Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Chùa Thắng Nghiêm và

Hưng Đạo Đại Vương




Một sớm thu đẹp trời. Cụ Nguyễn Mạnh Can dẫn chúng tôi thăm chùa Thắng Nghiêm- ngôi chùa của các vua Lý- Trần, toạ lạc trong quần thể di tích Thánh địa Khúc Thuỷ, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai- Hà Nội, cách trung tâm thủ đô hơn mười cây số.

Chùa Thắng Nghiêm dân gian gọi “chùa Khúc Thuỷ” tọa lạc trên Thánh địa Khúc Thủy.

Thánh địa Khúc Thuỷ bao gồm hệ thống: Đình Khúc Thủy, Chùa Linh Quang, Chùa Thắng nghiêm, Chùa Dâu, Đền, Miếu, Văn Chỉ, đó là nơi trụ xứ đã từng được các bậc danh Tăng, Danh tướng thời thời Lý (1010-1225), thời Trần (1255-1400) sinh sống và tu hành: Khuông Việt Đại Sư, Vạn Hạnh Quốc Sư, Trùng Liên Bảo Tích Quốc Sư, Đạo Huyền Quốc Sư, Hưng Đạo Đại Vương, Huyền Thông Quốc Sư tức Linh Thông Hoà Thượng Đại Vương.

Ô- tô xuyên màn sương qua cánh đồng Ba La dọc dòng sông Nhuệ, nước đen ngòm. Thôn làng rủ bóng tre xanh. Đồng lúa chưa bị “lợi ích nhóm” phủ bê- tông. Chúng tôi dừng trước cổng Tam quan bên sông Nhuệ bốc mùi xú uế.

Lạ thay! Bước vào sân chùa Thắng Nghiêm, cảnh Phật huy hoàng. Chúng tôi miên man chiêm ngắm vườn chùa. Tượng Quán Thế Âm Bồ Tát hiền hòa, thanh tịnh. Hai hàng tượng Pháp Thân Phật gồm một trăm vị Phật màu vàng, ứng hóa thân Phật Thích Ca Mâu Ni, trao truyền Trí Huệ.

Tôi lạc vào vườn Lâm Tì Ni phía sau ngôi Tam Bảo. Hương trầm ngan ngát. Tiếng mõ. Tiếng chuông. Tiếng tụng niệm thần chú ru tôi vào mộng.

Đức vua Lý Công Uẩn hiển linh.

Ngài kể: “Ta dời đô ra thành Đại La. Nhớ lại giấc mộng năm xưa, ta cho khởi giá thuyền Rồng từ sông Kim Ngưu qua sông Tô Lịch xuôi theo dòng Nhuệ Giang ngoạn cảnh, tìm lại giấc mộng. Ta thấy ẩn hiện một ngôi cổ tự trang nghiêm tú lệ, ứng với mộng lành. Ta liền cho dừng thuyền vào lễ Phật, cảnh trí nơi này trang nghiêm thơ mộng, thế đất lại có Long chầu Phượng vũ. Ta cho binh lính dừng chân nghỉ ngơi lễ Phật, vãn cảnh nơi này. Nơi đây thật xứng là một thắng cảnh trang nghiêm. Đúng là bầu Trời cảnh Phật. Ta đặt mỹ hiệu đây là “Trang Khúc Thủy” huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, Chấn Nam Thượng, lập thôn làng làm “Mộc Ấp Thang”. (Ấp của Vua).

Trước dãy bàn sân vườn nhà Tổ, sư thầy Thích Minh Thanh tiếp chúng tôi, giản dị, thanh tịnh, cởi mở. Thầy chân thành trả lời những câu hỏi ngạc nhiên đầy ngưỡng mộ của chúng tôi.

Thầy kể mười sáu năm trụ trì chùa Thắng Nghiêm hoang tàn đổ nát. Nhờ sức mạnh Tâm linh Phật Tổ, vua Lý Công Uẩn, các vua Lý- Trần, Trần Nhân Tông, Hưng Đạo Đại Vương, Linh Thông Hòa Thượng Đại Vương, các vị sư Tổ và Anh linh Tổ tiên, hồn thiêng sông núi, Thánh địa Khúc Thủy… ngôi cổ tự Thắng Nghiêm đã khơi nguồn linh khí, trở nên huyền diệu, linh thiêng ẩn giữa làng cổ của Thủ đô Hà Nội.

Thầy đã dành nhiều công sức đi tìm dấu tích chùa Thắng Nghiêm trong thư viện Hán Nôm, tìm tư liệu dân gian vùng Thanh Oai- Thánh địa, tìm những thuần phong mỹ tục, nếp sống tinh hoa còn lại nơi ngôi làng có Dinh vua, chùa vua Thắng Nghiêm để viết Lịch sử Chùa Thắng Nghiêm và từng bước tôn tạo chùa đúng với lịch sử.

Chùa cổ Thắng Nghiêm

Theo truyền thuyết chùa Thắng Nghiêm được xây dựng từ rất sớm trên thế đất Liên Hoa hàm tiếu, do hai nhà truyền giáo từ Ấn Độ có tên là Tôn Giả Kim Quốc và Tôn Giả Kim Trang dựng lên để truyền bá Phật pháp trong thời Ngô Sỹ Nhiếp làm Thái Thú xứ Giao Châu (187 – 266) gọi là chùa Bụt, người đời sau gọi là chùa Phật Quang (tức chỉ cho ánh sáng Phật pháp). Hai ông lại xây dựng thêm chùa Dâu và một ngôi tháp Đa Bảo được làm bằng đất, hiện ngôi tháp đó vẫn còn trong quần thể di tích, người dân gọi là khu Mả Bụt.

Chùa Thắng Nghiêm xưa có nhiều có tên gọi khác nhau: chùa Vua, chùa Pháp Vương, chùa Bà Chúa Hến thời Đinh; chùa Thắng Nghiêm thời Lý; chùa Trì Long, chùa Trì Bồng thời Trần; chùa Liên Trì thời Lê; chùa Phúc nhà Nguyễn phong tên hiệu Phật Quang Đại Tùng Lâm đại diện cho cả quần thể thắng tích.

Dòng thời gian biến đổi vô thường. Vận nước thịnh suy. Chùa Thắng Nghiêm linh địa, bỗng phút chốc biến thành phế tích của các cuộc chiến tranh tàn khốc.

Chuông Thắng Nghiêm không còn cất tiếng. Năm 1956 sau cải cách ruộng đất. Toàn bộ hàng trăm bia ký của hai Chùa, Đình, Miếu và Dinh Vua, đều bị tàn phá, bia rùa bị mang ra làm công cụ đập lúa, đập phá, vứt xuống dòng Nhuệ Giang và các ao hồ. Những năm 80 của thế kỷ XX, một pho tượng Phật A Di Đà tạc bằng gỗ mít cao năm mét thời Lý, đã bị thiêu đốt.

Sau nhiều lần trùng tu, kiến trúc thời Lý- Trần đã bị mai một, chỉ còn duy nhất một góc hậu cung phía tây Chùa được xây bằng đá ong thời Lý.

Chùa Thắng Nghiêm và Hưng Đạo Đại Vương

Nội biến cung đình nhà Trần do Trần Thủ Độ bày mưu. Trần Liễu bị mất vợ vào tay anh ruột là vua Trần Cảnh. Trần Quốc Tuấn con Trần Liễu khoảng bảy tuổi được Đoan Bà giao cho Thiền Sư Đạo Huyền Chùa Thắng Nghiêm nuôi dưỡng.

Thiền Sư họ Lý pháp hiệu Đạo Huyền trụ trì. Ông là vị danh Tăng tinh thông Tam Tạng, Giới Đức trang nghiêm, uy tín bậc nhất thời đó, Thiền Sư nhìn Trần Quốc Tuấn mỉm cười mà bảo rằng: “Thật đúng là duyên mệnh mà Phật Trời đã định sẵn”. Thiền Sư Đạo Huyền truyền dạy cho Trần Quốc Tuấn Tam Tạng Thánh Điển, pháp thuật bí truyền. Với trí tuệ siêu phàm, chẳng bao lâu Quốc Tuấn đã tinh thông giáo pháp, văn võ kỳ tài. Không ai có thể sánh kịp.

Trần Liễu nổi loạn. Bị giáng làm Hoài Vương. Trần Cảnh tha không giết, còn phong vương, cấp đất Yên phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (nay thuộc Đông Triều, Quảng Ninh) để Trần Liễu về trấn giữ và phong hiệu An Sinh Vương.

Nội cung yên ổn. Vua cùng đoàn tùy tùng sa giá tới Trang Khúc Thủy chùa Trì Long cảm tạ ơn dưỡng dục và thỉnh Thiền Sư cùng đón Trần Quốc Tuấn hồi cung. Năm đó Quốc Tuấn tròn 21 tuổi. Vua nhận thấy Quốc Tuấn tướng mạo phi thường, tài trí vẹn toàn. Xứng danh là bậc kỳ tài trong thiên hạ, liền phong làm tướng trấn giữ biên ải phương Bắc.

Năm Mậu Ngọ (1258) quân Nguyên- Mông đem hơn 30 vạn quân tiến qua biên ải, Trần Quốc Tuấn được phong làm Tiết Chế kiêm Tả Hữu Thủy Lục Tướng Quân, đánh đuổi giặc ngoại xâm. Ngày 12 tháng 3 năm đó (1258) Trần Quốc Tuấn dẫn quân về Khúc Thủy, Khê Tang thành lập tinh binh trên dòng Sông Nhuệ, chiêu hiền giúp nước. Sau đó đem 16 vạn tinh binh đóng đồn từ Tam Đái đến cửa sông Vọng Đức, Bạch Đằng, Lục Đầu Giang đánh giặc Nguyên- Mông.

Thắng trận trở về, nhân dân ca khúc khải hoàn. Vua xuống chiếu sắc phong Ngài là Hưng Đạo Đại Vương, ban thưởng cho Khúc Thủy, Khê Tang 100 lượng vàng và đích thân Ngài đứng ra tu sửa Chùa Trì Long.

Năm 1284, Vua Nguyên lại sai Thái Tử Trấn Nam Vương Thành Hoan (chính sử ghi là Thoát Hoan) đem trăm vạn tinh binh, một lần nữa đến xâm lược nước ta. Với tài thao lược binh cơ, Hưng Đạo Đại Vương thống lãnh thiên hạ chư quân, lĩnh mệnh chinh Nguyên, thành lập thủy chiến trên sông Bạch Đằng, chinh phạt quân Nguyên, giành chiến công hiển hách.

Đất nước thanh bình thịnh trị, Hưng Đạo Đại Vương trở về thăm chùa xưa. Năm 79 tuổi tại Triều, Ngài xin về Vạn Kiếp an dưỡng tuổi già. Năm 82 tuổi, ngày 10 tháng 8 mùa thu Ngài lâm bệnh, thị tịch ngày 20 tháng 8 giờ Ngọ. Sơn hà xã tắc đưa tang Ngài. Dân gian truyền rằng chín nơi cùng tang lễ, chín ngôi mộ được xây đắp. Vua phong mỹ hiệu “Quốc Lão Hiển Tướng Đại Vương”, phong cho Khúc Thủy, Khê Tang là “Hộ Nhi Hương” thờ Quốc Tuấn Đại Vương làm Thượng Đẳng Thần, cử quan đại thần Xuân Thu nhị kỳ về tế lễ.

Sau khi Thiền Sư Đạo Huyền cùng Trần Quốc Tuấn về Triều yết kiến Thái Tông Hoàng Đế, Đạo Huyền được phong làm Quốc Sư, phò Vua, giúp nước.

Từ đây trong Thiền phả không thấy nhắc đến các Sư kế đăng trụ trì, mãi đến đời thứ 11 Nhà Trần (vua Thuận Tôn, con trai út vua Nghệ Tông) có Linh Thông Hòa Thượng Đại Vương về chùa Thắng Nghiêm thắp sáng ngọn đèn thiền.

Thời Lê. Tưởng nhớ công đức các quý Ngài (vua Lý Thái Tổ, Quốc Sư Đạo Huyền, Hưng Đạo Đại Vương, Linh Thông Hòa Thượng Đại Vương…) chùa đổi tên thành chùa Phúc Đống. Thánh tổ viên tịch, chùa tiếp tục truyền nối bởi các bậc Thánh tổ sư là đệ tử của ngài trong các triều đại sau này.

Khơi nguồn linh địa

Sư Tổ chùa Thắng Nghiêm tu theo Mật tông, lấy Trí Tuệ Phật soi nguồn sáng. Đại đức Thích Minh Thanh là đệ tử của nhà sư Thích Viên Thành chùa Hương từ năm hai mốt tuổi, tu Mật tông cổ Việt Nam, hòa dòng chảy Tâm linh chùa Thắng Nghiêm, gặp gỡ nhiều linh ứng.

Trong mấy giờ đồng hồ rất vội, chúng tôi được thầy hé mở nhiều điều kỳ diệu.

Thầy cho chúng tôi chiêm ngưỡng bản sao chép bức vẽ thời Trần dài 9m về con đường làm vua và đi tu của Phật hoàng Trần Nhân Tông từ cung đình đến sơ Tổ Trúc Lâm. Bức vẽ bị người Trung Quốc lấy về từ thời đó. Vửa rồi, họ mang bán đấu giá tại Trung Quốc. Một Phật tử Việt ở Trung Quốc có được bản sao chép, mang về biếu thầy, mới nửa tháng nay. Chúng tôi ngắm bức vẽ thấy cảnh vua, quan, dân thời Trần hiện lên sinh động. Võng, lọng, trang phục của vua, quan, lính, dân nguyên vẹn thời Trần. Với bức vẽ này, từ nay nghệ thuật Việt Nam không còn phải tưởng tượng trang phục, lễ hội, lễ nghi, cờ, võng, lọng, áo bào, mũ miện... thời Lý- Trần nữa. Có những tưởng tượng đội nhầm mũ miện, trang phục vua Trung Quốc cho vua Lý...

Thầy Thích Minh Thanh cảm nhận Phật Hoàng Trần Nhân Tông hiển linh bên thầy và nói ”Ta ở đây”.

Thầy dẫn chúng tôi thăm Thiền thất. Trầm hương ngào ngạt. Biết bao bí ẩn diệu huyền của pháp tu Mật tông huyền bí Việt Nam ngự nơi này. Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông ngự ở đây. Đàn Kim Cương. Đàn Tứ Trấn. Xá lợi Phật. Xá lợi Tăng được thỉnh từ Miến Điện, Thái Lan, Ấn Độ... Những đồ đồng Thánh khí, Phật khí, những pho tượng Phật, Thánh, Vua... được đặt ở phố Hàng Đồng- Hà Nội do những nghệ nhân đủ Tâm, Đức, Duyên trong sáng, đầy nội lực Tâm linh làm.

Phòng làm việc và phòng khách của thầy trong Thiền thất trầm hương ngan ngát. Ban thờ Tượng Phật, Tượng vua Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo, thờ tấm bản đồ Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ triều Nguyễn vẽ năm 1838 cuộn ống tre, được thầy ngày đêm tụng niệm, trì chú. Tấm bản đồ có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Đất Nước Việt Nam.

Bản gốc do một Việt kiều tặng quê hương Việt, được sao ra mười mấy bản. Nhà văn nữ Việt Nam Phan Việt ở Mỹ viết tác phẩm Bất hạnh là một tài sản về chùa Thắng Nghiêm nghiên cứu và tu học, được tặng tấm bản đồ sao này. Cô mang Bản đồ thiêng về Thiền thất Thắng Nghiêm tặng thầy Thích Minh Thanh để tiếp hào quang Tâm linh Tổ tiên, Thần Phật.

Thầy hoan hỷ giới thiệu Bảo tàng mini của thầy. Chúng tôi choáng ngợp và xúc động trước những cố vật nằm dưới lòng đất, trong khu chùa Thắng Nghiêm, mà khi xây dựng tôn tạo chùa, thầy đã thu nhặt, giữ bảo vật. Đó là những di sản thân thương của Tổ tiên Việt. Rìu đá 5000 năm. Rìu đồng, nồi đồng, bình đồng Đông Sơn. Các loại vò, chậu, gốm đất nung nâu màu đất thế kỷ XIII- XIV, đồ gốm sứ thế kỷ XI đến Bát Tràng thế kỷ XX. Những pho tượng cổ chùa Thắng Nghiêm còn sót lại sau tam tứ phen bị tàn phá: Pho Chuẩn Đề gương mặt hiền phúc hậu Mẹ Việt, hai pho tượng Hộ Pháp bằng gỗ mít... Nhiều cổ vật tôi ghi không kịp.

Chúng tôi lo ngại về sự an toàn của kho cổ vật này. Thầy bảo đất vua, chùa Phật, linh thiêng, người hiền, thông tuệ. Không kẻ nào dám vào đây trộm cướp.

Thầy nhanh nhẹn dẫn mọi người chiêm ngắm bức tường bao quanh chùa. Mặt trong tường là một thế giới hội họa linh ảnh các vị Quốc sư, sư Tổ, các vị Phật, Bồ tát hiển linh tại chùa Thắng Nghiêm: Quốc sư Trùng Liên Bảo Tích thời Lý. Lý Triều Quốc Sư tu Tiên, tu Phật. Linh Thông Hòa Thượng Đại Vương. Bốn vị sư Tổ chùa Thắng Nghiêm đã hiển linh vào tranh, thượng tọa Thích Viên Thành là năm... Các vị hiện lên trong tranh. Mỗi vị một linh tánh, một y áo, một màu sắc, dàng điệu, gương mặt, một thần lực.

Thầy Thích Minh Thanh nói:

- Họa sĩ vẽ tranh các Ngài phải ở chùa, ăn chay, niệm Phật, cầu nguyện, tịnh tâm theo Phật Pháp, các Ngài linh hiển, hiện về lúc Thiền hay trong giấc ngủ. Từ linh ảnh đó họa sĩ vẽ hình tượng các Ngài. Sau đó thầy quán tưởng, các Ngài xác minh độ chính xác 80% là được. Đây là phương pháp tu tập tiếp nhận Ánh Sáng Tâm Linh. Ánh Sáng Trí Huệ. Ánh Sáng Phật Pháp.

Tâm Linh là Ánh Sáng.

Không phải là u mê, cuồng tín để “Ma đưa lối, Quỷ dẫn đường”.

Chúng tôi đi rất nhanh vòng quanh bức tường tranh Phật Thánh theo bước chân thầy. Mỗi bức tranh là một câu chuyện con người đã tu thành huyền linh. Tôi làm sao thấu hiểu.

Dừng bên gốc cụ Đa cuối bức tường. Tôi ngước nhin vòm xanh bao la ôm trùm mát rượi. Mặt Trời ngũ sắc lấp lánh trên cao tỏa yêu thương. Cụ Đa mấy nghìn năm tuổi. Cụ Đa không có tuổi. Gốc của cụ đường kính tới chục mét, có những khoảng trống bởi rễ đa thả xuống đất tạo một trụ gốc mới. Dưới gốc đa có ngôi miếu thờ. Những người dân mang hoa quả vườn nhà, thắp hương trên bệ thờ cúng lễ. Khí thiêng tràn ngập. Chúng tôi hoan hỷ trước cụ Đa cổ đại. Chưa bao giờ gặp một Cây Thần uy nghi xanh thắm sức mạnh tinh thần như Cụ Đa này.

Thầy bảo:

- Đây là Cây Đa Thần. Dân lảng ngày nào cũng đến miếu thờ cúng Cụ Đa. Chưa vội lễ Phật mà lễ Cây Thần trước. Thần Cây là Ngọc Châu Công Chúa và Ngọc Hoa Công Chúa con gái vua Hùng. Một cô 28 tuổi. Một cô 17 tuổi. Hai cô chết đói, vì nhường cơm của mình cứu người dân đói, nên rất linh thiêng. Thường hiển linh cứu dân lành. Nhiều người dân nhìn thấy linh ảnh hai cô tỏa sáng những đêm không trăng, sao. Gần đây nhất năm 1945. Lính Pháp chặt một nhánh cây để chúng dễ nhìn tầm ngắm súng nã đạn vào làng. Cành cây bị cưa đổ. Lính cưa cây chưa về đến đồn bị lăn ra chết. Bạn lính đã chết sợ quá, xây miếu thờ dưới gốc Cây Đa Thần. Thầy xây miếu mới, chuyển miếu cũ vào miếu mới.

Chúng tôi nhìn lên. Đúng là một cành Cây Đa Thần bị cưa, đường kính cành cây còn dấu vết, to bằng cả một gốc cây cổ thụ.

Thần cây đa. Ma cây gạo”.

Ngoài cổng chùa, đối diện Cây Đa Thần có một cụ Gạo cổ xưa. Cụ Gạo không có tuổi vẫn ngự nơi cổng chùa, dù dòng sông Nhuệ nay đang khô kiệt đen ngòm bốc mùi khó thở. Nếu chúng ta không tỉnh ngộ, dòng Nhuệ Giang linh thiêng của Trời Đất Tổ Tiên sẽ chết bới bàn tay con người.

Tôi hỏi thầy thầm Thích Minh Thanh nghĩ thế nào về Cơ Trời, Vận Đất. Thầy hiền lành bảo duyên nghiệp khó hẹn hò.

Tôi biết thầy Thích Minh Thanh với Pháp tu của Tổ Tiên linh ẩn, cất giữ nhiều bí ẩn trong Thánh địa Khúc Thủy và Ngôi chùa Vua Thắng Nghiêm, mà một vài giờ cung kính viếng thăm, chúng tôi mê man thán phục.

Thầy còn một kho tư liệu Hán Nôm mà nhóm của giáo sư Phn Balaban nước Mỹ làm về số hóa Hán Nôm, đang sang nghiên cứu. Cô nhà văn Phan Việt đang viết cuốn sách Về nhà chính là viết về những gì cô tiếp nhận được Ánh Sáng Tâm Linh từ chùa Thắng Nghiêm mà cô có duyên tu tập. Sắp tới cô mời thầy sang Trường Đại học cô đang dạy về Công tác Xã hội ở Mỹ nói chuyện.

Trong lúc mọi người lễ Phật, tôi bất ngờ gặp anh Nguyễn Xuân Công ở thị trấn Quốc Oai, 49 tuổi, công nhân may, dẫn cậu con mười tuổi vào xin phép thầy lễ Tổ và Lễ Trần Hưng Đạo Đại Vương. Anh bảo lần đầu tiên đến ngôi chùa này theo Ngài Trần Hưng Đạo mách bảo. Ngài nói ngài học ở đây từ nhỏ, lớn lên ở đây. Cứ đến đây ngài sẽ ban lệnh cho, không phải đi Kiếp Bạc xa xôi, tốn công sức.

Tôi đi chùa với cái Tâm trong sạch. Không biết khấn lạy. Hôm nay, tôi khấn lạy Hưng Đạo Đại Vương theo lanh Xuân.

Anh khấn to, rành rẽ từng lời, tôi kính cẩn ghi:

”Lạy Cha. Cha đem Tình Nghĩa Tâm Đức chữ Nhân về che chở cho gia đình con, cho làng xóm và dân nước được nhờ.”

Đã quá trưa. Chúng tôi tạm chia tay Đại đức Thích Minh Thanh.

Cụ Can nói:

- Cơ duyên phát lộ nhiều điều tưởng như huyền hoặc mà là sự thật trong lòng đất, trong đền miếu, chùa, mộ và chữ của Tổ Tiên nơi Kinh đô cổ vùng Thanh Oai, Quốc Oai, Kẻ Xốm, Tây Phương, Cực Lạc... Tổ Tiên Linh Thiêng. Đất nước Việt Nam được thế giới xếp hạng là linh thiêng. Mặc dù người Trung Quốc mấy nghìn năm nay luôn chấn yểm. Sức mạnh Ánh Sáng Hào Quang Tổ Tiên Việt bất diệt. Sẽ xuất hiện nhiều con người Tâm Đức kết nối sức mạnh Tâm Linh Việt để giữ nước và bảo vệ nhân dân được vui sống trong bình an. Mong Đại đức cùng chúng tôi phụng sự Tổ Tiên.

Chúng tôi hoan hỷ. Chưa muốn rời chùa Thắng Nghiêm. Trên xe, vừa nhâm nhi bánh mì, vừa trò chuyện thán phục vô bờ, quên mệt.

Ông Lê Bảo- Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo, ngẫu hứng đọc bài thơ của mình:

Vô Đề

Họa phúc khôn lường chốn trần gian

Xin chớ kêu ca, chớ phàn nàn

Hãy hỏi Tâm ta sau trước đã

Đất Trời muôn thuở vẫn bình an.


Hồ Gươm Hoa Sữa Đầu Mùa 2013


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 12.10.2013.