Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
"Chân dung TTBG, Ảnh MPK, Dalat 2003"




" NHẤT PHIẾN TÀI TÌNH

THIÊN CỔ

LỤY " (1 )




Đây là bộ tác phẩm hoàn toàn thật,

rút ra từ những phần đời riêng của tác giả,

không chút gì hư cấu, từ địa danh

đến tên tuổi các nhân vật và chi tiết từng sự kiện.

Những "nhân vật ", có người đang còn sống,

hoặc ở Việt Nam, hoặc ra ngoại quốc; nhưng cũng có người

đã vĩnh viễn "bỏ cuộc chơi"..

Từ lòng trân trọng yêu mến đối với quá khứ

và kỷ niệm, tác giả không muốn làm cái việc thông thường

vẫn thấy ghi nơi đầu trang nhất nhiều tác phẩm:

Mọi tên tuổi nhân vật đều do óc tưởng tượng.

Nếu có sự trùng hợp chỉ là ngoài ý muốn tác giả.”

Vậy, dám mong “những người xưa” có tên nêu trong

tác phẩm, nếu có điều chi phiền trách,

xin thông cảm và niệm tình tha thứ.

Sự Thật muôn đời vẫn là đầu mối dẫn đến

cái Thiện và cái Đẹp của Cuộc Đời.

Trân trọng,

Trần Thị Bông Giấy

[]


Bài 3


TING TH DÀI CA

THI GIAN

(Tự Truyện)

... Vì có những lúc anh yêu em

Em cảm ơn anh

Và em ước mong rằng ở nơi khác

Anh sẽ được sung sướng hơn...

(... Fur die zeit wondu g’liebt mi hast

Da dank’i dir schon

Undi wunschi dass dir’s anderwo

Bener mag geh’n...)

(Thơ Romain Rolland trong tác phẩm Jean Christopher.)

*

* *

I.

Vũ cũng là một thứ Định Mệnh khởi đầu của tôi.

Ngay buổi trưa nhận tin chết của anh Thuận Văn Chàng, tôi tìm đến Ánh, một cô bạn học– để rồi cả hai cùng đi trên chiếc xe gắn máy của Ánh lên Nghĩa Tử đường Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa viếng quan tài anh.

Trên đường về, ngang qua Ngã Ba Cát Lái, xe tự dưng chết máy. Trời mưa lâm râm, bóng chiều đang ngã sang màu tối, xa lộ vắng người, hai đứa con gái nhỏ cùng lo lắng chưa biết làm sao thì bỗng có một chiếc jeep nhà binh chạy trờ tới, chậm tốc độ và ngừng lại. Viên sĩ quan mặc bộ áo hoa rừng, đeo lon Trung úy, dáng dấp cao lớn, nhảy xuống hỏi chúng tôi có cần giúp gì không? Anh khoảng độ 28, nói giọng Bắc. Tôi im lặng, còn Ánh lúng túng kể về cái xe. Vị sĩ quan và viên Trung sĩ đi cùng, tiếp tay Ánh đạp cho nổ máy nhưng vô hiệu.

Viên Trung úy ước lượng:

“Hai cô không thể về Sàigòn được với cái xe này đâu. Tôi đề nghị bỏ nó lại cơ quan chúng tôi, ngày mai lên lấy. Phần hai cô, tôi sẽ đưa giúp về nhà, tôi cũng đang trên đường trở lại Sàigòn. Ở đây lâu nguy hiểm lắm, Việt Cộng hay đổ về từ phía trong, hai cô có thể bị tụi nó bắt đi.”

Tôi hoảng sợ, lắc đầu phản đối ngay lời đề nghị khi nghĩ đến điều lần đầu tiên phải ngồi lên xe một người lạ, nhưng Ánh –đảm nhiệm phần lái—nài nỉ tôi nhận.

Sau một lúc, tôi đành bằng lòng. Chiếc xe gắn máy được hai người đàn ông khiêng bỏ vào sau xe jeep, người Trung sĩ đưa cả bọn về công ty Xi Măng Hà Tiên. Tại đây, vị sĩ quan lấy chiếc lambretta của anh, chở riêng tôi và Ánh về Sàigòn.

*

Suốt chặng đường Ngã Ba Cát Lái & Sàigòn, tôi ngồi giữa, im lìm với tâm trạng đau khổ của mình, nên chỉ mỗi Ánh trò chuyện cùng vị sĩ quan. Anh hỏi lý do tại sao chúng tôi có mặt ở Ngã Ba Cát Lái vào giờ đó, và nhiều điều khác nữa. Ánh kể, chúng tôi vừa từ Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa về. Khi nghe câu chuyện anh Chàng –mà Ánh gọi là "người anh của cô bạn"—, vị sĩ quan trông rõ là xúc động, không trò chuyện nữa.

Đến Sàigòn, anh theo địa chỉ chúng tôi, đưa Ánh về trước, tôi về sau.

Ngày kế tiếp, tôi nghe Ánh kể lại, cái xe được sửa chữa xong và tận tay vị Trung úy cỡi về giao lại cho Ánh.

*

Bẵng một tháng sau, tôi hầu như đã quên hẳn vị sĩ quan kia thì bất thần nhìn thấy anh đứng trước ngõ nhà tôi một buổi chiều đi học về. Tự nhiên hoảng hốt đâu đâu khi bắt gặp cái cười anh đang hướng về tôi; tôi không dám chào anh, cũng không tỏ ra tí gì sự “biết anh” trước đó.

Ngày hôm sau, cũng buổi chiều, tôi lại gặp anh, lần này ngồi nơi cái quán café đầu ngõ, bộ áo trận phong sương dầu dãi. Mọi thứ từ tôi vẫn y như cũ, nghĩa là vẫn không đáp lại cái cười của anh.

*

Lần thứ ba vào một ngày trong tuần lễ tiếp đó, tôi mới dám gật nhẹ đầu khi lại thấy nơi đầu ngõ có bóng dáng vị sĩ quan.... Để rồi cũng không nhớ từ bao giờ mà chuyện trò cùng anh, không nhớ bắt đầu ở đâu, trước cửa trường Nhạc, trong sân trường học, tại nhà Ánh, hay ở một nơi nào đó... mà tôi đã kể cho anh nghe về cái chết của anh Chàng... Từ trong tiềm thức, nơi Vũ khơi dậy cho tôi những gì tôi ưa thích. Bộ đồ Dù với màu mũ đỏ? Cái dáng nghênh ngang cao lớn? Có lẽ thế thật. Tình thân cho Vũ cũng từ những điểm này mà nẩy sinh ra...

*

* *

[Ở đây, hẳn sẽ có độc giả đặt với tôi câu hỏi rằng sao tôi quên anh Chàng nhanh như vậy? Thật sự tôi không quên, mà chính là đã lồng ký ức anh Chàng vào với hình ảnh Vũ. Giữa hai người có nhiều điểm giống trên bề ngoài hình thể mà điểm giống lớn nhất là cả hai đều cùng xuất thân binh chủng Nhảy Dù. Nếu Vũ không là một sĩ quan Dù, chắc tôi không bao giờ lưu ý đến Vũ.

Quả là bội bạc, nhưng đó là một sự thật mà phải mấy chục năm sau tôi mới nhận thức được rõ rệt. Có thể nói, đó cũng chính là một bi kịch của đời tôi, khởi đi từ mốc điểm này. Từng người đàn ông đi qua đời là từng mỗi Định Mệnh; riêng biệt, nhưng đều có điểm tương đồng là Định Mệnh này cứ đuổi bắt Định Mệnh kia, liên tục suốt đời như vậy. Người đi sau bao giờ cũng có cái gì hiện thân cho người đi trước, là cái bóng của người đi trước, nhận lãnh vai trò lấp đầy giùm khoảng trống mà người đi trước đã tạo ra trong trái tim tôi.

*

Điểm bất hạnh thứ hai: Suốt thời tuổi trẻ, tôi được quá nhiều người đàn ông yêu thương so với một cuộc đời dài của bao người phụ nữ. Đau khổ tạo ra từ “người này” chưa kịp xóa nhòa thì hạnh phúc của “người kia” đã đem đến trao tặng. Vết thương nhận lãnh từ “người này” chưa kịp thời gian lành lặn thì đã thấy “người nọ” tiếp liền theo sau bằng tặng vật Tình Yêu để lau đi giùm những giòng máu vẫn chưa khô!

Do đó, gần như suốt đời, hai chữ Hạnh Phúc và Đau Khổ đi liền với nhau trong trái tim tôi là vậy. Những Người Tình trước-sau thật ra cũng chỉ Là Một trong sự đan quyện định mệnh với nhau của họ. Nói cách khác, tôi vừa là con người may mắn vì lúc nào cũng “có Tình Yêu”, cũng vừa là bất hạnh vì lúc nào cũng nằm trong tư thế “bị đánh mất Tình Yêu”.

*

Trường hợp Vũ cũng không khác được. Anh là một kiểu “nạn nhân” của cái bóng anh Chàng; anh tôn trọng hình ảnh anh Chàng trong tim tôi và anh khiêm nhường chấp nhận chỗ đứng thiếu hụt của mình trên thực tế tình cảm. Tuy nhiên, có lẽ anh không biết –và cả tôi dạo ấy cũng không biết—chính vì sự khoan hòa thế này mà anh chiếm được quả tim tôi, "một quả tim bị thương, luôn ngờ vực Tình Yêu” như Vũ thường nhận xét.

Sự ngờ vực này, thuở còn rất trẻ, tôi không biết từ đâu mà có? Phải đợi đến mấy chục năm sau, nhìn lại đời mình, mới thấy rằng nó đã được khởi đi từ một ý thức rất sớm theo cái nhìn về một Định Mệnh: Chính là tôi ngờ vực Định Mệnh (biểu tượng bằng một kẻ vô hình đầy uy quyền nào đó) sẽ không để cho tôi hồn nhiên nếm hưởng mùi thi vị dịu dàng mà Tình Yêu mang lại. Tôi đón nhận Tình Yêu, chấp nhận Tình Yêu bằng tất cả trái tim, nhưng luôn luôn ngờ vực nó.

Dạo ấy còn quá trẻ, nên sự ngờ vực chỉ được đổ lên cho Người Tình duy nhất. Do đó mà tôi đã không biết một điều rất quan trọng rằng Những Người Tình trong đời tôi cũng đều là một thứ nạn nhân như tôi trong bàn tay đùa nghịch của Định Mệnh mà thôi.]

*

* *

Tôi gặp Vũ, chấp nhận tình yêu của Vũ một cách tự nhiên trong tâm trạng của một đứa con gái quen được nhiều bạn trai ưa thích, không thắc mắc tại sao, không lấy đó làm kiêu hãnh và cũng không hề cảm thấy chút nào mặc cảm có tội với hình ảnh anh Chàng vừa nằm xuống. (Có lẽ nếu gặp tôi mà Vũ KHÔNG yêu tôi, mới là điều thắc mắc dạo ấy của tôi!)

Tôi đồng hóa bộ áo hoa rừng của Vũ vào với hình ảnh anh Chàng, nhưng thiết thực hơn qua những câu chuyện với Vũ, những câu chuyện rõ ràng là tình yêu giữa một đôi trai gái trẻ tuổi chứ không là sự ngưỡng mộ của một đứa nhỏ nhìn lên một người lớn, như tôi đã từng ngưỡng mộ hoài bão “dành lại đất Chàm” của anh Chàng.

Những nụ hôn vụng trộm, những vòng tay ghì xiết, những lời nói âu yếm, những kỷ niệm đón đưa nhỏ nhẹ sau giờ tan lớp... là những điều mới mẻ tôi học được từ Vũ. Chính Vũ là người đầu tiên dạy cho tôi cách hôn môi một người tình. (Duy có một điều, --tôi sẽ kể ở đoạn tiếp đây-- chẳng những Vũ "không dạy được" cho tôi, mà lại còn bị “tôi dạy” như lời về sau Vũ hay nói. Đó là bài học về “tâm hồn của một đứa con gái ngây thơ trong sáng”. Nhưng đó là câu chuyện của đoạn tiếp theo.)

Tuy nhiên, tự trong sâu thẳm ý thức vẫn như có cái gì đó ngăn chận tôi sự việc tỏ bày tình yêu của mình cho Vũ. Một cái gì không phải dối trá, mà chính là “ngờ vực” như chữ Vũ thường dùng. Vì vậy mà trong thái độ chấp nhận Tình Yêu Vũ trao đã luôn cho thấy từ tôi một sự “cưỡng chống lại Tình Yêu của Vũ.”

Lấy ví dụ:

Một lần đi cùng Ánh lên công ty Xi Măng Hà Tiên thăm Vũ (thời gian này vì tình hình gấp rút của chiến tranh mà một số tiểu đoàn Dù được bố trí phòng vệ vòng đai thủ đô, nên đơn vị Vũ đóng tại đây), Vũ cầm cây colt 45, kê ngay vào trán tôi mà hỏi: “Bé có yêu anh không?” Tôi bật nói: “Không!” (dù trái tim lúc đó đã dành cho Vũ).

Cái nhìn của Ánh rõ là hốt hoảng. Vũ hỏi lần nữa, tôi cũng nói không, nhìn thẳng vào mặt Vũ. Anh hạ súng, lắc đầu cười nhưng đôi mắt trông thật buồn: “Không đùa được với sự bướng bỉnh của em, súng đạn có cô hồn, nguy hiểm lắm!”

(Kể từ ấy, bao giờ Vũ cũng gọi tôi là “cô bé cứng cỏi.”)

*

* *

II.

Một đêm tan trường Nhạc, không thấy Vũ đến đợi như thường lệ, tôi tự đón cyclo về.

Lúc 8 giờ tối, đang ngồi trong nhà, nghe tiếng còi xe của Vũ ngoài đầu ngõ nên tôi vội vàng đi ra gặp. (Dạo ấy còn ngây thơ quá, tôi không hề dám cho bất cứ ai –trừ Ánh-- hay biết sự giao thiệp với Vũ; mỗi lần Vũ đón tôi từ trường Nhạc là tôi bắt Vũ bỏ tôi xuống ngã tư Yên Đổ - Trương Minh Giảng gần nhà, xong đợi cho Vũ chạy xe đi mới tự mình thả bộ.)

*

* *

[Sau này, nhìn lại sự việc, thấy có gì khác lạ trong sự kiện tôi không giới thiệu cho gia đình hay về việc giao thiệp với Vũ, trong khi với Hà, Nghinh, hay anh Thùy, ai trong nhà cũng đều biết rõ.

Tôi xuất thân con gái Huế, nhưng cái không khí Huế của gia đình tôi không nặng tính cổ hủ phong kiến, mà lại rất phóng khoáng Tây Phương. Cha tôi là cháu ngoại một vị quan đại thần triều đình Minh Mạng, cũng là chủ nhân một lò vôi ở Ba Vinh, Huế, rất giàu có. Bà nội tôi là một tiểu thư khuê các, mất khi 22 tuổi vì chứng sản hậu trong một cơn ghen theo chồng sau ba ngày sanh cô út tôi. Khi ấy cha tôi chỉ mới lên 2.

Từ 9 tuổi, vì không chịu nổi sự khắc nghiệt của bà mẹ kế, cha tôi được gửi vào nội trú trong trường Pellerin. Đỗ xong bằng Brevet ở đây, ông ra Hà Nội tiếp tục học trường Bưởi, đậu Tú Tài I.

Cũng tại Hà Nội, tình cờ nghe được một bà giáo sư người Pháp kéo violon, máu mê âm nhạc bắt đầu trỗi dậy, nên xin học với bà. Ông nội tôi, cũng là một vị quan đang làm việc tại Qui Nhơn, nghe tin, gọi về, nổi giận đập cái vỏ đàn. Cha tôi bèn bỏ gia đình, một thân phiêu bạt vào Sàigòn. Vì rất giỏi tiếng Latin và tiếng Pháp nên ông được nhận vào làm việc tại nhà giây thép gió, một công việc không phải dễ dàng tìm ra ở thời buổi đó. (Những điều này do các người bạn cha tôi kể lại khi tôi đã lớn). Ông nội tôi lại kêu về bắt lấy vợ. (Thời gian này cha tôi kết bạn với Hàn Mặc Tử, Tạ Xuân Thuận, những người có thân phụ là bạn quan với ông nội tôi. Đó cũng là thời gian nhạc sĩ Phạm Duy tìm đến làm quen với cha tôi. Ông lớn hơn Phạm Duy chừng một chục tuổi.) Cha tôi không chịu lấy vợ, lại trốn nhà đi phiêu lãng nhiều nơi, và lần này không trở lại với gia đình cho đến ngày ông nội tôi mất, về chịu tang...

(Ở trên tôi viết: "Không khí Huế của gia đình tôi không nặng tính cổ hủ phong kiến, mà lại rất phóng khoáng Tây Phương" cũng là do từ cá chất lang bạt kỳ hồ của Cha tôi mà ra).

*

Mẹ tôi tuy chào đời trong một gia đình dân dã tại làng An Cựu ở Huế, nhưng ông Ngoại tôi cũng từng được đi du học Pháp, đậu kỹ sư hóa học, nghiên cứu về cách chế biến thuốc nổ dùng bắn các loại đá để nghiền thành vôi trộn cát làm nhà.

là người phụ nữ có hoài bão lớn cho con, vì vậy đám con trai nhà tôi khi sắp sửa lên bậc Trung học Đệ Nhị cấp là mẹ tôi đã tính đường du học nước ngoài cho họ. Còn đám con gái, đặc biệt tôi, được giáo dục rất kỹ theo chiều hướng “sẽ là vợ của một nhà ngoại giao” như mơ ước của bà. Bà chuẩn bị cho chúng tôi một số vốn kiến thức khá kỹ. Từ thuở rất bé, chúng tôi đã được huấn luyện để mê đọc sách, mê nghe nhạc cổ điển Tây Phương, mê những bức tượng nghệ thuật, các bức tranh sơn dầu, mê đi du lịch, mê những cái gì không đem lại thực tế vật chất. Mẹ tôi không bao giờ tiếc tiền trước những "cái mê ấy" của chúng tôi, hoặc không từ nan bất cứ điều gì có thể giúp cho con cái mở mang đầu óc và thu lượm được những hiểu biết.

Chủ trương của mẹ tôi trong việc giáo dục con cái là đặt chữ “quý” đứng trên chữ “phú”. Những đứa con gái phải trở thành những phụ nữ sang cả phong lưu. Do đó, ngoài văn chương âm nhạc, chị em tôi còn được dạy cho việc nấu ăn, tề gia nội trợ, thậm chí dạy khiêu vũ, uống rượu chát, tiếp đãi khách khứa.

Mẹ tôi hay nói: “Giàu nhờ bạn, sang nhờ vợ. Một người vợ xứng đáng phải là người biết làm sang cho chồng, thanh rõ thô hay!” Với chủ trương đào tạo chúng tôi trở thành “kẻ làm sang cho chồng”, hẳn nhiên trong óc bà cũng đã có vẽ ra rồi thế nào là hình ảnh “một ông chồng” cho những đứa con gái của bà.

(Điển hình cho cái chủ trương đặt chữ "Quí" lên trên chữ "Phú" của mẹ tôi là vào dịp anh Thuận Văn Chàng về Sàigòn thăm gia đình tôi, sau khi anh từ giã, mẹ tôi đã nói cùng ông cậu út: "Chị có bốn đứa con gái mà nếu cậu Chàng muốn chấm cô nào, chị cũng 'cho không'!" Câu nói này xuất phát từ một người mẹ Huế rất cổ điển đã là lời xác định hùng hồn cho "cái nhìn như thế nào" về "giá trị" nơi một con người.)

*

Một điều lạ là tôi chưa bao giờ nghe mẹ tôi mơ cho tôi lấy chồng bình thường, sống cuộc đời bình thường như mọi cô gái. Trong nội tâm riêng, bà muốn tôi trở thành một nghệ sĩ tăm tiếng, chứ không là một người vợ chỉ biết lui cui suốt ngày trong xó bếp, góc nhà.

Giờ đây nhìn lại thời con gái sống trong gia đình, tôi thấy bốn chị em tôi có điểm thoải mái ghê gớm là chưa bao giờ bị “giục” phải đi lấy chồng. Mẹ tôi không sợ cho chúng tôi bị ế; nên cái việc ép buộc phải nghĩ đến hôn nhân –như một lối thoát cho đời sống-- chưa bao giờ thấy xảy ra trong bốn chị em tôi.

Suốt đời, tôi còn mang ơn mẹ tôi ở cái lối giáo dục như vậy. Nhìn từ bên ngoài, đó là cái lối dạy “rất không thực tế”, nhưng thật thì “vô cùng thực tế”. Bởi, nếu không nhờ vào những môn học về nghệ thuật được trau giồi từ thuở nhỏ, tôi không thể nào có đủ khả năng để tự chống đỡ trước những cú quất tàn bạo của Định Mệnh như trong mấy chục năm qua đã từng hứng nhận. Hay nếu không nhờ vào những cái đam mê “hoang tưởng, sống trên mây” thấm vào máu từ bé trong lối giáo dục của mẹ tôi, tôi đã gục ngã ngay từ lần thứ nhất đối diện khuôn mặt Định Mệnh của cuộc đời mình.

*

* *

Với chiều hướng huấn luyện con cái như vậy, tự nhiên tôi thấy e ngại khi cho gia đình biết tình cảm tôi dành cho Vũ. Tôi không muốn mẹ thất vọng về tôi, cũng không hiểu tại sao mà nghĩ như thế. Bà là người mẹ rất thương con, hy sinh tất cả cho con, nhưng không phải là người dễ dàng mềm lòng trước những lời năn nỉ của con cái. Theo sự quả cảm, trí thông minh, tính độc lập của bà, tôi nghĩ về bà như một “người cha”, tìm thấy lòng yêu thương và kính trọng vô vàn trong chính mình cho bà, chứ không là gần gũi tâm sự như ở những đứa con gái với những bà mẹ thông thường chung quanh.

Cũng từ điểm nêu trên mà càng về sau này tôi càng nhận biết: Suốt đời tôi chẳng những đi tìm một người cha, lại còn đi tìm cho chính mình một người mẹ, một người bạn nữa. Sự độc lập đứng thẳng như một cây thông trong hiện tại (theo lời nhận xét của bè bạn) cũng phát sinh từ ý niệm vừa kể ngay từ thuở còn rất phôi thai non dại chưa biết gì là những ngã rẽ Cuộc Đời.

Với Vũ, không giới thiệu Vũ cùng gia đình, có lẽ vì tôi yêu Vũ, nên không muốn mẹ tôi đánh giá –có thể sai lầm-- về Vũ sớm quá. Còn với Hà, anh Thùy hoặc các người bạn trai kia, tôi không yêu họ, nên cũng không baogiờ quan tâm cái nghĩ của mẹ tôi về họ ra sao.]

*

* *

Nơi xéo xéo con ngõ, khuất bóng ngôi nhà tôi, tôi nhìn thấy Vũ đang đứng cùng một vị sĩ quan Dù khác. Và Vũ giới thiệu:

“Đây là Nhã, bạn anh, tiểu đoàn 9 Nhảy Dù, vừa từ chiến trận trở về mấy ngày trước. Chiều nay đưa Nhã đi chơi nên anh không kịp đến trường đón bé.”

Tôi im lặng, tâm tư ứ tràn sự hờn dỗi vì điều thất hẹn của Vũ. Giọng Vũ áy náy:

“Bé giận anh phải không? Cho anh đền bằng một hồi kem nhé?”

Tôi vẫn im lặng. Vũ nài nỉ:

“Anh xin lỗi bé mà! Ngồi với Nhã suốt buổi chiều mà nhớ cô bé quá.”

Xong hạ giọng:

“Đi chơi với bọn anh một chốc đi, ngày mai anh ấy trở ra chiến trường, chẳng biết có ngày về hay không?”

Câu nói này quả có hiệu nghiệm. Tôi hé nụ cười:

“Nhưng em chỉ có thể đi một chốc thôi, Vũ phải đưa em về cao lắm là sau nửa tiếng?”

Vũ gật đầu:

“Vâng! Anh hứa sẽ làm như lời bé.”

Bấy giờ tôi mới quay qua hỏi Nhã:

“Anh ở Tiểu đoàn 9, vậy anh biết anh Thuận Văn Chàng?”

Nhã gật:

“Có. Chàng vừa mới tử trận cách đây vài tháng!”

Trái tim tôi bóp thắt đau đớn. Bên tai, giọng Vũ vang lên:

“Mình đi nhé cưng! Nhã cũng có thể như anh Chàng không biết chừng, ngày mai hay ngày mốt!”

Tôi vẫn mặc quần jean áo pull như khi đang ở nhà, thót lên ngồi trên chiếc lambretta của Vũ. Nhã chạy riêng một honda.

Tôi lập lại câu nói:

“Chỉ một chốc thôi. Đi lâu, ở nhà biết được thì chết!”

*

* *

Tưởng đưa tôi đến một quán kem, ngờ đâu Vũ chạy thẳng đường Yên Đổ, ra Hai Bà Trưng rồi ngoặt trái về hướng Chi Lăng, dừng xe ở một nơi sáng ánh đèn ngay đầu Võ Di Nguy, Phú Nhuận. Đứng ngoài bãi đậu, tôi nghe tiếng trống tiếng kèn từ trong vọng tới. Tôi bỗng sợ hãi, quay hỏi Vũ:

“Đây hình như là một vũ trường chứ đâu phải quán kem?”

Vũ gật đầu cười:

“Đúng, bé ạ, vũ trường Victoria.”

Tâm trạng hốt hoảng và bực bội vì sự dối trá của Vũ và cũng vì chưa từng bao giờ đến một vũ trường, nên tôi cứ đứng ỳ nơi bãi đậu xe, không chịu bước chân vào cửa. Nhã cũng đứng đợi, cách xa một quãng. Vũ hạ giọng nài nỉ:

“Vào đây với bọn anh một chốc thôi. Nhã muốn anh đưa đi dancing. Mình ngồi độ nửa giờ rồi về.”

Anh lập lại câu nói ban nãy:

“Ngày mai Nhã trở ra chiến trường, anh có linh cảm không gặp lại nhau nữa, nên chiều theo mọi ý thích của Nhã. Bé hiểu cho anh. Nếu anh không yêu bé, không nhớ bé thì đêm nay đâu có đưa Nhã đi tìm bé?”

Mãi một hồi nài nỉ với nhiều lý do viện dẫn của Vũ, tôi mới chịu theo hai người vào trong dancing.

*

* *

[Tôi được mẹ dạy cho biết khiêu vũ từ khi còn ngồi ở lớp Đệ Nhị và cũng đôi lần trong các cái bal famille sinh nhật bè bạn, được tiếng là nhảy bebop đẹp; nhưng thật sự đó mới là lần rất đầu tiên tôi tiếp xúc với không khí vũ trường trong tâm trạng ngỡ ngàng xa lạ mà không hề ngờ rằng chính cái không khí ấy sẽ trở thành một phần đời gắn chặt về sau của tôi.]

*

* *

Sự bực bội kéo theo vào trong phòng nhảy, tôi không chịu ra piste với Vũ; thêm âm thanh ồn ào quá, cũng không nói gì, chỉ quay qua trò chuyện đôi câu cùng Nhã về tiểu đoàn 9 và về anh Chàng.

Vũ ngồi một mình, uống hết chai bière này qua chai bière khác, vẻ lầm lì đau khổ. Tôi rất sốt ruột với ý nghĩ lo sợ mọi người trong nhà đã khám phá ra sự vắng mặt bất ngờ của mình nên cứ kéo tay áo Vũ, giục Vũ đưa về. Cả Nhã cũng đề nghị ra về vì cái vẻ bồn chồn nơi tôi đã làm mất đi hết hứng thú khiêu vũ trong anh.

*

* *

[Phải nhận là dạo đó còn ngây thơ quá nên chỉ với việc ra đón một cái cyclo hay taxi về một mình, tôi cũng không biết tự làm được].

*

* *

Vũ vẫn không nhúc nhích trước sự đòi hỏi của tôi.

Cho đến khi tan vũ trường, 11 giờ 30 khuya, hai người bạn từ giã, hai bàn tay xiết lại trong nhau thật chắc. Vũ nói lên những lời chúc cầu may mắn cho Nhã. Xong, rồ máy xe đưa tôi về. Lúc này trông Vũ đã có dáng say say.

Nhưng thay vì lái theo hướng nhà tôi thì Vũ lại chạy thẳng trên con đường Chi Lăng dài hun hút về hướng Gia Định. Tôi la lên sợ hãi. Vũ trấn an tôi:

“Bé đừng sợ. Mình đến đây một chốc cho qua hết giới nghiêm rồi về!”

Lúc ấy sực nghĩ giới nghiêm sẽ kéo dài tới 5 giờ sáng, nỗi sợ trong tôi càng thêm mạnh mẽ. Nhưng bởi vì chiếc xe Vũ lao vùn vụt trong đêm vắng nên với cái việc nhảy đại xuống đường, tôi cũng chẳng dám làm.

Đột nhiên từ trong sâu thẳm trí não thấy lóe lên một ý hướng nhận thức mới mẻ mà lần đầu tiên trong đời tôi bắt gặp (để rồi trở thành rất quen trong suốt những giai đoạn sống kế tiếp). Đó là sự ngẩng mặt nhìn thẳng vào những bất trắc đang --hay sắp-- xảy ra cho mình. Tự nghĩ, đường về thôi đã hết thì không nên trông chờ đến nữa, phải dự liệu làm thế nào để đối phó với những việc đang đưa tới. Đầu óc hoạt động thật nhanh, cái bản chất dứt khoát lù lù ló mặt, tôi không lên tiếng yêu cầu Vũ quay trở về đường nhà tôi nữa, chỉ im lìm gom nhặt tất cả can đảm còn sót để đợi chờ mà ứng xử kịp thời với nguy cơ ẩn hiện chung quanh.

*

Vũ chạy xe một đỗi rồi dừng lại ở một căn nhà nơi một khu nào xa thật là xa, tôi không biết rõ, chỉ biết cái địa điểm của nó thuộc vùng Gia Định. Một người đàn ông ra mở cửa cho Vũ (về sau mới biết đó là chủ nhân căn phòng trọ Vũ ngủ lại mỗi khi về Sàigòn).

*

* *

[Một điều lạ mấy chục năm sau tôi mới nhận ra là đã không hề mang ý nghĩ kêu cứu trên đường đến đấy hoặc ngay chính lúc bấy giờ –với người chủ nhà xa lạ, rằng tôi “đang bị bắt cóc”. Có lẽ từ trong ý thức, tôi biết Vũ yêu tôi và cũng không có ý hại tôi, hoặc là từ căn bản của tâm hồn, tôi đã nằm lòng cái tính cách chịu đựng một mình mọi nỗi nguy hiểm?]

*

* *

Nghĩ có chối từ cũng vô ích nên tôi im lìm theo Vũ vào phòng. Vũ giơ tay bật đèn từ cái công tắc điện gắn nơi cửa. Thế là tôi giành lấy cái công tắc ấy, giữ chặt nút bấm. Vũ nhấn xuống cho đèn tắt thì tôi lại bật lên cho đèn sáng. Cứ thế mà giằng co nhau hồi lâu.

Tôi chẳng hề biết trong phòng có gì nhưng thấy nó trống trải rộng rãi và nhất là cái giường nệm chiếm vị trí lớn làm tôi sợ hãi nên không dám quay đầu nhìn ngang nhìn ngửa. Vũ nài nỉ tôi lên giường ngủ, tôi vẫn không nói gì, cứ đứng im nơi cái công tắc điện. Tâm trí lúc bấy giờ hoàn toàn không nghĩ gì đến nỗi sợ hãi theo sự lo lắng về gia đình nữa mà chỉ làm sao cho cái công tắc thuộc về mình.

Đến một lúc Vũ tự cởi bỏ áo quần, xong tiến đến bên tôi, bất thần dùng vũ lực khóa trái hai tay tôi, xô đẩy hồi lâu mới bế được con người tôi thảy lên giường, rồi phóng vội đến nằm đè cả thân hình lên tôi. Trong bóng đêm lờ mờ, nhìn thấy sự trần truồng của Vũ, tôi đâm ghê tởm đến lợm giọng. Tôi vẫy vùng kịch liệt nhưng vẫn không thể nào thoát được hai cánh tay mạnh mẽ kềm giữ của Vũ. Một tay Vũ vẫn nắm rịt hai tay tôi, một tay mò mẫm tìm sợi giây kéo của cái quần jean tôi đang mặc.

Trong trạng huống chao đảo của lúc cận kề nguy hiểm, tôi bỗng nhớ đến hình ảnh cha tôi, rồi lại hình ảnh anh Chàng. Đầu óc lướt qua thật nhanh cái ý nghĩ, nếu phải đánh mất đi những gì tốt đẹp nhất của một người con gái thì tại sao kẻ chiếm được đó lại không phải là anh Chàng?

Đột nhiên như có một sức mạnh rất thần kỳ, tôi nẩy bật, vùng thoát hai tay Vũ, xô một cái thật mạnh vào người Vũ. Tức thì cả thân hình Vũ rớt xuống sàn nhà. Không để lỡ giây nào, tôi phóng vội khỏi giường, lao đến bên cái công tắc điện. Đèn sáng lên, tôi thoáng thấy Vũ nằm sấp trên sàn, mặt úp xuống. Tôi sợ hãi quay vội đi nhưng cặp mắt vẫn nhiều lần liếc lui, canh chừng hành động Vũ. Vũ lồm cồm nhổm dậy, ngồi yên tại chỗ, hai tay ôm đầu trong tư thế hình như đau lắm.

Tôi định thần lại được chút ít.

*

* *

Vũ cứ ngồi dưới đất hồi lâu, xong mặc áo quần vào và đến cạnh tôi. Tôi sợ hãi lùi xa khỏi Vũ, bàn tay vẫn giữ rịt cái công tắc. Anh quỳ xuống trước mặt tôi, nói nhỏ, giọng rền rĩ:

“Anh xin lỗi bé. Anh thật là giống thú vật. Anh muốn chiếm đoạt bé vì sợ rằng bé sẽ bỏ anh. Anh muốn giữ bé trọn đời. Anh thú vật quá. Bé tha thứ cho anh.”

Và Vũ van nài:

“Anh không làm gì bé nữa đâu. Lên giường ngủ đi, sáng mai sớm anh đưa về. Anh thề trước linh hồn mẹ là sẽ không làm gì bé nữa. Bé đừng sợ anh, tội nghiệp! Bây giờ mới chỉ hai giờ khuya.”

Mặc Vũ nói gì thì nói, tôi vẫn không nghe và cũng im lìm không phản ứng. Trong óc lúc bấy giờ hoàn toàn không còn ý nghĩ nào khác ngoài cái điều cứ đứng im tại chỗ giữ rịt cái công tắc trong tay.

Vũ nằn nì hồi lâu, thấy không hiệu quả, nên vỗ về:

“Nếu bé không muốn lên giường nằm thì thôi, anh ngồi đây ôm cho bé ngủ.”

Nói xong, cũng chính Vũ ngồi xuống ngay đàng sau cánh cửa, cạnh bên tôi. Tôi chối từ vòng tay Vũ, trong óc vang lên ý nghĩ: “Sẽ không bao giờ còn nhìn mặt Vũ từ đây.”

*

Từ đó cho đến khi hết giới nghiêm, quả tình là Vũ không tỏ ra chút hành động tồi tệ nào nữa.

Sáng hôm sau về nhà tôi kể hết cho cậu Tân –cậu út tôi--nghe và xin cậu đừng mách lại với mẹ tôi (khi ấy đang làm việc ở Nha Trang). Tôi thề độc với cậu bằng chính linh hồn cha tôi là “Vũ chưa làm gì được con cả!”

*

* *

[Sau này, khi tôi đã vĩnh viễn đi ra khỏi đời Vũ thì chính cậu Tân --bằng tuổi Vũ, lại biến thành người bạn thân của anh, thường cùng với Vũ đi dancing, đi ăn, đi chơi. Trong những lúc bắt đầu say --cậu kể cho mẹ tôi nghe— Vũ vẫn hay khóc khi nhắc lại mối tình tan vỡ của chúng tôi, rồi lên sân khấu xin được hát bài Thu Quyến Rũ (Vũ có giọng hát rất hay), bản nhạc vẫn hát cho tôi nghe ngày cũ:

Anh mong chờ mùa thu,

Trời đất kia ngả màu anh lơ

Đàn buớm kia đùa vui trên muôn hoa

Bên những bông hồng đẹp xinh

Anh mong chờ mùa thu,

Dìu thế nhân dần vào chốn Thiên Thai

Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay

Mùa thu quyến rũ anh rồi

Mây bay về đây cuốn trời,

Mưa rơi làm rụng lá vàng

Duyên ta từ đây lỡ làng

Còn đâu những chiều dệt cung đàn yêu

Thu nay vì đâu nhớ nhiều,

Thu nay vì đâu tiếc nhiều

Đêm đêm nhìn cây trút lá

Lòng thấy rộn ràng ngỡ bóng ai về

Anh mong chờ mùa thu,

Tà áo xanh nào về với giấc mơ

Màu áo xanh là màu anh trót yêu

Người mơ không đến bao giờ.

Cũng từ cái kinh nghiệm kể trên mà từ đó tôi nhận ra một điều rằng, không thể nào có sự hiếp dâm giữa một người đàn ông và một người đàn bà nếu người đàn bà KHÔNG MUỐN.]

*

* *

III.

Tôi quên Vũ, và sẽ quên Vũ hẳn sau cái kỷ niệm kinh hoàng ấy nếu vào buổi tối trình diễn ngày 4/9/1967 của ban đại hòa tấu trường Nhạc mà Vũ không tìm đến gặp tôi tại sân trường. Trước đó vài ngày, tôi có nhận một mẩu nhắn tin từ một người lính của Vũ đem lại, báo cho hay rằng Vũ đang bị thương nằm ở Tổng y viện Cộng Hòa. Hẳn nhiên tôi lờ luôn với cái tin đó. Rồi cũng chính Vũ ngày hôm sau cái bữa gửi đi mẩu giấy nhắn tin, tìm đến trước ngõ nhà tôi lúc trời chập choạng tối, vòng quanh đầu là một vành compress trắng ló ra dưới cái mũ rộng vành bẻ ngược quen thuộc. Tôi nhìn thấy, nhưng trốn biệt trong nhà trước sự xuất hiện này của Vũ.

*

Vậy mà đêm trình diễn của chúng tôi, lúc tạm nghỉ để chuyển qua phần II, tôi lửng thửng bước ra sân sau thì bỗng thấy từ trong bóng tối, dưới một cội me, Vũ đứng một mình, dáng dấp vẫn y như hôm trước, nghĩa là mặc bộ áo hoa dù, đầu quấn băng trắng được che phủ bên dưới cái nón, trên môi điếu thuốc lá rực đỏ. Trái tim tôi thốt nhói đau kỳ lạ khi nghe tiếng “Bé ơi!” quen thuộc. Trong vô thức, tôi bước về phía Vũ, tức thì anh quăng vội điếu thuốc lá, choàng tay ôm ghì lấy con người tôi. Tôi sợ hãi đẩy Vũ ra vì ngại những cặp mắt dòm ngó của bạn hữu, (dù lúc ấy chung quanh thật vắng, quan khách chỉ đổ dồn về sân trước) nhưng càng đẩy Vũ lại càng xiết chặt. Cả thân thể anh rực nóng như cái lò than vì cơn bệnh trong người.

Vũ cứ ghì tôi thật sát, nói thầm bên tai những lời ngắt quãng:

“Anh biết bé thù ghét anh từ sau đêm ấy, nhưng anh không thể không đi tìm bé. Anh yêu bé quá, càng yêu bé nhiều hơn từ cái chuyện đã xảy ra. Anh van xin bé tha cho anh chuyện đó. Đêm nay anh trốn bệnh viện tới đây vì chỉ mỗi cách này mới nhìn thấy được bé. Cho dẫu anh có bị bắt gặp, bị phạt vì trốn trại bệnh, hay dù có gặp cái chết bất ngờ, anh vẫn quyết tâm làm điều đó đêm nay.”

*

* *

[Nhìn lại mấy mươi năm cũ, nếu có xác định một tình yêu thật sự của tôi dành cho Vũ, phải kể rằng nó đã bắt đầu khởi đi từ đêm trình diễn 4/9/1967 này, khi tôi cảm nhận được cái nóng ran từ thân thể Vũ chuyền sang thân thể tôi; khi tôi ý thức được nỗi tuyệt vọng hừng hực từ đôi môi Vũ phả lên trên mặt, lùa vào trong tóc; khi tôi tự dưng –trong bóng đêm-- nghe an toàn trong vòng tay bảo bọc mạnh mẽ của Vũ.]

*

* *

Lòng rung động, nhưng tôi chỉ im lìm, không đẩy Vũ ra nữa, cũng không đáp ứng cái ôm ghì đang xiết vòng quanh thân thể. Trong bóng tối lờ mờ của dãy sân sau có những cội me cao ngất tôi từng quen thuộc từ khi thơ ấu, có cái ánh sáng hắt hiu của dãy đèn trên đường Nguyễn Du rọi tới, tôi cảm nhận nỗi đau khổ của Vũ khi thốt lên những lời dập dồn không mạch lạc:

“Bé thù ghét anh, anh biết. Bé không muốn nhìn mặt anh nữa, anh biết. Nhưng xin một lần tha thứ cho anh. Anh không thể xa bé, không thể nhìn bé đành đoạn quay lưng mà không cho anh được một cơ hội chuộc lỗi. Trước linh hồn mẹ, anh thú nhận rằng rất lo sợ mất bé. Anh van xin mẹ giữ bé lại cho anh!”

Hai câu nói cuối của Vũ đã đánh gục sự kiêu hãnh trong tôi. Nên úp mặt vào ngực Vũ, bắt đầu bám nhẹ mười ngón tay mình trên lưng áo Vũ, tôi nói nhỏ:

“Em ghét Vũ nhưng em cũng thật nhớ Vũ suốt một tháng qua.”

*

* *

Tuần lễ sau đó, vì sự tái phát của căn bệnh phổi mà tôi phải tạm thời bỏ học, đi Nha Trang dưỡng bệnh. Mẹ tôi có một căn biệt thự bỏ trống trên đường Quang Trung, dành cho các dịp nghỉ hè. Bà cũng lại có một cơ sở làm ăn ở Nha Trang. Vì vậy nơi này đã thỏa mãn được rất nhiều cho cái máu giang hồ bay nhảy của tôi suốt từ những ngày còn thanh xuân. Tôi đáp các chuyến bay Sàigòn-Nha Trang như đi chợ, nhưng cứ mỗi lần đến Nha Trang là tôi ở không quá một tuần.

*

* *

[Cũng vì sự bay nhảy này mà tôi đã vô tình phạm vào một “trọng tội” trong tình yêu với Vũ, làm chao đảo lòng tin tưởng của Vũ và đẩy Vũ vào sự sa ngã... (Nhưng thôi, điều này, tôi sẽ đề cập ở đoạn sau).]

*

* *

IV.

Thư của Vũ.

Nha Trang thứ năm 21/9/1967

Cô bé của anh,

Trước khi rời Nha Trang, anh muốn gửi đến bé những lời yêu thương này. Anh hy vọng bao nhiêu khi đặt chân đến đây thì lại tuyệt vọng bấy nhiêu khi lìa xa nó. Anh không buồn bé khi bé không đi đón anh ở phi cảng, nhưng điều khiến anh suy nghĩ tự hỏi là “Tại sao chúng mình không vui được bên nhau?” Mộng ước được gặp, được nhìn bé đôi ngày, giờ chỉ còn là mây khói.

Bé thường lo sợ hỏi anh: “Không biết anh có hiểu em, hoặc không muốn hiểu để rồi ngày nào đó ngã vào tay một người con gái khác?” Cô bé ạ, anh nghĩ rằng anh hiểu và yêu em ghê gớm, bởi vì đối với em, anh mới hiểu thế nào là tình yêu. Em như một thỏi than hồng làm cháy tay những ai cầm đến nó. Nhưng với anh, kẻ muốn được đốt cháy bởi nó thì lại chẳng được em ngó ngàng! Anh chỉ sợ một ngày thỏi than hồng ấy sẽ trở nên những bụi tro tàn nguội lạnh, làm tê tái trái tim anh thôi.

Anh không van xin nài nỉ, nhưng anh biết cuộc đời này có nhiều đổi thay, không điều gì là vĩnh cửu hết. Ngay cả những báu vật cũng bị sứt mẻ theo thời gian, huống hồ là tình yêu chúng mình, dẫu thật đẹp nhưng cũng chỉ là một thứ tình yêu trồng trên sỏi đá! Anh có thể tự tin bao giờ cũng vậy, không thay đổi. Còn bé, một cô gái nhỏ, chưa biết nhìn sâu vào cuộc đời nhiều phù thủy ma quái, một ngày nào bé cũng sẽ nhầm lẫn mà thôi. Và bấy nhiêu cũng đủ gây đổ vỡ tất cả. Chính điều đó đã khiến anh suy nghĩ nhiều khi đến Nha Trang. Bé chỉ là một cô gái nhỏ (nhưng được anh yêu kinh khủng) chứ đâu phải là một nữ tu để giữ cho lòng xa khỏi những cám dỗ chung quanh! Anh càng yêu bé bao nhiêu thì càng bị ám ảnh bấy nhiêu vì điều lo âu ấy. Anh cố quên, cố đừng suy tư thắc mắc và cố sống như một kẻ tầm thường, nhưng không được. Tất cả chỉ vì em, anh đã thần tượng hóa bé là đối tượng duy nhất cho đời anh mất rồi. Dù muốn hay không thì anh vẫn là kẻ bị phụ thuộc vào bé. Nên, cố nhiên, nếu xảy ra đổ vỡ, chính anh là kẻ hứng chịu chua cay nhiều hơn. Nhưng anh có cần gì điều vừa nói. Anh chỉ biết yêu em là quá đủ. Tất cả còn lại đều là con số không vĩ đại. Ngay đến tương lai đời anh cũng không gây cho anh nhiều thắc mắc lo âu như thế đâu.

Bé vẫn thường nói với anh: “Em chỉ yêu cái đẹp, cái tuyệt mỹ. Tình Yêu cũng là một điều tuyệt mỹ nên em yêu nó, chứ không phải yêu người yêu.” Này cô bé có đôi mắt to khờ dại và cái cười răng khểnh, bé có biết rằng khi nói những lời trên là em đã biểu lộ đức tính thành thật một cách nguy hiểm không? Sở dĩ anh nói nguy hiểm là bởi mai sau đó sẽ là điều đem sự thắng lợi lẫn cả nỗi thua thiệt cho em.

*

* *

[Câu nói này của Vũ, phải đến mấy chục năm trôi đi tôi mới ngẫm ra được cái độ chính xác của nó.]

*

* *

Nhưng anh nghĩ, tuyệt mỹ của bé chỉ là những cái nhất thời nhầm lẫn. Anh cho rằng, trong ý nghĩ bé, những cái gì óng ánh cũng đều là vàng. Một ngày nào đúng vậy, anh sẽ trả lại tất cả cho em, dừng lại bên đường dõi theo em và không quên cầu chúc em gặp được nhiều may mắn. Tuy nhiên, anh hy vọng chuyện ấy chưa có (hay không bao giờ xảy ra cả) vì tình yêu anh trao tặng em, không một mãnh lực nào có thể làm cho suy suyển. Anh yêu em vô cùng như chưa hề yêu ai trước đó, cô bé có hiểu như vậy cho anh không? Một tuần phép ở Nha Trang, nơi nào anh cũng tưởng tượng ra hình ảnh bé hiện hữu gần anh, trong giấc ngủ, trong bữa ăn, những lần trên phố đông người, trong vũ trường ồn ào tiếng nhạc, hay trên bãi biển một mình lắng nghe tiếng sóng gào thét, luôn luôn vẫn có bé bên cạnh. Nhưng tất cả đều chỉ là tưởng tượng của anh!

Có lẽ anh sẽ lên Dalat trước khi trở lại Sàigòn. Anh sẽ mang theo trong tim hình ảnh bé và nỗi buồn triền miên ray rức của mình. Bao giờ anh cũng hiểu và yêu em, cô bé biết không?

[]

Dalat thứ tư 27/9/1967

Cô bé của anh,

Anh đến Dalat được hai ngày rồi, nhớ em ghê gớm. Nơi đây có tất cả mọi thứ ăn chơi như ở Sàigòn nhưng anh vẫn nghe trống vắng vì thiếu em bên cạnh. Sao trời cứ mãi buồn và ướt lạnh? Giá gì có em cho anh bớt cô đơn.

Muôn đời vẫn yêu cô bé.

Vũ.

[]

Sàigòn thứ sáu, ngày 3/11/1967

Mây của Vũ,

Tại sao anh yêu em? Yêu em và bao giờ cũng yêu em? Anh nghĩ rằng, cho đến hết đời, không bao giờ anh còn gặp được một người như em, vì vậy mà trọn tình yêu, anh chỉ dành cho bé. Đôi khi lại nghĩ, trời sinh ra cô bé là để cho anh yêu, cho anh suy tư và tưởng nhớ. Nếu anh biết ngày nào đó bé phản bội (vì cũng đã có yêu anh!) hẳn anh đau khổ ghê lắm. Nếu anh có một mái gia đình yên ấm và một người vợ hoàn hảo thì người đó phải là em. Vì chỉ với em duy nhất, anh mới hiểu thế nào là tình yêu. Tìm những cô gái, đối với là chuyện rất dễ. Nhưng tìm bé, một áng mây thu buồn man mác, lại là điều vô cùng khó với anh. Cô bé hiểu không?

Thu Vân ơi, bây giờ em đang làm gì? Anh muốn có em ngay bên cạnh để được nhìn sâu vào đôi mắt dại khờ của em. Anh biết anh đã bị phụ thuộc vào bé nhiều quá rồi. Nếu mất em, không biết những tháng ngày kế tiếp, anh sẽ ra sao? Tuy nhiên anh bất cần. Chỉ cần biết hiện tại yêu em là quá đủ. Càng chìm đắm vào đam mê, vào men rượu và những âm thanh vũ trường cuồng loạn, anh càng tưởng nhớ về em. Hình ảnh với đôi mắt to khờ dại của em đã hằn sâu trong tim anh ngay từ những ngày mới gặp. Anh biết bé cũng có yêu anh, nhưng trong tình yêu đó pha trộn rất nhiều ngờ vực. Bé chưa dám tin vào tình yêu chân thật của anh và vẫn còn đắn đo suy xét. Đôi khi anh nghĩ bé chưa hẳn hiểu rõ anh và điều này khiến anh buồn ghê gớm.

Anh hy vọng ngày giờ này em đã không còn băn khoăn thắc mắc nữa bởi trái tim anh chỉ duy nhất dành cho em. Ngoài ra không có gì thay đổi. Cô bé biết vậy không? Hiểu cho anh!

[]

Sàigòn, thứ hai 13/11/1967

Cô bé của anh,

Đã lâu quá rồi, từ hôm rời Nha Trang trở lại Sàigòn, anh chỉ nhận được của bé duy nhất một lá thư. Sao em không về thăm anh như lời đã hứa, và cũng chẳng viết gì cho anh? Sự nhớ thương chồng chất cô đọng trong hồn, anh đã không ngờ hình ảnh em chiếm ngụ, hiện hữu trong anh nhiều như thế. Trong phòng trà, vũ trường, quán rượu và ngay cả đêm qua đi hành quân... nơi nào anh cũng tưởng nhớ về em rồi tự hỏi bao giờ mới gặp được?

Anh không biết bé có còn nghĩ gì đến anh? Ánh mắt dại khờ ray rức của em đã khiến anh bị thu hút và phụ thuộc quá nhiều rồi. Đời lính dạy cho anh sự đểu cáng, giả dối và phản bội, nhất là đừng bao giờ tìm vào tình yêu chân thật để phải bị phụ thuộc kẻ khác. Nhưng với cô bé, anh không nghĩ được như vậy. Em như một vì sao sáng đứng biệt lập một góc trời để cho anh cứ hoài nhìn ngắm. Anh tự nhận mình là kẻ thua cuộc ngay từ buổi đầu gặp bé bởi anh yêu bé chân thành và bao giờ cũng tưởng nhớ về em. Anh không biết mai sau mình có chung đường hay không nhưng hiện tại anh yêu em kinh khủng và chỉ mong em trở về bên anh. Sự trở về, như lời bé vẫn hát cho anh nghe: “Em đến thăm anh một chiều mưa... và quên đường về!...”

Đã lâu quá rồi anh xa em và chẳng biết còn xa cho đến bao giờ nữa? Không biết bé có đã lãng quên anh? Nếu đúng vậy, anh đành cam nhận chịu và chẳng bao giờ trách cứ em vì anh đâu có quyền gì ngoài một tình yêu duy nhất cho em. Dù sao anh vẫn yêu Thu Vân của anh vô cùng. Anh muốn thì thầm với em cả ngàn lần điều ấy, muốn ghì em thật chắc và hôn em điên cuồng. Anh nghĩ rằng môi anh bây giờ còn nóng hơn cả lần anh trốn quân y viện Cộng Hòa để đi tìm em trong đêm trình diễn ở trường Nhạc. Có lẽ những nhớ thương đã cô đọng trên đôi môi ấy, cô bé biết không?

Hiện tại, anh vẫn đi hành quân đều, dù nguy hiểm vô cùng nhưng bao giờ sự may mắn cũng vẫn còn ở cạnh anh. Anh có bé và tình yêu chân thành dành riêng cho một mình bé, anh không thể chết như anh Chàng được. Giờ đây nhớ thương bé điên cuồng, anh phụ thuộc vào bé nhiều quá rồi, Mây của anh ạ. Ước mong bé chưa có gì thay đổi và anh sớm được nhìn lại ánh mắt dại khờ ngày xưa.

.

(Những lá thư trên được gửi về địa chỉ nhà Ánh và mãi khi về Sàigòn, tôi mới được đọc).

*

* *

V.

Tôi ở Nha Trang về đã lâu, nhưng không báo Vũ hay.

Bất ngờ một chiều cuối tháng 12/1967 lại nhận thư Vũ từ một người lính chận tôi ngoài ngõ khi đi học về. Tôi giấu vội lá thư trong tập sách, bước thẳng vào nhà, quên cả chào người lính và không cả hỏi thăm đôi lời về Vũ. Tôi sợ. Sợ mông lung, và sợ bất cứ ai trong nhà nhìn thấy những điều vừa xảy ra.

*

* *

Hốc Môn, thứ tư 27/12/1967

Mây của Vũ,

Tiểu đoàn anh đổi về yểm trợ vùng này đã hơn một tháng qua. Yêu em hiển nhiên như vậy, nhưng anh muốn biết tình yêu em giữ cho anh sẽ còn đến bao giờ? Anh ước mong đó sẽ là đời đời, vĩnh cửu.

Bây giờ anh ngồi đây để tưởng nhớ người yêu bé nhỏ của anh. Xa nhau, anh nghĩ về em rất nhiều nhưng chẳng viết gì được, chỉ biết gói trọn thương nhớ vào tâm tư. Bé bao giờ cũng ray rức về anh, chỉ vì một điều vô lý mà đành ngoảnh mặt với anh để tìm vào nhớ thương lạc lõng. Anh nghĩ, con người vẫn thường như thế, luôn chối bỏ những cái gì mình đang có để đi tìm những cái mơ hồ ngoài tầm tay nắm. Có người thành công và cũng rất nhiều người thất bại. Anh không muốn chỉ dẫn cho bé một cuộc sống chỉ biết có hiện tại, nhưng anh nghĩ rằng đừng bao giờ nên vì những cái ước mơ xa xôi mà quên mất hiện tại, để rồi một lần nào đó, bé cũng sẽ viết về anh như đã viết về anh Chàng. Lúc ấy thì đã muộn màng tất cả.

Cô bé của anh vẫn áy náy về một ngày mình xa nhau. Như thế em chưa hiểu nổi em thì làm sao hiểu anh cho được. Anh đã thường nói anh chẳng bao giờ muốn xa bé. Riêng em, hãy tự hỏi mình và anh tin rằng em sẽ tìm được đáp số.

Noel anh vẫn cắm trại. Mặc dù có nhiều nơi mong anh đến, nhưng anh từ chối tất cả vì hai lý do: xa em, và mất Hồng, người bạn thân nhất của anh vừa tử trận. Thế nên, anh dự lễ Giáng Sinh như người yêu bé nhỏ của anh. Nơi anh ở không có núi đồi và biển cả, nhưng anh có một điểm rõ rệt là đã nghĩ trọn vẹn về em. Mỗi lần nhớ đến em, anh chỉ muốn có em bên cạnh để khỏi viết gì cả, chỉ là nhìn sâu vào đôi mắt đẹp dại khờ của em thôi. Vũ.

[]

Sàigòn, thứ sáu 12/1/1968

Lúc 10 giờ đêm dắt đứa cháu đi mua bánh mì, tôi bỗng nhìn thấy Vũ ngồi ở cái quán café đầu ngõ với ly bière đầy và hai vỏ chai 33 trước mặt. Vũ mặc đồ dù, đội nón may bằng vải màu hoa rừng rộng vành bẽ ngược. Vũ không cười và cũng không nói gì khi nhìn thấy tôi. Thật lâu, Vũ mới bày tỏ, giọng thật ấm:

“Anh yêu em vô cùng. Sao không ra với anh? Em có tin rằng anh bỏ cuộc hành quân ở Hốc Môn để về ngồi đây? Anh làm tất cả vì em, vì vợ yêu quý của anh.”

Tôi thốt bàng hoàng vì ba chữ “vợ yêu quý” trong câu nói Vũ. Vũ nhìn sững tôi, ánh mắt thật buồn, rồi lại vuốt nhẹ lên má đứa cháu:

“Cháu thật xinh! Anh ước sao mình cũng có đứa con như vậy.”

Tôi im lặng lắc đầu. Vũ lại hỏi:

“Có bao giờ em nghĩ đến điều em sẽ là vợ anh thật?”

Tôi lắc đầu lần nữa. Vũ ngồi yên, nét đăm chiêu xa vắng và vẫn ngồi lại sau khi tôi đã bỏ đi.

[]

Sàigòn, thứ Hai 15/1/1968

Đêm thứ bảy đi với Huyền và Dung ra đầu ngõ cũng lại nhìn thấy Vũ đứng sừng sững nơi đây, mặt hướng vào nhà tôi.

Tôi sợ hãi kéo tay hai đứa bé tiến thẳng về phía trước. Vũ theo sau, xin tôi chậm bước và nói nhỏ:

“Anh nhớ cô bé quá! Cả buổi chiều đi uống rượu để quên mà không sao quên nổi.”

Chỉ có vậy. Tôi quay đầu theo hướng nhà mình, bảo với Vũ là phải đi về, sợ có ai trông thấy. Vũ lặng yên buồn bã.

Trong lòng tôi chợt thấy nhói đau, nhưng vẫn không dừng bước chân vội vã.

[]

Sàigòn, thứ Tư 14/2/1968

Buổi trưa, lần đầu tiên Vũ bất chợt tìm đến nhà mẹ tôi trong bộ đồ trận rừng rú nghênh ngang. Thoạt nhìn thấy chiếc lambretta quen thuộc thắng cái “két” trước ngõ, tôi hoảng sợ đến mất cả vía. Tuy nhiên, sự kiện một người bạn trai đến nhà thăm tôi không phải là điều đáng ngạc nhiên với gia đình. (Từ thuở bé, chỉ con trai mới được tôi chọn làm bạn!) Vì vậy bên cạnh dáng dấp cao lớn phong trần dầu dãi, cái thái độ khoan hòa cùng lối nói năng điềm đạm của Vũ đã lại là những điều chinh phục được liền trái tim dì Tư, người vú già nổi tiếng vô cùng khó tánh với tất cả đám bạn trai gái của chị em tôi.

Vũ cứ ngồi nhìn tôi đăm đăm. Anh có cái nhìn đăm đăm xoáy buốt thật kỳ lạ. Bỗng dưng nhìn đôi cánh tay rám nắng của Vũ, tôi nghe lòng xao động và chỉ muốn được nép mình trong đôi tay ấy!

(Chứng bệnh phổi tái phát, tôi lại đi Nha Trang tắm biển suốt hơn tháng trời.)

*

* *

VI.

Sàigòn, Chủ nhật ngày 7/4/1968

Từ Nha Trang trở về Sàigòn lúc 12:30 trưa, Vũ đi đón rồi đưa nhau lên phố kiếm cái ăn. Trong quán cơm, tôi thấy mệt nên chỉ ngồi ngắm Vũ và nghe chuyện Vũ. Vũ kể rằng mấy anh bạn Vũ có đọc lén lá thư tôi gửi cho Vũ hôm ở Nha Trang, khen nét chữ thật đẹp và nói rằng Vũ được tình yêu nhiều quá.

Xong mỉm cười:

“Anh cứ ngỡ bé đã quên anh luôn! Không ngờ nhận được điện tín bé, anh mừng quá.”

Vũ cũng tỏ bày ý muốn có tôi như một người vợ chính thức bởi “Anh sợ rằng sẽ mất hẳn em một ngày nào đó thôi.”

[]

Sàigòn, thứ Ba ngày 9/4/1968

Vũ đến nhà, khuôn mặt thật vui, nói ngay với tôi:

“Anh yêu bé thiết tha và chờ mẹ về để xin hỏi cưới.”

Tôi lắc đầu. Vũ hỏi:

“Sao bé lại lắc đầu? Bé không yêu anh sao?”

Tôi gật:

“Em yêu Vũ nhưng chưa muốn làm vợ Vũ.”

Vũ ngẩn ra, nét buồn tỏ lộ, nhưng cố giấu đi trong thế ngồi im lặng. Chính điều này đã khiến trái tim tôi bỗng rung lên những điệu nhạc kỳ lạ. Thật lâu Vũ nói, giọng chậm rãi:

“Có bao giờ bé nghĩ rằng anh sẽ chết như anh Chàng?”

Trái tim tôi thắt lại đau đớn. Vũ cười xòa:

“Nhìn mặt bé tái đi thế kia, anh biết rằng bé cũng có yêu anh! Không! Anh không chết như anh Chàng đâu! Trong tim bé đã có cái chết của anh Chàng là hình ảnh đẹp nhất, anh có chết cũng bằng thừa thôi. Anh phải sống để giữ bé chứ!”

Câu nói lại cũng khiến lòng tôi rung động mãnh liệt, nhưng vẫn im lìm, không tỏ bày lời nào cho Vũ biết.

[]

(Xem tiếp TIẾNG THỞ DÀI CỦA THỜI GIAN )


"NHẤT PHIẾN TÀI TÌNH THIÊN CỔ LỤY",
bộ Tuyển Tập Tình Yêu hai tập của Trần Thị Bông Giấy ,
dày 900 trang, sắp phát hành ở California - HoaKỳ.

[]



.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ California ngày 20.10.2013.