Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Đền Trạng Trình Linh Ứng



Ước nguyện về thăm Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo- Hải Phòng của tôi đã thành. Sáng thứ bảy, ngày 14- 9- 2013, chị An Ninh đạo diễn truyền hình Việt Nam và các bạn Đài phát thanh truyền hình Hà Nội đã đón tôi về ngôi đền thiêng của cụ Trạng là duyên lành ứng nghiệm.

Quê Ngoại Trạng Trình

Từ Hà Nội xuyên qua những cánh đồng lúa trổ bông, ươm nắng thu vàng, chúng tôi qua Hải Dương đi tiếp hơn bốn chục cây số về thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng là quê ngoại Trạng Trình.

Chị Huyền và các ông bà trông coi ngôi cổ tự Bảo Khánh đợi chúng tôi, liên tục điện thoại chỉ đường.

Với người Việt, quê ngoại, nhà ngoại, bà ngoại bao giờ cũng thân thương máu thịt. Ngoại là nôi sinh của mẹ.

Quê mẹ Trạng Trình, còn ấm nền nhà xưa của Tiến sĩ Nhữ Văn Lan, quan Thượng thư thời Lê Thánh Tông, sinh ra bà Nhữ Thị Thục, người mẹ tài cao, đức trọng của Trạng Trình.

Từ Nam Tử sang Đền thờ Trạng Trình phải qua con sông Hàn. Đã gần trưa, chúng tôi chưa thể lễ Đền, khấn vọng xin hẹn cụ sang chiều. Chị Huyền và bà con đãi chúng tôi cơm quê. Rau muống luộc chấm mắm cáy, hoa chuối, khế, rau thơm, vịt om. Mắm cáy ngọt ngào tình mẹ thuở ấu thơ. Mấy chục năm nay tôi mới được nhâm nhi. Mọi người trò chuyện thân thiện. Kể rằng quê mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm xưa gọi làng An Tử Hạ (nay là Nam Tử) có vồng si cây lá bốn mùa xanh. Có chợ Chùa, hội làng Đình Cả. Đêm giao duyên say khúc tâm tình. Có chùa Bảo Khánh trên ngàn tuổi. Sân chùa Giếng Ngọc Thiên Châu do bà Nhữ Thị Thục linh ứng nguồn mạch nước Trời, khơi giếng nước phong thủy đẹp nhất vùng quê, lấy nước dân làng ăn uống, tắm mát. Bà mời bậc kỳ tài địa lý đặt các kỷ vật yểm đáy giếng ngọc. Giếng nước sâu ngập một con sào dài, các bậc cầu đá được ghép đá cổ.

Nước giếng trong mát, ngọt, từ Mẹ Đất phun trào nuôi dưỡng cậu bé Nguyễn Bỉnh Khiêm và dân quê hiền lành vùng đồng chua nước mặn. Đất được bồi lên từ cát biển, phù sa mặn chát, cha ông phải khai phá chống mặn chua, thành đất lành trồng cấy.

Vào năm Kỷ Mùi (1499) Nguyễn Bỉnh Khiêm ba tuổi tên là Nguyễn Văn Đạt được mẹ Nhữ Thị Thục và ông ngoại Nhữ Văn Lan đưa về nhập môn tại chùa Bảo Khánh, nhờ sư Tổ trụ trì chùa là Nam Thiên Thánh Tổ Đại Pháp bậc Thiền sư rất tài giỏi giáo dưỡng. Bà Thục hàng ngày lấy nước Giếng Ngọc Thiên Châu cho Nguyễn Bỉnh Khiêm uống và tắm mát. Khí lành Âm Dương Trời Đất và tình Mẹ, nghĩa Thầy đã nuôi dưỡng Nguyễn Bỉnh Khiêm lớn nhanh, khỏe mạnh, thông minh khác thường. Báo hiệu sự xuất hiện một nhân tài lớn của dân tộc và nhân loại thế kỷ XV- XVI.

Nhớ ơn người khơi thủy Giếng Ngọc Thiên Châu, chùa Bảo Khánh dành riêng một ban thờ bà Nhữ Thị Thục với dòng chữ Hán ghi trong bài vị: “Thái phu nhân Nhữ Quí Thị Hiệu Từ Thục”.

Trên năm thế kỷ biến động khôn lường. Chùa Bảo Khánh và Giếng Ngọc Thiên Châu vẫn nguyên khí thiêng. Năm 1951, nhà sư Trịnh Công Uyển trụ trì chùa Bảo Khánh đào hầm dưới hậu cung che giấu Sở chỉ huy du kích. Giặc Pháp đi càn, bắt nhà sư. Ông không khai, đã giết ông tại chùa Bảo Khánh. Từ đó đến nay, chùa không có sư trụ trì. Dân làng thay nhau gác chùa, hương khói, nguyện cầu, chuông sớm, chuông chiều vẫn ngân nga.

Kể từ ngày bà Nhữ Thị Thục khơi Giếng Ngọc Thiên Châu đến nay là 519 năm. Mùa Hạ 2010, cơ Trời, duyên Phật, thánh linh Trạng Trình trở về. Giếng Ngọc Thiên Châu tự phun trào kỳ bí.

Tiếng gọi huyết thống cụ Nhữ Văn Lan, Nhữ Thị Thục, hai bà hậu duệ dòng họ Nhữ phát tâm công đức tiền của cùng dân làng An Tử Hạ xây đắp, tái tạo lại vẻ đẹp thiêng của Giếng Ngọc Thiên Châu, mở ra một kỷ nguyên dòng nước cội nguồn Tình Mẹ vĩnh hằng, nuôi dưỡng thế gian.

Đã qua giờ Ngọ. Chúng tôi phải sang sông Hàn lễ tạ Đền Trạng Trình. Hẹn chiều muộn trở về.

Trời nắng. Các chị cởi nón đội đầu chúng tôi. Qua những cánh đồng, những ngôi nhà ruộng lúa sát trong sân, ao hồ, vịt bơi, trâu đầm, nhưng bờ tre, bụi chuối… Ngoài xa là biển và bãi bờ đầm chuôm của anh Đoàn Văn Vươn đổ mồ hôi, sôi nước mắt khai hóa trên mảnh đất tận cùng Tiên Lãng.

Sông Hàn là một khúc sông Thái Bình tỏa nhánh ôm ấp đất Tiên Lãng, Vĩnh Bảo và các vùng eo, bồi đắp thành một vùng bãi bồi ven biển quê hương Trạng Trình. Tôi im lặng nghe tiếng ngâm nga sấm Trạng Trình mà bất kỳ một người nào, trai gái, già trẻ, học sinh, quê nội, quê ngoại cụ Trạng đều thuộc:

Bao giờ Tiên Lãng chia đôi

Sông Hàn nối lại thì tôi lại về

Sông Hàn nước đục, những cánh hoa bèo Tây tim tím lững lờ trôi. Hai bên bờ trải dài cánh đồng lúa, thôn làng thấp thoáng bóng cau, bụi chuối, khóm tre. Sông Hàn được nối hai bờ bằng cầu phao, ghép những con phà sắt nổi. Chúng tôi rưng rưng sống lại thời chống Mỹ, mỗi lần đi qua cầu phao là một lần chết hụt. Máy bay phản lực Mỹ gầm xé trên đầu, dội bom phá cầu phà, cắt mạch máu giao thông. Trên ô- tô về thăm Đền Trạng, ba chị em tôi đều là những kẻ sống sót sau thời bão lửa ấy. Chị An Ninh điệu hơn, cô văn công Hà Nội đi khắp các chiến trường cháy bỏng may mắn trở về.

Nay sông Hàn nối lại nơi bến đò Hàn theo tiên tri của Trạng Trình 500 năm trước bằng cầu phao, dân không phải đi đò cũng là quá tốt. Nay Tiên Lãng chia đôi lòng người theo tiếng súng hoa cải của anh Đoàn Văn Vươn. Nay Trạng Trình về với tình dân theo lời hẹn.

Qua cầu phao sông Hàn gió nắng hôm nay, tôi như đang bay về nơi linh thiêng cụ Trạng từng ở ẩn dạy học. Không thể lý giải được sự kỳ diệu của Đất Trời nơi đây. Mảnh đất cận kề biển lớn. Trời cao. Đất rộng. Sinh hiền tài.

Đền Trạng Trình linh ứng

Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm tọa lạc chính mảnh đất thiêng đi vào huyền thoại. Đó là Bạch Vân Am. Sau tám năm tôn phụ nhà Mạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ xin chém mười tám tên lộng thần. Không được vua Mạc chấp nhận. Nguyễn Bỉnh Khiêm cáo quan về quê. Năm 1542 đời Mạc Hiến Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm 52 tuổi. Treo mũ áo trả triều đình, về quê, cụ Trạng dựng Am Bạch Vân ở phía Đông làng Trung Am, nơi chôn nhau cắt rốn của mình dạy học, đem Đạo tỏa sáng đời, biệt hiệu là Bạch Vân cư sĩ.

Cụ sống thanh nhàn, tĩnh lặng giữa cảnh trí thôn trang hiền hòa tươi đẹp Bạch Vân Am trong bài thơ Tự Thuật:

“Am Vân bên cạnh làng Mây/ Lầu sông soi bóng trời tây ban chiều/ Nói cười xuân hứng thêm cao/ Câu thơ ngọn bút ngạt ngào bay hương/ Trăng lồng hoa rọi chén vàng/ Hây hây gió trúc bên giường thoảng qua/ Trí nhân non nước mặn mà/ Trong vui nhường ấy lòng ta ai tường”.

Cụ nhận mình là cư sĩ tu tại gia, theo Phật. Bạch Vân Am trở thành trung tâm đào tạo nhân tài của đất nước. Học trò khắp nơi tìm về học, rèn chữ, luyện người, thành những tên tuổi: Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Quyện, Đinh Thời Trung, Giáp Hải, Nguyễn Dữ… Cũng nơi đây những tác phẩm lớn của Nguyễn Bỉnh Khiêm ra đời. Quan, dân muôn ngả đổ về đây xin Chữ cụ Trạng.

Trạng Trình mất ngày 28- 11- 1585. Vua Mạc Mậu Hợp ban 3000 quan tiền lập đền thờ cụ. Năm 1586 khánh thành đền. Vua tự tay ghi “Mạc triều Trạng nguyên tể tướng từ”.

Đền thờ trải nhiều biến động thời cuộc, bị tàn phá. Năm Minh Mạng thứ 14, Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ khai khẩn vùng đất giáp Hải Dương- Thái Bình, đào một con sông chảy qua làng Trung Am, phải phá Đền Trạng Trình. Mặc dù dân làng cầu xin, nhưng Nguyễn Công Trứ cú cho phá Đền. Nhưng khi dọn dẹp bàn thờ, thì dưới bát hương có một tấm bia đá phủ vải điều có mấy câu sau:

Minh Mạng thập tứ

Thằng Trứ phá đền

Phá đền thì phải làm đền

Nào ai đụng đến Doanh điền nhà bay.

Đọc mấy câu thơ trên Nguyễn Công Trứ hãi kinh, không dám phá đền nữa.

Còn nhiều câu sấm khác Trạng Trình nói về xây đền và phá đền ghi trong bia đều ứng nghiệm.

Ngôi đền hiện nay xây trên nền cũ vào thời Nguyễn.

Qua cổng đền Trạng Trình, khuôn viên thênh thang mở. Gió nắng. Biển Trời. Cánh đồng. Dòng sông. Hồn thiêng non nước. Nơi đây Trời Đất Người du ca. Dưới bóng đa cạnh mái đền hiện lên một vườn tượng vô cùng sinh động. Những tượng người (kích cỡ bằng người thật) tụ về muôn dáng vẻ, xin Chữ cụ Trạng. Trẻ, già, trai gái, lão nông rủ nhau hội về. Lão bà còng lưng, khăn mỏ quạ. Lão ông vai vác cái mai từ đồng lên. Cụ ông công kênh bé tóc trái đào. Chàng trai chèo thuyền thả lưới. Chị gái thắt cái giỏ cua bên hông. Thư sinh khoác tay nải đường xa… Tất cả giơ tay hướng về cụ, nét mặt tươi vui dạt dào sức sống, chìa tay xin Chữ . Cụ Trạng rạng ngời đứng giữa trời mây, dang tay đón mọi ngừơi trao Chữ.

Chúng tôi hòa vào thế giới tượng này, hân hoan ngả nón xin Chữ. Tôi nâng cuốn sổ và cái bút bi kính xin cụ Chữ Thánh Hiền. Tôi vừa khấn vừa ghi sổ: “Con ghi lời cụ”.

Khoảnh khắc im lặng. Tôi nhìn lên pho tượng Trạng Trình. Đôi mắt rực sáng hiền từ, chòm râu dài rung theo gió, Mặt Trời ngũ sắc lấp lánh trên đầu. Tôi đặt bút ghi vào sổ:

Nhật Nguyệt Càn Khôn

Vòng quay Vũ Trụ

Vạn vật chuyển vần

Gìn giữ Thân Tâm

Sáng Đời, trọn Đạo.

Tôi ghi xong và đọc trước sự chứng kiến của chị An Ninh, chị Bích Liên, các bạn đồng nghiệp trẻ Đài phát thanh truyền hình Hà Nội và anh Phạm Thanh Hường, bí thư chi bộ thôn Nam Tử, dẫn chúng tôi về Đền Trạng.

Xúc động ngập tràn. Chúng tôi lễ tạ trước tượng thờ Trạng Trình trong hậu cung. Tôi khấn:

Bước dần theo lệnh Thiên cơ/ Con về tạ Đền Thơ của Người/ Sống thời vua Quỷ giết dân/ Vua Lợn dâm tà loạn nguy/ “Coi công thần như chó ngựa/ Coi dân chúng như cỏ rác”/ Làm quan nhà Mạc thẳng ngay/ Xin chém lũ quỷ lộng thần cứu dân/ Dũng khí từ quan về dạy học/ Bậc túc nho, sư phụ tài danh/ Tiên tri tư tưởng yêu dân nước/ Sống thuận theo biến dịch tự nhiên/ Tương sinh, tương khắc, tạo hóa xoay vần/ “Xưa nay nước lấy dân làm gốc/ Được nước là nhờ có được dân”/ Cá nhân mình lấy chữ nhàn thanh bạch/ Ẩn dật không quên Đạo sáng Đời/ Không a tòng hành động tội lỗi/ Việc nghĩa tỏa ngời ngợi bốn phương/ Dắt dân đen xóm quạnh nhà tranh/ Mách bảo cường quyền tránh gây tội ác/ Nguyền rủa quan tham giết người cướp của/ Xây đạo đức con người an lạc/ Thơ hiền triết đậm phong vị quê nhà/ Ngàn năm vẫn trăng trong gió mát”. (*)

Rời ngôi đền thiêng Trạng Trình, chúng tôi như vừa được gặp cụ năm trăm năm trước. Hân hoan. Hạnh phúc trong sự hanh thông Trời Đất Người.

Dấu tích linh thiêng quê mẹ

Trở lại quê ngoại cụ Trạng, chúng tôi lội ruộng thăm khu mả cụ Nghè Nhữ Văn Lan và vợ cụ cùng mộ con gái Nhữ Thị Thục nổi gò đống cỏ xanh rì giữa đồng lúa bát ngát. Ông Nhữ Văn Quài hậu duệ họ Nhữ từng đi bộ đội, nay về quê chăm sóc hương hỏa kể:

- Cụ Lan là đời thứ tư dòng họ Nhữ về đây khai phá đất bồi bãi thành quê lúa ngày nay. Cụ Lan đỗ cao, làm quan lớn, hết lòng xây dựng quê hương. Cụ sinh ra người con gái thông minh, trí tuệ hơn người. Bà Nhữ Thị Thục cá tính mạnh mẽ khác thường, giỏi văn chương, thông lý số. Bà tự chọn chồng. Mộng sinh con làm vua cứu đời. Bà sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm trong một đêm mưa gió. Trời Đất mịt mù. Bỗng căn buồng sáng lòa, quý tử chào đời. Bà sáng tác những bài hát ru nuôi dạy Nguyễn Bỉnh Khiêm. “Mẹ cầm kỳ, con thi thư/ Long văn đắc trí, thủy ngư đắc trình/ Một bầu tuế nguyệt linh đình mẹ con”.

Ba ngôi mộ của gia đình cụ Lan rất linh thiêng. Hơn năm năm năm nay, các cụ vẫn được “mồ yên mả đẹp”, cứ phát to thêm. Không một ai dám đụng chạm tới.

Ba ngôi mộ ngự vững trái giữa đất đồng. Uy nghi. Tôi khấn các cụ dắt tôi qua chỗ nước không bị bẩn giày. Thắp nén tâm nhang, thầm xin các cụ linh thiêng phù hộ độ trì cho con cháu được sống trong cảnh đồng quê mãi mãi xanh ngô lúa. Cầu cho những kẻ cơ hội, đừng đến đến tàn phá ruộng cày.

Ông Quài dẫn chúng tôi vào xóm thăm nền nhà xưa của cụ Nghè Nhữ Văn Lan. Khi hai cụ mất, nền nhà được xây thành đình làng thờ cụ. Ngôi đình thiêng dân giữ gìn nhiều thế kỷ. Hồi chống Pháp phá đình tiêu thổ kháng chiến. Còn hậu cung thiêng, năm 1968 phá nốt. Năm 1987, dân làng xây lại hậu cung nhỏ, đặt tượng cụ Nghè thờ cúng. Khu nền nhà xưa vẫn vẹn nguyên. Vườn ao còn đây.

Chúng tôi khấn cụ. Ông Quài hỏi tôi:

- Cụ thiêng lắm. Xin gì được nấy. Cô Mai Thục có xin gì không?

- Xin các cụ linh thiêng linh ứng cho mọi người xây lại ngôi đình này. Nơi địa linh nhân kiệt, sinh quý nhân, quý tử, phải được thờ phụng khơi nguồn linh địa.

Chiều muộn. Chúng tôi về chùa Bảo Khánh. Hàng trăm bà con Phật tử, áo khăn hội hè, nghênh tiếp đoàn Phật tử Hà Nội về cúng tiến chín pho tượng Phật.

Chúng tôi tụng niệm cùng các cụ trong ngôi chùa hơn nghìn tuổi, như thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm tóc trái đào đang trang nghiêm cùng sư Tổ học bài. Những pho tượng cổ dáng thanh thoát từng chi tiết, màu sơn ta ánh lên hồn dân tộc.

Khóa lễ xong. Bà con ngồi bên khuôn viên nhà Tổ nghe giảng pháp. Tôi xuống bậc thang Giếng Ngọc Thiên Châu soi gương, ngắm trời thu nắng mây chiếu in mặt giếng. Bỗng tiếng loa vang lên gọi tôi nói chuyện với bà con. Tôi vội chạy lên. Trước đồng bào thôn làng đang lắng nghe, tôi nói về sự xúc động của mình lần đầu tiên được thăm Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, hai địa danh linh kiệt sinh ra và nuôi dạy, che chở, bảo vệ, chăm sóc, suối nguồn sáng tạo của nhà tiên tri Việt Nam và Thế giới Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nơi đây lòng dân yêu cụ, hướng về tư tưởng đạo đức của cụ không bao giờ vơi cạn. Lòng chúng tôi cũng vậy. Năm trăm năm nay, Trạng Trình vẫn sống cùng con dân làng quê và dân Việt khắp hoàn cầu. Chữ của cụ vẫn rạng ngời dẫn dắt chúng ta. Và tôi đọc bài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Giáng mà tôi viết vào sổ lúc ban chiều. Bà con nghe từng lời. Không khí xúc đông, linh thiêng.

Một cụ giáo làng đến bên tôi, kiểm tra từng chữ bài thơ Nguyên Bỉnh Khiêm Giáng và sẽ ghi thư pháp treo trang trọng nơi phòng khách chùa Bảo Khánh.

Trăng thu mồng mười tháng Tám chưa tròn, treo đỉnh ngọn cau. Dân làng quê mẹ Trạng Trình, tiễn chúng tôi lưu luyến. Một gói rau muống sạch, một chai nước mắm cáy gửi chị An Ninh. Một chùm khế ngọt tôi nâng niu trong túi. Một lời hẹn ước mong chúng tôi luôn trở về quê mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm, soi gương nơi Giếng Ngọc Thiên Châu.


(*) Vua Quỷ Lê Uy Mục (1505)
Vua Lợn Lê Tương Dực (1510- 1516)


Bài đọc thêm:

- Sấm Trạng Trình
- Sấm Trạng Trình- Biển Đông
(Trong Mai Thục- Việt Văn Mới)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 21.9.2013.