Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới








Hưng Đạo Vương Giáng Bút






Hiện tượng văn thơ do Mẫu, Thánh, Thần, Tiên giáng bút trong văn học Việt Nam nhiều thế kỷ qua, vẫn tiếp nối đến nay. Kho tàng văn học Hán Nôm và văn học Dân gian, còn rất nhiều tác phẩm giáng bút mà chúng ta chưa biết hết. Những văn bản giáng bút có giá trị nghệ thuật và tư tưởng Chân, Thiện, Mỹ của dân tộc là tài sản quý, chuyển hóa tâm thức con người hiện đại hướng Thiện và tiếp nhận hào quang của Cha Ông.

Thạc sĩ Hán Nôm Hoàng Thị Mai Hương nhiều năm sưu tầm, dịch thuật, nghiên cứu, đã có trong tay bản thảo cuốn sách Kinh điển về giáo dục công dân đời Trần.

Nguồn tư liệu cuốn sách trên được bà Mai Hương tìm thấy trong Thư Viện Hán Nôm- Hà Nội gồm ba tập: “Hoàng triều Thánh dụ huấn dịch thập điều”, Hoàng triều Hoàng đạo kinh biên” “Trần gia ngọc phả”.

Lời giới thư mục ghi “Đây là thác lời các vị tiên hiền đời Trần”. Tác phẩm được giáng bút vào thời Nguyễn.

Ba quyển Hán Nôm giáng bút này là di sản tinh thần của mấy chục vị đại thần văn, võ nổi tiếng thời Trần: Chiêu Minh đại vương, Phạm Ngũ Lão, Đỗ Khắc Chung, Trần Nguyên Đán, Trương Hán Siêu… đứng đầu là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.

Họ bàn về Ngũ luân: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín.

Sau khi dịch xong Kinh điển và giáo dục công dân đời Trần, được giáo sư Phan Văn Các hiệu đính và giới thiệu sách, bà Mai Hương đã đối chiếu văn phong của Hưng Đạo Vương qua năm bài luận mở đầu cho các vị khác luận năm đức Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín với Hịch tướng sĩ văn; đối chiếu văn phong của Trương Hán Siêu với Phú sông Bạch Đằng… thấy bản văn giáng bút giống hệt ngôn ngữ, giọng điệu, khẩu khí của chính từng ngài.

Bà Hương vô cùng phấn chấn, tưởng như bản giáng bút là do tự tay các ngài viết, và nhận ra mình đã may mắn được tiếp cận với nguồn tư liệu quý này.

Giáo sư Phan Văn Các viết lời giới thiệu: “Tập sách chuyển tải một chủ trương lớn của triều Trần giáo dục đạo đức thông qua việc giảng giải “Ngũ luân” (Nhân, Nghĩa, Lễ, Tín, Trí) một cách có hệ thống, với mỗi đức, trong năm đức nói trên, đều lần lượt được trình bày qua các bài luận, thuyết, huấn, dẫn, giải, sắp xếp có lớp lang, bài bản”.

Những ngày đầu tháng 10- 2013. Tôi và Mai Hương đi điền dã, khảo cứu cùng Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội tại đền Kiếp Bạc và Đồ Sơn. Chúng tôi trò chuyện về Trần Hưng Đạo thâu đêm. Ông đã tu luyện cả một thời niên thiếu trong ngôi chùa cổ Thắng Nghiêm- Thăng Long. Không phải chuyện bình thường. Nhờ tu luyện Đạo Phật Tiên, Mẫu của Đại Việt, tiếp thu từ Tổ Tiên do vị Quốc sư uyên bác, thông tuệ dạy, mà Trần Hưng Đạo trở thành tướng tài và hiển Thánh.

Chuyện này tôi mới biết một tuần trước đó khi bất ngờ về thăm chùa Thắng Nghiêm.

Ngay tuần tiếp theo. Tôi được về Đền Kiếp Bạc và được bạn tin tưởng cho đọc tập bản thảo Kinh điển về giáo dục công dân đời Trần. Trong tôi tràn đầy niềm tin về năng lượng Tâm linh mà Ngài chuyển hóa.

Nghiên cứu, cảm nhận tập bản thảo, tôi thấy triều Trần nói riêng và Tổ Tiên, Cha Ông chúng ta hết lòng trọng Đạo làm Người, nên đã truyền dạy con cháu trong lúc tại thế và sau khi thác vẫn hiển linh dạy Đạo.

Cuốn sách do bà Mai Hương sưu tập, dịch thuật, nghiên cứu, đã hiển linh triều đại nhà Trần, luôn quan tâm giáo dục, giảng dạy Đạo cho con cháu với tư tưởng Tam giáo đồng nguyên. Tiếp thu tinh hoa Nho, Phật, Lão, sáng tạo theo tâm hồn, ngôn ngữ Việt, để dễ tiếp nhận. Các ngài dựng trường học, chùa chiền dạy Đạo, nuôi dưỡng nhân tài, ban điều lệ, để thuần phong mỹ tục giáo hóa. Dạy bằng cách tự mình làm gương, vỗ về an ủi, miễn thuế, trừ tô để nuôi dưỡng dân sống yên ổn, trật tự. Sáng tạo văn chương có Thần, có Đạo để giáo dưỡng tình người và trí tuệ. Biến văn thành bài kinh dạy mọi người.

Đích thân đức vua Trần đúc kết mười điều răn giản dị, gắn với sự sống, sinh hoạt của từng con người: Đôn nhân luân. Chính tâm thuật. Chuyên chú vào nghề nghiệp. Chú trọng tiết kiệm. Làm đẹp phong tục. Dạy bảo con em. Tôn sùng chính học. Ngăn cấm dâm tà. Thận trọng tuân thủ pháp luật. Quảng bá làm việc thiện.

Trần Hưng Đạo giáng bút

Quyển Biên kinh hoằng đạo viết:

Hưng Đạo Vương nhà Trần thượng thừa lệnh này giáng Hoàng đạo kinh biên. Đó là cái nghĩa của Càn Khôn. Mọi người lấy làm khuôn phép, mở rộng ra thành đạo làm con, làm vợ, làm chồng, làm anh, làm em, làm bạn.

Trời có nói gì đâu mà Đạo ở lưỡng gian, tản ra, ở nhật dụng hàng ngày, tụ lại ở lê dân trăm họ. Theo mà không biết, mở rộng ra mà hành và tồn tại trong con người”.

Nhà Trần mở vận. Quảng hành Tam giáo. Đối với Phật giáo đặc biệt tôn sùng. Yên Tử Giác hoàng Điều ngự là Tổ đệ nhất Trúc Lâm. Ngàn năm sau còn khiến người đời noi theo phong cách cao quý.

Đời suy, thế giảm, nhân tâm suy vi đều do nhiễm tật xấu xa. Sống lấy Đạo làm trách nhiệm. Chết thì hiển linh vì Đạo. Linh ở trên Trời.

Biên kinh hoàng đạo là một văn phẩm giáng bút với nội dung chính là bàn về Ngũ luân: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Trần Hưng Đạo bàn trước, sau đó là các vị văn võ có tên tuổi của triều Trần bàn sau.

Chúng tôi trích tóm tắt giáng bút của Trần Hưng Đạo bàn về năm chữ trên.

Luận về chữ Nhân:

Nhân là đức của Tâm. Là lý của yêu thương. Thành thực thì nhân vượng. Một chút tâm linh có thể khắp vạn biến. Thông tam giới. Lấy Nhân giữ Tâm. Nếu làm việc bất nhân, bất hiếu, bất trung thì đó là làm tuyệt lẽ Trời. Làm chết Nhân Tâm. Ranh giới của Trời, Người cốt yếu là Thiện- Ác. Sự tách biệt giữa người và cầm thú chẳng đáng sợ sao?... Nhân chẳng có gì lớn hơn là yêu cha mẹ. Con người ta không ai là không có đức Nhân… Người muốn có Nhân phải kiêm Nghĩa, Lễ, Trí, Tín…”

Luận về Lễ:

Lễ là cái Đẹp của lẽ Trời. Là phép tắc, nghi thức của con người khi hành xử. Để hợp thời, hợp người, nếu không dùng Lễ tiết chế, thì danh bất chính, chí bất định… Làm quan không biết Lễ chỉ nghĩ đến lợi nhuận cá nhân. Ruộng công, đất công, chia không bình đẳng, lấn của dân, thành kiện tụng. Tham lam biển lận, phạm tới luật chung, tự lao vào ngục. Vì vậy mà lẽ Trời mất đi. Nhân sự bại hoại. Lễ giáo suy vi. Còn gì tệ hơn? Người không biết Lễ thì Đạo cha con, vua tôi, anh em, bạn bè cũng theo đó mà suy vi. Người bất nhân, bất nghĩa, bất trí, bất tín thì việc xấu nào mà chẳng dám làm…”.

Luận về Nghĩa:

Nhân tính của con người ở Nghĩa. Nghĩa là cái chuẩn để tiết chế tất cả mọi việc trong tâm con người… Quan hệ cư xử của một con người: quân, thần, phụ, tử, phu thê, bằng hữu đều cần Nghĩa. Phàm gặp các rắc rối trong mọi mối quan hệ đó đều lấy Nghĩa mà tiết chế nó. Mọi cư xử đã hợp với Nghĩa thì Ngũ luân: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín đều vẹn toàn.

Luận về Trí:

Đạo do Trí mà vào... Kẻ biết Trời, biết Người thì có thể làm con, có thể làm tôi. Kẻ vô Trí, mắt mờ vì bị vật dục che lấp, tham của, tham ăn, sa vào phong khiên cấm giới (múa may quay cuồng trong nhà; chết vì của cải, sắc đẹp; nói lời xúc phạm đến Thánh; làm ngược điều trung; xa rời với đức...). Có đại trí tuệ, có đại kiến thức. Sự nghiệp hiển vinh. Biết thiên hạ thì không dám làm điều sai trái...”.

Luận về Tín:

Tín là sự củng cố của Đức. Chữ Tín làm chủ hành Đạo Ngũ luân. Người mà vô Tín thì không thể làm việc gì thành đạt. Sở dĩ ta tốt lên, chẳng phải nhờ bạn giúp thì còn nhờ ai? Thế mà nay: xảo trá ngày một tăng, trung tín ngày một nhạt, tham lận dối lừa, kết bè, kết đảng... Đạo bạn bè còn như vậy. Huống hồ đối với phận làm con, làm tôi. Tín mà không giữ thì Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí đều không chân thực. Đạo Người ngày một tiêu ma. Hãy lấy đức Tín để hoàn thiện con người...”.

Chỉ đọc lướt áng văn Hưng Đạo Vương giáng bút qua người phụng thảo thời Nguyễn như vậy, ta bỗng nhận được hào quang tư tưởng của Ngài tỏa sáng, thức tỉnh nhân tâm.

Còn nhiều lắm, những truyền dạy quý báu của các ngài qua tập bản thảo Kinh điển về giáo dục công dân đời Trần. Rất tiếc bản thảo này bị phủ bụi trong ngăn kéo của bà Mai Hương đã gần dăm năm nay. Không có ai xuất bản. Đơn giản là sách in ra không bán được.

Chúng tôi thầm nghĩ, nếu chắt lọc được những hạt ngọc văn chương Hưng Đạo Vương giáng bút, chuyển vào môn học Giáo dục công dân cho học sinh phổ thông thì hay biết mấy.

Văn thơ giáng bút là một kiểu tư duy nghệ thuật đặc biệt của con người. Không chỉ người Việt mà cả nhân loại. Đây là thể loại văn học nghệ thuật độc đáo, pha màu huyền ảo, bí ẩn, diệu kỳ. Chúng ta khó bề lý giải. Nhưng nó hòa vào và chuyển hóa tâm thức con người rất nhanh. Nhẹ nhàng. Thánh thiện. Không gò ép. Không ồn ào. Không xáo rỗng. Tràn năng lượng Tâm linh.

Tiêu chí để tiếp nhận văn thơ giáng bút là xét về Ngôn ngữ. Nếu hệ thống ngôn ngữ giáng bút trong sáng, rõ ràng, hiện lên ánh sáng Chân Thiện Mỹ, thì đó là một văn bản nghệ thuật ngôn từ rất đáng trân trọng, tôn quý, thiêng liêng. Nó phụng sự, nuôi dưỡng, truyền Đạo làm Người trong Trời Đất.

Bạn đọc và cảm nhận văn bản Hưng Đạo Vương giáng bút lược trích trên. Tưởng như hào quang của Ngài tỏa rạng trên đầu ta, hòa vào hơi thở, nhịp đập trái tim ta, nâng ta chuyển hóa tâm thức, giúp ta sống có Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín để làm một con người hoàn thiện trong kiếp sống hữu hạn nhọc nhằn. Và ta sẽ vô cùng hạnh phúc và bay lên, khi đọc văn chương. Bạn sẽ truyền cảm hứng hạnh phúc này cho con cháu chúng ta. Quả là huyền diệu.


Hồ Gươm Đền Bà Kiệu tháng 10- 2013.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 19.10.2013.