Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





TRƯỚC MÙA MƯA BÃO




Chương IV

              TRONG VÒNG CUNG HÌNH PHỄU - KỸ SƯ TRƯỞNG CƠ ĐIỆN


Hôm ấy, chúng tôi học tiết địa lý ngay cạnh dàn khoan trên công trường. Người giảng là kỹ sư trưởng. Chú bắt tay các chú thợ khoan lia lịa, rồi giơ tay chào chúng tôi, rất giống tư thế chào của đội viên thiếu niên tiền phong.

Người chú mảnh khảnh, trông bên ngoài có vẻ yếu ớt, nước da hơi xanh, dấu vết chưa tắt hẳn của những trận sốt rét rừng. (Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào thời kỳ ác liệt, chú đã rời vùng mỏ, đi đặt đường ống dẫn dầu ở Trường Sơn).

Chú đưa chúng tôi ra bờ moong. Ở đây, tôi nhìn được toàn cảnh công trường, trong một vòng cung cực lớn hình phễu. Những đám mây trắng, mỏng và nhẹ như lông thiên nga, bay phơ phất ngang sườn núi trước mặt, làm cho những cỗ máy khoan khi ẩn, khi hiện, trông giống những con thuyền đã hạ buồm. Tháp khoan như cột buồm nhô lên, trên màu mây mờ ảo, gợi lên trong tâm trí tôi, những mơ mộng xa xăm. Đó là những cỗ máy khoan xoay cầu hiện đại, mũi khoan được làm bằng thép hợp kim hạng nhất. Vậy mà, đã có nhiều mũi khoan như thế, bị quằn, bị mẻ, khi xoáy xuống những phay đá gan gà, lầm lì trong lòng núi trước mặt tôi kia. Dưới đáy moong, tôi đếm có đến chín cái máy xúc, nhác trông, có thể ví chúng với những con vịt bầu khó tính, hay động cựa, luôn luôn quay cổ từ bên này sang bên kia.

Từ những chiếc máy xúc dưới đáy, lên đến những máy khoan trên cùng, là con đường vòng, xoáy trôn ốc, không ngớt xe lên, xe xuống. Những chiếc xe Ben-la, màu xanh lá mạ, trông như con cào cào, chạy rất nhanh, chở đất đá bóc trên tầng, đổ ra bãi thải. Những chiếc xe gấu, màu đen trũi, trông như con kiến đất, cần cù và chắc chắn, chở than từ dưới đáy moong, chỗ có máy xúc, đổ ra máng ga, rồi từ máng ga, than trút xuống những toa xe lửa, chở ra cảng. Hoàn toàn không trông thấy bóng người. Nhưng tôi biết, con người có mặt ở khắp mọi nơi, trong cái vòng cung hình phễu cực lớn này. Nếu những chiếc xe, lên xuống có khoảng cách gần như đều nhau, trên con đường vòng xoáy trôn ốc, làm ta có cảm giác cái moong này, như một cái đèn kéo quân kỳ ảo, thì những người công nhân, chính là động lực, làm xoay chuyển cả cái đèn đó. Tôi cảm thấy lý thú khi liên tưởng như vậy.

Trong số chín cái máy xúc kia, có một cái do bố Cường lái. Bố Cường - ông Tư Máy Xúc - là một người lái giỏi, có năng suất rất cao. Ông điều khiển hai cánh tay gầu, (mỗi tay gầu bốn mét khối sáu, kể cả đất đá, nặng đến bảy tấn) nhẹ nhàng, linh hoạt, như hai cánh tay múa dẻo của cô văn công.

Cường rỉ tai tôi:

- Đằng ấy có biết chuyện này không?

- Chuyện gì? - Tôi tò mò hỏi.

- Chuyện máy xúc xúc máy xúc.

Tôi thành thực nói là tôi không biết.

Cường nháy một bên mắt, có vẻ vừa đoán xem, tôi nói như thế có thật hay không, vừa có ý chế nhạo tôi. Rồi nó kể:

- Mấy năm trước... à, ngày xửa ngày xưa, có một lần mưa to quá, lại mất điện, máy xúc chạy lên không kịp, bị ngập. Lúc đầu, thì ngập trong nước, sau rồi ngập trong bùn. Khi nước được máy bơm hút cạn, không ai trông thấy máy xúc đâu. Người ta nhớ vị trí cũ của nó, nhưng đào ngoáy mãi, vẫn không được. Nó biến đi đâu rồi. Làm sao nó lại tự di chuyển khá xa trong bùn được? Lạ thật! Cuối cùng, một chiếc máy xúc khác, xúc bùn đất lên xe, thì xúc ngay vào đầu "anh chàng". "Anh chàng" ngoi cái cổ lên, trông như con ngỗng khổng lồ bị chôn sống vậy...

Tôi hỏi:

- Ai kể cho cậu?

- Bố mình. Bố mình gửi thư về. Dạo ấy, mình học lớp ba sơ tán ở quê. Cái thư mình còn thuộc lòng. Giờ kể chuyện ở lớp, cô giáo bảo mình kể, thế là mình cứ đọc luôn cái thư cho cả lớp nghe.

Chẳng biết kỹ sư trưởng đang nói điều gì với thầy giáo tôi, mà tay hai người cứ nắm chặt lấy nhau. Thầy phác một cử chỉ, chúng tôi hiểu là cần phải quây gọn lại. Chúng tôi ngồi bên cây cột điện bằng sắt, lực lưỡng, trước mặt là đáy moong, ở trên nhìn xuống, cứ mờ ảo như một cái hang động lạ lùng nào đó, thấp thoáng bóng xe và máy xúc. Sau lưng, là con đường rẽ ba, lối xuống phố, lối ngoặt ra đầu đường bãi thải, lối lên tầng khoan, xe chạy cứ như mắc cửi. Bụi bốc lên mù mịt. Kỹ sư trưởng nói:

- Hằng ngày, chúng ta phải bơm ra biển, hàng ngàn mét khối nước. Và đấy, các cháu trông - chú giơ tay chỉ - chúng ta phải bơm chuyền.

- Y như ta tát nước gầu sòng, chuyền nhau ở đồng bằng vậy. - Thầy giáo tôi nhận xét.

Chắc là rất thích hình ảnh ấy, chú kỹ sư bỗng nhảy lên một bước, tí nữa thì xéo vào cái chân cò đang duỗi dài ra của thằng Cường. Chú túm lấy tay thầy giáo tôi, rồi nói to:

- Y như tát nước chuyền nhau bằng gầu sòng ở đồng bằng. Làm ăn như thế, thì không thể nào nước giàu dân mạnh được.

Chú nói tiếp:

- Chúng ta đã tính toán được, sức đẩy của nước, từ dưới lòng moong, sức nén của máy, đang hoạt động, xuống mặt phà, kể cả sức dồn của ba cột nước cao chín mươi tư mét, nếu máy đột ngột dừng lại, vì bất cứ lý do nào. Chúng ta cũng có những con số về lượng mưa để lại từ hơn năm mươi năm nay. Nghĩa là, chúng ta có đủ cơ sở khoa học, để chế tạo phà bơm, bơm hết được nước đáy moong, dù trời mưa với lượng nước lớn như thế nào. Nghĩa là, ngay dưới trời mưa, ngay sau ngày bão, chúng ta vẫn có thể xúc lên được những tấn than, ở độ sâu sáu bảy mươi mét dưới mực nước biển và ở ngay bên cạnh biển...

Giọng chú nhẹ nhàng, thanh thoát, có những âm tiết chú nhấn mạnh, lại có những âm tiết chú nói thoảng như gió. Thằng Cường bảo rằng, những người biết chơi đàn vi-ô-lông và hiểu âm nhạc thường có giọng nói du dương như thế. Không biết có đúng không? Chú gợi lên trong chúng tôi, những gì khao khát đến táo bạo. Và tất cả, mới chắc chắn làm sao, mới giản dị làm sao.


Chương V

               CƠN MƯA ĐẾN SỚM - TÌNH HNH RẤT NGUY - BỐ TÔI VÀ ÔNG TƯ MÁY XÚC


Điều bất ngờ là cơn mưa đầu tiên của mùa hạ, lại trút xuống vào đêm chủ nhật. Ngay cơn đầu tiên ấy, mưa đã rất to.

Hình như chính tiếng mưa rơi trên mái nhà và hơi lạnh của nước mưa, lùa qua cửa sổ, đã làm tôi thức dậy. Tôi quờ tay tìm chăn, kéo lên ngực, và ngay lúc ấy, tôi chợt hiểu rằng, có một điều gì thật hệ trọng đã xảy ra. Thế là tôi tỉnh hẳn. Tôi ngồi bật dậy.

Người duy nhất ở trong nhà, tôi trông thấy, là mẹ tôi. Mẹ tôi ngồi trên chiếc ghế đóng bằng gỗ hòm mìn, vẻ tư lự. Tôi thõng hai chân xuống đất, quờ quờ tìm đôi dép cao su.

Mẹ tôi hỏi:

- Con dậy đấy à? Dậy làm gì?

- Bố đâu hả mẹ? - Tôi hỏi lại.

Mẹ tôi đáp, giọng mệt mỏi:

- Đi lên công trường rồi.

- Bố đang ốm cơ mà!

- Ốm cũng đi. Thế...

Mẹ tôi bỗng ngừng lại. Cả tuần nay, anh Tĩnh tôi không thấy về nhà. Ông tôi chắc bây giờ còn ở đâu đó trên phân xưởng. Bố tôi, người cao dỏng, hơi gầy, sức vốn đã không được khỏe, lại bị cảm cúm đã ba bốn hôm nay. Chắc mẹ tôi lo cho bố tôi lắm. Nhất là đêm khuya, mưa gió thế này...

Mưa vẫn như tát, như té. Nước ràn rạt trên mái nhà. Nước ùng ục chảy xuống cống ngầm. Nghe rõ cả tiếng nước từ trên tầng cao, đổ ào ào xuống bên kia bãi thải. Một tia chớp xanh lè, ráo hoảnh, chạy vụt qua trước nhà, như làn roi quất. Cây thông cao vút và cô độc, chợt hiện lên đột ngột rồi mất hút. Và sấm. Sấm dội lên như tiếng bom. Sấm lồng lộn trên bầu trời, sôi sùng sục.

Thời tiết những năm gần đây, thay đổi rất thất thường. Năm ngoái, giữa mùa hè, bỗng có gió đông bắc lạnh, làm tôi bị viêm họng. Giữa mùa đông vừa qua, bỗng đổ một cơn mưa rào, chớp chạy tràng cày và sấm nổ ùng oàng. Lại có cả sét mới lạ chứ. Tiếng sét gần, sáng choang, chói gắt, làm rung bần bật các cánh cửa sổ. Các cơn bão mùa thu, phá vỡ quy luật mà tôi học về bão trong chương trình địa lý. Ngay trong một cơn bão, đường đi cũng luẩn quẩn và cuối cùng, đổ bộ vào nơi mà nó không định trước. Tài giỏi như Tổng cục khí tượng, cũng nhiều lần đoán sai. Chắc bố tôi không lường được cơn mưa đến sớm này. Điều gì đã xảy ra, chắc phải hệ trọng lắm. Nếu không, đang đêm mưa gió thế, lại bị cảm cúm, bố tôi đã chẳng khoác áo ra đi...

Mẹ tôi vẫn ngồi tư lự. Một chút buồn phảng phất trên gương mặt mẹ. Lần đầu tiên, tôi nhận ra ở thái dương mẹ những sợi tóc đã bắt đầu bạc từ chân tóc đến lưng chừng...

Tôi hỏi:

- Có việc gì xảy ra trên công trường hả mẹ?

- Chắc có.

- Con chỉ lo những chiếc máy xúc ở dưới đáy moong không lên kịp thôi.

- Không mất điện thì không sợ, con ạ.

Mẹ tôi nói thế, nhưng tôi cảm thấy trong giọng nói của mẹ, có cái gì không hẳn như vậy. Tôi chợt nhớ lại câu chuyện "máy xúc xúc máy xúc" mà Cường kể. Khi ấy, đáy moong còn ở độ sâu cao hơn mực nước biển. Thế mà sau trận mưa, cả cái vòng cung hình phễu (tất nhiên hẹp hơn và nông hơn bây giờ nhiều) mênh mông nước, như một cái hồ lớn ở lưng trời.

Tôi đứng dậy, mở cửa sổ, nhìn vào quầng điện sáng đục của công trường, qua màn mưa. Không biết từ bao giờ, tôi đã yêu cái quầng sáng ấy. Mưa vẫn rơi ràn rạt. Chớp chạy nhì nhằng hình rễ cây. Từ sau chóp núi trước mặt, vọng lại một hồi sấm vang rền.

Chính lúc ấy, tôi nhận ra bóng dáng cao to lực lưỡng của ông tôi. Ông đang sải những bước nhanh từ đường cái rẽ vào lối về nhà. Ông vẫn đội chiếc mũ lá mà tôi quen thuộc từ thuở nhỏ, chỉ khác là ông khoác cái áo bạt của ai quá ngắn, chưa đến đầu gối, đôi chân để trần. Trông ông từa tựa như ông Táo Quân mà người ta thường vẽ vào dịp Tết.

- Ông về đấy, mẹ ạ. - Tôi nói.

- Có bố không?

- Con không thấy. Ông bước nhanh lắm.

Mẹ tôi đứng dậy, bước vội về phía cửa sổ. Nhưng lúc ấy, ông đã khuất sau dãy nhà kho to bè của xí nghiệp xây lắp mỏ.

Mẹ tôi chưa kịp quay lại, thì ông đã đẩy cửa bước vào. Ông treo chiếc áo mưa bằng vải bạt lên cái đinh thuyền đóng ở cạnh cửa ra vào, nước rỏ giọt xuống tí tách. Thì ra ông mặc quần cộc. Chiếc quần dài ông cuộn tròn cắp vào nách.

- Sao mẹ con mày chưa đi ngủ? - Ông hỏi.

- Nhà con có trên ấy không ông? - Mẹ tôi hỏi.

- Có.

- Mưa đầu mùa độc lắm, mà nhà con lại đang ốm.

- Không sao! Không sao! - Ông tôi cười khà khà.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhớ như in, gương mặt đẫm nước mưa và tiếng cười khà khà của ông tôi. Tiếng cười hồn nhiên, đôn hậu và tự tin, khiến mẹ tôi yên tâm. Mẹ tôi loay hoay pha trà cho ông, nhưng ông xua tay:

- Thôi. Đi ngủ. Khuya rồi. Tao cũng mệt lắm!

Tôi vội hỏi:

- Ông ơi, những chiếc máy xúc có leo qua cơn lũ mà lên được không ông?

- Mày hỏi làm gì? - Ông tôi bỗng trợn mắt lên, quát - Ngủ! Không hỏi lôi thôi.

Nhưng khi vào buồng xép rồi, ông lại nói vọng ra:

- Mẹ thằng Tĩnh này. Đầu đường chỗ Đá Chồng mưa xối lở hết rồi...

Mẹ tôi nhỏm hẳn dậy:

- Ông đi qua chỗ ấy à?

- Ừ. Sao làm xong đường không rải nhựa luôn đi?

- Thiếu nhựa, ông ạ. Ở góc phía bắc, có sạt không ông? Con không lo lở, mà chỉ lo sạt...

Ông tôi cựa mình, và thay cho câu trả lời, ông bắt đầu ngáy. Tiếng ngáy lúc đầu còn nho nhỏ, như người rên, rồi sau to dần, to dần, nghe nồng nồng như tiếng cối xay lúa...

Mẹ tôi đứng bần thần một lúc, ngó ra trời mưa, rồi lặng lẽ đi vào buồng ngủ.

Tôi nằm trằn trọc mãi, vẫn không sao ngủ được. Qua cửa sổ khép hờ, tôi vẫn nhìn thấy quầng sáng màu nhôm trên công trường của bố tôi. Cái quầng sáng ấy lúc này cứ gợi lên trong tôi, những gì bí ẩn và trắc trở. Có một điều gì đó đã xảy ra. Chắc hệ trọng lắm. Nếu không, bố tôi đã chẳng khoác áo mưa ra đi, lúc chưa lui cơn sốt. Tôi biết chính bố tôi đã được giám đốc ủy nhiệm, ký một số lệnh đặc biệt, để xử lý các tình huống khi mỏ có mưa bão. Lệnh đó khi thì viết tay, khi thì in ở nhà in rồi dán lên các bức tường.

Có một điều gì đó nhất định đã xảy ra...

Tôi lồm cồm bò dậy, rón rén xỏ chân vào đôi dép cao su, rồi không để có một tiếng động, tôi lặng lẽ bước ra ngoài, lòng yên tâm vì mẹ tôi không hề biết. Mưa đã ngớt. Gió như ngừng hẳn. Màu mây lờ lờ đục như nước hến. Cuối chân trời, trên mặt vịnh Bái Tử Long, một vài ngôi sao rời rạc hiện lên như tăm cá.

Nước ùng ục chảy xuống cống ngầm. Nước trên tầng cao ào ào đổ vào bãi thải. Mặt bãi rất rộng, nước đọng từng vũng, đen kịt màu than. Con đường trũng vết chân người, vắt chéo, trắng nhờ nhờ, nước chảy thành dòng, xéo lên lõm bõm. Nhái nhảy loạn xạ. Những con gì không rõ, kêu kẹc kẹc, kẹc kẹc...

Tôi bước lên đoạn đường dốc. Vắng vẻ quá. Đó là dấu hiệu không lành của mỏ. Đáng lẽ phải có những chiếc xe gấu, lặc lè chở than ra, những chiếc xe bò tót chạy vào, thùng xe rỗng, xóc nẩy lên khi đường có ổ gà. Trên đầu đường tầng cao, đáng lẽ phải lòa lòa sáng, những ánh đèn pha của xe Ben-la chở đất đá. Đêm đêm, mỗi loại xe của mỏ chạy theo một tuyến đường riêng. Tiếng xe đi nghe như luồng gió thổi. Đấy là ở xa. Còn ở gần công trường thế này, mà không nghe thấy tiếng máy khoan, tiếng máy gạt, là ra làm sao? Nếu không có ánh điện vẫn còn tỏa sáng từ các cột đèn đường thì... thực là khủng khiếp. Chỉ có ai ở mỏ mới cảm thấy trống trải đến rùng mình, đến rỗng hết cả trời đất và ruột gan, khi tai không nghe thấy những tiếng động ầm ì, chát chúa. Tôi chợt nhớ đến Cường và ước mơ trở thành thợ điện của nó. Trước mắt tôi, hiện lên trạm điện ba mươi lăm ki-lô-vôn, và âm thanh đầu tiên tôi nghe thấy, là tiếng kỹ sư trưởng cơ điện, quát rất to vào ống nói:

- A-lô... Đồng chí giám đốc đấy phải không? Kỹ sư trưởng cơ điện đây. Vâng. Báo cáo, tôi đã có mặt tại trạm điện, theo lệnh của đồng chí. Điện vẫn tốt. Hiện nay, điện vẫn tốt. Vâng. Vẫn tốt. Tôi đã cho kiểm tra cầu dao và các biến thế, đã phân công người trực các đầu mối, đề phòng có sự cố. Vẫn tốt. Thưa đồng chí, vẫn tốt. Vâng, nhưng đồng thời, tôi cũng đã cho chuẩn bị gấp, máy phát điện tự động, để đề phòng bất trắc. Vâng, đề phòng bất trắc. Vâng... Vâng... không cần đến năm phút. Xin đồng chí ba phút thôi. Nếu có sự cố, chỉ cần ba phút sau, điện sẽ liền mạch, đảm bảo cho máy bơm và máy xúc... Vâng... Vâng... cám ơn đồng chí... Alô... Alô... cho gặp EKG 9. Cho gặp máy xúc EKG 9. Có liên lạc được không? Vì sao? Vì sao? Hả? Hả? Vì sao?...

Tôi cũng muốn biết vì sao, với sự tò mò không sao kìm nổi, nhưng làm sao tôi nghe được tiếng nói từ đầu dây bên kia. Tôi vội chạy qua đỉnh dốc, ngó vào phòng điều vận công trường. Trong phòng, một chú kỹ sư tôi không quen, đang ngồi bên máy nói, tay hý hoáy ghi chép. Mặt chú bình thản như trên đời này không có chuyện gì xảy ra. Không thấy có bố tôi. Tôi chạy ra bãi khoan. Ở đấy có một nhóm người đang cúi xuống xem một vật gì. Tôi đến gần. Thì ra là một cái ti choòng(1) bị gẫy kẹt dưới đáy lỗ khoan, vừa được câu lên. Bùn đất ngập ngụa. Người nào người ấy lấm bê bết, y như nông dân làm thủy lợi. Trời nắng, người thợ khoan đã lấm láp rồi, kể gì trời mưa, lấm bê bết là lẽ đương nhiên. Không thấy có bố tôi.

Tôi chạy ra bờ moong. Một bóng người loắt choắt trong chiếc áo mưa rộng thùng thình, chạy đến và tôi nhận ra ngay là Cường.

Tôi hỏi:

- Cậu lên từ bao giờ?

- Lúc còn đang mưa to.

- Chắc nước từ trên núi phóng xuống khiếp lắm.

- Như hàng trăm con mãng xà vương.

- Bố cậu đâu?

- Đáy moong. Đang cứu máy.

- Cậu có thấy bố mình không?

- Có. Cũng ở dưới ấy.

Chúng tôi chạy xuống moong, theo con đường rộng, xoáy trôn ốc, dành cho các loại xe tải. Nước vẫn chảy tràn trên mặt đường, rồi theo các rãnh ngoằn ngoèo, lao xuống lòng moong, như những con rắn hung hãn cực lớn. Nhiều đoạn đường đã bị nước phá hủy, trơ ra những hòn đá bố, đá ông, đá cụ, lởm chởm. Có đoạn đã sạt hẳn. Tôi biết mẹ tôi và tổ làm đường của mẹ đã phải vất vả như thế nào để có những đoạn đường này. Những đoạn đường sâu dưới mực nước biển, chịu được sức nén của những chiếc xe năm mươi tấn, đang lên dốc, bánh xe cao một mét sáu lăm, cày siết xuống đất bụi. Nước đã ngập đến một phần tư moong. Chắc chiếc máy bơm ở tầng cuối cùng đã chạy được lên rồi, nếu không thì hẳn đã chìm.

Những chiếc máy bơm khác nối nhau theo kiểu gầu sòng, vẫn hoạt động tốt, nhưng hoàn toàn không đủ sức, guồng lên hàng chục triệu khối nước đang ứ đầy. Nước vẫn đang dềnh lên, ngập lênh láng tầng bè... Tôi chợt nhận ra ông thứ trưởng, đã từng đến nhà tôi, lội lóp ngóp trong bùn. Ông khoác áo mưa nhưng không đội mũ. Những giọt nước mưa thưa thớt táp vào mặt ông. Thỉnh thoảng, ông lại phải lấy tay vuốt mặt. Sau ông là chú giám đốc và vài người nữa tôi không biết tên. Cường bấm tay tôi. Chúng tôi lên tầng trên, cùng ngồi xuống một tảng đá hộc to tướng.

Dưới moong lúc này càng rất vắng vẻ. Ai không hiểu nghề mỏ, sẽ cho là chẳng có chuyện gì xảy ra. Trừ một bóng người cúi lom khom bên cái máy bơm đang nổ giòn giã, dăm ba người khoác áo mưa đứng túm tụm bên mép nước, hai cái máy xúc, trông như hai con ngỗng đang động cựa, còn thì hoang vắng đến mức lạ lùng.

Tôi sốt ruột hỏi Cường:

- Này, tại sao hai cái máy xúc kia cứ xoay xở mãi không lên được?

- Nước. Nước đang đùn lên đấy thôi. Máy thì nặng. Đất thì lở. Đường thì nhão thành bùn.

- Ai lái hai máy xúc ấy?

- Ơ, thế đằng ấy không biết à?

- Không.

- Bố mình và bố đằng ấy đấy!

- Thật à?

- Thật - Cường chậc lưỡi một cái.

Tôi nhìn vào mặt Cường và biết là nó nói thật. Bố Cường là người lái máy xúc nổi tiếng. Khi làm việc, mọi động tác của ông đều chính xác, linh hoạt, khoan thai, không có động tác thừa. Năng suất của ông cao hơn hẳn những người lái máy xúc giỏi khác. Ông hết sức dìu dắt các bạn thợ, nhưng vẫn không ai bằng ông. Có lẽ vì ông có sức khỏe hơn người. Ông thường làm hai mươi tám, hai mươi chín công hằng tháng và không bao giờ phải rỏ những giọt nước mũi vì cảm cúm, như ông nói. Ngày mười lăm tháng mười một năm 1968, ông là một trong số những người thợ mỏ được gặp Bác Hồ ở Phủ Chủ tịch. Ngày ấy bây giờ thành ngày hội vẻ vang của vùng mỏ, sau ngày đình công thắng lợi mười ba tháng mười một năm 1936. Đối với ông, đấy là một kỷ niệm đẹp nhất mà ông vẫn tự hào. Từ ấy, tên ông được mọi người kính trọng, ghép với tên nghề là ông Tư Máy Xúc.

Bố tôi, nguyên là thợ cơ khí. Do yêu cầu của mỏ, bố tôi học lái máy xúc và học cả khoan nổ. Người ta gọi bố tôi là con dao pha. Nghĩa là bố tôi làm việc gì cũng được, và việc gì có bố tôi, thì kết quả cũng tốt hơn. Bố tôi đi học hàm thụ đại học bách khoa và đỗ kỹ sư cách đây bốn năm. Sau đó bố tôi được đề bạt làm phó giám đốc, nhưng vẫn phụ trách công trường, nơi bố tôi đã bổ nhát cuốc chim đầu tiên từ năm 1956, khai sinh ra mỏ mới này.

Tôi không ngạc nhiên, khi biết bố tôi là một trong hai người lái chiếc máy xúc cuối cùng từ lòng moong bị ngập nước. Tôi hỏi Cường:

- Cậu có chắc máy xúc lên được không?

- Chắc.

Tôi cầm tay Cường đứng dậy:

- Xuống đi. Mình sốt ruột lắm.

Hai chiếc xe bò tót vội vã lao qua trước mặt chúng tôi. Chẳng khó khăn gì để nhận ra, người lái chiếc xe thứ hai là anh Tĩnh tôi, nhờ cái dáng anh ngồi trong buồng lái và nhất là tiếng còi xe, như được vuốt dài ra cho đỡ chói gắt. Tôi giơ tay ra hiệu, nhưng anh không để ý là có tôi ở dưới lòng moong. Anh dốc ben, đổ đá xuống sát mép nước, rồi đánh tay lái, cho xe ra tầng ngang, lên dốc, theo con đường phía bên kia. Những người khoác áo mưa, ném đá xuống chỗ ngập, lót đoạn đường đã bị bánh xích máy xúc ngoáy vữa ra như cháo. Nước đã ngập gần đến bụng chiếc máy xúc thứ nhất. Xung quanh máy, nước sục lên như đang sôi. Chiếc máy xúc cựa quậy một cách nặng nề, khó nhọc. Tôi cảm thấy hơi thở của nó phả vào mặt tôi, hổn hển và nóng hổi như hơi thở của con người. Nước chỉ dâng lên độ một gang tay nữa, là nó sẽ chết máy. Mà tôi như nhìn thấy nước đang dâng lên, loang loáng trên vành xích máy xúc. Nguy đến nơi rồi. Nếu bây giờ một bộ phận nào đó, một chiếc đinh ốc ở ổ máy chẳng hạn, bị long ra, là máy có thể bị đứng, không còn thì giờ sửa chữa. Hoặc mất điện. Chỉ mất điện độ dăm phút. Có rất nhiều lý do để mất điện. Tết năm ngoái, một con rắn cạp nong rất lớn, từ núi đá lao vào, nằm vắt ngang đường dây cao thế. Một tiếng nổ ở cầu dao. Cả vùng mỏ mất điện, đúng lúc giao thừa. Xe con, mô tô, khẩn cấp phóng đi... Té ra, mất điện chỉ vì một con rắn. Hoặc là, một sự cố nào đó, ai mà biết được. Chỉ mất điện chừng dăm phút, nước sẽ ồ vào ổ máy. Nước sẽ dìm xuống đáy moong sức lực của “ba ngàn người.” Rồi mùa khô sang năm, lại "máy xúc xúc máy xúc". Tôi bứt rứt không sao chịu nổi.

Chiếc máy xúc như cũng có cảm giác ấy. Nó loay hoay, bực dọc. Không ai có thể đẩy và kéo nó lên được. Cái sức thủ công của con người lúc này hoàn toàn bất lực. Nó gầm rít, nó kêu la. Nó biết nó sinh ra từ trí tuệ của nhiều người, nhưng nó cũng biết nó sống được, hoạt động được, chỉ nhờ trí tuệ của một người thợ. Nó kiên trì, kiên trì dò đường, thận trọng và nóng nảy, xoay trở và quẫy đạp. Sùng sục nước. Ngùn ngụt hơi. Nó trườn lên, tụt xuống, trườn lên. Và, và... một sức mạnh vô hình cực lớn nào đó bỗng nhập vào nó, như sức dồn nén của một cái lò xo, như sức đẩy của một đầu đạn, nó rồ lên một tiếng quái dị và hoang dại, rồi leo lên hàng đá lót đường. Và vẫn giữ nguyên cái sức mạnh điên khùng ấy, nó vùn vụt lao lên như một cái xe tăng...

Tất cả thở phào, nhẹ nhõm. Hai người khoác áo mưa vội vã bê hai hòn đá chạy theo. Lúc thường, khó lòng có sức khỏe để bê hòn đá to như thế, và chạy nhanh được như thế. Khi chiếc máy xúc đã hết đà lên, hai hòn đá kê luôn vào phía sau bánh xích, và sức nặng hai trăm mười tấn của nó đè xuống. Nghe "xèo" một tiếng như tiếng của hòn than nóng nhúng vào nước. Và nó dừng lại. Người lái bước ra, thân như bị vuốt dài, mỏng mảnh, mặt tái nhợt, mồ hôi đầm đìa. Bố! - Tôi chợt kêu lên, nhưng bố tôi không nghe thấy. Bố tôi không nhìn thấy tôi. Bố tôi như cũng không nhìn thấy ai, bước đi lảo đảo, dáng cao và mềm như cái cây bạch đàn bị bão, đã tướp hết lá. Hai người đi sau vội chạy đến, dìu bố. Chiếc xe con của giám đốc lao đến. Người ta xốc nách bố tôi, đưa vào trong xe. Trông người bố tôi mềm oặt. Xe nổ máy lao đi...

Tôi vội túm một chú công nhân đứng gần, hỏi dồn:

- Bố cháu làm sao thế ạ?

Chú nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi cười:

- Về ngủ đi chứ! Mai có đi học không?

Rồi chú nghiêm sắc mặt, chậm rãi nói thêm:

- Lần sau đừng có liều lĩnh mà đi như thế này nhé. Đêm mưa mỏ, nguy hiểm lắm.

Tôi lại hỏi dồn:

- Bố cháu có làm sao không?

- Không.

- Thế xe đưa bố cháu đi đâu thế?

- Về nhà an dưỡng mỏ.

- Bố cháu đang ốm đấy.

Chú bỗng quát to:

- Về ngủ đi, hai "ông tướng"!

Lúc ấy, tôi mới nhớ đến Cường. Nó vẫn đứng sát bên tôi.

Chiếc máy xúc thứ hai tránh được ổ lầy của cái trước. Nó đã lần được lên đoạn đường lót đá. Chậm rãi và chắc chắn, nó nhích dần từng bước và vượt lên từ từ. Ông Tư cho máy xúc lên ngang tầng trên, rồi mới nhảy ra. Trong đêm nay, ông đã lái lên ba, trong số chín cái máy xúc của cả mỏ, từ dưới lòng moong bị ngập nước. Ông bước đi thanh thản, nhẹ nhàng như những công việc nặng nề, chưa hề làm giảm sút được sức lực của ông. Dáng ông to lớn, nổi bật trên nền trời vần vụ của vịnh Bái Tử Long.

Cường chia tay tôi, cùn cụt chạy theo bố nó.

Mưa đã tạnh hẳn. Nước từ các triền núi chảy theo các rãnh ngoằn ngoèo, vẫn ồ ồ đổ xuống lòng moong. Điện vẫn mờ mờ sáng. Đáy moong bỗng chốc huyền ảo, vừa quen thuộc lại vừa xa lạ. Không còn chiếc xe nào chạy trên đường. Những cỗ máy khoan đứng im như những con thuyền bị mắc cạn. Các lỗ khoan chắc còn ong õng nước. Trong phút chốc, mỏ đã bị ngừng trệ. Mỏ sẽ phải vất vả nhiều ngày mới khôi phục được mức sản xuất cũ. Tôi chợt nhớ đến chiếc phà bơm đang được thi công, và những lời nói đầy nghị lực của chú kỹ sư trưởng.

Tôi bước lên đỉnh dốc, tìm con đường tắt để về nhà. Phía tây, những đám mây cuồn cuộn đen như những đụn khói bom chưa tan. Chân trời phương Đông, trăng đã sắp hiện lên, mặt biển rừng rực như có đám cháy lớn.


... CÒN TIẾP...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 27.9.2013.