Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Chợ Quê
tranh của họa sĩ Lâm Chiêu Đồng







XÓM CHỢ VẦU





Bốn chục năm rồi tôi mới có dịp về thăm lại cái xóm chợ xửa xưa này. Xe tôi dừng ngay bên cửa chợ. Bên cạnh cửa chợ là tấm biển khá to “Làng văn hóa” treo trên một cổng chào hoành tráng. Đang buổi ban trưa, đường quê người xe vẫn lại qua tấp nập. Tôi cứ đi đi lại lại, hết nhìn ngang ngó dọc rồi ghé vào hỏi người nọ người kia. Dân xóm chợ chẳng ai biết về những gì tôi hỏi và cũng chẳng hiểu vì sao tôi lại lang thang như kẻ mộng du. Mà thật sự thì cái xóm nhỏ xa xưa cũng đã hoàn toàn trở nên lạ lẫm với một ông già thất thập là tôi. Xóm đã to rộng hơn, sáng sủa hơn và cũng xô bồ hơn. Mặt đường tỉnh lộ đi qua cổng chợ giờ đã thành phố thị khang trang. Cũng tạp hóa, cũng sắt thép xi măng, cũng hàng ăn, cũng quầy giải khát … Một cao ốc to đùng mà tầng trệt chứa hàng trăm xe máy đủ loại đủ màu chẳng khác gì Hà Nội. Rồi quán karaoke, khách sạn mini, nhà khách, nhà nghỉ, cái thấp, cái cao, cái tênh hênh, cái nép mình kín đáo. Xóm Chợ Vầu là đây ư? Tôi tìm nhầm địa chỉ rồi chăng? Không, tôi không nhầm. Cây đa ngoài cửa chợ vẫn sừng sững, bóng trùm một khoảng rộng mênh mông. Cái cổng chùa mốc meo còn đó và cái ao bèo dọc theo tỉnh lộ dù bị san lấp nhôm nhoam nhưng vẫn còn kia. Lần mò mãi rồi tôi cũng tìm được lối mòn ngày xưa tôi từng đi lại. Xóm hầu như đã hoàn toàn đổi khác vì nhiều ngôi nhà mái ngói mái bằng, điện giăng chằng chịt. Một nửa xóm còn lụp xụp, nhưng một nửa đã như thành phố. Một trạm máy xay và một xưởng cưa ầm ầm máy rít. Ngôi nhà tranh mà ngày xưa tôi trọ giờ là một ngôi lầu ba tầng hoàn toàn lạ hoắc, chủ cũ cũng không còn. Nghe nói ông chủ cũ đã mất, còn người con trai duy nhất thì đã chuyển vào trong Đắc Lắc làm ăn. Hỏi địa chỉ người con nhưng không ai biết. Một nỗi buồn vu vơ xâm chiếm lòng tôi. Định về thăm lại cảnh cũ người xưa mà hoàn toàn hụt hẫng.

Gần về chiều, tôi tìm tới ngôi đình mà ngày xưa chúng tôi mượn làm Văn phòng trong thời về sơ tán. Ngôi đình hơi khác xưa vì phía trước là vườn cây đã được mở rộng thành một cái sân phơi thuở còn hợp tác. Có mấy người lớn tuổi đang quét dọn lau chùi và bài trí đình làng vì mai là ngày vào hội. Không biết lễ hội có từ bao giờ vì hồi tôi về sơ tán đâu có hội hè gì. Sự sung túc đã sản sinh ra lễ hội? Một người đàn ông trạc ngoại năm mươi, thấy người lạ đã chủ động hỏi thăm. Tôi tự xưng là dân làng đi tha phương cầu thực lâu ngày về thăm lại làng xưa. Tôi nhận là người nhà ông Bát ở xóm Vầu. Anh ta không biết ai nhưng vẫn rất tin là người cùng xóm. Tuy vậy cho đến lúc chia tay tôi cũng không biết thêm được gì nhiều về cái làng Tre, xóm Vầu cũ xưa, vừa quen thuộc mà vừa như lạ lẫm này.

Dạo ấy, suốt từ đầu hè cho tới cuối đông năm 1972, cái năm cuối cùng của cuộc chiến tranh ở miền Bắc, tôi đã cùng cơ quan về sơ tán nơi đây. Ở thập kỷ 70 của thế kỷ 20 mà một vùng trung du cách Hà Nội không quá xa lại dường như cách biệt về thời gian tới cả trăm năm! Xóm nhỏ nằm kẹp giữa hai ngọn đồi thoai thoải, chỉ chừng độ ba bốn chục nóc nhà tranh, cái xiêu cái vẹo. Trung tâm xóm là một chợ quê rộng bằng mảnh sân phơi. Chợ chỉ họp vào sáng sớm tới non trưa với vài mặt hàng nông sản như rau, khoai, muối mắm. Nhưng chợ này cũng nổi tiếng gần xa về “đặc sản” rượu ngô, rượu sắn. Một nửa chợ là dành cho hàng rượu, hơn chục sạp hàng. Cũng lạ, rượu nhiều như vậy mà sáng nào người ta cũng bán hết sạch trơn. Trai tráng quanh vùng hầu như vắng bóng bởi chiến trường đã động viên ào ạt, chỉ còn ông già, phụ nữ và trẻ em. Bom đạn vẫn rơi, sự sống cứ như chỉ biết được từng giờ từng phút. Tất cả dường như bị cuốn hút vào cuộc chiến tranh hủy diệt. Vậy mà rượu ở đây vẫn chảy ào ào. Thỉnh thoảng lại nghe lệnh cấm rượu nhưng chỉ như gió thoảng qua, ít ngày rồi cũng bằng không. Cán bộ xã thôn lo sản xuất, lo đào hầm, lo bao nhiêu thứ, còn sức đâu mà đi dẹp rượu! Trong khi cả xóm cả làng đã uống rượu thành quen. Rượu dường như là một chất phụ gia trong huyết quản người ta, không có nó thì máu không thể chảy!

Ngày ấy máy bay Mỹ liên tục dội bom Hà Nội và các vùng phụ cận. Cơ quan tôi sau khi di chuyển nhiều nơi mới về trụ lại nơi đây. Chúng tôi phân tán về ở nhờ trong các nhà dân. Nhà nào cũng chật nên thường mỗi hộ chỉ nhận cho ở một hai người. Tôi được phân về ở nhà ông Bát. Ông Bát hơn tôi chưa đến một giáp nhưng râu ria lờm khờm nên có vẻ hơi già. Đáng lẽ nên gọi là anh nhưng khi gặp lần đầu tôi tưởng ông già nên đã gọi ông là bác, sau thành quen. Chỉ có điều là dần dần tôi chuyển từ xưng cháu sang xưng em. Ông Bát sống cùng một thằng con trai 12 tuổi, đang học lớp 5 trường làng. Thằng Tân rất nghịch nhưng là nghịch ngầm sau cái vẻ lầm lì nhẫn nhịn. Mẹ thằng Tân đã bỏ “theo trai” không còn tin tức. Ngược với thằng con, ông bố rất tinh ranh, uống rượu như hũ chìm, đánh bạc như con nghiện. Được cái là ông Bát thường vui tính và luôn cởi mở. Ông đã từng đi dân công trong Chiến dịch Điện Biên, bị ngả què chân, bây giờ bước đi chân cao chân thấp. Ông vui tính và luôn tỏ vẽ bất cần. Sống với bố con ông tôi cũng thấy thoải mái như ngay chính nhà mình. Hàng ngày tôi ra đình làng làm việc. Ở đây làng đã bố trí cho chúng tôi sử dụng hai gian chái và một nhà ngang. Cái đình khá to với những cột lim tới cả người ôm, bóng đen, cũ kỹ nhưng vững bền chắc chắn.

Một lần vui chuyện, ông Bát kể cho tôi nghe về “sự tích” ngôi đình. Ông cũng chỉ nghe người già kể lại. Trước đây mấy chục năm, xóm Vầu và cả làng Tre này nghèo kiết nên không dựng được đình. Trong khi đó cách một quảng đồng rộng có làng Trúc rất giàu, có cái đình to, dân họ lại hay khoe khoang kênh kiệu, dè bĩu làng Tre. Rồi một hôm, sau một trận hai làng xẫy ra xô xát, trong khi ấm ức cả làng Tre đã nghe theo lời một người đề xuất là đi … cướp đình làng Trúc! Chẳng hiểu từ đâu mà cái đề xuất động trời này lại được cả làng nhất trí hùa theo. Vậy là họ tổ chức vạch kế hoạch, điều tra cẩn thận, bố trí lực lượng rất chu đáo và có bài bản hẳn hoi. Vào một đêm rét mướt tối trời, cả làng rầm rập vượt đồng kéo đến làng kia. Một toán người được phân công đánh trống khua chiêng, la hét ầm ầm, làm náo loạn cả cái làng Trúc mắc nạn ấy. Dân làng Trúc sợ chết khiếp, im re, cửa đóng then cài, không dám ho he động cựa . Một toán khác xông thẳng vào đình rỡ ngói, tháo cột tháo kèo, rui mè, gạch đá. Chỉ trong thoáng chốc ngôi đình chỉ còn là bãi trống. Tất cả lại cùng nhau khiêng vác số “chiến lợi phẩm” mang về làng mình như là đi hội vậy. Mấy hôm sau thì làng Tre đã có một ngôi đình bề thế như ai. Cũng lạ là sau cái chuyện tày đình ấy mà mọi việc vẫn lặng im, chẳng thấy Tây Tàu xét hỏi điều tra gì cả. Ngôi đình đã có từ non thế kỷ, giờ vẫn còn đây. Chuyện thật khó tin! Ông Bát nói đùa hay nói thật? Với tôi, sau khi sống ở làng này vài tháng thì thấy có một phần câu chuyện đáng tin. Nguyên do là thế này: Làng Tre có một “truyền thống” rất lạ lùng là hành nghề … ăn trộm! Ở đây người ta coi chuyện trộm cắp là bình thường như đi đánh cá bẫy chim, như mọi việc làm ăn thường nhật. Cả làng hầu như đều từng trộm cắp, dù chuyên hoặc không chuyên. Người nọ trộm của người kia và cũng chính họ bị người kia trộm lại. Con gà, buồng chuối cứ hở ra là mất. Đến đôi quang đòn gánh mà cũng phải khóa trong buồng. Đấy là chưa kể đêm đêm họ thường đi “làm ăn” ở những làng xa. Mỗi lần bị mất trộm, các bà các mợ cũng chu chéo chửi vang làng, nhưng chỉ là để trút cơn bực tức mà thôi. Họ thường chỉ tự trách mình … sơ hở! Ngay như ông Bát nhà tôi ở cũng thường đi ăn trộm. Những lúc thấy trong nhà thiếu thốn thứ gì là ông tự “khắc phục” bằng cách đi ăn trộm. Trộm được thức gì về là ông lại “vô tư” đem khoe, mặt mày rạng rỡ. Tôi còn nhớ, hôm ấy là ngày mười bốn âm, trước rằm tháng bảy, một ngày tết quan trọng trong năm. Sau một hồi bứt rứt ngồi im, bỗng ông nói với tôi:

-Chú Xuân ạ, mai là rằm tháng bảy mà hôm nay bố con tôi đến hột gạo cũng không còn. Tôi phải trù tính cách gì đây?

Cứ tưởng là ông ấy tính việc đi vay mượn ai đó nên tôi ái ngại cho ông. Mà cán bộ quèn đi sơ tán như tôi thì lấy đâu ra tiền để cho ông vay mượn lúc khó khăn này? Một lát sau ông nói:

-Nhưng không lo chú ạ. Mai khắc có cái cúng rằm thôi!

Nói đến đó rồi ông phá ra cười, một tràng cười sảng khoái vô tư, cười như một đứa trẻ con.

Buổi sáng tôi dậy, ra giếng đánh răng thì thấy ông chủ nhà đang hí húi vặt lông một con ngan to tướng. Bên cạnh là rá nếp đã vo, đang chờ ráo nước. Thấy tôi, ông toét miệng cười, lại còn nháy mắt. Còn tôi thì đứng như trời trồng, mắt tròn mắt dẹt, chẳng biết nói gì. Trước lúc tôi đi làm ông chỉ dặn độc một câu “chú nhớ cắt cơm, trưa về ăn rằm cùng bố con tôi”. Nhưng trưa ấy tôi không về. Chẳng nhẽ tôi lại đi ăn những thứ đồ ăn trộm? Ông Bát giận tôi đến mấy ngày.

Ông Bát tuy sống với con trai nhưng hóa ra ông cũng còn có một bà vợ. Một hôm tôi về nghỉ trưa thì thấy một bà sồn sồn từ trong buồng đi ra, vừa đi vừa vấn tóc. Tôi chưa kịp phản ứng gì thì thấy ông Bát vội ra theo. Ông giới thiệu với tôi đó là vợ ông nhưng không nói rõ hơn. Cũng chẳng biết là vợ thật hay vợ hờ vì bà ta sống ở làng bên. Bà Chén làm nghề bán rượu nên ngày nào cũng đến chợ Vầu. Cách vài buổi chợ bà lại ghé thăm ông. Bà này chưa già nhưng có tướng đàn ông, đành hanh đanh đá, nên tôi rất ngại gặp. Cũng may là bà ta thường ghé vào sau buổi chợ, lúc tôi đi làm. Có một lần tôi ngỏ ý muốn mua cút rượu để mang về Hà Nội biếu cha tôi. Bà từ chối không bán. Sau một hồi ngập ngừng bà mới nói thật là rượu của bà có pha … phân đạm nên không thể bán cho người quen. Thì ra bà Chén cũng không đến nỗi nào. Mãi sau này tôi mới biết, bà Chén trở thành vợ ông Bát sau một lần ông Bát “viếng thăm” nhà bà giữa đêm khuya không may bị bà tóm được. Nghe đâu bà ấy có võ. Bà ấy sống một mình, góa chồng, không con. Bây giờ bà vẫn sống như vậy. Lâu lâu bà lại ghé thăm ông hoặc gọi ông sang nhà bà ăn với nhau một bữa.

Tôi thường giúp thằng Tân học bài buổi tối. Nó như là đầu đất, học trước quên sau. Mười hai tuổi mà nhỏ thó như trẻ con lên bảy. Ông Bát không có trâu bò nên ngoài giờ đến lớp thằng Tân chẳng phải làm gì, chỉ chạy nhảy loanh quanh. Nó là “trinh sát viên” đắc lực cho ông bố. Một hôm, trời mưa sùi sụt, thấy thằng Tân thui thủi một mình, ông Bát than thở cùng tôi:

-Chú Xuân ạ, nhà tôi nghèo quá, không biết tính cách sao để có tiền cưới vợ cho thằng Tân. Nó đã mười hai tuổi rồi. Bạn bè trong xóm đều đã có đôi có đũa, chỉ còn mình nó, ai cũng cười chê. Thằng này đến ế mất thôi.

Tôi không hề ngạc nhiên về lời tâm sự này. Trong khoảng hơn nửa năm sống ở làng Tre tôi đã chứng kiến hơn một chục đám cưới mà cô dâu chú rể tuổi đời chỉ từ chín tới mười hai, duy nhất một đám cô dâu mười lăm, chú rể mười bốn! Hỏi thì nhà nào cũng nói là để cho chúng có … bạn chăn bò! Luật hôn nhân hình như không về tới nơi đây. Khi tôi rời xóm Vầu về Hà Nội thằng Tân đã sắp mười ba mà vẫn … cô đơn!

Ông Bát không biết nên xếp vào loại người nào, tốt cũng không mà xấu hẳn cũng không. Ông cởi mở, chân tình nhưng lại là thằng ăn cắp. Ông ăn cắp nhưng cũng khá rạch ròi. Tôi có một cái hòm gỗ đựng toàn bộ “gia sản” mang theo. Tuy tài sản không có gì nhiều nhưng bao giờ tôi cũng khóa hòm cẩn thận để đảm bảo sự riêng tư. Có lẽ giá trị nhất trong hòm là cái đài Xiongmao mà tôi quý, tôi “vênh” với mọi người. Cái đài cha tôi được phân phối hồi còn tại chức. Trong làng chỉ toàn đài loa kim nghe rè rè nghẹt nghẹt. Vì rất khó kiếm pin nên chỉ khi cần nghe tin hay có ca nhạc, ngâm thơ tôi mới mở đài. Tôi thường mở đủ nghe, vừa dễ chịu lại vừa tiết kiệm. Nhưng ông Bát bao giờ cũng đòi tôi phải mở to hết cỡ, cho “vui cữa vui nhà”. Tiếng to thì làm sao mà ngủ được. Nhiều khi thấy ông ấy đã ngáy o o tôi liền hạ volume thì ngay lập tức ông ấy vùng dậy đòi vặn lại thật to như cũ. Đành phải chiều vậy thôi. Cứ ra khỏi nhà là tôi cho đài vào hòm khóa lại, ông Bát liếc nhìn theo nhưng không nói gì. Rồi một hôm, giữa giờ làm việc, có việc cần nên tôi bất chợt về nhà. Từ đầu ngõ đã nghe tiếng nhạc oang oang. Quái lạ, nhà nào mới tậu được cái đài nghe hay thế? Về đến nhà thì thấy ông Bát đang nằm khểnh trên cái chõng tre, mắt lim dim mơ màng nghe hát. Ôi, cái Xiongmao của tôi! Rõ ràng là sáng nay tôi đã cho nó vào hòm. Ông Bát ngớ người ra chốc lát rồi tỉnh bơ:

-Cái đài này nghe sướng thật!

Tôi liếc nhìn cái hòm thì nó vẫn khóa nguyên. Biết ý tôi nghi ngờ, ông bình thản nói luôn:

-Với tôi thì chú có khóa thế chứ khóa tới mười khóa tôi coi cũng như không. Chú yên tâm, tôi chỉ mượn cái đài nghe tạm cho đỡ buồn, còn hai mươi chín đồng bốn hào sáu xu của chú để trong cái phong bì cũ tôi không lấy mất đâu!

Có một lần ông Bát mò ra tận ngoài thị trấn ăn trộm. Về đến nhà giở gói đồ ăn cắp được ra kiểm thì thấy có một tờ tem phiếu sữa của trẻ em. Chắc là nhà này có con nhỏ mà mẹ nó lại không có sữa. Thấy tội cho người ta, tối hôm sau ông liền mang tờ phiếu trở lại bí mật trả cho gia chủ. Ông bảo tôi là thà chết đói chứ không thể để trẻ con nhà người ta gào khóc vì thiếu sữa. Hồi ấy phiếu sữa quý như vàng, phải mất rất nhiều đơn từ, công đoạn mới xin được cấp. Ông Bát là vậy. Đúng là một kẻ ăn cắp … lương thiện.

Ông Bát còn có một tật xấu là thích cờ bạc. Mà có tới một phần tư đàn ông làng này mắc tật ấy. Người ta chơi đánh chắn, xóc đĩa suốt đêm. Chẳng biết ông Bát kiếm đâu ra tiền mà cũng tham gia luôn như thế. Hôm ấy là một ngày sau vụ gặt ít lâu, vào độ nông nhàn, ông Bát đi đâu từ sáng cho tới tận chiều. Ông mang về một chai rượu và một gói lòng bọc trong lá chuối, mời tôi cùng cậu Đông – một nhân viên mới, đến ở trọ cùng tôi – liên hoan. Sau khi đã ngà ngà ông mới nói:

-Nói thật với hai chú là hôm nay tôi vừa thắng đậm. Trong túi tôi giờ có đến gần năm trăm đồng. Tôi nhờ hai chú một việc nhé. Hai chú cất giấu hộ tôi bốn trăm đồng và nhớ cho một điều là đêm nay nếu tôi có về lấy thì nhất thiết đừng đưa. Có thế thì may ra ngày mai tôi mới còn tiền. Nhớ đấy nhé, dứt khoát không đưa dù tôi năn nỉ! Dứt khoát không đưa, dứt khoát không đưa, nhớ đấy!

Ông đi rồi, tôi và cậu Đông mới vắt óc tìm nơi cất giấu. Trong hòm thì không ổn. Mái tranh, nền bếp cũng không yên. Cuối cùng chúng tôi nhét vào sâu trong đáy cột rơm to đùng ngoài sân sau khi thằng Tân đã ngủ. Khoảng chừng một hai giờ sáng thì ông Bát về. Ông đánh thức chúng tôi dậy rồi khoe:

-Số tôi hôm nay sao đỏ thế. Tôi thắng liên tục và ép được thằng cha từ Hải Dương lên phải bán rẻ cho tôi cái Phượng Hoàng mới cứng, chỉ bốn trăm thôi. Cái xe Thống Nhất cũ mà còn tới hơn ba trăm, chí ít ra thì cái Phượng Hoàng cũng tới sáu trăm, phải không các chú?. Ngày mai là tôi sẽ có xe đi. Thằng cha ấy đang “khát nước” mà. Các chú lấy hộ tôi tiền để tôi mua ngay không thì hắn bán cho người khác mất. Các chú nhanh lên. Tôi không phải lấy tiền đi đánh bạc đâu, chỉ để mua xe. Mua xong xe là tôi về. Đây là dịp may hiếm có, không nhanh thì mất…

Ông Bát cứ huyên thuyên thuyết phục mãi nhưng cả hai chúng tôi chỉ ngồi im, không nói không rằng. Thế rồi ông lôi cái hòm của tôi ra lục lọi, lục cả túi áo túi quần bọn tôi, xong lại đi rà soát từng tấm tranh, góc bếp. Không tìm được tiền, ông quát lên:

-Các chú định quỵt tiền tôi đấy à. Tiền của tôi chứ có phải tôi vay các chú đâu? Lấy ra không thì tôi đi báo với cơ quan bây giờ.

Hai chúng tôi cứ giả câm giả điếc. Ông Bát gầm gào như con thú dữ, lấy cả dao bầu ra dọa chúng tôi. Ông chỉ dọa thôi chứ ông biết thừa là con dao này có chặt lá chuối cũng không đứt. Bỗng nhiên ông dừng lại rồi phá lên cười và chạy vụt ra sân. Sáng hôm sau cột rơm biến mất, cái sân đã ngập tràn rơm rạ. Cây cỏ trong vườn cũng xác xơ nhàu nát. Còn ông chủ Bát thì ngồi thẫn thờ bên cửa bếp, như một pho tượng đá vô hồn! Tôi chẳng biết nói gì hay an ủi gì ông. Cứ để ông tự ngấm với lầm lỗi của mình có lẽ là hay nhất. Nhưng ông Bát được cái là không bận tâm suy nghĩ gì lâu. Đến trưa ông ấy đã nói cười như không có chuyện gì. Buổi chiều ông đã lại mò ra chiếu bạc.

Ông Bát cũng làm ruộng như mọi người. Ông thường đổi công để mướn bò cày và thuê các bà các cô cấy giúp. Phân gio chỉ trông vào cái … nhà tiêu. Ông vừa đùa vừa thật dặn chúng tôi là hàng ngày nhớ về nhà hãy … đi đại tiện. Hôm gặt lúa mới, ông làm cơm mời chúng tôi ăn. Khi có chén rượu vui rồi ông bảo:

-Các chú thấy cơm gạo mới của tôi có thơm ngon hơn cơm tập thể các chú không nào? Gạo ấy thơm ngon là nhờ tích lũy một phần tinh chất từ ruột gan các chú chảy ra đấy nhá.

Ông cười vang còn chúng tôi thì ớ ra một lát rồi cũng đành cười theo. Nghe thì thấy tởm nhưng mà có lý.

Sau Hiệp định Paris cơ quan tôi chuyển về Hà Nội. Hôm chia tay ông tỏ ra rất xúc động và quyến luyến. Nắm chặt tay chúng tôi ông cứ ngập ngừng:

-Các chú về rồi thì bố con tôi lại vắng lặng lắm đây. Cái đài loa kim cứ lí nhí thế kia nghe buồn ngủ không chịu được. Tôi sẽ cố một trận cuối thật hay để sắm một cái Xiongmao như của chú Xuân, rồi bỏ ... Có cái gì làm các chú không vừa lòng thì đừng để bụng nhá. Còn việc đi lấy cắp vặt, nghe lời chú Xuân tôi hứa là sẽ bỏ dần chứ chưa bỏ ngay được đâu …

*

Trời đã về chiều, tôi đành tạm biệt xóm Chợ Vầu. Tìm khắp nơi mới thấy cậu lái xe trong một quán karaoke. Vừa mở cửa xe, cậu ấy bỗng kêu lên:

-Thôi chết rồi bác ơi. Cái gương chiếu hậu của em!


3/2012

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 22.9.2013.