TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





TỪ NGUYÊN TĨNH

. Tên thật là Lê Văn Tĩnh .
. Sinh ngày 18 tháng 11 năm 1947
. Tại Bàn Thạch, xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
. Hiện sống tại Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa,
. Tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1994).
. Tổng Biên Tập Tạp Chí Xứ Thanh- Hội Văn Nghệ tỉnh Thanh Hoá .

. TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Hàm Rồng ngày ấy (ký sự viết chung, tập 1 in 1984, tập 2 in 1978);
. Mối tình chàng Lung mù (tập truyện ngắn, 1991);
. Gã nhà quê (tập truyện ngắn, 1992);
. Mảnh vụn chiến tranh (tiểu thuyết, 1993);
. Không thành người lớn (tiểu thuyết, 1995).

. GIẢI THƯỞNG :

- Giải thưởng văn học: Mối tình chàng Lung mù (tập truyện ngắn)
- Giải thưởng Hội đồng văn học về đề tài chiến tranh và lực lượng vũ trang Hội Nhà văn;
- Giải thưởng văn học tỉnh Thanh Hóa - Mẹ (truyện ngắn),
- Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Sông Hương 1993;
- Giải thưởng Hội Văn nghệ Thanh Hóa 1993; Gã nhà quê (tập truyện)
- Giải thưởng Hội Văn nghệ Thanh Hóa 1994. Mảnh vụn chiến tranh (tiểu thuyết)









Ao Sen tranh của họa sĩ Đào Hải Phong






CÕI NGƯỜI


CHƯƠNG XI - XV

T hường được cô Tuyết chăm bẵm mà sớm trút bỏ được nỗi buồn rầu. Bữa trước ở ngoài huyện Hà cô là con gái cưng. Là niềm nâng niu của cha mẹ và anh chị cả. Nhưng thoắt cái, nhà có cơn biến, cô trở thành bơ vơ...Ước mơ được học lên cao, được làm cô giáo, thầy thuốc của cô tan thành mây khói. Đến nhà anh chị m cô rất vui, vì có chị Hoa và các cháu. Cháu Bản, cháu Xoan, cháu Hiên...Chúng nói ríu rít, ân cần cũng làm cho Út quên đi sự lẻ loi, đơn chiếc. Lại còn bọn cái Hiên, cu Phách cũng rất được. Hiên theo giáo nhưng hiền từ chân thật. Cậu Phách cháu phó Cáy thì lại láu cá, biết mọi chuyện. Tưởng tiếp tục ra trường huyện học lên, ai ngờ lại có người níu kéo. Út Thường đã van xin anh chị m . Đói khổ chi em cũng chịu được, nhưng đừng để sang bên đó. Phải hầu hạ cha mẹ thì được, chứ người đời thì em chịu. m Vệ bảo là dì chịu khó giai đoạn này., lấy một ít tiền để trả nợ cho thầy ngoài đó. Út đành sang bên nhà cụ Quản Mầm làm chân sai vặt.

Ban đầu Út phụ dọn dẹp dưới bếp. Lau chén bát. Có khi múc nước rửa chân cho quan viên. Từ nhỏ chí lớn, nào Út đã dám nhìn vào chỗ kín đáo, bậy bạ...Vậy mà, cái lão phó Cáy trời đánh lại dở trò...Trong lúc say sưa, lão vừa ê a hát vừa kéo tay Út Thường:

- Đời ơi...đời...ơi...Chứ con rô thì nhìn con riếc...Con riếc thì tiếc con rô...Anh nay mắt dấp đứng cũng mời...là mời cô...mời cô vào chầu...con rô cũng tiếc...A...ha ...Con riếc cũng thèm...

Út Thường vùng chạy cho thoát thân... Út Thường thương cho cuộc đời côi cút của mình. Tâm trạng chán sống không hiểu do đâu đưa đến. Út nhớ đến câu chuyện ai kể về cây thị. Út vẫn thường cùng các cháu trèo lên, dùng cái hạc, buộc sào nứa hái thị. Út như thấy có ai đó mời chào...

Út thấy thư thái khi nghe cô Tuyết vỗ về. Em đừng cho người trong đám hát là người xấu. Chị hỏi em, em nghe chị hát có hay không. Trong những ngày buồn rầu đó cô Tuyết dạy cho Út hát. Út thực sự rất thích hát...Nếu cuộc đời cho Út chỉ hát cho mọi người nghe. Cô Tuyết lại giảng cho Út biết sự khác nhau về hát quan họ, hát chèo, cải lương và hát ả đào. Cô bảo, tại sao ta lại ưa thích nó vậy? Vì chỉ một cái trống, cái phách và cái đàn đáy là có thể diễn được rồi. Tiếng xấu ư? Nó làm cho lũ đầu trâu mặt ngựa kia bớt đi phần ác độc, lưu manh. Bớt đi phần thú vật hàng ngày cưỡi lên đầu lên cổ dân lành. Ban đầu chị cũng chưa nhận ra đâu...Trong lúc ngao ngán mấtm Di chị buồn...Mấy lão đội Oánh, Lý phét, Tuần Lai kia là lợn chắc? không đâu họ là con nòi, có học hành cả đấy...Thế mà vào chốn đầu mày cuối mẹt lại trở nên lương thiện...

Út không tin, nhưng dần dần thấy có lý. Út bị chinh phục bởi sự mềm mỏng khéo léo của cô Tuyết. Út còn nhẩn nha theo lời của cô mà nhập tâm. Út thật ngột thở khi cô nhờ cài cúc cho nịt ngực. Út thật không thể nào tin là người bằng da bằng thịt ở trần gian này như cô Tuyết. Mái tóc óng mượt thả tung ra từ trên giường chảy xuống tận đất. Làn da trắng mịn phớt hồng không chút son phấn.

Mắt Út rơm rớm. Út chả hiểu tại sao cô lại rơm rớm . Út hít mùi thơm của da thịt cô Tuyết mà cứ ngỡ là làm cho nó hư hao xúc phạm.- Em thương cho chị phải không? - Cô Tuyết bẹo vào má

Út cười.

- Có lẽ chỉ có em thương chị - Cô Tuyết chép miệng. Người đời không ít kẻ nguyền rủa chị. Tại sao chị lại sinh ra trên đời này để lấn át người khác. Làm cho người cùng giới phải ghen ghét thù oán, người khác giới muốn ăn sống nuốt tươi và thù hằn...Không muốn cho ai được chiếm đoạt, của riêng mình...

Út thấy thương cô Tuyết quá. Giá mà bác Cả Di còn sống nhỉ...

Bác Cả Di mà còn sống chắc đời của cô Tuyết sẽ đẹp lắm. Hai vợ chồng bác mở bệnh viện tư để cứu người nghèo không có tiền chữa bệnh. Biết đâu họ đã ở nơi nào đó xa lắm Út Thường không thể gặp được. Hoặc có gặp được cũng chỉ là họa hoằn ở nhà anh chị mình...Chỉ nghe nói trong câu chuyện của người đời. Trong lời trầm trồ. Họ là một cặp thật xứng đôi vừa lứa. Cô Tuyết không kể lại mối tình của mình và bác m Di...Lão đội Oánh kéo tay Út Thường lại:- Này em

Út...Rót cho anh đội một cút rượu- Thưa...Anh ngồi với ai để em còn biết thưa với mẹ! - Út Thường phải làm quen với việc thưa gửi.

- Hả? – Không cần...Em cứ rót cho anh một chén đi...Rồi anh kể cho chuyện này hay vãi đái ra cho mà xem! - Đội Oánh chớt nhả.

- Em đâu có vinh dự để nghe anh kể! -
Út đỏ mặt khi bị đội Oánh cầm tay.

- Chà ơi! - Có phải cô Tuyết dạy em đó không?

- Chị Tuyết...Em gọi chị cho anh nhá!

- Hãy khoan đã...Anh nói cho em nghe điều này hay lắm...Đội Oánh cựa cậy bộ râu cá trê. Mặt tròn vo, đỏ au như người ta sơn, lại càng tròn, đỏ lên trong ánh đèn...

Ngày đó...Không xa, có hai người yêu nhau...Họ thề non lấp biển rằng nếu không lấy được nhau họ chẳng sống làm gì. Người con trai sinh ra ở vùng sơn cước. Quê của chàng là vùng gò đồi. Có núi đất, xa xa có dãy núi đá...Con sông Tra chở thuyền về mạn biển, gặp sông Lôi làm nên ngã ba sông, mênh mông con thuyền cưới bạn. Đêm ở đó có tiếng hò của người xuôi đò dọc...

Ai ơi nhận lấy trầu cau

Kéo người gửi tặng lại đau lòng trầu

Út Thường thấy m Vệ sang thì mừng quá. Vội vàng kéo tay anh rể lại.

- Anh ơi...Bác đội đang chờ anh để làm thơ đấy!

- Xin chào ngài đội...
m Vệ ra vẻ thi lễ. Xin ngài cho biết tối nay đệ hầu ngài món gì?

- Xin nhà “tiên tri” thứ lỗi cho...Tôi đang nói cho nàng Út nghe về mối tình của Lan và Điệp thì ông đến...

m Vệ liền nói với Út Thường:

- Em bảo với ông Quản Mầm cho gọi mấy đứa nhỏ mới kén đến cho quan đội thử giọng nhé- Quay sang đội Oánh, anh để tôi đờn thử anh nghe một khúc mới trong tích Đào Duy Từ làm người chăn trâu nhà Trần Đức Hoà ở Hoài Nhơn để lo nghiệp lớn nhé.

- Này anh
m Vệ...Anh có tin được Đào Duy Từ 53 tuổi mới lập nghiệp mà thành công không? - Đội Oánh bỏ lối nói chuyện thi lễ kiểu phường đào hát.

- Kể ra thật là khó...53 tuổi phần lớn các cụ mình đã “xế bóng tà dương” rồi...Đã hết nghiệp rồi...Khổng, Phu Tử không ai dùng phải quay về cố hương rồi... Thành Cát Tư Hãn đã chiếm gần hết châu á và châu Phi rồi...

- Người thường thì chết rấp nơi xó bếp cùng với vợ con...Nhưng bậc vĩ nhân thì lại khác...Tám năm trời mà Đào tiên sinh làm nên sự nghiệp lẫy lừng ...Là người khai quốc của xứ Đàng Trong kể công lao có một không hai.

- Thưa ...quan bác tại sao còn lưu luyến với chốn sơn cùng cốc tận này?
m Vệ lại lấy giọng pha trò.

- Chả nói dấu gì đệ...Tôi không thể xa được Tuyết Tuyết...Người mà anh đệ tôn thờ... Dù biết rằng sự đam mê nàng làm cháy cả sự nghiệp của huynh...

- Kìa...Hai mặc khách ...chả hay các ngài thử nghe xem giọng ca mới từ Hoa Trai tới nhé...

- Thật ở Hoa Trai hay nhà ông nghe tôi và chú
m Vệ đang bàn về Đào Duy Từ mà bịp đấy! Đội Oánh nhìn vào mặt Quản Mầm, con mắt của hắn sùm sụp không để cho ai nhận ra ý tứ ra làm sao...- Chừng bao nhiêu tuổi ...m Vệ ra vẻ thành thạo.

- Thưa hai ông ...trăng tròn lẻ ạ!

- Chà...Anh
m Vệ đờn đi ...để tôi ngâm cho bài thơ của Minh Viễn Huỳnh Thúc Kháng vịnh về Đào Duy Từ , tiên sinh.

Bể dâu thay đổi mấy triều vương

Luỹ cũ xanh xanh một giải trường

Rêu đá lờ mờ kinh Hổ Trướng

Gió lau hiu hắt phú Long Cương

Non sông trơ đó, thầy đâu vắng?

Con cháu còn đây, giống vẫn cường!

Công đức miệng người bia tạc mới

Nghìn thu mấy kẻ biết trông gương.

XII

Tổ tiên của ông Đỏ Cao con nuôi ông Cuông ở đâu không ai biết. Có thể là cựu thần nhà Trần vào lối Trần Khát Chân, vì bảo vệ ngôi nhà Trần chống lại Hồ Quý Ly mà bị giết hại ở Giáng. Người ta kể lại, ngài bị quân mai phục của Hồ Quý Ly chém mất đầu. Xách đầu mà phi ngựa ròng rã hàng ngày trời. Đến Giàng quê hương của Dương Đình Nghệ thì gặp trời tối.

Gặp một quán nước ở bên đường, ngài mới hỏi bà chủ quán: Bà già...Xưa nay bà có thấy ai đã bị chặt đầu mà vẫn phi ngựa được không?

Bà chủ quán sợ sệt trả lời:

- Thưa không ...không có ai chỉ trừ người trời...

Nghe bà chủ quán nói vậy. Trần Khát Chân mới ném chiếc đầu xuống đất. Thân hình của ngài liền với đầu, như chưa xảy ra chuyện gì. Bà chủ quán biết quan ngài đang gặp nạn nên mới thầm khấn: - Nếu trời đất mà linh thiêng thì thổ địa bảo toàn tính mạng quan ngài đây...Lời khấn chưa kịp tan trong tâm tưởng đã nghe tiếng quát của quân lính từ xa: Có thấy giặc Trần Khát Chân chạy qua đây không?

Bà già sợ hết hồn thưa:

- Tôi không thấy! Nói lời chưa dứt thì mối đã đùn thành gò đống. Không còn thấy thân xác của Trần Khát Chân đâu nữa...Trong một lần đi dẹp loạn ở Phương Nam, đức vua Lê Lợi nghe kể chuyện mới truyền, cho hỏi thăm tin tức của bà chủ quán. Quan sở tại mới điều tra. Bà chủ quán sợ bọn quân lính nhà Hồ biết chuyện nên chạy lên vùng La Hà từ lâu rồi...Mới cho người đến La Hà hỏi...Gặp một chàng trai đóng khố, vừa gánh củi từ trong rừng ra. Hỏi chuyện thì mới biết, bà già là bà nội của chàng trai. Bố chết trận, mẹ lấy chồng khác. Bà già thương cháu côi cút mở quán để kiếm sống qua ngày. Gặp thời loạn nên đưa cháu lên vùng bán sơn địa để tránh giặc. Một bữa đi củi về, thấy bà nội đã tắt thở...Không biết làm thế nào để có tiền chôn cất cho bà, chàng đành đi làm thuê cho lý trưởng trong làng để sống.

Đức vua mới lệnh cho quan sở tại lập miếu thờ cho người bà khốn khổ trên một quả đồi. Ban đầu có tên là miếu Bà Quán. Đức vua lại xung cậu cháu của bà quán vào chân quản ngựa. Do có sức và đức độ mà cậu trở thành một quan võ có tài thao lược. Người ta kể lại, do lập được nhiều công trạng mà được phong quốc thích của nhà vua. Tên gọi là Lê Bá Khai, một lần nghe tin ở đất quí hương có bọn thổ hào cấu kết với một vài tên lang đạo từ núi Pú Rinh muốn khởi loạn. Ngài mới sai tướng Lê Bá Khai phải trừ khử bằng được lũ làm loạn.

Ông Lê Bá Khai cho hành quân cấp tốc từ Tam Điệp về miền tây Thanh Hóa. Quân Lính ngậm tăm hành quân. Đào đắp con đường vượt qua sinh lầy từ Đông Ngâu đến tận Can Lộc...Sáng ra, bọn phiến quân còn đang say giấc đã bị bao vây và tiêu diệt. Con đường mà tướng Bá Khai đắp vẫn còn đến tận ngày nay. Ngày nay, người dân làm nhà, đắp ao, khẩn ruộng gặp con đường mà ngài Bá Khai đắp cũng phải tránh ra. Người ta nói, ngài rất giỏi điều âm binh, chỉ có âm binh mới có thể làm được chuyện này.

Một lần ngài cưỡi ngựa cùng với đám tuỳ tùng đi săn ở đâu mạn Chí Linh, gặp một đàn chim bay trên trời. Có một con chim to lắm bay ở giữa. Xung quanh có nhiều con chim bay thành hàng, thành lối, như kiểu đang chầu xung quanh, bảo vệ con chim chúa. Cậy tài, quan Bá Khai mới bảo đám tuỳ tùng thân cận. Ta mới được bọn thổ hào địa phương dâng cho một vò rượu quí, đang cần thức nhắm, trời lại cho đồ nhắm đây. Có ai hạ được con chim đầu đàn kia không?

- Thưa Bá ...con thấy núi rừng ở đây linh diệu ...chim chóc về đậu...E rằng đàn chim kia báo điều lành cho muôn dân...không phải là loại chim có thể ăn thịt ạ!

- Láo...Ta từng nhịn đói nhịn khát, vào sinh ra tử phò tá đại vương...Có lúc phải ăn thịt ngựa...Mà nào biết có phải là thịt ngựa hay thịt người mà bọn đầu bếp nói vậy cho an lòng. Nay trời đem cho chim lạ. Ta không dùng, hoá phụ ơn cao dày sao?

Nói chưa dứt lời, dây cung nghe đến phật. Tức thì thấy tiếng kêu nháo nhác của đàn chim. Trời đang sáng bỗng sầm tối. Con chim đã rơi xuống ngay trước mặt. Nhưng lúc đến nhặt thì không thấy đâu. Ngài mới thả cho lũ chó săn, có tiếng là thính mũi, vậy mà không tài nào tìm được. Bực mình ngài cho thu quân về dinh. Đêm ấy cho mổ một con dê để uống rượu. Lạ một điều, rượu ngon, thịt thơm ai cũng khen. Nhưng ngài Lê Bá Khai uống có mùi nước đái, thịt có mùi thối như thịt người chết. Ngài lăn ra ốm. Mời thầy bói tới xem. Mới nói rằng: Ngài bắn phải con chim, đó là một nương nương rất mực được đại vương yêu quí. Chính nàng là vật tế thần dạo đánh nhau với Phương Chính tận Nghệ An ...Nương nương oán giận ngài đấy. Lập đàn mà cầu đảo may ra còn chuộc được tội lỗi. Ngài Bá Khai vốn là một dũng tướng. Ông không tin về chuyện bói toán quàng xiên. Lấy công việc làm trọng, tin vào tấm lòng tận tuỵ của mình với vương triều. Lo luyện tập binh mã, chờ dịp mùa xuân năm sau, đón đức thái tử về bái đất tổ.

Năm đó trời nắng nóng. Nước sông Tra cũng cạn, trơ ra tận đáy. Bãi cát bày ra khắp cả một vệt dài. Người dân có thể lội từ bên này sang bên kia thăm thú bà con. Lũ trẻ lấy làm thoả thích, cởi trần cả ngày lặn ngụp, bắt cá, săn đuổi ba ba, thuồng thuồng... Thằng con cả của ngài cũng trốn cha mẹ, người hầu ra sông dầm mình cùng lũ bạn.

Ngài Bá Khai đang nằm thiêm thiếp trong phủ thì bỗng thấy trời tối sập lại. Mây đen ập đến, mà cũng có thể có con chim khổng lồ che lấy mặt trời. Mưa ngập cả đồng điền. Mấy quả đồi trước tới nay cả những trận lụt lớn cũng không tới được cây lim chúa nơi cột voi của đức vua, nay nước tràn qua. Con sông Tra thoáng chốc cuốn sạch người và trâu bò đang tắm. Trời đang nắng như đổ lửa mà chuyển thành bão giông thì kỳ quái hoang đường. Các quan hộ vệ lo che chắn cho cơn cuồng phong. Mãi tới đêm, gia nhân mới chạy tới, mặt cắt không còn tiết thưa:

- Công tử cùng lũ trẻ đi tắm sông Tra chưa về!

Mặc cho mưa lũ dữ dội, Bá Khai lệnh cho quan quân bỏ lại việc chống lụt, đi dọc sông dò la tin tức cậu qúi tử. Hai bên bờ sông, trống dong cờ mở. Dân vạn chài tung hết các tay lưới ra quét. Được vô số là cá, của nả, lợn gà trôi từ thượng du xuống, tịnh không tìm được xác con trai ngài đâu.

Một tuần sau thì dân sở tại phát hiện thấy ba xác trẻ nhỏ. trong đó có đứa trẻ đeo chiếc vòng vàng có khắc chữ “Bá”. Quan Bá Khai biết là con trai mình, khóc lóc vật vã, ông lệnh cho dân chài lưới đưa lên thuyền để chở ngược về phủ đệ. Quan coi việc cúng tế mới thưa:

- Không thể làm thế được...Tướng quân phải làm lễ cầu hồn...Mới mong quan hà bá mở lòng mà cho cậu ấy lên bờ..

Hỏi phải làm thế nào, quan lo việc lễ thưa:

- Phải bắc cầu cho cậu ấy đi!

XIII

Quan Bá Khai cho lính chặt hết tre của làng Tre để làm cột. Chặt hết trúc của làng Trúc để bắc cầu. Chặt hết bương của làng Bương để ghép thuyền. Từ biển về đến phủ đệ dài hàng trăm dặm. Phải bắc cầu cho hồn đi. Cầu thì đơn giản thôi có hai đoạn tre nhỏ ghép chéo vào nhau, trên đó đặt một mắt nứa nhỏ như ống sáo. Tuy thế nhưng gặp biết bao là trở ngại. Quan lính phải dải ra hàng trăm dặm mà đèn nến. Một tiếng khấn:

Hồn còn ở chốn nước sâu

Hồn lên với bá về đầu nguồn sông

Đừng đi theo cá tép

Đừng đi theo ba ba thuồng luồng

Đừng nghe theo người tham chức quan thuỷ tặc...

Mà quên cơm cà cơm muối

Cơm nước suối

Cơn dưa chua

Đừng quên hơi lúa chiêm mùa

Nghĩa cha nghĩa mẹ

Hỡi ơi! Là hồn...

Một thầy phù thuỷ xướng lên . Ê a đọc đúng hay sai nào ai biết. Đến tận phủ đệ cũng đã sang chiều. Bên này, cũng một thầy cúng. Mặt hoá trang mặt quỉ. Chân đi hài. áo thụng. Bộ râu dẩu ra đủ bộ đủ dạng. Lợn ga, trâu bò mổ ra không kể được. Người ăn kìn kìn như phá núi, như đánh giặc. Không ai ghi chép nổi. Phải hàng tuần sau thì đám cầu đảo mới tạm dừng.

Có kẻ tố lên, Bá Khai làm liều. Hà lạm vào công quĩ. Bắt dân nhọc lòng chỉ vì đứa con bị mưa lũ cuốn trôi. Lại còn tế lễ làm kinh thiên động địa làm quỉ thần cũng phải tức giận. Sinh bất an cho đất nước.

Lại có kẻ xu nịnh đặt điều. Ông ta cậy có công trạng dám bắn vào chim thần, là hiện thân của người thiếp của đức vua. Nhiều lời đồn thổi. Lắm câu bịa đặt. Số phận của Bá Khai khó mà bảo toàn. Có người can vua. Ông Bá Khai là người có công lớn. Không thể xử như đối với một tên lính trơn. Dòng họ của ông vốn độc đinh, mất đứa con đứt ruột chắc có kẻ xui làm càn. Nhưng lấy việc mà xét không phải kẻ làm loạn. Chỉ mong đức vua đưa ra khẩu dụ. Sau này, Bá Khai mất chỉ được thờ cúng ở ngoài trời. Đốt hương trên phần mộ.

Ông Bá Khai tuổi già mà vợ không còn khả năng sinh hạ. Đành lấy một người họ Ca Công may ra có đẻ được mụn con trai lo thờ tự. Thật phúc cho Bá Khai, tuy tuổi gần bảy mươi mà ông vẫn tráng kiện. Cô đào kia chưa đến mức lỡ chớn, nên sinh ra cho ông đứa con trai thật. Đó là tằng tổ của Bá Cao. Cũng rất lạ, từ đời này qua đời khác họ của Bá Khai chỉ sinh được một xuất đinh. Có ông lấy thử đến bảy bà. Với lý luận rất rành mạch. Lấy vợ lẽ còn hơn nuôi con ở. Nói để tránh đi sự hối thúc muốn tìm thêm các xuất đinh, cho dòng họ bề thế. Nhưng chỉ sinh ra toàn con gái. Con gái lấy về nhà người lại sinh ra toàn quí tử, đỗ đạt. Đó cũng là điều mừng, được thơm lây. Nhưng không khỏi ngậm ngùi, vì sự bất công của con tạo.

Quan Bá Khai lập đền thờ. Cúng bái rất thành kính. Hẳn người đời đồn thổi cho là ngài rất giỏi điều âm binh, chỉ một đêm mà đắp được con đường vượt qua đầm lầy, đánh úp đồn giặc Minh. Bà vợ cả đã già thành ra lẩm cẩm. Quét dọn như lau như ly nhà cửa. Quan Bá Khai lại sinh ra buồn nên ham cượu chè, cờ bạc, thường vắng nhà. Mỗi lần bà quét dọn bàn thờ làm đổ tung ra hình nhân và người ngựa, voi làm bằng giấy xanh đỏ. Hốt hoảng bà mới để cho cán chổi đập vào chuông! Âm binh mới hỏi? Thưa thầy ...Thầy gọi chúng con có việc gì ạ?

- Thầy bảo ...Thầy không nuôi được chúng mày đi nơi khác mà kiếm ăn...

Từ đó họ Bá Khai không ai phát được đường quan trường. Chỉ một xuất đinh. Các đời sau thì sa sút hẳn. Trong câu chuyện truyền miệng ai cũng bảo, họ hàng ông tướng Bá Khai là một trong bốn ông mở mang ra đất Cõi này. Ông ấy là người bị nhốt trong cái cũi mà mọi người đều biết. Cũng có người lại bảo từ họ Trịnh, họ Trần ở ngoài Bắc di cư vào...không ai lần ra cho tỏ tường.

Chỉ biết các đời sau thì tiếng tăm và kinh tế nhà ông Bá Khai đã kiệt quệ. Điện thờ hô hoán quân quyền cũng gạt nợ cho người. Ông Cuông khi lập đồn điền mới cần người cai quản, trị bọn đầu khấu mới nhận Đỏ Cao vào làm. Nghĩa tình huynh đệ của các cụ tổ lập đất Cõi mà nhận làm con nuôi. Ông Cuông mất cái dạo cậu
m Di bị tiêm thuốc điên, đồn điền Mã Cọp cũng được bán cho ngài Quản từ Tràng Kênh đến. Bá Cao đành về nương tựa vào nhà ông Cuông.

XIV

Máy bay của quân đội Pháp bỏ bom vào xưởng đồng minh ở hang đá huyện Thạch. Xưởng đồng Minh chuyển về Quần Kênh. Bửng mắt bom bỏ vào chợ Rạng, làm vô số người thiệt mạng. Người ta đồn có việt gian chỉ điểm cho máy bay giặc bắn phá.
Sơn La, Hoà Bình có chiến sự xảy ra. Người chạy loạn từ khu Ba vào Thanh Nghệ. Dân công đi phục vụ ở Thượng Lào và Điện Biên Phủ được bổ vào các làng. Bọn quan lại, chức dịch lác đác chạy ra vùng tề. Kẻ có của thì đổi thành vàng, chuồn xuống thành phố. Các lớp học đào hào, chuyển cả về học ban đêm. Một không khí lo âu bao trùm lên làng xóm. Máy bay Đa cô ta của Pháp rải truyền đơn, in hình lãnh tụ nói rằng thân Nga, thân Trung cộng, dân mình sẽ khổ.

Bộ đội, dân công tập kết về các gia đình dân. Thiếu giường thì ngả cánh cửa, không có cánh cửa thì trải ni lông ra đất mà ngủ. Ngủ một hai đêm, có khi một đêm lại lên đường. Con đường đê quai, rầm rập tiếng vó ngựa. người ta đồn, có ông tướng ông tá gì đó to lắm, người tàu cũng mời sang cầm quân.

Người già thì âu tư ngẫm nghĩ về thời cuộc, chiến tranh, giặc giã. Về cái đất mà tổ tiên từng sống. Xem các đời có bao nhiêu người đăng lính, có bao xuất đinh chết trận hoặc biệt tích. Có kẻ hào mục thì tính toán, dò hỏi xem mạnh yếu của chính phủ kháng chiến và triều đình để định liệu. Người Pháp mà đô hộ thì ít nhất cũng có chân lý trưởng, phó lý, còn chính phủ kháng chiến mà nắm quyền thì ra sao đây? Từng đập gậy vào lưng bọn tá điền, bọn chây lười nộp tô...Bọn mặt câng cáo, mất dạy...Phải dò hỏi người có hiểu biết về thời cuộc. Đừng tỏ ra sợ sệt với mấy ông có chân trong hội bí mật. Nhưng đừng tỏ ra săn đón mấy thằng có máu mặt mà họ sinh nghi.

Đi đêm để dò la người kháng chiến thì không dám rồi. Họ mà cáu giận đoàng một phát như bên Lãng thì bỏ xừ. Cái lão Chánh Nhu bên sông đó, đêm còn đi uống rượu mò gái, sáng ra đã nằm phơi xác trên giường, với mấy chữ xiên xọ: “Quân chó chết. Tội ác phải đền mạng”...

Người ta không biết xoay sở ra sao nên đành sang nhà Quản Mầm vậy. Người ta lại gặp khách của họ từ Phù Lưu sang. Từ mạn ngoài đến. Đàn và phách vẫn dạo lên. Cô Hường, cô Tuyết ra chào. Mấy đào non Sương Sương, Anh Nguyệt, Mai Lan... ra chào. Lão đội Oánh hôm nay cầm đàn, bộ râu cá trê cựa quạy mỗi khi phách dập “Tăắc...đụp...Tăắc đụp”. Phó cạo
m Vệ thì mắt lờ đờ có vẻ vừa bị chuyện gì trong gia tộc. Bà Hoa cằn nhằn về chuyện phiêu lãng, loang toàng hoặc bị ông em là m Căn cho một mẻ về cái tội sùng Tây, sùng Tàu của ông anh...Ai chả biết, tuy là con nhà có máu mặt, lấy con gái họ ca công nhưng Căn lại khác xa. Hắn chả cho cái gì là quan trọng ráo. Dạo khởi nghĩa cướp chính quyền, không ai cử cũng cầm gạy tày ra bắt tri phủ, tri huyện, đi tận thành phố cướp chính quyền ở tỉnh. Người ta hỏi ông ở đoàn thể nào, bảo là người của nhân dân. Đứng cầm gậy gác suốt ngày. Lại nói chuyện ông Cuông khi mở cái đồn điền bên Mã Cọp mà không có m Căn và Bá Cao thì bọn ba vạ để cho yên. Dân từ các bản, các làng đến muốn phá sạch cả rẫy, Bá Cao đứng một chân, đóng khố giữa quả đồi không nói năng một câu nào. Người ta bảo rõ ràng là nhìn thấy ruồi chui vào lỗ mũi mà hắn không hắt hơi. m Căn thì nhảy bùm bụp từ ngọn núi cao xuống đáy sông mất tăm. Người ta nói, Bá Cao và m Căn rất kình địch với nhau thế mà lại thương nhau lắm. Bá Cao nói m Căn là ngu. Ngu nhất thế giới, người ta sinh ra cái chữ cái nghĩa để khai hoá cho con người, có việc học mà còn chê bai. Chữ quái gì cũng không tự nhiên như nói. Lại phải dọ dạy cái lưỡi, cái mồm có phải là uốn lưỡi mà theo kẻ khác không. Bẻ vụn cả que ra mà xếp. Bình thường thì tự nhiên tục tiểu, lúc gặp nhau thì thi lễ ra vẻ tôn trọng nhau, thương yêu nhau. Thật là cả một lũ đều giả. Bá Cao thì bảo đó là ngu. Cái lão quan huyện Sài, ỉa ra không được chữ nào, cha nó phải bán cả nửa cơ nghiệp đi buôn bè, (nghe nói cả buôn thuốc phiện nữa) mới mua cho cái bằng giả, mua cho chức quan huyện. Thế mà cái dạo nào nó về đây các lão chánh tổng, phó lý, hào mục còn thiếu cả hôn đít...chỉ tiếc ông cha mình...Bá Cao là người luôn đoạt giải vật của đất Cõi này, nên ai cũng dằn mặt. Lại thêm quen biết rộng. Gì chứ xoay sở thịt trâu bò, thịt chó không ai bằng Bá Cao. Có lần đám quan viên rủ nhau lên đồn điền của m Cuông để bài bạc. Sống ở sơn trại lấy đâu ra quán xá. Các thầy mới thèm thịt chó rỏ rãi ra. Phó Cáy mới chỉ vào con chó đang ngồi chầu chực, mắt đớp đèn. Đội Oánh và m Di cười:

- Đấy ...Ai mà làm thịt được con tô này, qua cũng đồng ý đấy!

Lúc này Bá Cao từ ngoài rẫy vào, rít thuốc lào vặt, bụng réo ùng ục vì đói. Liền gạ lại:

- Anh Cả Di nói thật hay đùa?

- Nếu chú mà làm được thì tôi đồng ý liền.

Bá Cao nhanh như chớp, túm lấy mõm con chó. Nó không kịp đưa chân trước cào vào tay đã bị bẻ trật cánh khuỷu ra sau. Hắn lấy con dao bầu kéo chiếc chậu thau ra khía mạnh vào cổ. Con chó giãy đành đạch. Lại sai cho bọn phó Cáy và đàn em lấy rơm nhồi đất đắp cho con chó một bộ áo giáp, rồi châm lửa đốt. Chừng tàn một điếu thuốc, Bá Cao bóc ra từng miếng đất, bóc đến đâu lông chó sạch đến đó. Hắn ấy dao rạch một nhát kéo lục phủ ngũ tạng con chó ra ngoài cho bọn đàn em lo chuyện làm dồi. Mặt câng câng, nói chơi chơi:- Làm thịt chó cũng phải có tài như tướng cầm quân đánh trận. Mổ nhát nào như vạch mũi tấn công không thể rút lại được. Các bác cứ chuẩn bị cho mấy gù, em sẽ làm một đĩa sào trước, chứ chờ bọn kia lo chu tất thì sáng bảnh mắt ra chưa chắc đã được miếng nào vào bụng. Bá Cao đi nhát nào ra nhất ấy. Như chàng mãi võ múa đường quyền. Sống lưng: phập. Bả vai. phật. Tứ chi: phập, phập, phập. Thủ cẩu; phập. Hắn lạng lấy miếng lườn, thái mỏng. Đặt con dao xuống, vốc một nắm mẻ ném vào giữa. Mắm tôm thì sơn trại bao giờ cũng dự trữ cho bọn phu. Chỉ có khác là không đậy kỹ nên bọn dòi bọ nhung nhúc đứa nọ trườn lên đứa kia tranh giành, bơi lội. Tặc lưỡi. Bá Cao cho cái môi làm bằng nửa quả dừa xuống đáy.
Ý chừng bọn dòi bọ không tài nào có thể rúc xuống đáy chum mắm được. Hắn thè chiếc lưỡi ra xem vị ra thế nào. Đó là thói quen, ngàn đời của con người, khi từ bỏ sự hôi thối của thịt sống và xác chết. Biết hương vị mặn của muối, y rằng có thói quen bản năng đưa lên lưỡi xem sao...Tại sao lại có chuyện hồn nhiên như vậy, khi bắt phèo lòng lợn, lòng chó, khi ăn cái miếng dồi chó cứ phải có mùi inh ỉnh một tí mới thấy nghi hoặc giữa cái sang và bẩn...Giữa cái thơm tho và mùi khăm khẳm. Bá Cao, cười khì: Quả là cái lũ này cũng chui được xuống tận đây...Nhưng cho vào lửa thì thành thơm đó...Tại sao cái anh tàu lại treo thịt cho có bọ rơi xuống chậu bột? Tệ thật, cái món ấy!...

Nháy mắt, hắn đặt một đĩa còn bốc khói trước mặt mọi người. Cả Di cười bảo Đội Oánh.

- Anh bảo ở Hà Thành làm sao có được cái món này?

Bộ râu cá trê của Đội Oánh nhảy loạn xạ lên bởi mùi thơm từ thịt chó xào. Bá Cao giảng giải.

- Người ta chuộng giã cày vì sao? Vì phải chín cả xương lẫn thịt. Chứ thịt chó xào lại khác. Thịt nạc, mềm lắm, ngọt lắm. Có vị giả cày và anh luộc nữa...Xin mời đi.

m Căn khoát tay:

- Thật nể chú Cao...Kể có đợt đầu quân nào chú nên đi...ở lại làng quê thật uổng...Chú giống các cụ nhà ta phải phát đằng võ.

Bá Cao chạnh buồn chột nhớ đến sự hiển hách của tổ tiên. Hắn chặc lưỡi, cười, tiếng cười ằng ặc chưa kịp toát ra khỏi miệng, đã bị kéo vào trong.

- Bác Căn nói đúng đấy...Tôi với bác phải đầu quân thôi...ở lại đây gác bọn đàn bà làm trại thấy bức bối lắm...

Dạo đó ông Cuông chưa bán đồn điền Mã Cọp. Ông Cuông nghe theo lời cha dẫn cả bầu đoàn thê tử về La Hà để sinh sống. Bố ông Cuông từ quan ra đi, người ta đồn rằng theo chiếu cần vương, lại có kẻ phao tin đi sang Nhật theo thuyết “Đông Kinh nghĩa thục” của cụ Phan Chi Trinh. Muốn các con không bị liên luỵ mà bảo ông Cuông về mua đất mở đồn điền để khai khẩn phòng lúc thất thế. Có thể dựa vào sự tự túc mà sống qua ngày.
Ông Cuông nghe theo lời cha dặn bỏ tiền ra tậu đồi đất hoang ở vùng bán sơn địa. Mã Cọp, Mã Hầm nơi ngày xưa là bãi đổ quân của vua Lê Lợi. Từ đây mà qua Thần Phù chỉ việc theo sông Tra, sông Mẹ. Lại có thể theo con đường kinh lý mà tới Thăng Long. Lúc bĩ cực có thể rút vào núi cao rừng rậm mà sang đất Ai lao...Xiêm La. Ông Cuông cũng có hoài bão bỏ tiền ra lập đồn điền, chỉ huy theo kiểu nhà binh. Có sơn trại, lập các đội và người làm công. Ông lại cho mời thày dạy văn và võ. Cha ông đã bảo, không có cái văn thì nói người đời không lọt tai. Nhưng nói hay mà không có sức mạnh làm sao ngăn được sự trái với đạo trời. Ông có vẻ khắc nghiệt khi quản lý từng bữa ăn của phu. Nhưng ông nhân đạo hơn các thế hệ đi trước là dạy cho họ biết chữ nghĩa. Ông lý luận, ngu dốt thì dễ cai trị, nhưng gặp sự tức giận của ngu dốt thì nó phá hoại, hhó bảo ban. Còn có hiểu biết thì dễ nhận ra cái lý. Người chăn dắt không được hà lạm. Ông Cuông lấy đến ba bà vợ. Bà vợ cả vốn người họ Trịnh tận bên Bồng, không sinh hạ cho ông được đứa con nào. Người ta lại bảo do cái nợ tổ tông nên phải trả. Bà cả tục gọi là Mệ (mẹ) sợ của rơi vào tay người khác nên dắt em gái đến làm vợ hai. Bà hai sinh được ba con gái và một con trai. Con gái đầu thì lấy chồng là người họ Đình, làm được cái chân phó tổng bên tận Căng Hạ, các cô con gái lần lượt xuất giá. Của nả kìn kìn ra đi. Bà hai từ khi có quí tử, càng lên mặt coi khinh chị gái của mình. Uất chết được, bà mới mai mối bà ba cho ông Cuông.

Lại nói chuyện Quì Cốc Tiên sinh là người tận ngoài huyện Hà, nơi cha ông Cuông làm quan ở đó. Tên là Cốc con ông Quì. Nhưng khi hành nghề bói toán không hiểu bạn bè có ai đùa gọi trái ra là Quỉ Cốc... Cốc mặc kệ. Dương dương tự đắc là người có tài về bấm độn lý số. Nhà Cốc cũng có bát ăn bát để nên được học hành từ nhỏ. Tuy nhỏ tuổi nhưng có tiếng là lanh lợi, ứng khẩu đối đáp không chê vào đâu được. Lại còn được đồn đại vốn là thúc bá chi tử với vua quan nhà Nguyễn đàng trong.

Vì vậy khi ông Quì dương dương tự đắc cho rằng có ngày cha con ông sẽ cưỡi đầu cưỡi cổ thiên hạ.Ông Quì phải vất vả lắm mới đỗ được chân tú tài. Nhưng lại là người đầu tiên của làng nên rất được trọng vọng. lại được bổ về huyện Hà là nơi cha ông Cuông làm việc. Thấy tính tình xởi lởi của ông Quì, lại có người em vợ khéoléo, ăn nói dễ nghe nên bà cả rất mến. Bà cả chủ động bàn với ông Cuông. Họ hàng nhà ta vốn gia thế. Tổ tiên có công khai khẩn đất đai, chả gì cũng có ruộng cho người cấy thuê cấy rẽ. Có năm cả tổng, cả làng mất mùa cụ cố chẳng cho làng xã vay lúa nộp thuế. Bây giờ ông cũng đã có con gái, con trai với em tôi rồi. Tôi thì chịu phận thiệt thòi. Nhưng ông còn muốn rong ruổi đó đây...Tất phải sinh con. ông nhìn thấy thằng Cả nó chỉ chí thú chuyện ăn chơi, của nã mấy lúc mà hết. Nên đã liệu chuyện lấy vợ ba cho ông. Ông Cuông thất sắc lo có chuyện gì không vừa lòng bà nên đùa:

- Thế bà đã nhắm được đám nào rồi?

- Em gái bác Quì, ông thấy thế nào?

Ông Cuông lấy bà ba sinh được cậu Di, cậu Vệ và cậu Căn, cô Quyên. Ông Cuông không có chức tước gì lớn, dựa vào oai của cha là ông Cả Chuông làm chức tập ấm. Do đằng bên vợ mà nên. Ông Chuông cũng vì bất đắc dĩ mới từ quan đi theo tư tưởng Duy Tân, nên cho ông Cuông về quê như ta đã biết.

Quì Cốc gọi ông Cuông bằng dượng, và đám Di, Vệ , Căn là con cô con cậu với Cốc. Cốc lấy con bà Chánh Be là họ phía bà cả, bà hai nên cũng coi là họ hàng đôi bên. Kể ra Quì Cốc cũng có chức tước rồi. Học hết chữ Hán do cụ đồ Hà dạy xong vào Huế học tây.
trường quốc học hắn đam mê một con me tây. Me tây là người ta nhưng vào làng tây. Chồng lại là giáo sư dạy tiếng Pháp ở trường quốc học. Thấy Cốc thông minh, biết Hán học lại mê sách tây nên mới đưa về nhà cho đọc sách và làm long tong ghi chép. Không ngờ Cốc nhẹ dạ, bị con me tây nó chài. Chồng của mụ mới vớ được hai đứa gian phu dâm phụ làm trò trên giường. Hắn mới bắt trói nghiến Cốc lại. Bắt làm chân dọn nhà xí của trường tây, toàn bọn tây đàn bà học. Theo Cốc nói thì nước đái của bọn đầm đã xông lên, làm cho hắn mù mắt. Có người từ trong kinh ra nói với dân làng. Thằng Tây thày bắt Cốc chưng cất phân bọn đàn bà tây để làm nước hoa. Cốc hỏng mắt do phải tiếp xúc với mùi xú khí. Cốc bỏ học khi còn dở mù dở đui về sơn trại của dượng Cuông. Ông Chánh Be, vốn là người mê lí số nên rất hợp với Cốc...Một hôm Cốc đi uống rượu đâu ở trên Mường về. Qua cầu khỉ không đi nổi bị rơi tõm xuống sông nhà Lê. Người ta vớt lên may mà còn ngấp ngoải. Gặp kỳ nghỉ hè của Đội Oánh và m Di nên mới cứu được...Một tháng sau thì Cốc mù hẳn. Lập đàn tràng ở ngôi mộ của bà ăn mày chết nơi gốc gạo chợ Rạng mà xưng là Quì Cốc tiên sinh giáng thế. Hắn bói cho khắp bàn dân thiên hạ...Một lần Chánh Be thấy Cốc cùng con gái ôm nhau trên đảng rơm. Biết có làm om sòm cũng chẳng được gì nên cho cưới chạy chửa hoang. Cốc tuy không có chức vụ gì nhưng nhờ thế lực của Chánh Be, của nhà m Cuông, lại biết lý số nên trở thành người phát ngôn của La Hà...Người đời cứ đơm đặt ra bao điều làm uy tín của Quì Cốc thành lớn. Ví dụ chuyện mất của, chuyện gái lộn chồng , chuyện nặc nô trên đời, hắn phán đợc rõ ràng, lí lẽ.
Không ai lạ gì Quì Cốc, Đội Oánh, ấm Vệ xuất hiện ở nhà Quản Mầm. Mắt Quì Cốc không thấy gì nhưng lại nói đúng hơn cái loại có mắt.
- Tôi nói với các ông chứ! Tình hình này bọn Tây sẽ cho máy bay ném bom phá đập nước đầu nguồn như chơi!
- Bác căn cứ vào đâu?
- Năm nay có phải là Quí Tị không?
- Quí Tị thì tất là phải sinh Kim rồi!
- Này bác Quì Cốc tiên sinh ...Bao giờ thì em lấy được chồng? - Tuyết bá vai Cốc ...Cắp vú vô tình áp vào vai . Mặt Quì Cốc, đôi mắt hư vô ngửa lên trời, miệng cười của kẻ không ý thức được sự đánh mất của bản ngã. Hắn lại bám chặt vào sự mù loà, vào sự ngu muội của loài người, tự cho hắn là nhà tiên tri, đọc được trong vùng không ai biết .
- Thím Tuyết hả?... Thím là người trời...Quì Cốc cười giọng hằng hặc y tiếng chó sủa.
- Bác lại đùa em rồi! – Tuyết dúi cái đầu to như chiếc nồi đất – Tài như bác Quì Cốc đoán xem chiến tranh sắp kết thúc chưa nào?
- Xuỳ! ...Nói đùa ...Quân của tướng Na Va vừa đổ vào Điện Biên...Bên Ai lao, Cao Miên cũng vừa tăng viện- Đội Oánh không nói hết suy nghĩ...
- Thôi...Không bàn đến chiến tranh, vui đi...Dì út đa đàn đây...Mời các quan bác vào chiếu đi...ấm Vệ chưa kịp nói hết câu thì tiếng động cơ máy bay à à bay rẹt qua...Đạn ca nông vanh xả loạn xạ lên...Đèn đóm tắt phụt, mạnh ai nấy chạy...ẩm Vệ chưa kịp cầm đàn, vội kéo ngay út Thờng ra tăng xê. Tăng xê được đào kiểu hàm ếch vào con đường mà tướng Bá Khai đắp từ thời xửa thời xa...
Bom lại nổ dập xuống, không kịp cho ai suy nghĩ điều gì. Tâm lý sợ sệt bao trùm xuống làng xóm.
Tiếng của ai đó hô hoán:
- Máy bay bỏ vỡ đập rồi!
- ố làng nước ơi! Vỡ đê...Vỡ đê rồi...Làng nước ơi!
Tiếng trống nổi lên từ các điếm canh đê...Không ai nói ra nhng biết cái đói đang ập đến rất gần.



CÒN TIẾP ....



TỪ NGUYÊN TĨNH

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC