụ hiểu là anh thương mẹ. Còn Nhụ thì thương cả mẹ lẫn anh. Nhụ nắm lấy tay anh, rồi lại nép vào nách mẹ. Nhụ chợt nhận ra chiếc áo mẹ mặc hôm ấy, chính là chiếc áo chị Chiêm may cho. Chị lặn hà dưới đáy sông Bạch Đằng. Chị bán hà đi, mua vải về nhà, tự tay khâu áo cho mẹ. Chiếc áo màu nâu sẫm, vạt hơi thô, nhưng đường chỉ nhỏ và rất mềm, lẩn dưới những sợi vải, mới trông cứ tưởng như máy.

Bữa ấy, vừa về đến cửa, Nhụ đã trông thấy ông ngồi một mình trên phản ở trong nhà. Ông giơ tay vẫy ngoắt một cái. Thế nghĩa là ông bảo Nhụ vào cho ông hỏi. Ông thường nói bằng mắt và bằng tay. Ở trên mặt biển thì đó là một điều rất bình thường. Nhưng ở nhà, ông cũng "nói" theo cách đó. Dần dần, con cháu cũng phải quen. Đến mười năm nay, ông không đi biển. Đôi khi chạnh lòng buồn, nhớ lại thuở ngủ gió ăn sóng, ông lại cởi trần trùng trục, một mình một con lẵng đi đến dăm bảy ngày, hoặc câu cá ở ven biển, hoặc soi cua ở trên cồn, chân các đảo đá, lang thang sương khói dọc theo triều lên xuống của con nước. Thi thoảng ông cho Nhụ đi theo, để móc mồi, gỡ cá bị kẹt trong hốc đá hay đám sú vẹt và dạy Nhụ hàng trăm chi tiết của nghề biển, nghề sông. Vài tháng gần đây, ông hay đến chơi nhà các bạn già, có khi ăn và ngủ luôn ở đấy.

- Thế nào? - Ông hỏi.

Bao giờ ông cũng hỏi quá ngắn và không hết ý. Người nghe cứ phải đoán ra. Thế nghĩa là ông hỏi việc anh Thu đi như thế nào.

- Tàu đưa anh ấy đi rồi ạ. - Nhụ trả lời.

- Tốt!

- Vâng. Tốt. - Nhu đáp theo và lập tức, nó thấy ông lừ mắt. Đôi mắt ông to và hơi lồi.

- Vui không? - Ông hỏi.

- Ở bến tàu vui lắm. Nhưng anh cháu lại khóc.

Ông cau mặt lại và tay phác ra một cử chỉ, tỏ ý không hài lòng. Nhụ nghĩ ngay là ông đã hiểu sai ý nó. Nó vội giảng giải:

- Không, ông ạ. Cháu thấy anh Thu cũng vui. Khóc nhưng vui, ông ạ.

- Hầy! - Ông buột ra một tiếng đó rồi đứng dậy, đi quanh quẩn trong nhà, dáng đi băm bổ như một ngọn sóng.

Đã tám mươi tuổi, nhưng vóc người ông vẫn còn gọn và chắc. Nước da nâu sẫm và dày, dấu ấn của cả một đời chèo kéo trên mặt biển. Kết thúc một câu nói hay một ý nghĩ, ông hay dùng tiếng hầy. Đó là tiếng hô chèo thuyền của người dân chài xưa, khi trên mặt biển sắp có giông.

Tuy thế, ông lại là người mau nước mắt. Nhụ biết ông phải vội vàng đứng lên, đi đi lại lại như thế, là để che đi giọt nước mắt đã bất ngờ ứa ra, ướt đẫm hai hàng mi...


... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 07.11.2013.

Quay Lên Đầu Trang