Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



ĐỐI THOẠI VĂN CHƯƠNG





Chương Sáu

ĐỐI THOẠI THÁNG SÁU

(câu 169 – 193)


169. Nguyễn Đức Tùng:

Biết nhường đường cho một thằng ngu

Bạn sẽ chẳng bao giờ phải hối

Hãy về rừng Côn Sơn mà nghe gió thổi

Đến sông Bạch Đằng mà ngắm trăng lên…

Anh có cảm nghĩ gì về bài thơ này của mình?

Anh từng nói: “tôi đã được xác định là một nhà thơ thế sự”, và “hình như không có chất thế sự, thì không phải là thơ của tôi”.

Anh có đồng ý và hài lòng với nhận định hay cách phân loại như thế không?

Trần Nhuận Minh:

Tôi nghĩ, về thơ tôi, cái chính là gọi cho đúng tên, còn tác giả có đồng ý hay không, hài lòng hay không, điều đó chả quan trọng gì về mặt giá trị khách quan. Nhưng đúng, tôi là một nhà thơ thế sự. Cái hay ở đấy và cái hạn chế, chắc chắn là có, cũng từ đấy mà ra.

Đọc bài thơ bốn câu này, có bạn khuyên tôi nên thay ba chữ “một thằng ngu” cho câu thơ thanh thoát hơn. Về mặt ngôn ngữ thì có thể như vậy, nhưng về nội dung thì có lẽ không xong. Vì chỉ cần thay ba chữ ấy thôi, hai câu thơ rất tâm đắc 3 và 4 của tôi sẽ nhẹ tếch và chả còn có ý nghĩa gì. Và như thế, việc gì phải về rừng Côn Sơn, nơi cụ Nguyễn Trãi chịu án tru di ba họ mà nghe gió thổi. Ngọn gió từ ngày vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, bị cái nhà nước do cụ góp xương máu tạo dựng lên, chém đầu… vẫn còn lẩn quất đâu đó trong rừng sâu kia và vẫn đang nói với hậu thế một điều gì đó… Nhưng anh phải thế nào mới nghe được cái tiếng nói hư huyền và nghiệt ngã ấy chứ? Đâu có dễ ai cũng nghe được? Bản chất của việc “biết nhường đường” không phải chỉ là sự hơn thua một bước đi trên sân khấu đời người, mà còn ở cái lẽ huyền vi của số phận. Cái nọ liên quan tới cái kia. Tôi lại nghĩ: giá những năm 1440 – 1442, cụ Nguyễn “ biết nhường đường…” không vào triều nhận và thực thi các chức vụ cũ và mới, thì cái chết thảm khốc của cụ chắc gì đã xảy ra… Họa phúc hữu môi phi nhất nhật (họa và phúc đều có nguyên nhân, không chỉ trong một ngày). Chính cụ đã nói thế… Việc xưa qua rồi, nhưng cái tiếng kêu thảng thốt trong gió và cả trong máu nữa, của nó, vẫn mãi mãi còn đấy như một lời cảnh tỉnh… Và cao hơn, ở những trường hợp “đặc biệt”, có thể còn liên quan đến vận mệnh quốc gia, như đã từng xảy ra trong lịch sử. Khi người có công, có tài bị giết, nội bộ lục đục tranh giành, vận nước sẽ suy, giặc ngoại xâm sẽ hiện ra ngay trên đầu ngọn sóng… Một trang sử Bạch Đằng giang, đâu phải thời kỳ nào, dân tộc nào cũng viết ra được.

Cũng trong cảm quan thế sự ấy, một bài thơ khác, tương tự.

CHÓ CŨNG SỦA NHẦM…

Chó cũng sủa nhầm, anh hãy mở cửa ra

Người bạn tốt nhất của anh thường ít đến thăm nhà

Kẻ bợ đỡ anh mà anh lại tin yêu

thì anh là một thằng ngu

Và suốt đời anh không phải chọn kẻ thù…

Bạn tinh nghề sẽ nhận ra cái mạnh đi liền với cái yếu trong nội dung và hình thức của hai bài thơ trên. Tôi cũng nhận ra, nhưng không khắc phục được. Bởi cái này hy sinh cho cái kia, như cái vết lõm đằng sau tấm huân chương mà người đời đôi khi đeo trên ngực mình. Không biết tôi nghĩ thế có phải không?

Việc định danh là thơ thế sự hay thơ gì gì đó, chỉ có ý nghĩa về mặt nghiên cứu để thấy sở trường sở đoản của từng người, mà nhận ra sự phong phú của một nền thơ, mỗi người một cách nhìn, một giọng điệu, hay như người ta thường nói một phong cách, thậm chí một thi pháp… chứ cuối cùng, đã là thơ thì chỉ cần hay mà thôi. Thơ loại gì, thế sự hay thế giới gì gì khác, đâu có quan trọng.

170. Nguyễn Đức Tùng:

Nhuận Minh tôi buồn

đi lững thững một mình trong giá rét…

Tôi cho rằng cái mạnh bậc nhất trong thơ thế sự của anh, như trong bài Giao thừa mà tôi trích câu vừa rồi, nằm ở chỗ nó có khả năng thể hiện trực tiếp con người tác giả.

i cũng tự hỏi, trong hoàn cảnh xã hội ngổn ngang hiện nay, tại sao thơ thế sự lại ít người viết hoặc ít người viết được hay đến thế?

Trần Nhuận Minh:

Thơ thế sự là thơ nói về lẽ đời, sự đời. Nghĩa là thơ hiện thực chủ nghĩa. Lối thơ này cho phép trình bày những mặt trái của xã hội diễn ra trong đời sống, tác động chủ yếu là tiêu cực vào các số phận người. Vị thơ của nó chủ yếu là cay đắng, chua chát. Nói chung, các nhà cầm quyền thường không ưa chuộng, nhưng nhân dân thì yêu thích.

Ở Việt Nam, loại thơ này có cơ sở từ những thập niên đầu của thế kỷ XIV, với thơ của Trần Quang Triều, Nguyễn Ức, Nguyễn Sưởng... thời Trần. Đến năm 1858, khi người Pháp nổ súng vào Đã Nẵng, mở đầu cuộc xâm lăng Việt Nam thì không còn mấy ai làm. Đến sau năm 1945 thì nó đã trở thành thứ lạc lõng. Đến những năm 60 - 75 của thế kỷ trước, khi “ra ngõ cũng gặp anh hùng” và xã hội được tuyên bố là “không có bi kịch”, chỉ có hạnh phúc thôi, thì nó trở thành “phản động” và mất hẳn. Còn bất cứ ai làm, dù chỉ ghi trong sổ tay thôi, nếu bị phát giác, cũng rất lôi thôi và không ai đoán trước được số phận sẽ như thế nào… Đến năm 1986, với phương châm: nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, thì nó bắt đầu được phục hồi. Nhưng người viết còn rất dè dặt, bởi những bài học xót xa, cay đắng, thậm chí hoảng sợ, không chỉ cho một mình mình, của quá khứ, vẫn còn đó.

Vào những năm 1986 – 1988, tôi cho đăng hàng chục bài thơ hiện thực về các số phận người, thì nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi là người đầu tiên tuyên dương: thơ Trần Nhuận Minh đã lật cánh để bay ở một tầm cao mới; và nhà thơ Vân Long là người đầu tiên nói rằng: “trong làng thơ, chỉ riêng anh có’’, và đặt tên cho loại thơ đó của tôi là ‘‘thơ chân dung’’, mà sau Vân Long, nhiều người dùng lại thuật ngữ này. Có lúc tôi cũng băn khoăn không biết gọi thơ thế sự là “thơ chân dung” có đúng không, hay là thơ thế sự về các chân dung của người đời. Nhưng nghĩ lại thì gọi thơ mình là gì không quan trọng và cũng không phải là việc của mình. Việc của mình chỉ là cố sao viết cho hay, vậy thôi. Tuyển tập Thơ Việt Nam thế kỷ XX của Nhà xuất bản Giáo dục, 2005, do ba nhà thơ Vũ Quần Phương, Nguyễn Bùi Vợi và Quang Huy biên soạn, trong lời bình, nhà thơ - soạn giả Nguyễn Bùi Vợi còn viết thêm: Trần Nhuận Minh “không né tránh một sự thật nào, dù là đau đớn kinh hoàng đến đâu. Tập thơ đã được tái bản (...) đưa Trần Nhuận Minh lên vị trí hàng đầu trong số những nhà thơ thời chống Mỹ cứu nước”.

Gần đây nhất, ngày 12 tháng 12 năm 2010, Tham tán văn hoá đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ, nhà thơ Hàm Anh Phạm Thanh Thủy có giới thiệu tập thơ Bốn mùa của tôi, với các nhà văn Ấn Độ, ý cũng tương tự:

I am sending you here - with the English version of a poetry book. He is one of the best Vietnamese poets in current time, the representative of the “war-time generation” is still appreciated by the nowadays readers”. (Tôi xin gửi kèm theo đây bản dịch tiếng Anh của tập thơ. Tác giả là một trong những nhà thơ quan trọng nhất đương thời, đại biểu của thế hệ các nhà thơ chiến tranh, đến nay vẫn còn được đông đảo người đọc yêu quý. Nguyễn Đức Tùng dịch - tôi ghi nguyên văn tiếng Anh vì tôn trọng tác giả bức thư).

Đối với tôi, đây không phải là một “đột biến”, như có người nói, mà là sự phát triển đến cùng của một dòng chảy đã có manh nha từ khi tôi viết bài đầu tiên, bài Chiếc đòn gánh cong, năm 1960: yếu tố thế sự về số phận con người hoà đồng vào không khí lạc quan phát triển của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa lúc mới được xác lập, nên nó thanh thoát, dù cấu tứ còn duy lý và khiên cưỡng như tôi đã nói.

Đến đổi mới, yếu tố ấy tách ra và phát triển thành một xu hướng riêng, cả về tư tưởng và nghệ thuật. Nếu anh lưu ý như tôi nói, sẽ thấy sự nhất quán đó; và như thế, yếu tố tiến bộ của quá khứ được bảo tồn và phát huy, trong vòng 50 năm, chứ không phải loại bỏ hay loại bỏ hoàn toàn. Có thể cũng vì thế chăng, mà ở xu hướng này, bước đi của tôi có vẻ bạo dạn hơn và có lẽ cũng có phần quả quyết hơn, so với một vài đồng nghiệp khác, đến với loại thơ này muộn hơn.

Viết về mặt trái của đời sống và đôi khi về cơ chế xã hội, nhưng tôi viết với sự chia sẻ từ trong gan ruột, là nỗi đau của chính mình. Nhà thơ Bằng Việt, trong lời giới thiệu thơ tôi đăng trên tạp chí Nhà văn (số 1/2001), có nhận xét rất đúng rằng: “Anh chỉ đau đáu niềm đau duy nhất: “đau đời”. Nỗi đau nhân sinh đó, trong anh, vừa ở góc độ cá thể hoá, vừa ở tầm phổ quát”.

Với lối viết chân thành và bình đạm, tôi chỉ từ tốn trình bày các cảnh huống, các số phận, có khi có một lời bình luận, còn thường thì không, không nói thêm gì… vì tôi muốn hiện thực trong bài thơ sẽ tự lên tiếng. Bút pháp ấy, tôi học được ở các nhà thơ cổ điển Việt Nam và Trung Hoa. Có lẽ vì thế chăng, mà thơ tôi được chấp nhận rộng rãi. Tập thơ tựu trung hàng trăm gương mặt và số phận đó, là Nhà thơ và hoa cỏ, 113 bài (nếu kể cả những bài thơ ngắn trong hai chùm, là 127 bài, có bài 10, có bài đến 25 số phận thăng trầm khác nhau). Nhà nghiên cứu phê bình văn học Thái Doãn Hiểu đã nhận định rằng, cùng với Bản Xônát hoang dã, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh, Nhà thơ và hoa cỏ là “hồ sơ của cả một xã hội, của cả một thời đại”. Tập thơ Nhà thơ và hoa cỏ (cùng với tập thơ Bản Xônat hoang dã) đã được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, được đưa vào phần “Khái quát về sự phát triển của nền văn học Việt Nam,” trong sách giáo khoa lớp 12, cuối cấp phổ thông, chứng tỏ công cuộc đổi mới là có thật và những nhà đảm trách nó, đã làm công tâm và thật lòng. Sau này, một vài nhà thơ khác cũng viết theo cách của tôi và một nhà phê bình nhận xét rằng, thơ tôi đã tạo được từ trường, tức là có sức hút nhất định và có ảnh hưởng tốt đến một số đồng nghiệp nhất định.

171. Nguyễn Đức Tùng:

Anh có làm thơ chính trị không?

Theo anh thơ thế sự và thơ chính trị khác nhau điều gì; mối quan hệ của chúng với nhau ra sao?

Trần Nhuận Minh:

Trước hết cần xác định nội hàm của khái niệm thơ chính trị. Theo tôi, thơ chính trị là thơ phục vụ yêu cầu của công việc chính trị, với tư cách là một công cụ tuyên truyền, giúp cho việc cai dân trị nước của các nhà cầm quyền. Và như thế, thời nào, quốc gia nào, cũng có thơ chính trị. Và về cơ bản, ở những nét cốt lõi nhất, thơ chính trị của mọi thời, ở mọi nước, đều giống nhau, vì cùng có chung một yêu cầu.

Ở nước ta, thấy rõ hơn cả: thơ Tao đàn thời Lê Thánh Tông, thơ đánh giặc xâm lăng, và thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa một thời ở miền Bắc, với linh hồn là tính Đảng cộng sản, là thơ chính trị. Về mặt chủ đề, thơ chính trị là dòng thơ lớn nhất của mọi thời và mọi quốc gia, vì nó liên quan đến vận nước.

Tôi là người làm thơ chính trị chủ yếu từ năm 1954 đến năm 1976 (đăng báo từ 1960) rất tâm huyết và say mê, với 166 bài, 2 trường ca đã xuất bản thành sách, chưa kể, với số lượng nhiều hơn thế, tôi đã bỏ lại trên các báo trung ương và các địa phương. Thời gian từ 1976 đến 1985 có lỏng lẻo hơn. Từ năm đất nước bước vào công cuộc Đổi mới 1986 đến nay, tôi làm thơ thế sự và chỉ duy nhất làm loại thơ này, dù mức độ đậm nhạt có khác nhau ở từng giai đoạn thơ trong các tập thơ đã xuất bản.

Bước chuyển về nhận thức, có ý nghĩa quyết định của thơ tôi, liên quan đến một chuyến đi Huế, kinh đô cũ của thời Nguyễn, cuối năm 1975, sau khi đất nước đã thống nhất. Tại đây, nhạc sĩ Trần Hoàn, lúc đó là Thường vụ tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh ủy, Giám đốc Sở Văn hóa tỉnh Thừa Thiên - Huế, đã tự làm lái xe, đưa tôi đi chơi suốt ba ngày và sáng ngày 01 tháng Giêng năm 1976, mời tôi đến dự một cuộc tiếp xúc và chuyện trò với một số văn nghệ sĩ tiêu biểu của thành phố Huế, với tư cách là một nhà thơ đại diện cho giai cấp công nhân từ ngoài Bắc vào. Sau đó, tôi còn được mời đến dự hai cuộc khai trương hai quán cà phê do hai họa sĩ nổi tiếng của Huế mở tại tư gia. Tại cuộc tiếp xúc này, tôi chợt nhận ra một điều vô cùng hệ trọng, và điều ấy đã làm tôi hoàn toàn mất ngủ cả đêm 01 tháng 01 năm 1976 tại khách sạn 2 Lê Lợi. Tất nhiên, một phần có thể còn vì cà phê mà tôi uống chưa quen, nhưng điều ấy chắc chắn không phải là chủ yếu. Ấy là, trong khi cả nước đã vượt qua cầu Hiền Lương vào đến tận mũi Cà Mau, mà nhận thức về thơ của tôi vẫn luẩn quẩn trong vòng đai của những người thợ mỏ, của giai cấp công nhân và nhiệm vụ của nền chuyên chính vô sản, trong cuộc đấu tranh giai cấp để giải phóng cho người bị áp bức và bóc lột. Tôi chợt nhận ra rằng, tôi chỉ có thể trở thành một nhà thơ đích thực, khi thơ tôi cần cho cả các vị họa sĩ Huế duy mỹ này, cho cả những người không cần biết đến chuyên chính vô sản, cho cả những người, do những trớ trêu của lịch sử, đã từng cầm súng ở phía bên kia, và, cho cả những người đang ầm ào hoặc lén lút trốn chạy khỏi Tổ quốc của chính mình… Tức là thơ phải thuộc về nhân dân, thuộc về Con Người.

Tôi bàng hoàng với cảm nhận mới này. Bởi tôi đã học ở rất nhiều trường, nhưng chưa một ai dạy tôi điều cốt lõi làm lòng tối thiểu và vô cùng giản dị như vậy.

172. Nguyễn Đức Tùng:

Thưa anh, có thể nào có một loại văn chương vừa viết cho người ủng hộ chuyên chính vô sản lại vừa viết cho người không cần đến chuyên chính vô sản, vừa viết cho người “trốn chạy khỏi Tổ quốc” lại vừa viết cho anh du kích cầm súng hay không?

Trần Nhuận Minh:

Có. Có chứ. Có loại thơ đó đấy. Chỉ có điều, trước khi vào Huế, tôi chưa hề nhận ra. Bởi tất cả những người trên đều là con người, thậm chí có tính danh và đặc điểm rõ rệt là người Việt Nam.

Nếu anh làm thơ cho người Việt Nam thì loại thơ ấy sẽ ra đời…

Trong một lần Thường trực tỉnh ủy Quảng Ninh mời cơm nhạc sĩ Trần Hoàn, khi ông là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Trưởng ban Tư tưởng văn hóa Trung ương, Bộ trưởng Bộ Văn hóa… mà tôi được cùng tiếp, tôi có đứng lên trân trọng báo cáo với Tỉnh ủy về điều đó và có lời rất kính trọng tạ ơn nhạc sĩ, ông Trần Hoàn còn nói thêm: “Mày còn quên một điều là tao đã mặc bộ quần áo đẹp nhất để đưa mày đi chơi,” khiến mọi người đều cười vui khi nâng chén rượu đầu tiên… Và như thế, các vị lãnh đạo của tôi đã nhận ra: sự thay đổi của thơ tôi là từ cách mạng và những bước phát triển mới của thơ tôi cũng là từ cách mạng, và tôi phải cố gắng nhiều hơn để làm sao cho thơ mình đến được với số đông nhân dân.

Về mối quan hệ, như anh hỏi, thì theo tôi, thơ thế sự cũng là thơ chính trị, nếu hiểu theo nghĩa rộng, nhưng loại thơ này, khác hẳn thơ chính trị, theo nội hàm mà tôi đã trình bày ở trên, là nó không có tính chất tuyên truyền và không nhằm mục đích giúp nhà cầm quyền thực thi các nhiệm vụ của mình… Nó đứng về phía nhân dân, để giãi bày và an ủi các số phận; nó đứng về phía con người, để bảo vệ và thăng hoa các giá trị về phẩm giá; nó vượt qua mọi giai tầng; và nếu thành công, thì nó có khả năng vượt qua mọi giới hạn của không gian, của thời gian…

Tôi cũng đã hơn một lần thưa với bạn đọc rằng, quá trình phấn đấu của thơ tôi là đi từ công hhân đến với nhân dân, rồi từ nhân dân mà đến với Con Người. Ba khái niệm ấy là bước phát triển của nhau, rất gần nhau, nhưng hoàn toàn khác nhau về biên độ và nội hàm giá trị…

Và bây giờ, loại thơ mà anh đã nêu ở đầu câu hỏi, ít nhất cũng đã có ba tập trên tay anh rồi đấy. Đó là thơ viết về Con Người, viết cho tất cả những ai có tai mắt người, lòng dạ người, có vui buồn người, tốt xấu người... với cung độ, âm hưởng và hương vị khác nhau, đầu tiên là còn bảng lảng trong tập thơ 15 năm của tôi: Nhà thơ và hoa cỏ, sau đó thì tụ lại rất riêng rẽ, nhưng hầu như hoàn toàn, và hầu như chỉ có hoàn toàn một điều ấy mà thôi, trong ba tập thơ của tôi ở đầu thế kỷ XXI: Bản Xônat hoang dã, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh Miền dân gian mây trắng. Tôi hy vọng ít nhất là ba tập thơ ấy (hãy chỉ nói trong phạm vi tôi có, chưa nói các tác phẩm của các nhà thơ khác mà tôi chưa thống kê được) như ba gian của một ngôi nhà Việt Nam, đầm ấm, thân thiện, giản dị và cởi mở, được đón tất cả những ai, từng có vị trí và số phận rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, như anh đã nói ở trên... đều bỏ lại ở bên ngoài tất cả những phụ tùng xã hội cồng kềnh và nặng nhọc đó để gặp nhau ở đây, trong những cái bắt tay, những nụ cười hay những giọt nước mắt, mà không bao giờ phải cần bất cứ một người nào đứng ở bên cạnh, để dẫn giải hay là để phiên dịch...

Sau bảy năm, tính từ khi xuất bản tập thơ Bản Xônat hoang dã, ngày 16 tháng 9 năm 2010, trong lúc ngồi chờ bay tiếp ở sân bay Hồng Kông, đi Canada, tôi đã làm một bài thơ với cảm hứng chung đó. Anh đã đọc bài thơ này rồi, đúng không?

SUY NGẪM

Người nào cũng có nỗi bất hạnh

Chỉ có điều ta chưa biết

Suy cho cùng, đấy chính là lòng nhân đạo của thượng đế

Để mọi người có cái cớ mà thương nhau

Hãy quên đi những thù hận và ganh ghét

Để bình yên cho mỗi ngôi nhà

Thêm một người bạn, có khi không thêm được một điều gì

Nhưng thêm một kẻ thù là đã thêm tất cả

Những viên đạn vô hình từ bốn phương sẽ đến tìm anh…

Hãy quên đi hận thù và đối kháng

Để bình yên tìm thấy quê hương ở mỗi lòng người…

Hồng Kông 16/9/2010

173. Nguyễn Đức Tùng:

Đặc điểm thi pháp của thơ thế sự Trần Nhuận Minh là có phép đối về hình tượng, tức là gần như bao giờ cũng có hình ảnh của tác giả ở thế đối xứng hoặc tương tác. Đây là một ví dụ khác:

Trước cần lý lịch tốt

Giờ cần có lắm tiền

Phải chăng bác nói đúng

Em ngù ngờ không tin…

Em vẫn vầy vậy thôi

Bụng khi no khi đói

Tiền lúc có lúc không

Vợ chợt mừng chợt dỗi…

Giữa “cần lý lịch tốt” và “cần có lắm tiền”, bi kịch thời đại nào lớn hơn?

Trần Nhuận Minh:

Anh nói đúng và điều đó, quả thực là trước anh, chưa có ai nhận ra, là tôi luôn có mặt như một “đối xứng” hay “tương tác” với hình tượng thơ khách quan mà tôi tạo dựng.

Hai đoạn thơ trên trích trong bài Gửi bác Vương Liên của tôi. Lúc đầu bài thơ có tên là Gửi bác Sáu Hùng. Bác Hùng là chồng chị Sáu, chị họ tôi, nên vẫn gọi là Sáu Hùng. Bài thơ đưa in lần đầu trong tập thơ Hoa cỏ. Nhà thơ Ngô Văn Phú, Tổng biên tập Nhà xuất bản Hội nhà văn chữa lại là Gửi bạn vong niên vì sợ người ta cho là mình ám chỉ ông Sáu, ông Hùng, chức còn cao hơn ông Lành. Hoàng Cát viết Cây táo ông Lành (trùng tên huý của ông Tố Hữu) đã bị vô cùng lao đao, nên anh Phú bảo tôi chớ có dại. Song tôi nói, khí hậu của bài thơ không thể là bạn được, vì bác ấy còn dạy mình làm cách mạng, nên anh chữa lại là Gửi bác Vương Niên (chữ bạn thành bác, vong thành Vương). Đến khi tái bản thì tôi viết Liên (L) và thành tên đến tận bây giờ. Nói thế để anh thấy lai lịch một cái tên cũng đâu có đơn giản.

Hai câu thơ Trước cần lý lịch tốt / Giờ cần có lắm tiền liền nhau, phản ánh hai bi kịch của hai thời đại liền kề nhau, bi kịch nào cũng lớn, tác động vào số phận của hàng loạt người, với hệ lụy không ai lường hết được, thậm chí liên quan đến cả lẽ hưng phế của quốc gia, nhưng bi kịch nào lớn hơn, thực khó mà phân biệt được.

Thực ra thì đến bây giờ, khi tôi nói những điều này, cũng vẫn cần có lý lịch tốt, nhưng mức độ không “khét lẹt” như trước đây. Cả hai bi kịch ở hai thời đại, đều có một tiếng nói chung, giống nhau, là loại trừ người tài, nếu không có lý lịch tốt ở thời trước (hoặc thời nay), tức là thành phần 5 C: “con - cháu - các - cụ - cả ” (dân gian có câu: Con cháu các cụ cả / Cần chi các cụ cho / Có chi các cụ cứu), hoặc không có lắm tiền ở thời sau (cũng là thời nay) mà việc mua bán chức, chạy chức - anh có theo dõi qua tivi - truyền hình trực tiếp không? - đã được cảnh báo và phê phán ngay trong phát biểu chính thức của các đại biểu Quốc hội trên hội trường, tại các kỳ họp toàn thể của Quốc hội. Nghĩa là việc đã thành quốc gia đại sự rồi.

Đặc biệt gần đây, trong Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam toàn quốc lần thứ XI, tháng 1 năm 2011 vừa rồi, việc đó được đặt ra trong phát biểu chính thức của nhiều đại biểu và được truyền hình trực tiếp tại hội trường đại hội. Đấy là những bước đi chắc chắn về những tiến bộ xã hội rất đáng chú ý. Và cũng rất đáng mừng.

Tất nhiên, trong đội ngũ cán bộ của ta, không phải chỉ có hai thành phần đó, nhưng đó là hai thành phần quan trọng, rất “nhạy cảm”, mà tôi gọi là “quý tộc tinh thần” của ngày hôm nay.

Bây giờ thì hình như đã bắt đầu ở thời thứ ba rồi, khi hai “thành phần giai cấp” đó, đã song hành với nhau trong mối quan hệ “môi hở răng lạnh”, vì lợi ích cục bộ, phe nhóm của chính mình, dù đôi khi, cái lợi ích cá nhân và phe nhóm ấy được khoác những tấm áo lộng lẫy sắc màu khác. Lợi ích phe nhóm, khi thì công khai, khi thì âm thầm, nhưng rõ ràng đang điều hành và điều chỉnh các giá trị của xã hội.

Nhà thơ Trần Quang Hải có câu thơ rất sâu sắc đã đăng báo Văn nghệ:

Bây giờ Thị Nở phấn son

Chí Phèo, Bá Kiến ôm hôn nhau rồi…

phản ánh cái thực tế ấy đấy. Chí Phèo và Bá Kiến là hai nhân vật đối lập nhau, một mất một còn trong truyện ngắn kiệt xuất Chí Phèo của nhà văn Nam Cao viết trước năm 1945 (dù kết chuyện cả hai đều chết). Biết làm sao được anh? “Cái nước mình nó thế!” Tôi rất ưng câu nói nổi tiếng đó của nhà văn – giáo sư Hoàng Ngọc Hiến. Nhưng việc đã đưa ra công khai đến mức ấy, thì nhất định sẽ có biện pháp phòng ngừa… Tôi tin vào những bước đi của đất nước trên chặng đường phát triển…

174. Nguyễn Đức Tùng:

Câu chuyện đổi tên của bài thơ từ Gửi bác Sáu Hùng thành Gửi bác Vương Liên chứng tỏ cái tên của nhân vật không quan trọng. Tên không quan trọng vì nhân vật ngoài đời là ai không quan trọng. Điều ấy chứng tỏ cách gọi tên thể loại thơ của anh là thơ chân dung hình như không chính xác lắm? Nó khác với các bài thơ của Xuân Sách, chỉ rõ các nhân vật, tức là thơ chân dung thực sự.

Tôi biết rằng hiện nay nhiều người vẫn sử dụng khái niệm thơ chân dung ở nhiều trường hợp khác nữa một cách nhầm lẫn.

Tuy nhiên về mặt tổng quát, và đặc biệt trong trường hợp thơ Xuân Sách, tôi nghĩ thơ chân dung chưa phải là thơ.

Tả Hoài Thanh như thế này:

Vị nghệ thuật nửa cuộc đời

Nửa đời sau lại vị người ngồi trên

là tuyệt diệu. Nhưng tôi cũng tự hỏi: đó có phải là thơ chăng?

Trần Nhuận Minh:

Thực tình, tôi cũng băn khoăn về thuật ngữ “thơ chân dung” mà nhà thơ Vân Long, là người nói đầu tiên, chỉ những bài thơ có tên người của tôi. Cho đến tận bây giờ, tôi cũng không nghĩ đó là thơ chân dung, mà là thơ về các số phận người, mà tôi khái quát hình tượng nhân vật theo phương pháp “điển hình hóa” của chủ nghĩa hiện thực. Có lẽ căn cứ từ gợi ý của nhà thơ Vân Long mà nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã viết một bài rất đặc sắc về thơ tôi, đăng trên tạp chí Văn hóa văn nghệ Công an, số tháng 10/1998: Trần Nhuận Minh – Người bay bằng chân.

Vì thế, anh nói: “Gọi tên thể loại thơ của anh (TNM) là thơ chân dung, hình như không chính xác lắm?” là anh nói đúng đấy. Và anh cũng là nhà phê bình văn học đầu tiên, rất tinh, đã đặt ngược lại vấn đề này.

Còn quan niệm: “Về mặt tổng quát, và đặc biệt trong trường hợp thơ Xuân Sách, tôi (NĐT) nghĩ thơ chân dung, chưa phải là thơ”, cũng là một ý kiến mới, nhưng tôi nghĩ cần bàn lại. Thơ chân dung vẫn là thơ, thậm chí thơ hay, hoặc có thể, rất hay, vấn đề không phải là thơ ấy viết về cái gì, ở đây là về chân dung, mà là hàm lượng nghệ thuật của nó. Ví dụ rất rõ ở hội họa. Bức tranh chân dung Người đàn bà xa lạ của họa sĩ Nga, Ivan Nikolaevich Kramskoi, hoàn thành năm 1883, bức tranh duy nhất mà bản sao, hiện treo trong phòng khách của tôi, là một kiệt tác của hội họa thế giới. Đặc biệt bức tranh chân dung nàng Mona Lisa, La Jonconde của hoạ sĩ thiên tài thời phục hưng ở Italia, Leonard de Vinci (1452 – 1519), hiện đang bày ở viện bảo tàng nổi tiếng thế giới Louvre (Pháp), là một trong những kiệt tác số 1 của nền nghệ thuật nhân loại đó thôi. Điều ấy thì anh chả lạ gì.

Nghĩ như anh về thơ chân dung, tôi e tự bó hẹp mình trong một quan niệm có phần cứng nhắc. Xin nói thêm, tên tất cả các nhân vật của thơ tôi đều không phải là tên thật ở ngoài đời, dù bài thơ nào cũng xuất phát từ một người có thật, hoặc được gợi ý từ một việc có thật. Như đã nói ở trên, tôi đã sử dụng phương pháp “xây dựng nhân vật điển hình” của chủ nghĩa hiện thực, mà F. Engels đề ra, để tạo dựng các chân dung thơ của mình, để người đó vừa là “người đó”, với tư cách là một cá thể riêng lẻ, như tôi đã gặp hoặc sống cùng với họ, nhưng đồng thời còn là “loại người đó”, với tư cách là một khái quát nghệ thuật mang tính cộng đồng, để anh sẽ nhận ra là anh đã gặp “nhân vật thơ” của tôi ở bất cứ đâu, ở bất cứ thời gian nào. Tôi cũng đã đọc ý kiến phản bác Engels của ông Từ Tuấn Tây, được truyền bá khá rộng, nhưng tôi vẫn nghĩ Engels đúng, chỉ có điều bây giờ, tôi không coi bất cứ cái gì là duy nhất đúng. Vẫn có cái đúng khác nữa mà anh phải nhận ra, vì hiện thực bao giờ cũng đa dạng, cần phải có nhiều góc nhìn, nhiều cách hiểu, thì nó mới hiện ra đúng như nó đang tồn tại. Các cụ xưa dạy: ngoài trời còn có trời là vì thế. Chân lý cũng như lòng yêu nước, không phải độc quyền của bất cứ ai.

Có thể kể ra hàng trăm nhân vật, con số đó là có thể đấy, nếu anh rỗi, thống kê lại trong cả tập Bốn mùa của tôi, đủ các hạng người, từ ông Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc đến cô gái điếm không tên tuổi… Mỗi nhân vật đều được mô tả khác nhau qua các đặc trưng của thơ, cũng qua cả các tình huống và cách tiếp cận cụ thể của nhân vật trữ tình với đối tượng được miêu tả, có nhân vật được mô tả cận cảnh, viết trực tiếp như một ký sự ngắn, có nhân vật thấp thoáng hiện lên trong ký ức người này hay trong chuyện kể của người kia, với các bút pháp uyển chuyển linh loang, không ai giống ai, không bài nào giống bài nào. Nói như nhà thơ Vũ Quần Phương thì đây “như một hồ sơ xã hội, hồ sơ lưu sự kiện, lưu con người, lưu được cả tính cách xã hội”, còn nhà nghiên cứu phê bình văn học Thái Doãn Hiểu thì cho rằng: “Đó là hồ sơ của cả một xã hội, của cả một thời đại” (Trần Nhuận Minh và ba lần định vị cho thơ - sách đã dẫn). Việc đặt tên khác với tên thật của nhân vật, cho phép mình điển hình hóa nhân vật. Nếu anh không đặt tên khác, anh không thể “chung sống hoà bình” được với nhân vật của anh, nói theo nghĩa đen của từ này, nghĩa là anh hoàn toàn yên tâm, không sợ bị thù oán, không lo “gặp rủi ro” trên đường… Anh cũng không bị cho là kẻ xấu chơi “người ta đang yên đang lành, bỗng có một thằng xấu tính, không biết ở đâu đến, đá luôn vào khoeo mình…” (lời nhà thơ Tố Hữu).

Thơ chân dung của Xuân Sách là một trường hợp khác. Trong 100 chân dung của ông, chỉ có khoảng dăm bảy chân dung là “tuyệt diệu” như anh nói. Và như thế đã là quý lắm, hiếm lắm, là “đặc sản” rồi. Những chân dung này gây chấn động, vì lần đầu tiên, nó-cái bản chất của vấn đề, của thực tại, của sự nghiệp văn chương ở một số tác giả lớn - được phơi ra trong một ánh sáng mới, gay gắt mà đáng buồn cười, cái mà nhiều người cũng nghĩ như vậy, nhưng không một ai dám nói ra, hoặc có khả năng nói ra bằng sự kết tinh điêu luyện của một ngôn ngữ hài hước mà vẫn sang trọng, thâm thuý.

Đó là thơ đấy, nhưng là một lối thơ khác, với cách viết trực tiếp, đôi khi “chát chúa” đập thẳng vào mặt, nên có người không chịu nổi, kể cả người trong cuộc và người ngoài cuộc. Đấy cũng là một cách nhìn, một kiểu đánh giá theo kiến văn của riêng Xuân Sách, nên có ai không đồng tình với ông, cũng là lẽ thường. Phải đặt nó vào thời điểm nó ra đời mới thấy nó ghê gớm lắm. Rất âm vang. Bây giờ, nhiều đoạn vẫn còn “đóng đinh” vào trí nhớ người đọc…

175. Nguyễn Đức Tùng:

Đồng ý với anh.

Đọc những nhà thơ sống trong một xã hội đầy biến động, một thời đại nhiều khó khăn như anh, phải đọc rất sâu. Giữa hai hàng chữ. Tất nhiên là dòng thơ nào cũng có chiều sâu riêng của nó, nhà thơ nào cũng có những bí ẩn nghệ thuật riêng. Ý tôi muốn nói ở đây là về một thứ chìa khóa khác để mở cánh cửa tư tưởng xã hội và tư tưởng nghệ thuật.

Trần Nhuận Minh:

Anh nói đúng, cảm ơn anh, về việc cảm thấy ở thơ tôi có “một thứ chìa khoá”. Và đây, tôi xin trao cho các bạn. Ấy là về tư tưởng nghệ thuật, tôi chủ trương thống nhất các mặt đối lập. Điều này, tôi đã nói một khía cạnh ở phần trên, khi đặt cái chết bao giờ cũng bên cạnh cái sống. Anh cứ đọc lại toàn bộ thơ tôi sẽ thấy đúng như thế, nhất quán từ đầu đến cuối, từ tập Nhà thơ và hoa cỏ đến Miền dân gian mây trắng, tức là từ lúc tôi ý thức được thi pháp của mình và điều kiện xã hội cho phép mình thực hiện.

Trước kia, theo quan niệm “đấu tranh giai cấp” thì tất cả phải rạch ròi, trắng đen phải đứng riêng ra, không hoà đồng được, dù là vợ chồng cha con. Bây giờ tôi thống nhất đen với trắng, cái nhất thời với cái vĩnh cửu, cái rất xa với cái rất gần, cái tại chỗ bất biến với cái đang trôi lang thang:

Và tôi bỗng trôi lang thang

Những xứ sở xa xăm mịt mù

Ở chỗ chính tôi đang lặng đứng…

Đoạn thơ sau đây trong Bản Xônat hoang dã, có sự thống nhất giữa xa và gần, rừng và biển, ngược và xuôi, trên trời và dưới đất, cái đã qua và cái đang xảy ra, cả cái thực và cái ảo, cái xác và cái hồn:

Nước sông trôi ra biển bằng xác

Nước sông bay về rừng bằng hồn

Ngược chiều nhau

Và cách xa nhau

Dòng sông vẫn chỉ là một…

Tôi cho rằng: nước là cái xác của con sông trôi ra biển, còn những đám mây mới là cái hồn của con sông bay về rừng. Và nhiều, rất nhiều dẫn chứng khác nữa, về sự thống nhất cái buồn với cái vui, cái phúc với cái hoạ, chỉ tính trong tuyển Bốn mùa với 5 tập thơ in chung của tôi.

Câu sau là sự thống nhất giữa con người với cây cỏ:

Người mang hồn cỏ cây

Cỏ cây nghĩ như người…

vân vân và vân vân…

Những ví dụ như thế nhiều vô kể. Tôi nghĩ là đọc thơ tôi, anh đã chú ý đến điều đó, đúng không? Chính tôi đã kêu lên, trong bài Mợ Hữu:

Mợ đáng thương hay đáng trách

Trời ơi! Tách bạch mà chi

Dòng sông muôn đời vẫn thế

Đục trong thì cũng trôi đi…

Có khi cả hai mặt đối lập, thống nhất trong một câu thơ:

Và lặng im như một tiếng vang…

Cái quan niệm đó, cũng được thực hiện trong việc đặt tên nhân vật, như Thím Hai Vui thực ra là rất buồn: Mặt mũi luôn thâm tím vì chồng đánh, sau khi đánh kẻ thù trên chiến trường; hoặc như Phúc, mà là hoạ. Phúc là tên một nhân vật, cũng là tên một bài thơ chân dung, một người rất giầu, trong vụ đổi tiền, anh ta: Đốt tiền trong toa lét / Ba ngày còn chưa xong. Chi tiết ấy, tôi lấy ở đâu ra, anh có biết không, ở báo cáo của công an đấy. Anh này cũng là công an: Từng ngồi xe ba bánh / Dáng phong lưu có thừa, chỉ có công an mới có xe ba bánh, gọi là xích-đờ-ca thì phải.

Vậy mà bây giờ thành một thằng ngớ ngẩn đi ăn mày, vì sao, chẳng nói anh cũng hiểu:

Mắt hoàn toàn vô cảm

Gặp tôi, Phúc ngửa tay

Tóc bù xù tổ quạ

Mặt hoang như trời đày…

176. Nguyễn Đức Tùng:

Trong thơ Trần Nhuận Minh có một điều gì ngang trái. Trong khi anh luôn tin tưởng vào những mặt tốt của lịch sử mà anh đã sống qua và tham dự vào một cách tích cực, nếu không muốn nói là chủ động:

Răng không cô gái trên sông

Ngày mai cô sẽ từ trong đến ngoài

Thơm như hương nhụy hoa nhài

(Tố Hữu)

thì mặt khác, thơ anh lại mang khuôn mặt u tối của số phận muôn thuở:

Tiền Đường sầm sập đêm mưa

Nước âm u chảy như chưa vớt Kiều…

Anh tự giải thích việc đó như thế nào?

Trần Nhuận Minh:

Đó là bi kịch của tâm hồn tôi. Là người sống trong lam lũ đời thường, sự ngang trái của đời sống là bạn đồng hành với tôi. Tôi nghĩ và làm những điều tốt đẹp, tất nhiên là để làm được những điều đó, tôi phải cố gắng rất nhiều để tự vượt qua mình, những hẹp hòi, bực dọc, khinh ghét… nhưng trong cuộc sống, lại gặp không ít những điều xấu xa. Tôi đã không ít lần chứng kiến những cái vô cùng tàn ác và đểu giả của con người, trong đó có người từng được tôi kính trọng, từng dìu dắt tôi hoặc được tôi dìu dắt, nâng đỡ. Nhưng chưa bao giờ, tôi mất niềm tin vào con người, vào cuộc đời; cũng chưa bao giờ, tôi mất niềm tin vào con đường mà tôi đã tự lựa chọn cho mình từ thuở tôi còn rất trẻ tuổi.

Anh nói đúng, tôi hoàn toàn tin tưởng vào những điều tốt đẹp của lịch sử mà tôi tự nguyện và chủ động tham gia với lòng trong trẻo chân thành đến say sưa.

Nếu họ đã đối xử với tôi tàn tệ, tôi cũng chả oán trách họ, chỉ thăm thẳm buồn… rồi sau đó, tôi thương họ, lại thương mình, cho là tại mình, bởi cái phúc, cái phận của mình còn quá mỏng. Bởi thế mà tinh thần tôi bao giờ cũng cân bằng. Tôi nói điều đó mà anh không tin là tôi nói thật lòng, thì anh sẽ có lỗi với trời xanh…

Anh có tin không, tôi đã từng ăn cơm cùng mâm, có đêm ngủ cùng giường với một kẻ đã tự ký lệnh bắn bố mình để bày tỏ lòng trung thành với cách mạng, nhưng rất may, cách mạng đã sáng suốt hơn, không sử dụng ông ta ở cái mốc mà ông ta muốn đổi mạng bố mình để vươn tới…

Chính bởi tất cả những nỗi niềm không nói ra hết được ấy mà tôi làm thơ, viết văn, và tự kiểm soát mình, với một mục đích duy nhất là hy vọng trang viết của mình góp thêm một tiếng nói có hiệu lực vào việc thức tỉnh lương tri của con người, mong muốn con người lương thiện hơn, yêu thương và trân trọng nhau hơn…

Không ít câu thơ của tôi đã thấm đẫm nước mắt…

Tôi yêu cuộc đời này, sống cho nó, chết cho nó, viết vì nó, và không bao giờ mất niềm tin vào nó, khi chính nó đã tự đổi thay một cách phũ phàng, trắng trợn, nhiều bậc thang giá trị ngay trước mắt tôi. Tại sao ở đời lại lắm chuyện vòng vèo ngang trái, luôn làm tôi phiền lòng đến thế!... Tất cả những điều đó, đã:

Chẻ tướp xác thân tôi, từng nhát một…

Có lúc rất buồn và nản, tôi vẫn tự nhủ:

Ta già rồi, chẳng biết giấu vào đâu

Nỗi ngu dại học từ thời Tốt Đẹp

Nén hương tắt khi mình chưa trọn kiếp

Cầm chân hương, đi đến cuối cuộc đời…

Tôi nghĩ: nói đến thế cũng là tận cùng rồi.

Có nhà phê bình viết về tôi, rất có thiện chí, hiểu tôi ở tác phẩm này, dù hiểu cũng không đúng, vì ông đọc không kỹ, nhưng lại không hiểu tôi ở tác phẩm khác. Ông dẫn thơ tôi cũng sai, và nhiều điều ông viết là ông nghe lại từ người khác. Tôi cảm ơn ông và nghĩ: đó là quyền của người viết, biết làm sao khác được, còn đối với mình, được thế cũng là may lắm rồi.

Với anh thì khác. Tôi đọc anh nghe bài thơ đánh số 35, trong tập 45 khúc dàn bầu của kẻ vô danh… để anh hiểu tôi hơn trong vấn đề được gọi là “nhạy cảm” này:

35

Nơi này có người bị đẩy lên dàn lửa

Chỗ kia có người bị xô xuống vực sâu

Ở đâu cũng có người bị lăng nhục...

Vị Anh hùng ơi!

Thế gian chẳng bình yên

Dù mỗi sớm tiếng chim trời vẫn hót...

Sức mạnh của kẻ hèn

Ý chí của bóng đêm

Vẫn mai phục dưới những chùm quả chín...

Kẻ ác đôi khi làm việc thiện

Đánh thuốc độc cả tiếng cười

Đóng dấu thật vào những hồ sơ giả

Và bước lên trong ánh hào quang...

Có con mắt xanh

Cũng chẳng dễ nhận ra kẻ ác

Lau sạch máu giết người

Mà khăn vẫn trắng...

Kêu gọi từ tâm

Chúng quay mặt, làm ngơ…

Vị Anh hùng ơi!

Đi đêm

Nhớ mang theo Thanh Kiếm

Còn Ta

Ta mang theo Câu Thơ...

Liệu có đơn giản và ngây thơ không anh, khi đi đêm chỉ mang theo câu thơ làm vũ khí để tự vệ, tương đương như thanh kiếm báu của một vị anh hùng.

Đối với rất nhiều người, anh thấy đấy, thơ có lẽ cũng chả là cái gì. Chỉ để chơi cho vui. Nhưng đối với tôi, không hiểu sao, thơ lại là tất cả, nếu có thể nói được như vậy. Thơ an ủi tôi sau không ít trắc trở, thơ khích lệ tôi những lúc nản lòng, thơ cũng che chở cho tôi trong mênh mang gió bão của thời cuộc:

Viết được một câu thơ trung thực với Nhân Dân

Tôi đã đi qua bốn mươi năm bão táp

Cả xã hội diệt trừ cái ác

Cái ác vẫn ngang nhiên cười nói giữa đời…

Thơ cũng giúp tôi chống lại kẻ thù bằng sự im lặng cao cả và linh thiêng của chính nó.

177. Nguyễn Đức Tùng:

Có ánh trăng

Tìm về khung cửa cũ

Chỉ gặp màu hoa dại dửng dưng

Đó là thơ tình, nhưng cũng có thể không phải là thơ tình. Đọc thơ anh, có cảm giác là trong tác giả có một nỗi ám ảnh nào đó. Một suy nghĩ bâng khuâng dằng dặc, một câu hỏi khắc khoải thường xuyên. Có lúc tôi nghĩ mình nhìn ra, nhưng nó thoáng qua rồi biến mất. Vừa rõ ràng vừa mơ hồ. Anh có cảm thấy điều đó không?

Trần Nhuận Minh:

Tôi coi đó cũng là một phát hiện rất tinh của anh. Tôi cũng lờ mờ cảm thấy điều đó. Có lẽ nó là một mặc cảm hay là một ám ảnh, tùy cách hiểu của từng người. Đối với tôi, đó là sự nhận biết cuộc sống để tự cân bằng tâm lý mình, trước những biến động của thời cuộc, và những tình huống éo le của nhân sinh.

Thời gian đã lùi xa, nhiều vụ việc cũng đã được rọi sáng bởi những điều chỉnh dần của lịch sử. Phải nhận ra sự thực khách quan đó và thấy ở đấy, cái tất yếu và tốt đẹp trong quá trình vận hành của xã hội và của nhận thức con người. Dù tôi biết, cuộc cách mạng nào cũng có cái phũ phàng của nó. Những người thực hiện nó là ai? Kinh nghiệm cho hay rằng, dù bất cứ là ai, cũng phải bằng những kiểm nghiệm cụ thể, mới có thể tin được. Kinh nghiệm quá đắt của không ít người mà tôi đã biết, dạy tôi rằng: hãy cảnh giác! Bởi họ hành động có khi chỉ vì lợi ích, hoặc ý muốn của chính họ. Họ nói vì nước vì dân là họ nói dối đấy. Số người này, có mặt trong nhiều cấp, nhiều ngành, trong đó có người trình độ thấp, không hiểu thấu đáo đã đành, rồi làm sai lạc đi với sự tận tâm và chân thành đáng được thông cảm; nhưng cũng có không ít người, đã lợi dụng triệt để nó, để thực hiện những mưu toan cá nhân, lạnh lùng phi nhân tính, rất xấu xa, thậm chí rất tàn ác. Và rồi, dù nấp dưới bất cứ danh nghĩa nào, cuối cùng, cũng sẽ bị chính cuộc cách mạng đó nhận ra và xử lý, thậm chí loại bỏ, tùy theo từng mức độ.

Tôi hoan nghênh lẽ công bằng đó ở đời và hiểu ra rằng, đây cũng là hai mặt của một vấn đề. Không nhận ra là thiếu hiểu biết, còn “vơ đũa cả nắm”, lấy cái cá biệt để phủ nhận cái tổng thể, thì cũng không đúng. Nhưng coi tất cả đều là tốt đẹp và quy chụp cho bất cứ ai nói đến cái “mặt trái của tấm huân chương”… thì cũng lại là sai. Và kẻ cố ý làm những việc sai trái đó, dù có tự tô vẽ như thế nào, cuối cùng, cũng vẫn bị thời gian lên án là giả trá và đê tiện. Vì sao? Vì đó là vấn đề muôn thuở của số phận con người. Mà làm tổn thương những số phận người, thì từ xưa đến nay, không bao giờ là điều đơn giản cả… Cũng không bao giờ được tha thứ cả.

Trong một bài thơ Bạn chơi từ thuở quàng khăn đỏ, tôi đã kêu lên:

Tại trời hay tại ta sao

Nhảy ra thì thịnh. Bước vào lại suy?...

Tiếng kêu thảng thốt của tôi, anh có nghe thấy không?...

178. Nguyễn Đức Tùng:

Ý muốn của nhà vua

Không sinh ra được các hiền tài

Việc đầu tiên của nhà vua có đức

Là đưa dân ra ngoài vòng gươm đao…

Anh có ngại bị chỉ trích là “chủ nghĩa nhân đạo chung chung”, “chống chiến tranh chung chung”? Anh có kỷ niệm gì về việc bị phê bình hay đả kích trong sáng tác. Một người chừng mực như anh, chắc điều đó khó xảy ra.

Có vẻ như anh chủ trương dùng đức để trị dân (khác với pháp trị) của các cụ ngày xưa?

Trần Nhuận Minh:

Cũng may là bây giờ, chúng ta đã vượt qua cái thời ấu trĩ ấy rồi.

Anh nói đúng, tôi là người chừng mực. Vì thế mà chưa từng bị phiền toái về sáng tác. Còn bài thơ này, tập thơ kia, có người khen hay chê thì tôi lại nghĩ là rất tốt. Sợ nhất là họ không đọc và đọc xong thì không muốn nói gì.

Về đề tài chiến tranh, thái độ của tôi là rất rõ ràng. Đoạn anh dẫn ra là thơ viết về chiến tranh phong kiến, theo “ý muốn của nhà vua”, trích trong 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh:

Ta từng nghe

Tên tuổi một vị tướng

Làm bằng xác chết hàng ngàn người…

Những mưu toan tranh đoạt cường quyền

Còn vang vọng đâu đây

Bản hùng ca của máu

Xương trắng dân phơi ở ngoài bãi

Lụa đỏ vua ban ở trong triều…

Câu thơ Làm bằng xác chết hàng ngàn người dẫn từ nguyên tác một câu thơ Đường kiệt xuất của Tào Tùng (848 - ?), tên chữ là Mộng Trưng, quê ở Thư Châu, nay thuộc tỉnh An Huy, trong Kỷ Hợi tuế (Viết năm Kỷ Hợi - 879), gồm hai bài tứ tuyệt. Bài 1, hay hơn, toàn văn như sau:

Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ

Sinh dân hà kế lạc tiều tô

Bằng quân mạc thoại phong hầu sự

Nhất tướng công thành vạn cốt khô

(Tranh giành, cuộc chiến nổ ra

Lầm than cái chắc, khó mà vui đâu

Rùm beng chi chuyện phong hầu

Được phong một tướng rơi đầu vạn quân)

(Hải Như dịch)

Nước Trạch thời Tào Tùng là sông núi vùng Giang Nam, luôn có chiến tranh. Tiều tô là kiếm củi và hái rau, ý nói người dân thường. Cụ Nguyễn Du nhà mình phỏng theo ý ấy mà viết… tôi chỉ từng nghe, rồi ăn theo, tức là không phải lời của tôi. Tôi đã phải ghi chú cẩn thận đến như thế để tránh bị xuyên tạc hay bị hiểu lầm. Bởi những kẻ đâm thuê chém mướn không ở đâu lại nhiều như ở khu vực tinh thần này. Đủ các hạng. Tấm thẻ đảng viên với 100% phẩm chất cộng sản tốt đẹp, một phẩm chất chưa từng bị xuyên tạc hay thoái hóa, hoàn toàn không cứu nổi anh. Vì người hại anh, có khi lại là bạn rất thân của anh, người mà anh đã từng chia ngọt sẻ bùi, đã từng tin cậy, đôi khi lại chính là người anh lấy về cơ quan, từng tin yêu dìu dắt, đề bạt, hoặc làm các thủ tục đề bạt lên giữ các chức trách cao hơn, quan trọng hơn… Không bao giờ sự phản bội lại trắng trợn và tinh vi như bây giờ.

Chính lúc ta sáng nhất

Là lúc ta bị bóng đêm phản bội…

Trở lại với đoạn thơ trên. Nếu nhìn xa hơn về số phận của nhân dân, thì rõ nhất là qua các cuộc chiến tranh, nhất là các cuộc nội chiến trong lịch sử thời phong kiến: Thuở trời đất nổi cơn gió bụi…(Chinh phụ ngâm), như cuộc nổi loạn 24 năm (944 – 968) của 12 sứ quân, sau khi Ngô Vương Quyền qua đời, rồi cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài đến 45 năm (1627–1672), chia đôi đất nước. Những mưu toan tranh đoạt cường quyền… Kết cục:

Xương trắng dân phơi ở ngoài bãi

Lụa đỏ vua ban ở trong triều…

Tôi không ngại bị phê bình “ chủ nghĩa nhân đạo chung chung” vì tôi phân biệt rất rõ ràng các cuộc chiến tranh khác nhau trong lịch sử, để hướng ngòi bút của mình đến với những giá trị cao cả hơn, dù máu người đã ngã xuống, thì ở cuộc chiến tranh nào, thuộc phía bên này hay phía bên kia của cuộc giao tranh, cũng đỏ tươi như nhau, cũng mặn đắng như nhau…

Xin nói thêm: chúng ta đã nói nhiều, và có thể nói thế vẫn còn chưa đủ: chiến tranh tôn vinh con người.

Nhưng còn một khía cạnh khác, đã đến lúc có thể nói được: chiến tranh làm nhục con người. Hãy nhìn những khuôn mặt biến dạng khi lao vào đâm chém nhau, những cảnh chui rúc, vỡ đầu, cụt chân, những cuộc tra tấn, hành hình… trong các thước phim lịch sử hoặc phim tài liệu… Lại nhớ, Alexandre Đại đế (356 – 323 trước công nguyên), 20 tuổi lên làm vua và trong 13 năm, đã trực tiếp chỉ huy các cuộc chinh phạt nhiều nước lớn nhỏ, tàn sát hàng chục vạn người, san phẳng thành Thebes rất nổi tiếng trong vòng có một ngày đêm, làm chủ cả thế giới. Trên đường đi chinh phục Ấn Độ, ông ta há hốc mồm nghe lời phán của nhà thông thái Diogenes: ngài sẽ thỏa mãn với cái danh hiệu “Alexandre vĩ đại”. Nhưng cái chết không vĩ đại sẽ đến với ngài ngay trong chuyến xâm lăng này, vì ngài đã làm nhục con người, đã chống lại sự sống.

Còn có một loại chiến tranh khác. Đó là số phận của dân tộc mình, luôn buộc phải cầm gươm để bảo vệ Tổ quốc, mà kẻ xâm lăng bao giờ cũng lớn mạnh hơn mình rất nhiều lần. Vì thế, cái giá xương máu mà nhân dân ta phải trả cho nền độc lập của đất nước mình là vô cùng to lớn, không gì đo được. Bài số 10 trong tập thơ trên, tôi đã viết:

Bạn thấy chăng

Hàng triệu triệu người

Lần lượt lao vào lửa đạn

Cho Tổ quốc

Sáng bừng tên tuổi

Rồi để lại những nấm mồ vô danh

Trắng đến tận chân trời…

Đó là chiến tranh chống xâm lăng và những hy sinh cao cả cho nền độc lập của dân tộc.

179. Nguyễn Đức Tùng:

Tư tưởng là linh hồn của thơ thế sự, cũng như thơ thời sự. Trong cái nhìn của tôi, so với nhiều nhà thơ cùng thế hệ, hoàn cảnh, cùng lập trường, anh có cái nhìn bao dung hơn đối với cuộc đời. Bao dung có nghĩa là chấp nhận hoặc đồng cảm với sự khác biệt. Tức là gần sự thật hơn. Tập nhìn sự vật bằng cặp mắt của người khác.

Trần Nhuận Minh:

Tôi e nhất là thơ không có tư tưởng, chỉ có những “bức xúc”, mà theo tôi “bức xúc” không phải là tư tưởng. Tư tưởng bao giờ cũng hiện ra trong thơ, điềm đạm, hồn nhiên, thậm chí hiền minh mà vẫn rất thanh thoát, nhẹ nhàng, thấm thía qua từng câu thơ hoặc toàn bộ tác phẩm.

Đồng ý với anh, tư tưởng là linh hồn của thơ thế sự.

Tôi vừa đọc bài thơ sau đây của anh:

Ở PARIS

Ở Paris anh gặp người đàn ông
Đã từng nói r
ằng
Ước mong sau một đêm thức dậy
Thấy mình là người Việt Nam

Trong quán cà phê, ông hỏi thăm
Có phải anh từ Việt Nam tới không?
Anh trả lời: Không
Nhưng kiếp trước tôi là người Việt Nam

Ghé tai anh, ông nói thầm
Còn kiếp trước tôi là con chuột

Anh mua cho ông một cái bánh ngọt
Croissant.

Bài thơ tinh xảo và thâm thúy, giấu sau cái vẻ đơn sơ vui vui theo kiểu Tây phương là nỗi trắc ẩn của một tâm hồn Việt. Nhưng tôi cho rằng hình như anh quá bi quan?

180. Nguyễn Đức Tùng:

Thưa anh, hài hước và triết học thì đúng hơn. Phụ nữ Canada có câu nói: Bạn không thể hạnh phúc với một người đàn ông mà bạn không thể cùng cười với anh ta.

Tôi suy ra điều này cũng đúng trong trường hợp một nhà thơ, một nền văn học, một nhà lãnh đạo, vân vân…

Thơ Trần Nhuận Minh là loại thơ rất hiếm hiện nay có nhiều tiếng cười.

Có khi cười vang hiền lành:

Chị tôi đi Nhật đi Tây

Muốn cái gì cũng được ngay cái gì…

Có khi kín đáo, tinh tế lắm mới nhận ra tiếng cười khẽ pha chút buồn rầu sắc sảo:

Đứa thì làm trưởng trại tù

Gặp nhau tay bắt lạnh như đồng tiền…

Có khi vừa cay đắng vừa nhân từ:

Ông vốn là người mềm yếu,

sẵn sàng đổ tội chết cho bất cứ ai,

miễn là cứu được mình

Mặt khác, nhiều người biết rằng chủ nghĩa hậu hiện đại (có lẽ là thứ mà anh không ưa) lại đầy rẫy sự hài hước, chế nhạo, thậm chí phỉ báng, phủ nhận, ít nhất là về mặt triết học.

Theo tôi cần phân biệt hai khuynh hướng hài hước: hài hước cổ điển, thường nặng tính cách thế sự, mang sự chỉ trích có tính xã hội đối với các hiện tượng xấu, dựa trên một lập trường rõ rệt, và hài hước hậu hiện đại, mặc dù không chối bỏ tính thế sự, nhưng không xem nó có mục đích góp ý hoặc sửa đổi xã hội.

Tính hài hước trong thơ Trần Nhuận Minh nằm ở vị trí nào giữa hai khuynh hướng nói trên?

Trần Nhuận Minh:

Phát hiện rất hay, rất mới này, cũng là của riêng anh, khi anh nhận ra có nhiều tiếng cười trong thơ của tôi. Nó rải rác trong các tập thơ trước và tựu trung lại, thành cả một tập 43 bài, với tiếng cười nhiều cung bậc khác nhau, suốt từ đầu đến cuối. Đó chính là tập Miền dân gian mây trắng, 2008, đã in lần thứ hai, năm 2009 và năm 2011 này, in lần thứ ba và lần thứ tư tại nhà xuất bản Văn học, Hà Nội (trong đó lần in thứ ba cùng bản dịch Anh ngữ của nhà dịch thuật văn học Vũ Anh Tuấn, thành phố Hồ Chí Minh). ồ Chí Minh.Nhân đây, tôi cũng xin ghi lại ý kiến của nhà thơ Vũ Quần Phương, rất chính xác, đã hơn một lần nói trực tiếp với tôi, nhưng tôi chưa thấy ông đưa in ý kiến đó ở đâu, là: thơ thế sự của Trần Nhuận Minh, khác với thơ thế sự của các nhà thơ khác đã có trước, là chạm vào các cơ chế của xã hội và có tiếng cười.

Về “hai khuynh hướng hài hước” mà anh vừa chỉ ra, tôi thấy rất mới và cũng rất chính xác, thì thơ tôi thuộc về khuynh hướng thứ nhất, mà anh đặt tên là “hài hước cổ điển”, trong đó có “sự chỉ trích có tính xã hội đối với các hiện tượng xấu, dựa trên một lập trường rõ rệt”. Và như thế, tuy không nói ra, nhưng tôi biết, anh cũng đã nhận thấy, là tôi cũng muốn sửa chữa nó theo thuần phong mỹ tục cũng rất rõ rệt. Nghĩa là không cười để mà cười, như khuynh hướng “hài hước hậu hiện đại”.

Tôi thấy khuynh hướng thứ hai này, cũng hay, nó nhẹ nhõm hơn, tự nhiên hơn, nhưng tôi thấy hàm lượng có ích trong đó ít hơn, mà tôi luôn coi sự có ích là yêu cầu tối thượng của mọi việc làm của con người.

Nếu anh đọc lại Miền dân gian mây trắng, sẽ thấy tôi cười cợt một cách nhẹ nhàng tươi sáng, nhưng cũng khá thấm thía, đôi khi rất thâm trầm, cũng có khi rất chua xót… nhưng tất cả đều có dụng ý sửa chữa, xây dựng tích cực, về đủ các diễn biến bình thường và bất bình thường của đời sống xã hội, khi cơ chế thị trường ở buổi ban đầu, thâm nhập khá sâu vào lối sống rất lạc hậu của người quê và người bản chất rất quê, sống trong các nhà cao tầng hiện đại ở các vùng đô thị mới…

Có khi chỉ là tiếng cười vui vẻ trẻ trung, vô thưởng vô phạt, khi chàng công tử họ Trần nói với người yêu:

Chờ anh, anh đón em về

Anh còn mượn áo với thuê cái quần…

Và khi cưới em, thì:

Xe Công Nông rất rộn ràng

Rước dâu, mời cả họ hàng cùng đi…

Có khi, nó chạm vào những vấn đề rất lớn, rất hệ trọng, mà “thoát”, là nhờ cứu cánh của phương pháp sáng tác dân gian:

TA QUA BẾN LÚ…

Ta qua bến Lú, sông Mê (*)

Gặp vua Thủy Tề đi hái hoa sen

Vua rằng: Trông cậu quen quen

Ta rằng Đỗ Trạng thì quên lối về…

Cả hai vào quán cà phê

Nhắp cà phê thấy vị chè Thái Nguyên…

Vua rằng: Tớ viết sách Tiên

Chữ toàn mây trắng bay trên màu trời

Ta rằng: Thiên hạ khác rồi

Chẳng ai đọc sách nghe lời Vua ban

Vua rằng: Tớ bảo các Quan…

Ta rằng: Quan bận săn toàn đô la…

Cả hai từ quán bước ra

Mới hay cái quán là nhà yêu tinh…

Chỉ một câu:

Nhắp cà phê thấy vị chè Thái Nguyên

đủ biết các giá trị đã bị thay thế hết rồi…

Và nhiều nhiều nữa…

Trong không khí chung khá nghiêm túc hiện nay, tiếng cười tràn đầy trong tập thơ này, có đóng góp riêng của nó đấy… Cũng đủ mọi cung bậc cười, đủ các kiểu cười, nhưng tất thảy đều dân gian hóa theo phong cách sáng tác truyền thống của văn học dân gian Việt Nam. Dường như chả còn thiếu cái gì, từ Cháu con nhảy múa như là choi choi… đến ông già lú lẫn: Cái trong thì để ra ngoài… Đặc biệt trong tập thơ này, tôi cũng thử “bụi” một chút, khi để bà vợ ngờ ông chồng mình tình tính tang với ai:

Về nhà, vợ mắng rầm rầm

Hai “hòn nguyên tử”… ông cầm cho ai…

181. Nguyễn Đức Tùng:

Anh thường nhắc đến Tố Hữu và ảnh hưởng của ông đối với anh. Anh cũng gặp ông ấy thời kỳ Tố Hữu đến nhà thăm Trần Đăng Khoa lúc còn bé và những năm sau đó.

Đó là ảnh hưởng trong thơ hay trong đời sống?

Trần Nhuận Minh:

Về nhà thơ Tố Hữu, tôi thấy cần phải nói cho rõ ràng. Ông Tố Hữu, lúc đó là ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương. Với cương vị ấy, ông đi đâu, gặp ai, làm gì… đều là việc hệ trọng và có tính quốc gia.

Ông có về huyện Nam Sách rồi sang huyện Kinh Môn, trong chuyến công tác tại tỉnh Hải Dương, nhưng không qua nhà tôi một lần nào. Cô em họ cùng làng với tôi, Trần Thị Minh Đĩnh, là huyện ủy viên, Trưởng phòng Giáo dục huyện Kinh Môn, vì thế được huyện giao cho tiếp chuyện ông Tố Hữu. Cô cho tôi hay là ông rất quan tâm đến Trần Đăng Khoa. Ông hỏi về Khoa và gia đình tôi, rất nhiều điều cụ thể và muốn Khoa gắn bó với làng quê, đồng áng, để có thơ từ cái gốc thật của đời sống.

Ngày 01 tháng 6 năm 1969, Tố Hữu cho Khoa đến với ông tại nhà riêng của ông, ông cũng nói với Khoa biết điều ấy. Quan niệm ấy của ông Tố Hữu tôi nghĩ là rất đúng. Nhưng có người nghe được điều đó, đã đề ra một phương châm, áp đặt cho Khoa “bệ phóng của em là bờ tre”, thì tôi lại thấy là rất lẩn thẩn và buồn cười. Khi Khoa bước vào nhà ông Tố Hữu, ông nhấc bổng Khoa lên, kêu Khoa sao nhẹ thế và gọi vui Khoa là “Con cò Nam Sách”. Trước đó, Khoa có bài thơ Con cò trắng muốt đăng báo Văn nghệ. Con cò bay ra đón cơn mưa, trong lúc mọi cảnh vật đều vui tưng bừng trong mưa, thì mình bằng lòng chịu rét, co ro trên cành cây. Có người tựa vào câu nói vui và không có dụng ý gì của ông Tố Hữu (khi gọi Khoa là “Con cò Nam Sách”) mà gán số phận của con cò được viết như thế là Khoa tự ám chỉ mình, từ đó cho là Khoa có ý oán trách xã hội. Đương thời, ý ấy nguy cho tác giả lắm lắm. Tôi cho đó là suy diễn chủ quan, rất thiếu thiện chí. Tiếc rằng ý kiến chụp mũ đó tồn tại rất dai dẳng đã làm phiền cho Khoa không ít… Cũng dĩ nhiên là những điều ấy, ông Tố Hữu hoàn toàn không biết.

Nhân đây, tôi xin nói thêm: Có một dạo, trong dân gian đồn rằng Trần Đăng Khoa đã sửa câu thơ của Tố Hữu: Đường ta rộng thênh thang tám thước, thành Đường ta rộng thênh thang ta bước. Khoa đã nhiều lần đính chính điều đó trên một vài tờ báo thông qua các cuộc phỏng vấn, rằng: điều đó hoàn toàn không có. Ngoài việc học trò không bao giờ dám chữa thơ của thầy, thì một điều khác rất quan trọng về nghề, là Tố Hữu đã viết:

Trên đường cái ung dung ta bước

Đường ta rộng thênh thang tám thước

nếu chữa như thế, sẽ là:

Trên đường cái ung dung ta bước

Đường ta rộng thênh thang ta bước

Hai chữ ta bước trùng nhau trong hai câu thơ liền kề nhau, là điều tối kỵ. Trong một bài báo, Khoa có nói rằng: “Tôi tuy là trẻ con, nhưng từ sớm đã ý thức được câu chữ trong thơ, không bao giờ tôi lại làm cái việc sửa chữa ngớ ngẩn như vậy cả”.

Xin nói thêm nữa: Có lần chính nhà thơ Nguyễn Đình Thi nói trực tiếp với tôi rằng, nghe nói Khoa bây giờ, có ai đến thăm, phải cho người nhà ra xem là loại ô tô nào vào làng, rồi mới quyết định có ra sân đón vào nhà hay không? Tôi vỗ tay mà kêu lên: Trời ơi, nhà em thì lấy ai ra mà làm cái việc cao sang ấy. Đến em đi đã nhiều nơi, đến giờ vẫn mù tịt không biết xe nào với xe nào. Nhà em là dân cày cuốc, chỉ biết ô tô là ô tô. Còn cái thằng nhóc ấy nó biết xe pháo gì đâu. Ai bịa đặt với anh vậy? Ông Thi bảo: Ừ mình cũng nghĩ vậy, nhưng nghe nói thế…

Có một việc cũng cần nói rõ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước khi mất ba tháng, cũng muốn cho Khoa gặp, nhân ngày 01/6/1969. Vì thế mà 25 học sinh Nam Sách được cử về Hà Nội, trong đó có Khoa, nhưng không nói cho biết trước là có việc hệ trọng đó. Vì thế, có một lý do khách quan không khắc phục được, mà tôi không tiện nói ra đây, Khoa không thể tách khỏi đoàn mà theo cô Phương Thuý đến gặp Bác Hồ được. Ông Hồ Thiện Ngôn, ông Trương Đình Bảng, Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng, hai người được biết ý này của Bác Hồ, đặc biệt nhà thơ Phương Thuý, người có trách nhiệm dẫn Khoa và dẫn các cháu thiếu nhi đến gặp Bác Hồ hôm đó, đã nói rất rõ và rất cụ thể cho tôi biết. Tháng 11 năm 1972, ông Lê Văn Lương, đến nói chuyện ở trường Quảng Bá, lúc giải lao, chúng tôi đứng quanh ông. Khi có người giới thiệu tôi là anh của Trần Đăng Khoa, ông cũng nói điều đó và lấy làm tiếc. Ông có nói một ý kiến của Bác Hồ về thơ Trần Đăng Khoa, tôi có ghi lại ngay và hy vọng được thuật lại vào một dịp khác.

Không biết có phải vì không được gặp Bác Hồ, mà ông Trường Chinh chủ động báo cho bà Lê Thu Trà, Phó Chủ tịch Ủy ban Thiếu niên nhi đồng Trung ương, đưa Khoa đến gặp ông và ông đã tiếp chính thức tại Văn phòng Trung ương Đảng đến 75 phút. Ông có ký tặng Khoa tập thơ tuyển của ông, hiện tôi vẫn còn giữ được. Trước đó vài ngày, chả biết bằng cách nào, ông Trường Chinh có bài thơ Khoa viết về Bác Hồ mất, và chính ông đã gửi trực tiếp cho báo Nhân dân đăng toàn văn, cùng với bài thơ đó đăng trên báo Văn nghệ mà biên tập viên có sửa một hai chữ. Báo Nhân dân ra sau báo Văn nghệ, hình như một hay hai ngày, vì thế sau đó mươi năm, có bài báo vui “Trần Đăng Khoa phạt góc báo Văn nghệ” của một nhà văn, cũng là người rất gần gũi và rất tốt với anh em tôi, bài viết với dụng ý rất tốt, vẫn cứ là một cách hiểu lầm Khoa. Tôi biết Khoa không bao giờ “phạt góc” bất cứ ai, nhất là với một tờ báo lớn mà nó chịu ơn, hơn nữa lúc đó, Khoa vẫn còn là một đứa trẻ con, 11 tuổi.

Riêng nhà thơ Xuân Diệu thì rất gần gũi với Khoa. Ông coi Khoa như con và về nhà tôi ở Nam Sách cả thảy đến bốn lần, trong đó có lần về với đoàn truyền hình Pháp. Nhà thơ Huy Cận về nhà tôi hai lần. Nhà thơ Chế Lan Viên cũng về nhà tôi hai lần, còn nhà thơ Tế Hanh thì về nhà tôi một lần.

182. Nguyễn Đức Tùng:

Khi trò chuyện, một số nhà thơ Mỹ nói với tôi rằng họ biết đến hiện tượng thơ thiếu nhi Trần Đăng Khoa. Báo Nhân đạo của Pháp trước đó nhiều năm cũng đã từng giới thiệu thơ anh ấy với bạn đọc châu Âu. Anh cũng kể rằng có đoàn làm phim của Pháp đến nhà quay phim năm 1968. Có chuyện gì vui, xin anh cho nghe?

Trần Nhuận Minh:

Trong chuyến quay phim hy hữu đó, có ba chuyện bạn đọc nên biết, như dấu ấn một đi không trở lại của một thời.

Chuyện thứ nhất: Bác Đ.S. kể, tôi ghi lại.

Bác S. nói: Chú Minh này, cái đoàn quay phim Pháp nó về làng mình, quay phim về cháu Khoa nhà chú ấy, (bác coi tôi như em, nhưng lại coi chú Khoa, em tôi, như con mình), tổng cộng có mười một người chú ạ, trong đó có bốn tên gián điệp quốc tế, đóng vai nhà báo, sang mình để dò la tình hình, giúp cho máy bay Mỹ ném bom miền Bắc. Vì thế, cả khu vực quay phim quanh nhà chú, chúng tôi cho canh phòng rất cẩn mật. Trừ một vài người phải quay vào phim, còn lại thì chúng tôi “trục xuất” hết, “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Bố mẹ chú cũng phải chuyển đi, vì sợ vô ý làm lộ những bí mật. Hàng xóm cũng thế. Các thầy cô giáo chỉ có những người được duyệt là tin cậy mới cho được gặp họ.

Xã có ba người nhập vào đoàn phim là tôi với bí thư đảng ủy xã và chủ tịch xã. Chúng tôi khổ quá chú ạ. Khổ như con chó (tôi xin lỗi, ghi lại đúng lời bác S). Hằng ngày, ba chúng tôi ngồi chầu chực ở cổng nhà chú, họ có gọi thì mình mới được vào nhà, họ sai mình cái gì thì mình làm cái ấy. Cơm không được ăn, nước không được uống. Xong việc buổi sáng, trưa họ lại đánh cả đoàn xe lên tỉnh đánh chén, (ăn như ăn cỗ, quê tôi gọi là “đánh chén”), chiều họ lại đánh cả đoàn xe về. Cứ thế lằng nhằng đến mấy ngày trời có chết chúng tôi không? Việc chính của xã, biết bao nhiêu là việc, chúng tôi đều phải làm vào ban đêm. Khổ nhất là quay cái bài Mưa mung chết tiệt gì ấy (bài thơ Mưa). Lấy đâu ra gió thổi cho lá mía tung lên như múa gươm. Chúng tôi phải mượn về mấy cái quạt hòm quạt lúa, để khi nó hô một tiếng thì mình quay tít cái quạt lên thành gió. Chúng tôi thì đói, sức lại yếu, mắm môi mắm lợi vào mà quay tít thò lò, cũng chỉ được dăm ba phút là bở hơi tai. Rồi phải chọn đến 5 - 6 đoàn viên thanh niên tin cậy và rất to khoẻ, quay thay chúng tôi. Sức trẻ nó quay ghê lắm chú ạ. Thế mà cái thằng Tây đạo diễn chó chết gì đó vẫn hét lên là không được, là không đủ gió, lá mía không múa gươm được. Nói thực với chú, lúc ấy, tôi chỉ muốn phang cho nó vài gậy thôi. Rồi cái đoạn thả diều (quay bài thơ Thả diều) không hiểu sao, khi diều lên cao nhất lại phải cầm dao cắt cho nó đứt dây, và cái diều lại phải rơi xuống ao bèo. Thế là “bố chúng nó” lại phải lóp ngóp lội xuống vớt cái diều lên. Mà phải làm đi làm lại đến ba, bốn lần một cái việc đứt dây diều với vớt cái diều ấy mới xong. Tôi nghĩ, có khi đây là ý đồ chính trị, nó cho là cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta như cái diều đứt dây. Nếu không thì làm gì phải làm nhiều lần thế. Rồi đến cái bài Lọc cà lọc cọc…, tả về cái việc kéo xe chở gạch về xây trường. Tôi trông thấy cái xe bò xếp đầy gạch đỏ mà mình sẽ phải kéo cho nó quay phim. Nghĩ bụng, bỏ mẹ, mình là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của xã. Nó biến mình thành con bò à. Tôi đã nói thẳng cái dụng ý thâm độc ấy với anh cán bộ đối ngoại tỉnh mà tôi biết chắc chắn là cán bộ an ninh của ta, thì đồng chí ấy chỉ lặng lẽ lắc đầu, không nói gì. Chú có biết không? Người kéo xe là tôi đấy, còn bí thư và chủ tịch xã đẩy phía sau. Tôi rất ngạc nhiên thấy cái xe quá nhẹ. Đồng chí bí thư bảo tôi là chỉ có mấy chục viên gạch đỏ ở trên, còn dưới lót toàn rơm thôi. Lần đầu tiên, tôi biết làm phim là làm cái trò giả dối chú ạ…”

Bốn mươi năm sau (2008), tôi mới được xem những thước phim tuyệt vời đó, do một Việt kiều Pháp mang về tặng chú Khoa. Báo chí ở Việt Nam cũng có một dạo bàn luận về cái phim hy hữu này. Nhưng xem hết phim, không thấy bóng dáng ba ông cán bộ thân yêu của xã tôi ở đâu. Đoạn diều đứt dây thì vô cùng sinh động tự nhiên, còn đoạn cây mía múa gươm do quạt hòm quay thành gió và kéo xe bò thì cũng không thấy có.

Chuyện thứ hai: Trong phim có một người đàn bà đang nấu cái gì đó trong bếp, mà ai xem cũng tưởng là mẹ tôi và hỏi tôi sao mẹ tôi trẻ thế. Không phải. Đấy là cháu dâu tôi, năm ấy khoảng hơn ba mươi tuổi. Cô là chị ruột của một anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nên mới được chọn đóng phim độ khoảng mười giây.

Chuyện thứ ba: Tôi ra thăm trường cấp I xã Quốc Tuấn, nơi chú Khoa học. Anh hiệu trưởng cho tôi xem một cái ảnh chụp chung với đoàn làm phim Pháp khi đoàn ra trường chào trước khi về Hà Nội. Trong ảnh chỉ có một mình anh với đoàn. Vì bức ảnh này, anh là đảng viên dự bị không được công nhận là đảng viên chính thức. Anh đã lý sự rằng: Một, không ai thông báo cho tôi biết trong đoàn có gián điệp quốc tế để tôi không chụp ảnh chung với họ. Tôi hoàn toàn không biết họ là ai. Hai, để thể hiện khí phách của dân tộc, tôi đã đứng, đã thế lại chống hai tay vào hông, trông rất anh hùng, trong khi họ ngồi dưới chân tôi cả đấy thôi. Vậy tôi không có khuyết điểm.

Tôi đã cầm cái ảnh ấy về gặp nhà thơ Chế Lan Viên, đương kim đại biểu Quốc hội. Sở dĩ gặp Chế Lan Viên vì ông vừa được bí thư huyện ủy mời cơm sau chuyến thăm nhà tôi. Ấy là mẹ tôi bảo thế, khi muốn giữ ông ở lại ăn cơm với gia đình. Chế Lan Viên nhìn tôi kinh ngạc: Thật thế à? Nếu thế thì phải bỏ tù tôi vì tôi còn sang tận nước Pháp. Ông bảo, để tôi sẽ can thiệp ngay. Tôi gửi lại ông bức ảnh. Mấy tháng sau, tôi về nhà, ra thăm trường, thì được biết anh hiệu trưởng đã chuyển đi trường khác. Không biết phải chuyển đi ngang chừng như thế là tốt hơn hay xấu hơn và có còn giữ được chức hiệu trưởng hay không?... Tôi không tiện hỏi. Bây giờ đôi lúc nghĩ đến, vẫn thấy áy náy… Hình như…

183. Nguyễn Đức Tùng:

Lúc tôi còn nhỏ, có lẽ đồng thời với tuổi thơ của Trần Đăng Khoa và vào giai đoạn mà anh đang kể, tôi có đọc được một số hồi ký viết về đời sống thôn quê ở miền Bắc như của Kim Nhật, Xuân Vũ. Lúc ấy những người đọc như tôi nửa tin nửa ngờ, bây giờ nghe anh kể thì biết là họ kể đúng.

Nhưng xin trở lại với quan tâm của tôi đã nêu ở trên: Có một bi kịch lạ thường trong thơ Trần Nhuận Minh, xuyên suốt các bài thơ của anh, khởi đi từ rất sớm cho đến những bài thơ gần đây.

Hiển lộ hơn cả trong Bản Xônat hoang dã, nhưng không chỉ giới hạn ở đó.

Một tâm sự về cõi người, rất kín đáo, nhưng rất thường trực.

Tôi không hoặc ít khi tìm thấy điều này trong thơ của một số nhà thơ khác, chia sẻ chung những hoàn cảnh giống anh, mặc dù thơ họ cũng rất hay, ví dụ Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Khoa Điềm, Vũ Quần Phương, Bằng Việt.

Mặc dù gần đây tôi bắt đầu nhìn thấy thấp thoáng trong thơ Nguyễn Trọng Tạo, Vân Long, Thanh Thảo, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Thụy Kha và cả Vũ Quần Phương.

Đó là bi kịch nào?

Trần Nhuận Minh:

Đó là bi kịch về số phận con người, trong đời sống xã hội và trong cả cõi tinh thần - cái phần hồn của con người, với bao dằn vặt do thế cuộc tác động tới. Cảm hứng này không có, hoặc ít có, trong thơ Việt Nam mà nhiệm vụ thường trực là chống giặc ngoại xâm. Đây là cái tạng của cá nhân tôi, hình thành trong quá trình sống lăn lóc qua mọi biến động, có khi kinh hoàng, của thực tế, cộng với sự tự học, ở đây là sự thẩm thấu tinh thần nhân văn chủ nghĩa vĩ đại của cụ Nguyễn Du, qua Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh, một số bài trong Bắc hành tạp lục, và một số bài khác của Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị bên Trung Hoa. Ngay chú em ruột tôi, nhà thơ Trần Đăng Khoa, cũng không có cảm hứng này. Như cái cây, mà hạt giống là sự rơi vãi của con chim vào kẽ nứt một quả núi đá, tôi sống được và vượt lên vô cùng khó khăn, nên lọc qua từng tế bào mình, mọi căn nguyên nhọc nhằn và cay đắng của nỗi khổ người đời. Không nói ra hết được mà nói cũng chả để làm gì, có khi người ta lại cười cho.

Anh có biết không, bây giờ, nếu gặp một bà cụ già, lưng còng, chống gậy đi ăn xin, Tay chìa ra sâu như cõi thế gian... nhiều khi không kìm được là tự nhiên tôi bật khóc. Một lần về họp hội đồng Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam, tôi xách cặp đi bộ qua phố Tràng Tiền, Hà Nội, chứng kiến cảnh một bà nông dân trạc tuổi tôi, trông rất nghèo khổ, nhếch nhác, bị tịch thu quang gánh bán hàng rong, bị phạt tiền, bà ấy vái lạy xin mà không được. Lý do bà ấy kể thì gia cảnh thảm lắm, nghe thương không chịu được. Tôi có mặt luôn ở đó, bèn xin cho bà, nhưng mới chỉ nói được có một câu là tự nhiên tôi khóc hu hu ở giữa phố, khiến bao người xúm lại, chả hiểu ra làm sao… Tôi rút hai trăm nghìn ra biếu bà để bà nộp phạt, nhưng bà dứt khoát không nhận.

Trước những bà mẹ như thế, tôi thấy tất cả chúng ta đều là những kẻ có tội….

Trong Miền dân gian mây trắng, tôi có bài viết về cảnh đó đấy, không biết anh đọc có nhớ không?

NGƯỜI ĐÀN BÀ ẤY…

Người đàn bà ấy bán hàng rong để nuôi đứa con què

Xin đừng phạt tiền, đừng tịch thu quang gánh…

Bạn có nghe thấy chăng?

Tiếng nói của ông trời

Thường thăm thẳm cất lên

Ở giọt mồ hôi kẻ khốn cùng để làm ra miếng bánh…

Những cảnh như thế trong thơ tôi khá nhiều. Và cũng đủ các loại: một cháu bị đánh bật máu mặt vì đói quá, ăn cắp một cái bánh mì: Với trẻ con sao các người ác thế!… Một cháu Mừng cùng quê, chết sập lò, thân thể dập nát vùi trong xe than, vì đi đào than thổ phỉ để lấy tiền đong gạo nuôi mẹ:

Xe than đổi một mạng người

Chú biết kêu cùng ai được

Mừng ơi!

Tôi chứng kiến hằng ngày, nỗi khổ vô cùng vô tận của người nghèo. Và cũng chứng kiến hằng ngày sự lãng phí ghê gớm tiền thuế của dân và tội ác của không ít kẻ nhân danh những điều tốt đẹp… Trốn vào đâu, sông núi vẫn vô tình… Những điều ấy, nhiều người biết nhưng rồi lướt qua, nhưng ở tôi thì nó đọng lại đến nhức nhối. Cũng do cái tạng của tôi mà.

Im lặng là vàng ư?

- Im lặng là tội ác…

184. Nguyễn Đức Tùng:

Mới đọc qua, nhiều người có thể lầm tưởng thơ Trần Nhuận Minh với ca dao vì thơ anh dùng ngôn ngữ giản dị hàng ngày, có chỗ như lời nói, nhưng một người tinh ý và đọc kỹ sẽ thấy nụ cười duyên dáng của anh và hơn thế nữa thấy cái thần của thơ anh ẩn sau các chữ.

Tôi không ngạc nhiên được biết anh hiện là một nhà thơ được nhiều độc giả ái mộ.

Người làm thơ làm thế nào để dùng ngôn ngữ giản dị, viết cho số đông mà vẫn không rơi vào cái bẫy của sự chất phác dễ dãi? Có thể nào có một loại thơ vừa thích hợp cho số đông vừa thích hợp cho độc giả tinh hoa?

Trần Nhuận Minh:

Tôi nghĩ làm thơ cho số đông, viết rất dễ hiểu, vẫn có thể có thơ hay. Tôi nhớ Bạch Cư Dị, thi hào Trung Hoa, đời Đường, sau khi làm xong bài thơ, thường tìm người không biết chữ, đọc cho nghe, rồi hỏi có hiểu không. Nếu người đó nói hiểu thì ông thôi không sửa nữa, nếu người đó nói không hiểu thì ông sửa lại hoặc viết lại.

Nếu anh đọc kỹ Miền dân gian mây trắng của tôi, sẽ thấy tôi có ý thức vận dụng thi pháp ca dao trong suốt cả tập thơ, từ ý tưởng, kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ, hình ảnh… làm sao cho thật gần với cách nghĩ, cách hiểu, cách nói của người dân thường:

Ví dụ như câu:

Ới giời ơi, đến nỗi này

Ăn gì mà bụng mỗi ngày một to…

Anh thấy đấy, có cái hài hước thường có trong văn chương dân gian, để phản ánh cái đáng buồn cười, cười ra nước mắt của sự đời, khi ta bước hẳn sang cơ chế thị trường, từ nếp tư duy của nền kinh tế bao cấp và không sao thoát ra khỏi những ràng buộc và hệ luỵ của nó. Cái cười đó nhẹ nhàng, vui, lạc quan. Có chỗ tôi tự cho phép mình “tếu” một chút, “bụi” một chút, nhưng cũng là cái “tếu”, cái “bụi” theo kiểu dân gian (chứ không phải theo kiểu “hậu hiện đại” như một số nhà thơ trẻ Sài Gòn), tức là thử mình trong một thử thách mới, xem có “chịu” được không? Nhưng tôi cố viết cho thấm. Loại thơ này, viết không thấm là thất bại, nó sẽ nông cạn và thành “vè” ngay. Đấy chính là nét riêng để anh phân biệt Miền dân gian mây trắng với các tập thơ khác của tôi.

Xin dẫn một ví dụ:

MỘT LẦN EM GHÉ QUA ĐÂY

Một lần em ghé qua đây

Đánh rơi một chiếc lông mày xuống sân

Thế rồi… Chó sủa người thân

Chim xa quên hót, cá gần quên bơi

Vợ anh nấu cháo cháy nồi

Còn anh hết đứng lại ngồi ngẩn ngơ…

Chiếc lông mày ấy, bây giờ

Thành nhành cỏ lạ bất ngờ trổ hoa…

Hoa ơi, anh khác người ta

Dám đâu dối chị để mà yêu em…

Toàn bài có hơi hướng ca dao, cả hình tượng, kết cấu và ngôn ngữ, nhưng vẫn không phải là ca dao, mà là thơ với những đặc trưng thơ rõ rệt. Về ngôn ngữ thì đúng như anh nói, đó là “ngôn ngữ giản dị hằng ngày”, là thơ “viết cho số đông”. Riêng chữ “nấu cháo” thì tôi không ưng, nhưng hiện không chữa được. Đúng ra là “nấu nước”, nhưng nước uống thì không ai nấu bằng nồi.

Khi tập thơ được xuất bản lần đầu, một số bạn trẻ không ưng hai câu kết này, cho rằng hai câu đó viết về tình yêu là không thật lòng: chúng cháu đã yêu là đi đến tận cùng, không có chuyện bỏ chạy ngang đường như thế. Thơ ấy không phải viết cho chúng cháu, không phải viết cho người đang yêu. Và một bạn trẻ (tôi có giữ thư và tác giả thư yêu cầu không công bố tên) đã gợi ý rằng: “chú nên chữa lại” là:

Thôi đành xin lỗi mẹ cha

Đánh con đuổi vợ để mà yêu em…

Tôi thấy có lý. Khi tái bản, tôi đưa hai câu chữa lại vào kết bài và để hai câu kết cũ vào phần chú thích ở dưới bài. Nhà phê bình Hữu Tuân viết rằng, chữa như thế là hợp với không khí của cả tập thơ: nghiêng về phê phán một cách thân tình, nhẹ nhàng các thói đời ở thời kinh tế thị trường, nhưng không hợp với đạo lý truyền thống của người Việt. Cũng có lý. Tạp chí Người Việt hải ngoại, số 2 năm 2010, nhân tôi sang thăm Canada, đã in bài thơ này trong chùm thơ chín bài của tôi. Vì thế, trong cuộc tiếp xúc với đông đảo bạn đọc ở thành phố Vancouver, bang British Columbia, Canada, ngày 24 tháng 9 năm 2010, mà anh có dự, tôi có xin ý kiến độc giả nên xử lý như thế nào cái kết này, khi tập thơ được tái bản, thì hầu hết số người trong phòng họp đều giơ tay ủng hộ hai câu mới, chỉ có hai ý kiến đề nghị giữ câu cũ và một ý kiến của một nữ độc giả, người ở thành phố thủ phủ của lãnh thổ tự trị Yukon Territory, cực bắc Canada, đã bay hơn 3000 km tới dự họp, đề nghị thay hẳn bằng một câu khác. Tôi đã cảm ơn chị và nhờ bà con Việt kiều mình ở bên đó chữa giùm.

Trước đó, tôi cũng đã ba lần xin ý kiến của độc giả trong ba cuộc tiếp xúc ở trong nước và anh biết không, cả ba lần, cùng cho một kết quả tương tự.

Thơ viết cho số đông có cái hay của nó là như thế. Gần đây, một số bạn trẻ nói rằng, thơ tôi kén bạn đọc, thơ tôi không viết cho số đông. Cũng có thể, nhưng tự cô lập mình, đối với bất cứ nhà thơ nào, cũng là điều không bao giờ nên làm…

Ở các tập thơ khác, tôi có ý thức sử dụng ngôn ngữ đời thường, thậm chí cả khẩu ngữ, với những tiếng lóng đường phố chỉ có của ngày hôm nay. Có lẽ tôi là người đầu tiên đã đưa những tiếng như toalét, coócxê vào thơ, trong câu Đốt tiền trong toa lét / Ba ngày còn chưa xong, phản ánh một hiện tượng có thật trong một vụ đổi tiền. Hoặc Ngõ tối bật tiếng coóc xê tanh tách… để nêu cảnh đĩ điếm tràn lan. Hình ảnh này, tôi nghe trộm được các cô gái nói chuyện với nhau về loại coóc xê Thái Lan, chứ suốt đời tôi, tôi chả biết nó tanh tách thế nào. Rồi những chữ trước nay trong thơ chưa ai dùng: Đã từng cho một chưởng… Thả phanh nhai thịt gà… Vào quán ghểnh chân làm choác bia hơi, v.v…

Từ đó, tôi nghiệm ra, không có chữ nào không thơ. Cái chính là tâm khảm của anh phải có độ nung của cái nồi áp suất, với độ nhiệt cao thì xương xẩu nào cũng có thể ninh nhừ. Và đấy chính là lý do để câu thơ của anh rất giản dị mà vẫn duyên dáng, vẫn có hồn, thậm chí vẫn điêu luyện của thứ văn chương bác học, trong việc phản ảnh cái bụi bặm, sống sít, thậm chí xương xẩu của đời thường. Kết hợp được cái giản dị với cái uyên bác, câu thơ vô cùng uyên bác mà vẫn giản dị hoặc ngược lại, đấy là phẩm chất cao nhất của ngôn ngữ thơ. Về điều này, trong thơ Việt Nam, có một mẫu mực tuyệt vời là Truyện KiềuVăn tế thập loại chúng sinh của cụ Nguyễn Du. Cứ học cụ là có đủ hết.

185. Nguyễn Đức Tùng:

Trở lại với Miền dân gian mây trắng. Một số bài đọc thoáng qua như ca dao. Điều ấy có nhiều ý nghĩa về nghệ thuật. Sự xuất hiện của tập thơ này những năm đầu thế kỷ mới là một điều lý thú. Đó là phong vị từ lâu mai một, trong một nền văn học đang ham muốn cái mới, cái phát triển, cái mà ở Việt Nam được gọi một cách không đúng lắm là “hiện đại” hay “hậu hiện đại”.

Từ Bản Xônat hoang dã đến Miền dân gian mây trắng là một bước đi khác hẳn về thi pháp. Để diễn tả những vấn đề mới của đời sống hôm nay, anh sử dụng lối viết cũ, lối nói dân gian. Đây là sáng tạo ít gặp. Những những thay đổi ấy đã đến với anh như thế nào?

Trần Nhuận Minh:

Một câu hỏi rất hay để bàn về thơ Việt trong tính tổng thể của nó.

Trong lời Thưa bạn đọc, in ở đầu tập tuyển Bốn mùa, Nhà xuất bản Văn học, 2009, tái bản 2011, tôi có viết:

Tập Nhà thơ và hoa cỏ tôi hoàn thành trong 15 năm cuối thế ki XX (1986 – 2001). Ba tập tiếp theo Bản Xônat hoang dã (2003), 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh (2007) và Miền dân gian mây trắng (2008), mỗi tập, tôi đều viết liền một mạch, ròng rã và liên tục trong hơn một tháng trời, với một cảm hứng riêng, say mê và nhất quán, lần lượt in ra lần đầu trong mấy năm đầu của thế kỷ này. Tôi có ý thức làm mỗi tập mỗi khác, khác về tư duy nghệ thuật, về ý tưởng, kết cấu, bút pháp và giọng điệu, tự làm đa dạng mình, hy vọng nhờ thế mà phản ánh cuộc sống và tâm trạng nhiều chiều hơn, như nó đã và đang tồn tại.

Cái khác của Miền dân gian mấy trắng là tôi hoàn toàn sử dụng thi pháp của ca dao Việt Nam, với tiếng cười hồn nhiên, vui vẻ, thoải mái, để ghi nhận, phản ánh và chế giễu nhẹ nhàng, nhưng cố gắng thấm thía, về hầu hết các vấn đề đang diễn ra ở đời sống xã hội của ngày hôm nay, không chỉ trong cơ chế thị trường. Những việc đáng cười cũng rất đa dạng, phong phú, có khi có mặt ở cả những nơi không thể tin được, như ông quan tòa có bệnh nghề nghiệp, khi cô con dâu đi buôn cam ở biên giới, mẹ chồng lại bảo cô đi làm ở ba toa (mổ thịt lợn), cô đệ đơn kêu oan, thì ông quan tòa nghĩ ngay đến toa hàng, và bắt phải giải trình ngay ba toa hàng ấy, thì mỗi toa chứa những hàng gì, để kết tội buôn lậu; rồi bảo tàng là cơ quan lưu giữ và nghiên cứu khoa học, khi được hỏi về internet thì lại trả lời là internet đã có hàng trăm năm nay rồi… nghĩa là nói bừa… Và một quan chức:

Anh này đang tiến bộ nhanh

Vừa Giám đốc Sở, vừa Thành ủy viên…

nghĩa là đủ hết các chức danh, cặp kè trong khách sạn với một cô buôn người, để bán hàng hoa:

Nghe đâu nàng – mụ Tú Bà

Buôn hàng tươi mát chuyển ra biên thuỳ...

Cặp đôi “liên minh ma quỷ” của thời hiện đại này, Hôn nhau một cái rồi lên trên lầu… Người đọc hiểu ngay là họ lên lầu để làm cái gì. Nếu có một loại nhân vật “cấp ủy”, đầy mình hào quang, một thời được coi là “cấm kỵ” này, lần đầu tiên trở thành một nhân vật gây cười trong văn chương châm biếm, xuất hiện chính thức trong thơ theo phong cách dân gian… có lẽ là từ tập thơ này của tôi chăng?...

Nếu bạn thống kê theo kiểu cụ thể như thế, sẽ thấy độ bao trùm của tác phẩm khá rộng, ở nhiều nơi, nhiều ngành, nhiều người… với đủ các thứ nhố nhăng đáng chê cười của đời sống thường nhật ngày hôm nay. Tất nhiên, ai cũng hiểu, đó là những chi tiết có tính biểu cảm nghệ thuật chứ không phải là thực tế được hiểu theo nghĩa đen của các danh từ… Trong đó có cả những vấn đề được gọi là “nhạy cảm”, thậm chí “cấm kỵ”, mà nếu không dùng bút pháp dân gian, thực khó mà “đi” được:

Làng tôi thành quán lâu rồi

Bún gà, lòng lợn… cứ xơi suốt ngày

Hàng Tàu cho đến hàng Tây

Hàng nào cũng có… phơi ngay ra đường

Chẳng ai bàn chuyện ruộng nương

Chỉ bàn xem ở Trung ương… thế nào

Nước này, nước nọ… ra sao

Nước nào là địch, nước nào là ta…

Tôi cũng nhiều lần nói chuyện về thơ mình trước công chúng, và tôi nhận ra rằng, thơ trong Nhà thơ và hoa cỏ được người nghe thích hơn, và thơ trong Miền dân gian mây trắng được người nghe thú hơn. Toàn hội trường im lặng và luôn có tiếng cười tự nhiên, làm tỉnh ngủ cả các bà chạy chợ phiên, môi nhai trầu bỏm bẻm… đến xem thơ phú nó như thế nào…

Ngay trong buổi nói chuyện thơ với bạn nghề và bạn đọc yêu thơ ở thành phố Vancouver, Canada, ngày 24 tháng 9 năm 2010, đã nói ở trên, phần nói về thơ mình trong Miền dân gian mây trắng, cũng được người nghe chú ý hơn. Đó là thơ của số đông, của công chúng, và, cũng như nghe dân ca quan họ Bắc Ninh, họ rất thích thú với lối thơ vui vẻ, châm biếm, bông đùa mà lại có ý nghĩa xã hội sâu xa.

Khi tôi nói, tôi viết bốn câu thơ:

Châu Chấu sang hỏi Cào Cào:

Nước trong, cá sống thế nào, hở anh?”

Con Gà đến hỏi Cây Chanh:

Chặt lau, làm cái cột đình, được chưa?”…

thì hai câu trên, tôi nói về đấu tranh chống tham nhũng đấy. Theo tôi, tham nhũng chỉ hạn chế thôi, chứ không chống được, vì nước mà trong quá, cá sẽ chết. Ta phải nuôi cá chứ. Hai câu dưới, tôi nói về công tác tổ chức và cán bộ. Làm sao đừng phải chặt cây lau để mà làm cái cột đình… Đấy là cách tốt nhất để bảo vệ cái đình, tránh cho cái đình khỏi phải đổ sập. Chẳng có gió bão nào ở bên ngoài làm đổ cái đình của các ông các bà được đâu, nếu cột nó không làm bằng… thân cây lau… Toàn hội trường cười vui, vỗ tay hoan nghênh rất nồng nhiệt… Như vậy, thơ vẫn có lối rẽ vào các ngóc ngách tâm tư của đời sống, thơ vẫn còn cần lắm lắm cho người đời…

186. Nguyễn Đức Tùng:

Có hai quan niệm về thơ: một là viết cho số đông, hai là viết cho số ít. Theo tôi hai quan niệm này chi phối tất cả các nhà thơ.

Còn ý anh muốn nói là: không phải viết về cái gì, viết bằng thể thơ nào, mà cái chính là viết như thế nào. Nhà thơ Nicanor Parra đã từng viết:

Trong thơ mọi thứ đều được phép

Nhưng chỉ với điều kiện này

Bạn phải viết cho hay

Tiếc rằng hiện nay hầu hết các nhà thơ của chúng ta chỉ nhớ câu đầu tiên trong mấy câu của Parra.

Hoặc có người chỉ nhớ câu cuối.

Trần Nhuận Minh:

Tôi cũng nghĩ như vậy.

Nhân đây, mời anh đọc bài viết của nhà phê bình văn học Hữu Tuân về tập thơ này. Bài đã đăng báo Hải Dương cuối tuần năm 2009, tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam năm 2010 và in trong tập sách Trần Nhuận Minh và ba lần định vị cho thơ, của Nhà xuất bản Văn học.

THI PHÁP CA DAO TRONG
MIỀN DÂN GIAN MÂY TRẮNG

HỮU TUÂN

1. Trước hết, xin nói đến tên các bài thơ trong tập. Ca dao vốn không định danh từng bài. Người đời sau thường dựa vào câu thơ đầu, để đặt tên như "Tát nước đầu đình", "Trèo lên cây bưởi hái hoa"... Trần Nhuận Minh cũng vậy. Bốn mươi ba bài trong "Miền dân gian mây trắng" đều được đặt tên như thế cả. Nào "Con chim nó đậu...", "Ngày này tháng nọ...", nào "Sáng qua anh đến...", "Một lần em ghé qua đây"... Nghe vừa dân dã, vừa pha chút hóm hỉnh, mà ẩn ý sâu xa. Đặt tên bài thơ theo kiểu này, dễ gây hứng thú cho người đọc.

2. Các đề tài là bức tranh sinh hoạt đời thường, diễn ra hàng ngày quanh ta. Cổ kính có. Hiện đại có. Chuyện cưới xin. Chuyện ma chay. Chuyện đổi thay làng xóm. Chuyện cặp bồ, cặp bịch. Chuyện tuổi trẻ. Chuyện người già... Từ các chuyện đó, tác giả thường rút ra những bài học về nhận thức, về lối sống, về nhân cách, nhưng lắm lúc chỉ là chuyện vui, thế thôi!

Bên cạnh lời cảnh tỉnh:

Cá mà trông thấy lưỡi câu

Thì dù có đói dám đâu đớp mồi

Trớ trêu là tại Ông Trời

Sinh ra cái bẫy nhử người tham lam...

(Cá mà trông thấy...)

là giây phút đùa vui, hài hước:

Anh đây, công tử họ Trần

Thấy em trắng tựa ngó cần... cũng mê

Chờ anh, anh đón em về

Anh còn mượn áo với thuê cái quần...

(Anh đây, công tử...)

Nhưng khá nhiều bài thơ trong tập dừng lại ở góc độ phê phán. Thuận lẽ trời thì tồn tại. Ngược thiên tính, trái nhân tình thì bị người đời ghét bỏ, chê bai. Đó là cái sùng ngoại, mất gốc của các cô gái tân thời (Sáng qua anh đến...), là cái thói trục lợi, xu nịnh người quyền quý của kẻ cơ hội (Ông già nằm trong quan tài), là cái đổi mới xói mòn truyền thống văn hóa dân tộc (Trăng xưa…, Làng tôi thành quán...), là cái tính chạy theo đồng tiền của một số đương chức (Ta qua bến Lú...). Điểm mạnh của thơ Trần Nhuận Minh ở góc này là trào phúng kết hợp với trữ tình. Trước bao nghịch cảnh diễn ra hàng ngày quanh ta, tác giả tận dụng cái cười châm biếm, nhưng là cái cười ra nước mắt. Xót xa lắm chứ. Đau lòng lắm chứ:

"Ta về ta tắm ao ta"

Nghe câu hát cũ mà da sưng phồng…

(Trăng xưa…)

3. Nói tập thơ nghiêng về đề tài thường nhật, giản dị, nhưng không vì thế mà đơn điệu. Trái lại, rất đa dạng, nhiều bài thơ đạt tới độ sâu triết lý nhân sinh. Chẳng hạn, nói về sự im lặng, ở trường hợp này là vàng:

Cây trong im lặng, trổ hoa

Trời xanh không nói vẫn là trời xanh…

(Khó thay là biết…)

Nhưng ở lúc khác, như trước những bất công, thì "im lặng là tội ác" (Từ xửa từ xưa…).

Từ cách nhìn đó, ta thấy thơ Trần Nhuận Minh giàu tính phát hiện. Đấy là những phát hiện của đôi mắt thẩm mỹ, của sáng tạo nghệ thuật, mang màu sắc dân dã, ít hàn lâm. "Không mưa, biển nước vẫn đầy", không có gì mới, nhưng khi nhà thơ viết:

Vì cành nặng quả mà cây cúi đầu…

(Gió đưa khói bếp...)

thì lại là một phát hiện tài tình, giàu cảm xúc. Bóng với người được nhà thơ xưa nay nói nhiều như Lý Bạch, Tản Đà... nhưng nghiêng về phía trữ tình. Còn Trần Nhuận Minh rút ra một nhận định ẩn dụ, hàm ý phê phán:

Khi anh đứng quay lưng về phía mặt trời

Bóng tối của chính anh sẽ ngả dài trước mặt…

(Khi anh đứng…)

Đây cũng là một phát hiện, chứa đựng chất triết lý khá sâu sắc. Tôi tâm đắc nhất, khi nhà thơ nói về sự trả thù của Tấm đối với Cám, người em cùng cha khác mẹ, bởi ông đứng trên quan điểm nhân văn chủ nghĩa chứ không xuất phát từ quy luật ác giả, ác báo:

Man rợ và thấp hèn

Cô Tấm vợ vua là một người như thế...

(Vẫn còn đây…)

Lắm câu thơ lấp lánh trí tuệ, như rút ra từ gan ruột nhà thơ:

Thương ôi!

Có những viên kim cương

Đến gần mới biết là những giọt nước mắt...

(Lên ngựa xuống xe...)

Hoặc khi bàn về sức mạnh của phái yếu, Trần Nhuận Minh nói theo cách phóng đại, hợp với lối diễn đạt dân gian:

Cho hay sợi tóc đàn bà

Trói trâu trâu chết, kéo nhà nhà xiêu…

(Trời cho nhan sắc...)

Không pha từ Hán Việt như trong Truyện Kiều:

Cho hay cái sóng khuynh thành

Làm cho đổ quán xiêu đình như chơi…

Có những hiện tượng thoạt trông thì phi lý:

Tay dài chẳng với tới lưng

Cửa không đóng được thì đừng mở ra

Hương hoa không ở trong hoa...

(Tay dài chẳng với...)

Song nghĩ cho kỹ, lắm lúc muốn đến chỗ hợp lý, ta phải giải quyết bằng phi lý. Muốn nhanh tới đích trên con đường dài, anh phải đi chậm. Muốn nhận biết ai là bạn tốt, anh phải bước vào thế giới nghịch lý:

Chó cũng sủa nhầm, anh hãy mở cổng ra

Người bạn tốt nhất của anh

thường ít đến thăm nhà...

(Chó cũng sủa nhầm...)

4. Cảnh vật trong tập thơ là chốn đồng quê hoặc thị thành, làng xóm thân quen:

Làng tôi thành quán lâu rồi

Bún gà, lòng lợn... cứ xơi suốt ngày…

(Làng tôi thành quán...)

Còn nhân vật cũng vậy. Những bà mẹ. Những cô gái nhan sắc. Người bán hàng rong. Ông giám đốc… Sang có. Hèn có... Nhân vật thực đối thoại cùng thần thánh. Lại có cả sư nữa:

Đêm qua, gió lạnh sân chùa

Có hai bà vãi bỏ bùa ông sư…

(Châu chấu sang hỏi...)

có lẽ nhà thơ lấy cái tứ ở bài ca dao xưa:

Ba cô đội gạo lên chùa

Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư...

Và cũng như ca dao, để phong phú thế giới nhân vật, Trần Nhuận Minh đã nhân hóa cây cối, động vật, đồ vật... Khi là cây chanh, con cá. Khi là con cò, con châu chấu hoặc cào cào:

Châu Chấu sang hỏi Cào Cào:

"Nước trong, cá sống thế nào hở anh?"

(Châu Chấu sang hỏi...)

Tác giả không cá tính hóa các nhân vật, mà để chúng tham gia vào câu chuyện nào đấy, làm bật ý nghĩa bài thơ, dù có khi hé lên tính cách nhân vật trữ tình:

Ta sống dung dị và tự nhiên

như Cây, như Đá

Không là công cụ trong tay ai

để đánh chó, dọa người…

(Ta sống dung dị…)

5. Nhiều bài thơ hóm hỉnh, như ta thường gặp trong ca dao. Này đây là lối nói phóng đại, đáng yêu, về đám cưới chàng công tử họ Trần:

Xe Công Nông rất rộn ràng

Rước dâu, mời cả họ hàng cùng đi…

(Anh đây, công tử...)

Này đây, là cái lú lẫn của người già, khiến ai đó phì cười:

Cúc quần đôi khi không đóng

Cái trong thì để ra ngoài…

(Quê ta…)

Cái hóm dạng tiếu lâm. Nhưng khá nhiều cái hóm được khai thác theo ý nghĩa triết học, từ các mặt đối lập, như trong bài "Nhà thơ nói gì...":

Nhà tư tưởng nói gì cũng sai thì thật đáng yêu

Còn không nói gì thì đẹp vô cùng…

Quan hệ giữa cái không và cái có của triết học phương Đông ư? Hay sắc sắc, không không của đạo Phật? Tác giả cũng tận dụng các biện pháp tu từ thơ ca dân gian như phép ẩn dụ:

Đi hết đời vẫn không hết nỗi lo toan của mẹ

ngẩng lên lúc nào cũng thấy bóng mây xanh...

(Ông trời sinh ra...)

Hay vừa ẩn dụ, vừa nhân hoá:

Anh nhìn gió động bờ tre

Thương con cò trắng bay về, bơ vơ...

(Sáng qua anh đến...)

Hoặc phóng đại để đề cao một nhan sắc trời cho:

Ngày nào em đẹp, em dòn

Em qua, chó đá cũng còn vẫy tai...

(Ngày nào em đẹp...)

Cũng có khi nói phiếm chỉ, tạo cảm giác, chuyện xẩy ra thời nào cũng được; ca dao, truyện cổ tích, hay dùng:

Ngày này, tháng nọ, năm kia

Tình cờ vào một quán bia, gặp nàng…

Lại đôi khi, nói ngược một cách tinh ma:

Chỉ thương các cụ chết rồi

Làm sao sướng được như tôi thế này...

Chỉ là nhà thơ kể chuyện "Làng tôi thành quán lâu rồi", ai nấy mải mê ăn nhậu, hội họp, xướng ca, rồi ngậm ngùi nhớ đến các cụ đã về cõi từ lâu, không được sướng vui cùng con cháu. Chữ "sướng" dùng thật đắt.

Có bài lặp lối diễn đạt ca dao, nhưng được cách tân:

Sáng qua anh đến thăm em

Thấy cha, đứng ở bên thềm tưới hoa

Thấy em soạn sách trong nhà...

(Sáng qua anh đến...)

làm ta nhớ đến bài ca dao:

Hôm qua, anh đến chơi nhà

Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường

Thấy em nằm đất, anh thương...

Trần Nhuận Minh cũng rất thông thạo vận dụng thể đồng dao, cả hình thức đến nội dung, vừa gợi không khí dân dã, vừa hiện đại, lại trữ tình nữa:

Ngày xuân chơi oẳn tù tì

Trong tay, anh có cái gì thì ra...

(Ngày xuân...)

Và lại thử tài trong thể ngụ ngôn:

Túng đói cũng chẳng làm liều

Bởi chưng ngược gió mà diều bay lên

Sông sâu nước chảy mới êm

Để thui con chuột, chớ nên đốt nhà...

(Túng đói cũng chẳng...)

Nhà thơ sử dụng ngôn ngữ rất giàu tính nghệ thuật, uyên thâm, khi cần, có thể dùng cả khẩu ngữ, mà lời thơ vẫn trang nhã, sinh động:

Ối giời ơi! Đến nỗi này

Ăn gì mà bụng mỗi ngày một to

- Ứ hừ... Ai khiến anh lo

Lo trâu đen cổ, lo bò trắng răng...

(Ngày nào em đẹp...)

Nhà thơ có tài chắt lọc ngôn ngữ, đôi khi, chỉ cần một từ đã lột tả được thần khí của đối tượng miêu tả. Chẳng hạn, lời của một người vợ nông thôn, mỉa mai ông chồng thích đi đây, đi đó, để tìm của lạ, rồi cuối cùng, phải quay về với bà xã:

Vợ ra ruộng khoán vừa về

Rằng: "Không thoát khỏi gái sề này đâu"!

(Một đi...)

Chữ "gái sề" nói được cả hai: chồng và vợ. Hoặc cũng ngôn ngữ bà vợ khá đanh đá với đức ông chồng:

Về nhà, vợ mắng rầm rầm

Hai hòn nguyên tử, ông... cầm cho ai?...

(Hỏi chàng quân tử...)

Nói về một vật dung tục mà dùng một thuật ngữ khoa học hiện đại để tạo nên nụ cười dí dỏm, có lẽ chỉ có một Trần Nhuận Minh mà thôi. Rõ ràng, nhà thơ đã vận dụng tính đa nghĩa của từ tiếng Việt, khi làm nhoè nghĩa gốc, khi chuyển nghĩa, khi lập lờ cách hiểu:

Chị tôi đi Nhật, đi Tây

Muốn cái gì cũng được ngay cái gì...

(Trời cho nhan sắc...)

Thật ra cái khó của sự vận dụng thi pháp dân gian không phải ở chỗ lặp những mô típ chữ nghĩa, những hình ảnh tượng trưng đã được định hình, hoặc những biện pháp tu từ, như ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, phóng đại, mà cái khó nhất là làm sao bài thơ toát lên được cái hồn dân dã, cái âm hưởng ca dao, có chiều sâu tâm linh dân tộc. Bài thơ "Ngày xuân” có thể vươn tới chuẩn mực đó chăng?

Ngày xuân chơi oẳn tù tì...

Cuối cùng, ta hãy cùng tác giả trở về cội nguồn, sau những năm tháng gian nan, khổ ải, trên đường đời, để rũ hết bụi trần, để lọc sạch tâm hồn, sống thanh thản, hồn nhiên giữa một không gian quen thuộc, gần gũi nhưng đầy tính huyền thoại, có lúc ta tưởng như xa lắc, xa lơ:

Thôi về với "Tiếng võng kêu

Ba gian nhà nhỏ, sớm chiều bình yên

Khi đi bộ, lúc bơi thuyền

Bốn phương mây trắng một miền Dân gian...

(Hình như từ đất...)

Thơ Trần Nhuận Minh đã đến được cái đích, là chủ nghĩa nhân văn và truyền thống văn hóa, đạo lý của dân tộc.

(Hữu Tuân)

187. Nguyễn Đức Tùng:

Anh nhắc đến hội đồng Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam. Dĩ nhiên ai cũng biết không phải cứ ở trong hội đồng Thơ thì thơ bắt buộc phải hay, nhưng dù sao họ cũng tiêu biểu cho một thế hệ. Hình như trong nước gọi là thế hệ các nhà thơ chống Mỹ. Thơ của các nhà thơ ấy, và những nhà thơ nổi tiếng khác nữa, ra sao? Năm bảy năm nay, họ có còn làm thơ không, anh thấy thơ họ thế nào?

Tôi có đọc trường ca Metro của Thanh Thảo, trường ca Lòng chảo của Nguyễn Thụy Kha, tập Thế giới không còn trăng của Nguyễn Trọng Tạo, Thương lượng với thời gian của Hữu Thỉnh, Tháp nghiêng của Hoàng Vũ Thuật, những bài của Vân Long… theo tôi những tập ấy đáng chú ý về nghệ thuật, nhưng hình như đó không phải là những trường hợp phổ biến.

Sở dĩ tôi hỏi kỹ như thế là vì tôi cho rằng, ngoài lý do “bị nhấn chìm trong cái biển lùng nhùng gọi là thơ” ấy, như anh nói trước đây, và nói rất đúng, còn một chuyện khác. Nhìn lại một giai đoạn, bao giờ người ta cũng đã và sẽ nhìn lên các đỉnh cao, không ai nhìn xuống bao giờ.

Đỉnh cao, thước đo, tiêu chuẩn, bảng giá trị của thơ Việt Nam hiện nay ở đâu?

Trần Nhuận Minh:

Hội đồng Thơ của mỗi nhiệm kỳ thường là chín người, do Ban chấp hành Hội Nhà văn khoá đó bầu ra, để thực hiện các việc chuyên môn về thơ, giúp Ban chấp hành thẩm định các tác phẩm, chọn lựa các giải thưởng và đề xuất kết nạp hội viên mới trong số hàng trăm tác giả đã có hồ sơ xin vào Hội. Như vậy, ngoài sáng tác, các nhà thơ ủy viên phải đáp ứng một số yêu cầu khác để có thể làm tròn được nhiệm vụ.

Nếu chỉ tính dăm bảy năm nay, tức là từ đầu thế kỷ XXI, thì nhà thơ Nguyễn Duy không viết nữa. Tôi rất trọng ông ở điểm này: Khi thấy mình không viết được hay, thậm chí không hay hơn cái đã có, thì không nên viết nữa, hoặc nếu có viết thì không nên in nữa. Còn các nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, Hữu Thỉnh, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Trọng Tạo, Thanh Thảo… mà anh kể trên, đều vẫn viết, và viết vẫn còn hay. Và nhiều nhà thơ khác nữa. Tiếp tục viết hay được là điều không dễ vậy. Theo tôi, sau các nhà thơ thế hệ chống Pháp đã kết thúc cách đây khoảng 20 năm, thế hệ thơ chống Mỹ cũng sắp kết thúc, đang làm những việc cuối cùng. Tương lai đã đặt lên vai thế hệ sau năm 1975.

Còn các tiêu chuẩn giá trị, như anh nêu, theo tôi, hiện nay đang nhiễu loạn. Trước đây, một người nói có hàng nghìn người nghe, vì người nói hơn hẳn người nghe một cái đầu. Bây giờ người nói hơn người nghe, có khi chỉ có vài sợi tóc. Cũng không loại trừ khả năng sợi tóc trên đầu người nói còn ít hơn trên đầu người nghe. Bởi thế mà láo nháo, ai nói thì người ấy nghe là chủ yếu.

Nhưng tôi vẫn tin, những tiêu chuẩn giá trị mới đang được hình thành từ các tác phẩm xuất sắc nhất, với sự thẩm định sáng suốt của bạn đọc và đã có, hoặc sẽ có, ở nơi bạn đọc. Và chỉ bạn đọc, với sự sàng lọc khách quan và nghiệt ngã của thời gian, mới có quyền đặt ra bảng các giá trị đó. Tôi tin vào định luật Archimed của vật lý học, mà tôi coi đó cũng là định luật của văn chương. Sẽ có những tác phẩm hôm nay được giải thưởng cao, dư luận khen ngợi ầm ĩ, rồi sẽ mất tăm và ngược lại, sẽ có những tác phẩm hôm nay chìm trong im lặng, vài mươi năm sau sẽ nổi lên như một niềm tự hào của nền văn hóa dân tộc và phẩm giá con người...

Nước nào cũng có những trường hợp như vậy và đó cũng là điều bình thường.

188. Nguyễn Đức Tùng:

Rất đồng ý với nhiều nhận định quan trọng và thú vị của anh đối với thơ ca, nhưng tôi cũng xin trình bày một số điểm khác biệt. Một cách thẳng thắn.

Gần đây tôi có đọc các tác giả trong nước nhiều hơn, nhất là những tên tuổi xuất hiện nhiều trên báo chí công khai và chính thống, và vẫn tiếp tục viết đều đặn. Có một vài trường hợp, như tôi đã nhắc vừa rồi, mà thơ của họ làm tôi ngạc nhiên: một số bài thơ hay. Và một số tác giả khác nữa, trẻ hơn, khá hiếm.

Nhưng hầu hết thì không được như vậy. Tôi hiểu vì sao độc giả than phiền về nền thơ hiện nay.

Họ thất vọng về điều gì khi đọc thế hệ ấy? Tôi cho rằng họ không tìm thấy ở đó vẻ đẹp của ngôn ngữ văn chương như ngày xưa đọc Đinh Hùng, Quách Thoại, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên trong Nam, hoặc Tố Hữu, Chế Lan Viên, Lê Đạt, Dương Tường ngoài Bắc sau này. Mặt khác, về nội dung, nhiều người đọc cho rằng họ không tìm thấy tấm lòng tha thiết nóng bỏng của nhà thơ đối với cuộc đời.

Hình như độc giả nhìn ra sự giả dối dễ dàng hơn các nhà phê bình thì phải. Tôi không chắc lắm. Anh nghĩ sao?

Trần Nhuận Minh:

Anh đã đặt ra nhiều vấn đề thú vị và rất cốt lõi của văn chương.

Trước hết về ngôn ngữ thơ.

Các nhà thơ trong Nam anh kể trên, tôi chưa đọc Quách Thoại nên chưa biết Quách Thoại như thế nào. Còn thơ Bùi Giáng, tôi muốn nói kỹ hơn, vì ông là một nhà thơ quan trọng và rất được chú ý, với nhiều cách hiểu khác nhau. Theo tôi, ngôn ngữ thơ Bùi Giáng rất phong phú, sinh động, tự nhiên, nhưng không được đẹp như anh nói. Ngôn ngữ đẹp bao giờ cũng mang đến cho người đọc sự cảm thụ về thẩm mỹ. Tôi hoàn toàn không thấy điều đó, khi đọc những câu sau:

Nếu ngày mai tôi chết đi

mà cô không thể giỏ cho một giọt nước mắt

Thì cô có thể giỏ cho một giọt nước tiểu cũng được

(Nhớ giỏ trên mồ)

Ở dưới suối vàng, tôi sẽ ngậm cười đón nhận

(Ngậm cười chín suối vẫn còn thơm lây)

Cô ở đây là nữ nghệ sĩ Kim Cương, người mà ông yêu một cách si mê và sùng kính. Đoạn thơ trên dẫn theo nhà văn Nguyễn Quang Lập trong bài Nhớ Bùi Giáng, in trong tập sách 576 trang, Bùi Giáng trong cõi người ta, Nhà xuất bản Lao động, 2008, trang 252, do Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây sưu tầm biên soạn, nhân 10 năm Bùi Giáng (1926 – 1998) qua đời.

Ai cũng biết câu dưới cùng của đoạn trên là nguyên văn một câu thơ của Nguyễn Du.

Ghi theo lời “bình” của nhà văn Cung Tích Biền, Nguyễn Quang Lập viết tiếp: “có con nào thì ăn tươi nuốt sống ngay, chờ đến khi chết, nó tụt quần đái cho vài giọt (trên mồ) thì sung sướng cái nỗi gì. Mà mình đã nằm trong hòm rồi, nó đái trển (trên ấy), cũng có thấy bướm nó đâu” (sách đã dẫn). Những bài thơ như thế chỉ làm tôi thấy… mất vệ sinh và nhà thơ đã tự hạ mình thấp đến mức thảm hại như vậy thì làm sao để người đọc kính trọng được. (Bốn chữ “trên mồ”, “trên ấy” là tôi ghi thêm cho rõ).

189. Nguyễn Đức Tùng:

Câu văn trích dẫn của nhà văn Nguyễn Quang Lập làm tôi hết sức kinh ngạc.

Trần Nhuận Minh:

Tôi đọc thơ Bùi Giáng cũng được khoảng 2 -300 bài và tương đối hệ thống trong mươi năm trở lại đây.

Tôi cũng đọc rải rác hầu hết các bài viết về Bùi Giáng. Nói chung là hơi giông giống nhau của nhiều tác giả. Có người so ông với Nguyễn Du. Có người cho rằng, phải đến ông thì thơ Việt Nam mới có biển có trời. Sự sáng tạo trong ngôn ngữ thơ Bùi Giáng là rất rõ, nhưng ca ngợi đến mức ấy, tôi cho là quá lời. Và như thế, dù không muốn, cũng là cách làm hại ông. Gần đây là 33 bài viết của 32 nhà văn được tập hợp trong Bùi Giáng trong cõi người ta. Ở tập sách này, trong 30 - 31 bài ca ngợi Bùi Giáng; có đến 7 – 8 bài coi ông là thiên tài, đặc biệt trong sáng tạo ngôn ngữ, là người nhảy múa trong chữ nghĩa, với những thăng hoa, huyền ảo, lộng lẫy sắc hương, vi diệu mênh mang vô tận vô cùng. Trong đó, hai bài của nhà văn Đặng Tiến: Sơ thảo tiểu truyện Bùi Giáng; Bùi Giáng, nguồn xuân, viết về tập thơ đầu tay của Bùi Giáng (được tái bản tại Hà Nội), bài Trường phái Bùi Giáng của nhà thơ Thu Bồn và bài Bùi Giáng trong cõi người ta của nhà thơ Ý Nhi, viết ngay sau ngày mất của Bùi Giáng, thuyết phục tôi hơn cả.

Chỉ duy nhất có một bài nói khác, chính là bài của nhà văn Nguyễn Quang Lập mà tôi đã trích đoạn ở trên. Tôi xin phép ông trích lại nguyên văn. Theo Nguyễn Quang Lập: “Kỳ lạ, gặp ai, hễ nhắc đến Bùi Giáng là khen nức nở, tuyệt không thấy một người nào chê, còn mình thì thực sự không thấy hay, ngoại trừ mấy câu, như ông vẫn nói là theo điệu du côn, đại loại Sài Gòn, Chợ Lớn rong chơi / Đi lên đi xuống đã đời du côn thì hay. Nhưng bảo là sâu sắc thì mình chịu. Thơ đó mấy ông nhà thơ dân gian Bắc Kỳ, xứ Nghệ siêu hơn nhiều. Mình cứ nghi nghi hay người ta đua nhau sùng bái thơ văn ông theo kiểu hoàng đế cởi truồng, hi hi, nhưng không dám nói” (sách đã dẫn, trang 251).

Hoàng đế cởi truồng” là trong truyện Bộ quần áo mới của Hoàng đế của nhà văn Đan Mạch nổi tiếng, Hans Christian Andersen, anh đã biết rồi.

Hầu hết các câu thơ lục bát, được coi là sáng tạo huy hoàng nhất của Bùi Giáng, như nhiều người đề cao, theo tôi, đều có cái phong vị của các câu thơ Nôm trong các truyện thơ Nôm khuyết danh thế kỷ XIX, nhưng câu thơ của Bùi Giáng có cá tính, có thần thái hơn. Thơ ông, đọc ít bài thì thấy có nét riêng, lý thú, nhưng đọc một mạch hàng trăm bài trong một hai tháng liền, như tôi đã đọc gần đây, thì lại thấy có đến hàng trăm câu cũ kỹ, mòn sáo, đều đều, dài dòng, lai nhai, tạp nham, trùng lặp.

Ông đưa nguyên văn hoặc hầu như nguyên văn phải đến dăm bảy chục câu thơ Kiều vào thơ ông, theo nhiều kiểu cách khác nhau:

Mặc người

mưa Sở mây Tần

Riêng mình gìn giữ

Một lần đầu tiên

Hoặc:

Rừng phong thu đã nhuộm màu

Quan san ngần ấy tư trào ngần kia

Tôi thống kê được đến hơn 200 câu mà tôi cho là ông viết vội vàng, viết lấy được, vô cùng nhiều những câu trùng vần, không vần hoặc nhịu vần... Chưa kể câu non, ý lép, na ná như nhau. Hoàn toàn không có “ý tại ngôn ngoại”. Sau này mới biết là ông viết tại chỗ liền một mạch có khi “hàng trăm bài”, rồi “nhà in cứ thế sắp chữ” luôn, không sửa chữa.

Uống xong ly rượu cùng nhau

Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời

là trùng vần, dù ý tưởng trong câu thì rất đáng chú ý. Và không vần, đặc điểm này thường gặp trong thơ lục bát của ông:

Tuy nhiên anh suốt suối vàng

Vẫn mong em còn suốt cõi trần vui chơi

Thậm chí có đoạn chỉ có 4 câu:

Trinh nữ em có mặc áo quần

Mà không ắt hẳn là quần thật xinh

Nếu như em chẳng mặc quần

Thì ông trời ắt càng mừng rỡ hơn

mà câu 1 và 2 trùng vần; câu 2, 3 và 4 không vần. Trong ba câu mà có đến ba chữ quần. Viết như thế phải nói là lười biếng và cẩu thả. Đó là những điểm kỵ của thơ lục bát mà một cây bút phong trào, nghiệp dư, cũng phải tránh. Vậy mà vẫn có nhà phê bình khen là hay là đẹp, thì tôi chịu không hiểu nổi. Đọc đến đây, có thể có bạn sẽ cự lại: Thôi Hiệu đời Đường trong ba câu cũng ba lần viết Hoàng Hạc đó sao:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản…

(Hạc vàng ai cưỡi đi đâu

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa…)

(Tản Đà dịch)

Khác nhau là Thôi Hiệu có dụng công nghệ thuật để câu thơ thành kiệt tác mà Bùi Giáng thì không.

Hoặc nhịu vần:

Viết thơ lạc dấu sai dòng

Viết trong tức tưởi sợ đồng lúa mong

Tất nhiên ở đây, mới chỉ bàn riêng về vần trong thơ lục bát Bùi Giáng, vốn là yếu tố nghệ thuật rất quan trọng trong thơ lục bát Việt Nam nói chung.

Đoạn thơ sau đây cũng không hay như có nhà phê bình đã tán tụng. Tôi dẫn ra để thấy điều tôi thích thú ở thơ ông là ông xưng “Trẫm”. Ông là nhà thơ duy nhất ở Việt Nam xưng “Trẫm”:

Hỡi cô bán phở dịu dàng

Đừng nên nói bậy hai nàng buồn ta

- Trẫm từ lịch kiếp phôi pha

Tái sinh bất chợt mà ra phụ lòng

trong khi các vua Trần, vua Lê làm thơ, chỉ xưng “ta”. Ví như thơ của vua Trần Thánh Tông: “Hữu nhân vấn ngã hà tiêu tức?” (Có người hỏi ta sinh diệt thế nào?); thơ của vua Lê Thánh Tông: “Dư xuất lục quân, duyệt binh vu Bạch Đằng giang thượng…” (Ta xuất sáu quân, duyệt võ trên sông Bạch Đằng…).

Tôi cũng rất thú cái chất vui mà Bùi Giáng gọi là “cà chớn”, “vui thôi mà”.

Hai câu thơ thực khó quên:

Sáng nay bao tử mơ mòng

Cà phê bên nọ, cháo lòng bên kia…

Có nhà phê bình gọi đó là “cái vui vĩ đại” thì không biết có đúng hay không?

Và càng nghĩ càng thương ông trong bộ dạng: “Ông lang thang đây đó, ngủ ở bất cứ đâu, dưới trời sao, dưới một gầm cầu, hay dưới một mái hiên. Có những lúc lại thấy ông đeo một xâu chuỗi toàn giày dép và áo quần phụ nữ quanh cổ” (sách đã dẫn, trang 358). Có nhà phê bình cho rằng “cách sống đó là lý tưởng”, và chỉ “mong mình được sống như vậy”, thì không biết nói thế có thật lòng với ông hay không?

Riêng câu này thì tôi thấy hay:

Dạ thưa xứ Huế bây giờ

Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương…

Tự nhiên và sang trọng. Tưởng rất dễ làm nhưng không phải Bùi Giáng, tôi e là khó có ai làm được. “Núi Ngự sông Hương” thì đã có sẵn trong ca dao rồi. Phong vị của câu thơ có lẽ là ở hai chữ Dạ thưa rất Huế chăng? Bởi chỉ bóc hai chữ ấy ra, câu thơ khác hẳn, mất hết thần thái và trở nên thông thường. Tôi nghĩ, đây có lẽ là hai câu thơ hay nhất trong bài thơ chỉ có hai câu Dạ thưa xứ Huế bây giờ của Bùi Giáng và cũng là hai câu thơ có thể xếp vào hàng những câu thơ lục bát Việt Nam đẹp nhất viết về đất nước.

Tập sách Nghìn câu thơ tài hoa Việt Nam, một công trình biên khảo dầy dặn, tâm huyết, khá thấu đáo và rất công phu của nhà thơ – soạn giả Nguyễn Vũ Tiềm, trong đó 10 nhà thơ được chọn nhiều nhất, có số lượng từ 29 đến 53 câu, như một tờ báo đã thống kê. Vậy mà trong công trình biên khảo rất công phu ấy, nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm chỉ chọn của Bùi Giáng 9 câu, theo tôi cũng không hay, nhưng hai câu hay này, không hiểu sao, nhà thơ lại để sót. Tôi chợt nhớ đến Nguyễn Bính, khi Nguyễn Bính viết (chép theo trí nhớ):

Làng tôi có gió bốn mùa

Có trăng giữa tháng, có chùa quanh năm...

Vì cách lập tứ hai ông giống nhau, nhưng thích thì tôi thích câu thơ Bùi Giáng hơn, vì nó có giọng điệu, có sắc thái hơn. Nghe âm hưởng cũng sang hơn. Những câu thơ như thế của Bùi Giáng rất hiếm.

Có câu tôi nhớ vì thấy nó là lạ chứ chưa hẳn đã hay:

Bây giờ riêng đối diện tôi

Còn hai con mắt khóc người một con

190. Nguyễn Đức Tùng:

Các câu thơ mà anh vừa dẫn hầu hết tôi đều biết, nhưng tôi lấy làm lạ là hai câu sau đây thì chưa đọc, hay đọc mà đã quên:

Uống xong ly rượu cùng nhau

Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời

Cám ơn anh. Tôi rất thích hai câu này mặc dù nó trùng vần như anh nói. Không phải là hay hoặc không hay, mà nó lạ thường. Trời ơi, nếu trước đây tôi biết thì tôi đã đọc nó trong một đêm chia tay trên bến phà Cần Thơ với người trăm năm cũ.

Nhưng xin trở lại với sự đọc thơ Bùi Giáng của anh Trần Nhuận Minh.

Tôi nghĩ là anh bị ám ảnh hơi nhiều bởi những cái dị thường trong cuộc sống ngoài đời của Bùi Giáng?

Trần Nhuận Minh:

Tôi nhớ những chi tiết khác thường về ông, bởi làm sao mà quên được? Nhưng ám ảnh về điều đó khi đọc thơ ông thì không.

Bởi tất cả các bài đã đăng báo, in sách về Bùi Giáng, mà tôi thấy, hoặc tìm thấy, tôi đều đọc hết. Trong đó có những kỷ niệm do chính người nhà hoặc người thân của ông ghi lại với tất cả thiện chí. Tôi rất nhớ đoạn ghi ông đến nhà Kim Cương, “trong trang phục thập cẩm, quây đủ thứ (quanh người) chai lọ bao bì mà người ta vứt ra đường…” “Gia nhân thấy diện mạo dị nhân, sợ quá, chỉ hé cửa, không mở hẳn. Bùi tiên sinh của chúng ta đòi vô nhà ngồi đợi chủ nhân. Tưởng ông già đi ăn xin, người nhà của kỳ nữ, chạy xuống bếp xúc một lon gạo mang lên cho ông. Bùi Giáng vui vẻ nhận lon gạo đổ vào túi, cười khềnh khệch…” (sách đã dẫn, trang 214 – hai chữ “quanh người” tôi ghi thêm cho rõ).

Xin nói thêm: chính Bùi Giáng đã tự ghi vào trưa ngày 10/11/1993 tại chùa Pháp Vân, Gia Định, Sài Gòn, cho nhà sư Thích Nguyên Tang, được công bố trong sách trên, mục Bùi Giáng – Tiểu sử tự ghi (sách đã dẫn, trang 164 – 165):

1970: 1 - Lang thang Du hành Lục tỉnh…

2 - Gái Châu Đốc Thương yêu và gái Long Xuyên Yêu dấu

3 – Gái Chợ Lớn khiến bị bịnh lậu (bịnh hoa liễu)

1971 – 75 – 93: Điên rồ lừng lẫy, chết đi sống lại vẻ vang…

Và rất sinh động là ghi chép của nhà văn Nguyễn Quang Lập. Ông gặp Bùi Giáng nhiều lần và viết rất khách quan, không thiên vị gì, cũng không có mục đích, động cơ gì. Vì thế, văn ông tự nhiên, thoải mái, bạn đọc tin là ông trung thực. Nguyễn Quang Lập mô tả nết đi của Bùi Giáng không lẫn với ai: “Đang đi nhanh bần bật bỗng đứng khựng. Lại đi nhanh bần bật, lại đứng khựng”. Tôi như thấy Bùi Giáng ở trước mặt. Nguyễn Quang Lập cho hay, mấy lần gặp Bùi Giáng, trông ông, cứ thấy “ghê ghê”… Ông đến với bạn bè văn chương Sài Gòn… Không ai mời, ông cũng tự ngồi xuống bên cạnh ai đó và thấy có cốc bia trên bàn, không cần biết của ai, ông cũng cầm lên, chỉ uống chừng một nửa rồi bỏ đó, đi luôn, khi đi cũng không có ai giữ lại… Có lần ông bị đánh chửi rất thậm tệ ngang đường, vì cứ tự nhiên nhảy bổ vào xe người ta. Đặc biệt có lần, Nguyễn Quang Lập lai ông trên đường phố Sài Gòn, ông bảo Lập: “Anh cứ đứng đó chờ ta…” ông vào tiệm sửa chữa xe đạp, thản nhiên lấy cắp luôn một cái ghi đông xe đạp, treo trên tường, bị chủ tiệm đuổi theo, bắt được, đánh cho ông đến chảy cả máu mũi… (theo Nhớ Bùi Giáng, blog Quê choa của Nguyễn Quang Lập, in lại trong sách Bùi Giáng trong cõi người tasách đã dẫn, chỉ cắt bớt một chi tiết về cái ghi đông xe đạp).

Khi đọc thơ ông, tất cả những gì liên quan đến con người ông như thế, tôi đều gạt hết ra ngoài, chỉ lắng lại cái hồn tài hoa phảng phất trong thơ ông mà thôi. Tôi nghĩ: trời sinh ra ông để làm thơ và thơ cũng đày đoạ ông khốn khổ ở cõi thế gian này, với tất cả những vinh quang và bất hạnh chỉ có ở riêng ông.

Ông là một trong những đại diện xứng đáng nhất của thơ miền Nam trước đây. Viết về thơ miền Nam nói riêng, thơ Việt Nam nói chung, giai đoạn 1962 – 1985 mà không nhắc đến ông là một thiếu sót. Tất nhiên cống hiến của ông, ngoài thơ, còn ở một số lĩnh vực khác nữa, nhưng điều đó không bàn ở đây.

191. Nguyễn Đức Tùng:

Vì anh đã nhắc đến Bùi Giáng, nên tôi sẽ xin nói về ông nếu còn một dịp nào khác. Và không bao giờ một lần là xong.

Cách đây nhiều năm, lần đầu tiên về nước, trong một bữa lai rai ở cái quán bình dân nửa đêm khuya khoắt, dưới đèn điện lờ mờ bên bờ kinh Nhiêu Lộc bốc mùi hôi ngạt mũi, tôi được nghe một người bạn vong niên nói chuyện về thơ Bùi Giáng. Đó là cuộc trò chuyện tôi không bao giờ quên. Người ta gọi đó là những cuộc nói chuyện khai tâm, có duyên mới tới. Cố gây dựng lại cũng không được, mặc dù:

Em ở lại với đời ta em nhé

(B G)

Nhưng nay chúng ta xin tạm bàn qua điểm khác.

Tôi tin rằng các chuẩn mực bao giờ cũng là các chuẩn mực từ đỉnh cao. Thời sinh viên có lúc tôi từng làm việc trong một nhà bếp. Ở Canada các sinh viên đều làm thế cả. Trong bếp có khoảng hai mươi nhân viên, nhưng chia làm năm đẳng cấp khác nhau từ người trưởng bếp đến phụ tá trưởng bếp xuống đến người thấp nhất là rửa chén bát. Mọi người đều làm việc theo công thức và các chuẩn tắc mà người trưởng bếp, một đầu bếp nổi tiếng, đặt ra, có thể thay đổi mỗi ngày.

Trong bất cứ một ngành khoa học nào cũng đều có khái niệm chuẩn mực như vậy cả. Như vậy bảng giá trị tuy được xây dựng qua nhiều thời gian, nhiều thế hệ và dĩ nhiên được gìn giữ và điều chỉnh bởi công chúng tiêu thụ hay công chúng thưởng ngoạn, nhưng chỉ khi nào nó kết tinh lại trên tay của tầng lớp tinh hoa (tinh hoa đích thực, chứ không phải là áp đặt) thì lúc ấy bậc thang giá trị mới được xác lập.

Sự thiếu các chuẩn mực, các bậc thang giá trị, hệ quy chiếu (reference), và các tiếng nói uy tín có thẩm quyền (authority), trong nước cũng như hải ngoại, sẽ gây ra hai hậu quả:

Nhà văn không biết tác phẩm của mình đang nằm ở đâu, độc giả không biết cuốn sách mình cầm trên tay thuộc loại nào. Vì vậy, nhiều nhà văn khó có thể mỗi ngày một viết hay hơn được vì không biết đặt chân vào đâu để tiến lên phía trước, trình độ thẩm mỹ của công chúng không mỗi ngày nâng lên được, để họ có thể trở thành cái giá đỡ, cái áp lực dư luận lành mạnh cho sự sáng tạo nghệ thuật, giới phê bình không có đủ người, thiếu tài năng và không đủ tư cách học thuật và can đảm chính trị để hướng dẫn dư luận thưởng ngoạn văn học. Không có những tiếng nói học thuật có thẩm quyền, tức là có tính thuyết phục của chuyên gia. Nhiều nơi nhà phê bình chẳng qua là cái loa phát ngôn của các cấp chính quyền. Hậu quả thứ hai là những người muốn làm mới nghệ thuật, những kẻ thực sự khai phóng, “phá rào”, không biết hàng rào ở đâu mà “phá” vì vậy không phân biệt được họ đang đứng ở phía bên này hay bên kia các biên cương nghệ thuật.

Trong tình hình như vậy, trong sự hỗn loạn ấy, bên cạnh những tác phẩm ít ỏi thành công, những tác giả hiếm hoi thành công, tất sẽ hình thành nên hai tâm lý số đông: tâm lý bầy đàn và tâm lý phá phách vung mạng phi nghệ thuật.

Anh có thấy chúng ta đang trong tình trạng khủng hoảng về lý thuyết văn học và phê bình văn học hay không? Anh hy vọng gì ở giới lý thuyết, nghiên cứu, phê bình hiện nay?

Trần Nhuận Minh:

Tôi đồng ý với anh rằng, các bậc thang giá trị phải được kết tinh và định đoạt từ các đỉnh cao. Ví như một quyển Kiều thôi, đã đủ để xác lập tất cả các vấn đề về lý luận văn học, như: quan hệ chính trị xã hội và văn chương; chức năng sáng tạo của nhà văn; cách phản ánh hiện thực qua các hệ thống thẩm mỹ; cách xây dựng nhân vật điển hình; ngôn ngữ tác phẩm và ngôn ngữ nhân vật; khả năng dựng một tiểu thuyết trường thiên bằng thể thơ dân tộc; làm thế nào để thơ lục bát với những ràng buộc của nhiều yếu tố bất biến, về câu chữ, vần điệu… có khả năng sinh động và phong phú chưa từng có, trong việc mô tả mọi biến động, có khi rất khốc liệt của đời sống hiện thực, trong việc phơi bày mọi trạng thái tình cảm con người, từ cái cao cả nhất đến cái thấp hèn nhất… Cũng chỉ một quyển Kiều thôi, đã đủ để hình thành các bậc thang giá trị cả về tư tưởng và nghệ thuật có tính kinh điển cho một thời đại văn học, trong đó có những giá trị mà ngày hôm nay, chúng ta cũng chưa thể vượt qua… vân vân và vân vân… Nên tôi mới nói: chỉ có sáng tác mới giải quyết được các vấn đề của sáng tác, kể cả các vấn đề của lý luận.

Như vậy, vấn đề lý luận đơn thuần đã bị gạt sang một bên.

Hiện nay, chúng ta đang khủng khoảng toàn diện về lý luận. Vì sao? Vì cơ sở lý luận văn học của ta từ năm 1950, khi ta giải phóng biên giới và thông với Trung Quốc là tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông.

Vì thế, thơ thời chống Pháp của ta, theo tôi, có hai giai đoạn.

Giai đoạn đầu từ toàn quốc kháng chiến 1946 đến 1949, là hoàng kim nhất. Năm 1946, ta có Nhớ máu của Trần Mai Ninh. Năm 1947, có Đèo Cả của Hữu Loan, Đồng chí của Chính Hữu. Đặc biệt năm 1948, cần được ghi vào lịch sử thơ ca Việt Nam những dòng huy hoàng: cùng một năm ra đời ba trong số ít những bài thơ hay nhất Việt Nam: Tây Tiến của Quang Dũng, Bên kia sông Đưống của Hoàng Cầm và Màu tím hoa sim của Hữu Loan. Chưa kể Nhớ của Hồng Nguyên…

Màu tím hoa sim là một bài thơ tình cảm động, có thể là một gợi ý, hoặc là một lời báo trước, để ta có Núi Đôi của Vũ Cao và Quê hương của Giang Nam, trong giai đoạn văn học hoà bình ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam, hơn 10 năm sau (1958 – 1961).

Bên kia sông Đuống, có những đoạn, những câu rất hay, rất lạ, cảm giác như được viết trong lúc xuất thần, nhưng lại có những đoạn, những câu dễ dãi, như tấu, như vè, có lẽ là vì tác giả vốn là một diễn viên, từng hoạt động trên sân khấu từ năm 1944 và khi ông viết bài thơ này là lúc ông lập đội truyên truyền văn nghệ đi phục vụ các chiến dịch (1947 – 1948), những câu đó phù hợp với thẩm mỹ số đông nhân dân và chiến sĩ các mặt trận, là khán giả của thời đó chăng (mãi đến năm 1952 thì đội văn nghệ của ông mới thành đoàn văn công quân đội do ông làm đoàn trưởng).

Theo tôi, trong ba thi phẩm xuất sắc trên, chỉ có Tây tiến là trọn vẹn và sang trọng hơn cả, và tôi coi đó là đỉnh cao nhất của thơ thời hoàng kim, năm 1948, tức là năm tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông còn chưa tới ta. Tôi xin dẫn toàn bài để bạn đọc so sánh với thơ đạt đỉnh cao nhất, lần 1, với Tú Mỡ, năm 1952, và thơ đạt đỉnh cao nhất, lần 2, với Tố Hữu, năm 1955, ở giai đoạn mà tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông đã thắng thế (1950 – 1955) và phát triển đến năm 1979. Đây là sự chiêm nghiệm của tôi. Bằng thái độ khách quan, sòng phẳng, với độ lùi của thời gian và không khí văn chương bây giờ đã dân chủ hơn, không có áp lực nào đáng kể, các bạn thử nghĩ xem, tôi nói thế, có đúng không?

TÂY TIẾN

QUANG DŨNG

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ, bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ơi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu, anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Phù Lưu Chanh, 1948

Vậy mà Tuyển tập thơ Việt Nam (1945 – 1960) Nhà xuất bản Văn học, 1960, Mười lăm năm thơ Việt Nam dân chủ cộng hoà, do Xuân Diệu giới thiệu với đầu đề trên, bài thơ này, cùng với Màu tím hoa simBên kia sông Đuống đã bị loại bỏ. Có lẽ do ảnh hưởng của vụ xử Nhân văn giai phẩm ngày 19/01/1960.

Hà Minh Đức, trong Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi (sách đã dẫn), ghi lời Nguyễn Đình Thi (những chữ trong ngoặc kép là dẫn nguyên lời Nguyễn Đình Thi): Lý Ban đem bài nói chuyện về văn nghệ ở Diên An của Mao Trạch Đông và bản báo cáo về tình hình văn hóa văn nghệ Trung Quốc của Chu Dương về nước. “Ở Đại Từ, Tố Hữu giơ cuốn Chu Dương lên và bảo: Mình thấy nó nói có lý đấy”. Rồi “Nguyên Hồng, Kim Lân nói lại là, sau khi kiểm điểm, bắt Ngô Tất Tố phải dịch Trời hửng của Vương Lực. Theo tôi (NĐT), Vương Lực là học trò cụ Tố. Cụ Tố châm chấm mắt và bảo: làm người khó thực”.

Rồi Vương Lực sang “làm cố vấn cho ta”. “Lý luận văn nghệ phục vụ công nông binh bắt đầu vào”. Từ đấy, 1950 – 1951, “ảnh hưởng Trung Quốc khá rõ, nhất là với Người người lớp lớp. Lính cũng như cấp ủy giống như Tàu”. “Nguyễn Huy Tưởng về Phú Thọ, Hạ Hòa, viết Truyện anh Lục, viết gò ta tốt địch xấu, trí thức ra rìa”. Cũng từ đấy,“anh em văn nghệ lại do Tuyên huấn phụ trách”; và ta “bắt đầu gò, phục vụ chính sách. Nam Cao đi khu ba làm thuế và hy sinh…”. Giải thưởng văn nghệ 1951 – 1952, “ Xung kích lúc đầu đưa lên giải nhất, sau Tố Hữu bảo: lần đầu tiên có văn học công nhân, nên để tác phẩm của Võ Huy Tâm”, tức là cuốn Vùng mỏ đoạt giải nhất, về truyện và ký, cùng với tập thơ đả kích Nụ cười kháng chiến của Tú Mỡ, đoạt giải nhất, về thơ. Xin nói thêm: Người người lớp lớp là truyện dài của Trần Dần, xuất bản cuối năm 1954. Một năm sau (từ Giai phẩm mùa xuân đầu 1956), Trần Dần là một trong mấy nhà văn bị coi là trụ cột của “nhóm phá hoại” Nhân văn giai phẩm. Theo Nguyễn Đình Thi (trong sách đã dẫn) ông Trường Chinh là người “ra lệnh tha Trần Dần”.

Thế là giai đoạn hai đã có những kết quả, mà Xuân Diệu viết trong bài giới thiệu nói trên: “gắn liền với tính đảng, với lập trường chính trị đứng về phía quần chúng, về phe xã hội chủ nghĩa…”. “Lập trường chính trị, tư tưởng vô sản, thế giới quan Mác-xít… càng ngày càng thành suy nghĩ hình tượng thắm thiết. Trong những thành công tiêu biểu của nó, thơ hiện nay đã đạt tới mức nhuần nhuyễn: đó là sự thoải mái như là cuộc sống cách mạng đã thành xương thành thịt của thi nhân; các bài thơ cũng ngắn hơn, những câu thơ hay không phải là chuyện hiếm”.

Hai đỉnh cao nhất của thơ kháng chiến chống Pháp là thơ Tú Mỡ (Bút Chiến Đấu) 1952 và thơ Tố Hữu 1955.

Tú Mỡ với tập thơ Nụ cười kháng chiến (1952), giải nhất giải thưởng văn nghệ Việt Nam (lần thứ nhất) 1951 - 1952. Trích một bài tiêu biểu, Tú Mỡ viết năm 1951, được Xuân Diệu biểu dương, chép nguyên văn từ Tuyển tập thơ Việt Nam đã nói ở trên (giữ nguyên cả cách viết hoa và các dấu đã dùng trong bản in):

KHÔNG PHẢI THIẾN

Gớm mồm bọn chỉ huy Tây

Tuyên truyền quân lính để gây oán tình.

Rằng: “Bay phải biết “Việt minh”

Nó mà tóm được tù binh thì rầy.

Nó đè nó thiến cu ngay,

Thế là mất giống, đời bay sẽ tàn…”

Chiến trường Vĩnh - phúc vừa tan,

Quân ta áp giải một đoàn tù binh.

Thằng nào thằng ấy thất kinh,

Đang lo đến cái nhục hình bất nhân.

Đột nhiên có lệnh: ngừng chân!

Tiếp theo đến lệnh: cởi quần! Chí nguy!

Đoàn tù ngơ ngác thầm thì:

Đích là nó thiến còn chi mà ngờ”.

Thế rồi một lũ tô hô

Lội qua khe suối, sang bờ bên kia,

Vẫn còn nơm nớp sợ ghê,

Ngạc nhiên được lệnh: A – lê mặc quần!

Đoàn tù không khỏi phân vân,

Mãi khi đến chỗ đóng quân tạm thời,

Cơm xong, nhân lúc nghỉ ngơi,

Một anh bộ đội ngỏ lời vân vi:

Chúng tôi dẫn các anh đi,

Trời rét mướt, các anh thì không chăn.

Chúng tôi rất đỗi băn khoăn:

Các anh lội suối ướt quần sao đang.

Cởi quần! nghe lệnh hơi ngang,

Các anh chắc hẳn hoang mang tinh thần.

Bây giờ hẳn hết tần ngần

Và vui lòng được mặc quần ấm khô.

Đoàn tù cảm động: hoan hô!

Mới hay rằng lính Cụ Hồ có nhân.

Còn phường tướng tá thực dân

Tuyên truyền xảo trá manh tâm bịp lừa.

1-2 -1951

Tố Hữu với tập thơ Việt Bắc (1954) gồm 20 bài, giải nhất giải thưởng văn nghệ Việt Nam (lần thứ hai) 1954 – 1955. Trích một bài Tố Hữu viết năm 1951, về nước bạn, chép nguyên văn, từ tập Thơ Tố Hữu (phần II - Việt Bắc), dùng trong nhà trường, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1977:

EM BÉ TRIỀU TIÊN

Em bé Triều tiên ơi

Mẹ của em đâu rồi?

Tìm đâu mẹ của em

Có ai đâu mà hỏi?

Giặc bốn bề lửa khói…

Xác ai nằm ngổn ngang?

Bãi tuyết lặng quanh làng

Phố đổ nhà hoang vắng.

Mẹ của em đấy ư?

Cái thân trắng lắc lư

Đầu dây treo lủng lẳng.

Cha của em đấy ư?

Cái đầu lâu rũ tóc

Máu chảy dài thân cọc

Không, không phải em ơi

Mẹ của em đây rồi!

Mẹ của em, người dân công tải đạn

Mẹ của em, người nữ cứu thương.

Cha em đây, giữa chiến trường

Mặt đen khói đạn, chặn đường giặc lui…

Anh của em đây rồi!

Anh chí nguyện

Con Bác Mao đã đến

Anh đã đến bên nôi em cháy dở

Với cha em, giết hết loài man rợ

Cho mẹ em xây lại tổ mềm

Cho em sướng cho em ca múa

Trên đồng hoa bãi lúa

Nhịp sống vui muôn thuở của Triều tiên!

Bé em ơi, giữa súng rền

Ngày mai tươi mát hát trên đất Triều…

1951

Bài thơ này không nổi tiếng bằng mấy bài thơ khác, nhưng về tính nhân văn, thì lại đậm đà hơn, nếu không nói là hơn tất cả các bài khác trong tập. Vì thế mà tôi chọn.

Các bài thơ rất nổi tiếng khác, như: Ta đi tới, Việt Bắc của Tố Hữu, Đất nước của Nguyễn Đình Thi… đều viết sau khi kháng chiến chống Pháp đã thắng lợi, trong hòa bình.

Ôn lại những điều trên, từ các sách đã xuất bản, không bao hàm ý ngợi ca hay phê phán, vì đó không phải là công việc của tôi, cũng không phải là nội dung cần có của tập sách này, mà chỉ là một cố gắng để tìm hiểu, để tự giải thích cho mình, về một chặng đường thơ đã đi qua.

Và như thế, tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nền văn học nghệ thuật kháng chiến của ta. Có thể nói, bằng tài năng thơ đặc biệt, và bằng cả khả năng giỏi giang chèo lái con thuyền tư tưởng, với nhiều biện pháp linh hoạt và cứng rắn, Tố Hữu đã đưa thơ mình đến được với toàn thể nhân dân và làm cho tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông toàn thắng ở Việt Nam.

Bây giờ, với sự phát triển của hiện thực đời sống xã hội ngày hôm nay, những tư tưởng cơ bản đó không còn phù hợp, và không ít những giá trị phục vụ hay minh họa cho nó, đã bị phai mờ. Đó là điều bình thường, thậm chí là tốt đẹp, để cái mới có cơ sở nảy sinh. Những quan điểm chỉ đạo theo tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông, một thời là ngôn ngữ cưả miệng của nhiều người, cũng may, đã lâu, từ sau năm chiến tranh biên giới 1979, nhất là sau năm đổi mới 1986, ta hầu như không có ai nhắc đến nó nữa.

Hiện nay, thế hệ sáng tác sau năm 1975 đã làm chủ văn đàn. Họ hiện ra trong một quầng sáng mới. Đọc họ sẽ nhận ra một điều: họ chả nợ nần gì với quá khứ, chả bị ràng buộc gì của quá khứ, như thế hệ chúng tôi. Họ cứ thế mà đi thẳng vào tương lai, thanh thoát và nhẹ nhõm. Còn họ đi đến đâu với những thành công gì, lại là vấn đề khác.

Và như thế, một hệ thống lý luận mới cần phải ra đời để song hành với các thế hệ sáng tác khi Việt Nam hội nhập với thế giới. Hệ thống lý luận ấy, chúng ta chưa có, hoặc có thì chưa đủ sức thuyết phục, chưa đủ sức thay thế. Vì vậy mạnh ai nấy làm. Trong khi đó, chúng ta chưa có sáng tạo văn chương nào tạo được hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh những bậc thang giá trị mới, để bạn đọc có niềm tin, với sự đồng thuận cả về thực tiễn và lý luận… Điều mà Tố Hữu đã làm được ở giai đoạn trước, cùng nhiều nhà thơ, nhà văn tên tuổi khác.

Chính vì vậy mà xảy ra hai tâm lý như anh nói rất đúng: Đó là “tâm lý bầy đàn” và “tâm lý phá phách vung mạng phi nghệ thuật”. Trong tình hình ấy, theo tôi, “tâm lý bầy đàn” cũng có cái hay là ràng buộc con người trong một cộng đồng, với trách nhiệm xã hội nhất định, còn đối diện với cái cá nhân, thì phải đề phòng sự xuống cấp đến mức phi nhân tính. “Tâm lý phá phách vung mạng phi nghệ thuật” hiện đang có cơ sở phát triển.

Còn anh đặt ra vấn đề “nhà văn không biết tác phẩm mình đang ở đâu” và “độc giả không biết tác phẩm mình cầm trong tay thuộc loại nào”, thì tôi cho rằng, không phải như vậy. Nhà văn và bạn đọc đều biết cả đấy, chả cần phải có sự mách bảo của các nhà phê bình. Cũng chưa bao giờ, các nhà phê bình rất ít được tín nhiệm như bây giờ. Có điều nhiều nhà văn và bạn đọc biết, nhưng họ không tiện, hoặc không có khả năng nói ra một cách rõ ràng mà thôi. Mà tôi nghĩ, nói ra cũng chưa hẳn đã cần. Cái gì cần nói thì tác phẩm của họ đã nói thay họ.

Anh có nghe thấy những tiếng nói đó không? Cũng âm vang đủ mọi cung bậc. Nhưng một bản đại hợp xướng thì chúng ta còn phải chờ thêm.

Các nhà văn vẫn tiếp tục sáng tác trong sự chỉ dẫn của chính lương tri mình. Và vì thế, khi cần “vượt rào” để “khai phóng”, để “làm mới nghệ thuật”, họ biết vượt qua ở chỗ nào? Và họ đang vượt qua đấy thôi. Công cuộc đổi mới vẫn tiếp tục mở đường cho mọi sự phát triển. Tôi rất lạc quan về tương lai.

192. Nguyễn Đức Tùng:

Nhiều người khác thì không lạc quan như thế. Vì sao anh rất lạc quan?

Trần Nhuận Minh:

Bởi tôi đánh giá rất cao và kỳ vọng ở sự “vượt rào”, “khai phóng”, của các nhà văn cấp tiến, nhất là các nhà văn trẻ, nhưng tôi không nghĩ đó là nhiệm vụ số một của văn chương. Nhiệm vụ số một của văn chương vẫn là sáng tạo được tác phẩm hay, tác phẩm lớn về bất cứ cái gì, kể cả cái không “vượt rào” và không “khai phóng”.

Tôi ao ước được đọc một tác phẩm hay về trận thuỷ chiến chống ngoại xâm vĩ đại nhất của lịch sử dân tộc ta trên sông Bạch Đằng năm 1288, hoặc cái ngày vĩ đại kết thúc trận chiến lịch sử Điện Biên Phủ… Tạo dựng cho được cái không khí như nó vốn có, với những hiện thực nghiêm ngặt của chiến trường cũng hay lắm rồi, lớn lắm rồi. Lần đầu tôi lên Điện Biên Phủ, một thương binh của ngày 7 tháng 5 năm 1954 kể cho tôi nghe rằng, buổi chiều đó, máu ướt bàn chân trong chiến hào, những chiếc dù xanh hay đỏ và những hòm đạn ngổn ngang, cùng với xác người nằm nghiêng ngửa loi thoi trên mặt đất, khói còn bốc lên ngùn ngụt nơi này, nơi kia; chiến sĩ xông lên ào ào, reo hò náo nhiệt, sướng quá mà, không ai chú ý đến những người bị thương còn kêu la trong các góc hào, có người đã chết vì kiệt sức mà không được kịp thời cứu chữa… Và cái ông phất cờ trên nóc hầm Đờ Cát mà ta xem là cái ông đóng phim cho ông Carmen, đạo diễn điện ảnh Liên Xô quay, cũng là chiến sĩ Điện Biên thôi, nhưng cái ông phất cờ thật lúc vừa thắng trận kia, đã chạy đi đâu mất rồi, cũng đã hoàn toàn tự quên mình luôn rồi…

Tất nhiên, viết về cái rất cũ, cũng có thể rất mới, nếu được nhìn nhận, soi chiếu, cảm xúc, đánh giá… theo những hiểu biết mới, hay nói như anh là theo bậc thang giá trị mới; và cũng có thể, ở đó, cần đến cả sự “vượt rào”, sự “khai phóng” để thăng hoa tư tưởng thẩm mỹ khi phản ánh hiện thực…


(* Sông, bến dưới Âm phủ. )



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 26.10.2013.