Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





TRƯỚC MÙA MƯA BÃO




Chương VI

        NHỮNG CÔNG VIỆC SAU CƠN MƯA - TÔI THÀNH NGƯỜI NỘI TRỢ - CHUYỆN GIA ĐÌNH


Bố tôi chỉ nằm ở nhà an dưỡng ba ngày, rồi xin về nghỉ ở nhà. Gọi là nghỉ, nhưng sự thực, bố tôi vẫn làm việc, chỉ không lên công trường thôi. Một chiếc máy nói mới tinh, được đặt ở cái tủ gỗ nhỏ, ngay đầu giường nằm. Bố tôi nghe và trả lời các câu hỏi. Hằng ngày, bố tôi vẫn uống thuốc Nam. Phần lớn các vị thuốc do mẹ tôi kiếm dọc đường đi làm về. Mẹ tôi vẫn ở tổ sửa đường. Sau cơn mưa lớn đột ngột ấy, nhiều đoạn đường bị sụt lở. Theo mẹ tôi tính, có nhanh cũng phải bốn năm ngày sau, đường sá ở mỏ mới khôi phục được như trước. Đi làm về, trong làn mây của mẹ tôi ngoài cái cặp lồng đựng cơm, thường có một gói thuốc bằng các thứ lá ngắt ở rừng. Mẹ tôi là người dân tộc Sán Dìu. Không bao giờ mẹ tôi nói về mình. Tuy vậy, tôi và anh Tĩnh đều hiểu rằng, cuộc đời cũ của mẹ có nhiều nỗi buồn. Chúng tôi lớn lên, rất thương mẹ. Không bao giờ chúng tôi thấy bố mẹ to tiếng với nhau. Các việc trong nhà, bố tôi luôn bàn bạc với mẹ, và thường nhường cho mẹ quyền quyết định cuối cùng. Từ đầu năm nay, mẹ tôi được đề bạt làm tổ trưởng, phụ trách hơn hai mươi người, phần lớn đều có con mọn. Công việc bận, nên việc mua thức ăn gặp nhiều khó khăn. Bữa cơm giảm món ăn, nhưng bố tôi không kêu ca gì. Một lần ăn cơm xong, bố tôi bảo:

- Mình đi làm về mua thức ăn cũng được. Nhưng khổ cái là chị em cân đong cho mình, cứ nặng hơn người khác một tí. Nói ra không tiện, mà mang về cũng không yên lòng. Vào chợ mua, mình cứ phải tìm người lạ mà mua. Thành ra vừa mất thì giờ mà có khi vẫn không mua được.

Thế là tôi, xưa nay vốn là người chuyên nấu ăn, bây giờ nhận thêm việc đi chợ mua thức ăn. Tôi phải nhớ và luôn mang theo các loại tem phiếu. Ông tôi giơ bàn tay hộ pháp, đe:

- Cấm được tắt mắt hay mua gian nói dối. Ông mà thấy ai nói mày như thế thì ông chặt tay.

Mẹ tôi dịu dàng bảo:

- Cháu nó không có tính xấu ấy đâu.

Bố tôi im lặng không nói gì.

Gia đình tôi lúc nào cũng vui vẻ, hòa thuận. Anh Tĩnh tôi thường ở hẳn với đoàn xe, chỉ thỉnh thoảng mới về. Hôm bố tôi còn mệt nghỉ ở nhà, anh đưa về một người bạn gái. Tưởng ai, hóa ra chị Phạm Thị Yến, chị ruột của Cường. Chị thùy mị, nết na lắm, nên mẹ tôi vui mừng, có vẻ săn đón nữa. Mẹ tôi như trẻ hẳn ra, líu ra líu ríu đến lạ. Ông tôi thì cười khà khà...

- Cứ hợp hai nhà lại là ta có hẳn một cái mỏ rồi. Đủ hết các loại thợ - ông liếc bố tôi và mỉm cười, nói thêm - có cả lãnh đạo nữa chứ.

Rồi ông tôi lại cười khà khà, xoa hai tay vào nhau. Đấy là dấu hiệu ông tôi vui lòng.

Bố tôi không nói gì. Tính bố tôi vốn dè dặt. Và như thế, nghĩa là xong. Còn tôi thì mừng lắm. Tình bạn giữa tôi và Cường, càng gắn bó thêm. Tôi muốn chúng tôi sẽ thân nhau mãi mãi.

Sau cơn mưa tệ hại ấy, ông tôi làm việc và ở miết tại công trường, thỉnh thoảng mới về nhà. Lệ thường, chưa thấy ông đã nghe thấy tiếng. Ông lập tức quát tháo om sòm. Thôi thì, đủ mọi thứ không vừa ý ông. Cái ghế để lôi thôi ở giữa nhà, tờ giấy nháp tập làm văn rơi xuống gầm giường, cái máng ăn của lợn bẩn thỉu, cái chổi lúa bị gà mổ tóe ra ở sân... Ông quát tháo thế là ông vui. Còn nếu ông không nói năng gì, mới đáng lo ngại. Ví như một buổi trưa, ông xách về con cá dưa to và dài như cái đòn gánh, trông gớm ghiếc. Ông vứt nó xuống bên bể nước rồi lầm lũi vào nhà. Ông ngồi xuống chiếc ghế đóng bằng gỗ hòm mìn, chiếc ghế khẽ kêu lên một tiếng "rắc". Ông cởi cái áo dày, sực nức mùi mồ hôi và nắng, vắt lên thành ghế, một lát sau, cảm thấy lạnh, lại mặc vào. Ông đi đi lại lại trong nhà, rồi ông lại cởi áo ra, treo vào cái đinh thuyền, đóng ở cạnh cửa ra vào. Da ông đỏ au, những thớ thịt săn rắn chắc như được bện lại. Thời tiết tháng ba thực là kỳ cục. Mặc áo vào thì nóng, cởi áo ra thì lại thấy lạnh. Cuối cùng, ông khoác áo vào vai, đứng sững ở giữa nhà, đưa bàn tay to bè lên vuốt mũi. Đó là dấu hiệu ông sắp nổi giận. Nhưng chờ mãi, chẳng thấy ông quát lên điều gì. Hai tiếng "e hèm, e hèm" cũng không. Vậy là trong thâm tâm, ông bực dọc lắm lắm. Ông ngồi xuống mép giường, bần thần một hồi lâu. Lát sau, ông gọi tôi đến. Ông xòe hai bàn tay ra và bảo:

- Cháu sờ kỹ vào hai bàn tay của ông đi...

Tôi nắm hai bàn tay ông. Hai bàn tay cứng và ấm. Da lòng bàn tay ram ráp như vảy cá. Dưới mỗi ngón tay đều cộm một vết sần, rắn như cái bọc nho nhỏ.

- Cháu thấy tay ông nó… nó thế nào?

Ông bỗng nói lắp, giọng hơi rung, hơi thở nóng và gấp… Có điều gì thế, ông ơi ?... Tôi đưa hai bàn tay thô ráp, cộm những nốt sần của ông, áp vào hai má mình.

- Ông không được đi học. Suốt đời ông chả biết chữ nghĩa là gì. Trí khôn của ông chỉ nằm ở những nốt sần ấy. Những nốt sần ấy nó biết nghĩ đấy.

Chả gì, tôi cũng đã học đến lớp bảy, nên tôi đủ hiểu là, ông nói quá lên vậy thôi. Nhưng tôi vẫn thích cách nói của ông.

- Bao nhiêu năm, ông tin vào những nốt sần ấy, cháu ạ. Vậy mà bây giờ, nó phản ông.

Ông bỗng quát to:

- Nó phản ông. Nó... Nó phản ông!

Tôi chả hiểu đầu đuôi ra sao. Nhưng tôi biết tính ông. Những lúc như thế, hãy để ông tự nói, chớ có dại dột mà hỏi.

- Nó phản ông. Và ông, ông lại phản … lại phản những người thợ.

Ông bực dọc đưa tay lên vuốt mũi một thôi, một hồi. Cái mũi vốn đã to của ông cứ đỏ ửng lên như quả cà chua chín. Rồi cánh tay ông rơi xuống vai tôi, nặng nề như một thanh gỗ lim. Tôi giữ bàn tay ông trong lòng tay mình, khe khẽ vuốt những ngón tay to cứng như song sắt cửa sổ của ông. Có lẽ cử chỉ ấy, làm ông cảm động. Ông hỏi, giọng âu yếm:

- Cháu có yêu ông không?

Tôi muốn nói là tôi yêu ông lắm. Nhưng tôi lại im lặng.

- Ông muốn cháu phải chăm học để làm một người thợ thực sự. Cháu hãy noi theo kỹ sư trưởng. Chú ấy nghĩ ra được những điều mà người khác không nghĩ ra được. Chú ấy lại làm được những điều mà chú ấy đã nghĩ ra. Đấy là một người thợ "thực sự". Một người thợ như thế, hai mươi năm sau vẫn còn đứng vững được trong nghề...

Giọng ông bỗng mềm mỏng, suy tư.

Tôi chợt nhớ đến chú kỹ sư trưởng, vóc người mảnh mai, nước da hơi tái, dấu vết chưa lặn hết của những trận sốt rét rừng. Và động tác chào, giống tư thế chào của đội viên thiếu niên tiền phong. Tôi như còn trông thấy cái dáng chú ngửa mặt lên trời, mơ mộng, và câu nói của chú, trở lại tâm trí tôi như một châm ngôn: "Hãy tin tưởng vào trí tuệ của tập thể".

Lúc ấy, có tiếng gậy khua lách cách vào bờ hè lát gạch nghiêng của nhà tôi. Ông Tư Đặc đã sang. Tôi đứng dậy, định tìm phích nước để pha trà mời ông, thì ông tôi quát:

- Ơ cái thằng... Mày định để con cá dưa của tao thối ra à? Có đi làm cá không?



Chương KHÔNG ĐÁNH SỐ
              

Tôi xuống bếp lấy dao thớt để làm cá dưa. Ông tôi rất thích ăn chả cá. Tôi sang nhà ông Tư Đặc mượn chày, còn cối, thì ông tôi đã khoét hẳn vào một tảng đá rất to liền khối, nhô ra cạnh bể nước. Đây là phần nổi của một quả núi đá còn chìm trong lòng đất. Chả nhà ai có cái cối đá lạ lùng và chắc chắn đến như vậy.

Dạo này, ông tôi và bố mẹ tôi đều đi làm miết, lúc nào cũng vội vàng, bận rộn. Tôi chính thức trở thành người nội trợ. Tôi học và làm bài vào các buổi tối. Còn ban sáng thì chợ búa, cơm nước. Mẹ tôi bảo: "Con trai cũng có thể nấu ăn khéo léo và ngon lành được như con gái".

Những hôm rỗi rãi, lại vào dịp nước rút, tôi ra bờ biển thuốn cá nhệch và bắt cua. Mẹ tôi rất mê món cá nhệch kho khô với riềng, còn bố tôi lại thích món cua xé thịt nhỏ, phi hành mỡ, rồi nấu riêu với me, hoặc cà chua, bên cạnh bát riêu có thêm một vài củ hành tươi bóc vỏ, với ít ngọn húng quế.

Tôi mang chày về nhà và bắt đầu cho các khoanh cá dưa vào cối giã. Chuyện của ông tôi và ông Tư, tôi nghe không được đến đầu đến đũa. Tôi cũng không có ý định nghe, nhưng khốn nỗi, ông tôi nói to quá. Hình như hai ông đã tranh cãi nhau về một việc gì.

- Không lọt lỗ tai được - Ông tôi nói - Chính tôi đây này, đã bốn mươi nhăm năm cầm búa, vậy mà tự tay tôi, chính tay tôi, tôi đã gò sai quy cách một mảnh tôn lớn, ghép ở đáy phà bơm. Thế là ông bảo làm sao? Đến lúc tôi kiểm tra mối hàn của bọn thợ trẻ, tôi mới thấy điều đó. Khổ cái là nó lại ở đáy phà. Đáy phà.

- Phòng kỹ thuật chắc phải kiểm tra, rồi mới cho hàn chứ? - Ông Tư hỏi.

- Mình kiểm tra mình chứ còn phòng nào. Tôi đã bảo kỹ sư trưởng: "Đập mối hàn ra, để tôi làm lại. Tôi không hưởng lương".

- Anh ta bảo sao?

- Chẳng bảo sao cả. Cứ cầm tay tôi mà lắc tít lên.

Ông Tư cười khặc khặc.

- Tôi thật ngượng với cái Thủy. Nó mới vào nghề hàn, vậy mà nó hàn thế nào, ông có biết không? Tôi đã quai vào mối hàn của nó đến năm nhát búa cật lực, tuyệt nhiên không có một vết rạn. Tiếng búa nghe trong như tiếng khánh bạc. Bong lớp nhũ ra rồi, đường hàn mới đẹp làm sao. Chúng xếp lên nhau như vảy cá chép, nét mềm và dịu lắm. Đúng là đường hàn của con gái. Thử hỏi thời Tây, có được mấy thợ hàn giỏi đến như thế...

Hình như câu nói của ông, chạm vào lòng tự ái của ông Tư Đặc, hay ít ra là tôi đoán thế. Từ lúc ấy, tôi không thấy ông Tư nói thêm điều gì.

Lát sau, ông Tư đi ra ngoài sân, đưa chiếc gậy trúc khua khua trên đầu, áng chừng đoán xem chiều cao của vòm lá cây giâu gia. Cây giâu gia độ này đang vào mùa hoa, màu hoa trông mờ mờ trắng như màu khói nhạt, trên vòm lá xanh mơn mởn, mỡ màng. Ông đứng lặng, trang nghiêm và kính cẩn đến mức buồn cười. Hai cánh mũi ông nở rộng ra, phập phồng, vết sẹo ở hố mắt giật giật, gò má thoảng một nét rung rinh mơ hồ. Sợi râu dài phơ phất.

Đúng lúc ấy, từ công trường ẩm ướt hơi mưa, vọng lại một loạt tiếng nổ âm và rền... Ông Tư lẩm nhẩm không biết những câu gì, rồi chép chép miệng. Tôi vội vàng đứng dậy, đưa tận tay ông chén nước trà nóng, hãm đặc. Ông cười, lệch hẳn một bên miệng, nụ cười mừng rỡ mà vẫn khô héo thế nào, tôi không hiểu nổi.

- Cháu ngoan lắm, ngoan lắm! - Ông xuýt xoa khen, rồi đưa chén nước lên miệng, dè dặt nhấp từng tí một, như người thưởng thức vị trà chứ không phải uống trà.

- Tiếng nổ khá đấy chứ? - Ông tôi từ trong nhà nói vọng ra, giọng vẫn hồ hởi - Ông có đoán được bao nhiêu tấn thuốc nổ không? Mười sáu tấn đấy. Tất cả đều do bọn trẻ làm cả. Ngày xưa, ông cho nổ bao nhiêu tấn thuốc nổ một lần. Hả?

- ...

- Có dám cho nổ vào giữa lúc trời đang mưa rất to không? Hả?

- Ông cứ làm như tôi ghen ghét gì bọn thợ trẻ không bằng - Giọng ông Tư nhỏ nhẻ, từ tốn. - Ai làm được cái gì, tôi đều mừng cả. Tôi không biết thì tôi mới hỏi. Mắt mũi tôi thế này...

Ông Tư hự hự trong cổ, không ra nói, cũng chẳng ra cười, rồi lặng lẽ khua gậy về nhà.

Còn ông tôi thì đi vào gian buồng xép. Tôi nghe thấy tiếng đảo hòm lục cục. Tiếng búa đinh, lắc-lê, ê-cu chạm nhau, nghe khô và nặng. Nếu những dụng cụ ấy cũng có cảm giác thì chúng đến đau khổ vì sự xáo trộn liên hồi của ông.

Ông lấy thêm đồ nghề để đi làm. Dường như ông gò sai quy cách một tấm tôn, là tại chiếc búa ông dùng không quen vậy. Ấy là tôi nghĩ thế.

... CÒN TIẾP...

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 05.10.2013.