Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





TRƯỚC MÙA MƯA BÃO




        Chương Không Đánh Số


Từ ngày đi làm, ông tôi vui vẻ, hoạt bát hẳn lên. Ông cười nói, quát tháo. Bây giờ, thấy ông lừng lững đi ra, chẳng nói chẳng rằng, tôi biết là ông có gì băn khoăn lắm. Chợt nhớ, hình như trong lúc quét nhà, tôi có hót đổ vào chuồng lợn một mảnh giấy nhỏ, cùng với bụi đất. Tôi tìm, mở ra, thấy mấy nét vẽ bút chì và vài con số.

Tôi chạy đến nhà giám đốc, xin phép quay nhờ máy nói. Tôi nghe rõ tiếng đằng kia đầu dây:

- A lô, tôi nghe đây. Đồng chí là ai đấy?

- Không phải đồng chí. Đây là cháu.

- Cháu nào? Ở đâu đấy?

- Ở nhà giám đốc.

- Cái gì? Giám đốc hả?

- Không phải giám đốc. Cháu đây.

Giọng trong ống nghe có vẻ sốt ruột:

- Có việc gì?

- Có... Bố cháu có trên ấy không, hở bác?

- Bố nào?

- Bố Tính.

- Tính nào?

- Tính cao kều.

- Bậy nào. Thằng Tịnh đấy hả?

- Vâng, bố đấy à? - Tôi mỉm cười - Sao tiếng bố nghe như tiếng ai ấy.

- Khà khà khà... - Bố tôi cười to, tôi chợt thấy giống tiếng ông tôi lạ.

- Ông có trên ấy không, hả bố?

- Có. Nhưng không có ở chỗ này.

- Thế ở đâu ạ?

- Bên cơ điện. Có việc gì mà hỏi ông?

- Con vừa tìm được một mảnh giấy. Không phải ở trên bàn mà ở dưới đất. Tìm trong chuồng lợn.

- Tao không hiểu mày nói cái gì. Nói ngắn và rõ xem nào.

- Con tìm thấy mảnh giấy.

- Giấy nào?

- Giấy vẽ sơ đồ của ông. Có cần mang lên ngay cho ông không ạ?

- Có... à không cũng được. Ông vừa bảo bố là quá trưa ông về.

- Vâng.

- À này, bố ăn cơm ở công trường. Ủ cơm phần mẹ và ông nhé.

Tôi vừa về đến rặng cúc tần thì ông Tư Đặc khua gậy sang nhà tôi. Tôi biết là đã đến giờ chọc lò nấu cơm rồi. Ông là một chiếc đồng hồ sống kỳ diệu.

Lúc đầu, chúng tôi chỉ biết ông là người mù mà lại thiến lợn giỏi. Hôm kỷ niệm hằng năm, ngày thắng lợi cuộc đình công lớn năm 1936, của những người thợ mỏ, thầy hiệu trưởng trường tôi mời ông đến nói chuyện. (Mỗi năm, thầy lại mời một người thợ già). Lúc ông mới đến, có đứa còn quả quyết rằng: chuyến này, chúng mình sẽ được học cách thiến lợn đây. Và chúng nó đuổi bắt nhau, kêu eng éc, ủn ỉn, ở sân trường. Thầy chủ nhiệm phải nghiêm mặt lại, chúng mới chịu yên. Chúng tôi đâu biết rằng, đằng sau hốc mắt sâu hút ấy, là những sự tích hùng tráng và bi thương.

Bây giờ, ông khua gậy sang nhà tôi. Kìa, xê ra cho ông đi...


Chương III

        ÔNG TƯ ĐẶC - CÔNG VIỆC ĐÃ BẮT ĐẨU RỒI


Hơn hai năm nay, ông Tư Đặc có cái lệ sang nhà tôi vào lúc gần mười một giờ như thế. Ấy là từ khi ông tôi về nghỉ hưu. Hai ông bạn thợ già, thôi thì thiếu gì chuyện để mà nói... Nhưng lúc này, ông ngồi im phăng phắc.

Ông tôi dành cho ông Tư một cái ghế tựa bằng gỗ lim to và nặng, mà một bác thợ cắt tóc, khi xách hòm kéo về thị xã, đã tặng lại ông. Ông tôi đặt ghế trong bóng rợp của cây giâu gia trùm mát xuống hiên nhà. Ông Tư ngồi im lặng trên ghế, hai tay trang trọng đặt trên hai đầu gối, như đang ngồi để vẽ tranh truyền thần. Gương mặt hơi dài của ông, bao giờ cũng sáng sủa, sạch sẽ. Dưới cằm, một sợi râu duy nhất, rõ dài, mọc xuống từ một mụn cơm nguội, trắng óng như cước, bay phất phơ ngang ngực. Hình như lúc này, ông sống hoàn toàn bằng nội tâm. Ai biết được ông đang nghĩ gì. Ông ngồi im phăng phắc...

Đúng lúc ấy, từ phía công trường cao ngang mặt, bùng lên một loạt tiếng nổ âm và rền. Ông Tư hít một hơi dài, căng đầy lồng ngực. Hàng lông mày thưa, bạc phếch, hơi chau lại. Xung quanh hốc mắt, nếp da cộm dày rung rung. Gò má ông đầy lên, khẽ động đậy, như có một cái gì thoảng qua.

Ông đưa tay tìm chén nước trà ngon, hãm thật đặc, thong thả nhắp từng tí một. Nếu có ông tôi ở nhà, thì đấy là lúc, ông dễ dàng bộc bạch tâm sự nhất. Mở đầu, thế nào ông cũng có một vài nhận xét về tiếng mìn nổ trên công trường hôm nay ra làm sao. Đại thể là:

- Thuốc ẩm rồi. Nổ như thế thì những tảng đất đá phải to bằng cái giường. Cánh máy xúc vừa ghè, vừa ngoạm cho xe chở đi, vừa chửi cho bằng chết.

Hoặc:

- Được đấy. Tụi này làm ăn khá. Nghe tiếng nổ trầm và đục lắm. Đất đá tơi phải biết.

Có hôm, kỹ sư quản đốc công trường khoan nổ, đến ngồi với ông, cùng nghe tiếng mìn nổ. Mặc dù cách nổ mìn ngày nay, đã khác hẳn cách nổ mìn thời Tây, nhưng kỹ sư vẫn phải phục ông già là tay thợ giỏi.

Nói đến thợ nổ mìn thời Tây, không ai không biết tiếng ông Trần Văn Đặc. Theo lời ông kể, thì ông đã có một thời được bọn chủ nuông chiều lắm. Chúng thưởng tiền cho ông luôn. Tất cả sự say mê của ông, đều truyền vào sợi dây mìn, nối đến hàng trăm lỗ khoan. Và từ các lỗ khoan ấy, bùng lên những tiếng nổ trầm và đục. Mười một năm nổ mìn chính xác và an toàn, có phải là việc chơi đâu. Nhưng đến năm thứ mười hai...

Năm thứ mười hai...

Vào một buổi trưa, nắng cũng rấm rứt như thế này, một tin loang ra, làm ai cũng ngạc nhiên: ông Đặc nổ mìn thế nào, làm đất đá đè chết cả quan Tây, su-ba-găng(1) và mấy người đi theo, trong đó có cả cảnh binh và mật thám. Người ta bàn rằng: Chắc chắn không phải ông vô ý. Bởi ông là một thợ giỏi, vốn rất thận trọng trong khi nổ mìn. Hơn nữa, cảnh sát mỏ chắc cũng chẳng để cho ông có thể vô ý được, khi trên công trường đang có quan Tây. Hay ông là cộng sản? Khó mà tin được. Nhưng rồi, ai cũng phải tin một điều: ông Đặc bị cảnh sát giải qua phố, quần áo rách tươm, mặt mũi sưng vù...

Ở phòng tra, chánh mật thám Sở than Bắc Kỳ hỏi ông:

- Tại sao mày lại nổ mìn trước đến năm mươi tư phút?

- Tôi quên.

- Mày có nhận được lệnh phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho quan trên sẽ đi dưới tầng mìn của mày không?

- Có

- Mày có biết, mày đã cố tình đánh tháo cho một tên cộng sản nguy hiểm như thế nào không?

- ...

- Mày ăn lương của chủ mà đi làm tay sai cho cộng sản. Làm từ bao giờ?

- Tôi không...

- Không à? Không à?

Hắn đứng dậy và mắt ông tóe lên những đốm lửa. Hàm dưới tưởng long ra. Máu ứa đầy mồm, ròng ròng chảy xuống qua một bên mép...

Sau này, trong một buổi trưa khác, nghe tiếng mìn nổ trên công trường, ông nói với ông tôi:

- Thằng chánh mật thám thế mà ngu như con bò. Tôi khai thật, nó lại cứ cho là tôi khai giả. Giải tôi đi đề lao Hải Phòng, Hỏa lò Hà Nội, chán rồi lại giải về. Trước sau tôi cũng chỉ nói là tôi không biết. Mà tôi không biết thật.

Lúc ấy, ông tôi đang buộc lại cái cạp rổ bằng sợi dây thép nhỏ. Bàn tay quá to của ông cứ lóng ngóng xỏ sợi dây thép qua nan tre. Ông tôi ngồi bệt xuống đoạn đường ray mà ông vẫn thường làm đe, để rèn giũa hay chặt sắt thép. Ông tôi nói:

- Tôi đã chạm mặt thằng chánh mật thám ấy năm 1936, trong cuộc tổng đình công. Nó khét tiếng là hung bạo. Mặt nó cong cớn như mảnh tôn, lông mày chổi sể, mắt đục, mồm nhọn, mũi mỏ quạ.

Chánh mật thám Sở than Bắc Kỳ, đã dùng thanh sắt chọc mù mắt ông Tư Đặc, rồi tha cho về, hòng giăng bẫy bắt những người khác. Nhưng chúng chưa kịp bắt ai thì Nhật đảo chính, rồi cách mạng tháng Tám thành công. Hôm ông Tư nói chuyện ở trường, tôi mới biết người được ông vô tình đánh tháo trong vụ nổ mìn khi đó, chính là ông thứ trưởng. Nhưng lúc bấy giờ, ông cũng không biết ông thứ trưởng là một trong những người cộng sản đang tổ chức phong trào công nhân ở vùng mỏ. Còn vì sao ông lại cho mổ mìn vào lúc đó, thì mãi về sau, tình cờ tôi mới được biết ...

Ông tôi về đến sân, dáng đi hăm hở lắm. Nghe tiếng bước chân, ông Tư biết ngay là ông tôi về. Ông Tư hỏi:

- Phà bơm đã bắt đầu rồi chứ?

- Bắt đầu rồi!

Ông tôi ngồi bệt xuống đoạn đường ray để cạnh cái ghế lim, bên gốc cây giâu gia. Tôi chạy vội lên nhà, rút ngăn kéo, lấy mảnh giấy mỏng, có ghi những nét vẽ bút chì và những con số, như tôi đã nói ở trên. Ông trừng mắt nhìn tôi, động đậy cặp lông mày đốm bạc, rồi im lặng bỏ mảnh giấy ấy vào chiếc ví da bạc phếch, nhét vào túi quần sau.

- Tôi thấy cả mỏ ta, đâu đâu cũng xôn xao về cái phà bơm. Tôi ngồi đây mà sốt cả ruột. Nó ra làm sao? - Ông Tư hỏi.

Ông tôi cởi cúc áo, để lộ tảng ngực nâu sẫm, vạm vỡ, gồ ghề, dù tuổi đã cao. Ông cầm chiếc mũ lá cọ, chóp mũ dính một cục nhựa đường to tướng, quạt một hồi. Có lần, ông bảo tôi rằng, trong các loại mũ, chỉ có mũ lá là hay nhất. Vì nó che được nắng, lại che được cả mưa, đi làm hay đi chơi đều tiện. Chỉ cần giữ cái chóp mũ cho bền, thì một đời cái mũ lá, bằng ba bốn đời cái mũ bọc vải.

Ông tôi nói:

- Công nhân bây giờ đều là những tay có học. Họ nghĩ ra được khối thứ, mà cánh thợ ta ngày xưa, không nghĩ ra được.

- Ông muốn nói cái phà bơm ấy à? - Ông Tư háo hức hỏi.

- Và nhiều cái khác nữa.

Ông Tư ngồi im lặng. Hai cái sẹo màu nâu khẽ động đậy trong hai hốc mắt, vẻ mặt ông mơ màng như phủ một làn sương mỏng. Đó là nét dễ nhận ra ở ông, mỗi khi ông tôi nhắc đến những kỷ niệm cũ.

Ông tôi tợp một ngụm trà và nhăn mặt lại. Nước trà hãm đặc, đắng quá. Tôi đoán thế, chạy vội vào nhà, định mang phích nước nóng ra, nhưng ông tôi xua tay:

- Mấy giờ rồi? Mày không đi học à?

Ông Tư Đặc nói:

- Chiều qua, anh Tư Máy Xúc bảo với tôi rằng, khó mà làm xong phà bơm trước mùa mưa bão được.

- Sao lại không? - Ông tôi dướn cặp lông mày đốm bạc lên hỏi, giọng khó chịu.

- Nghe nói còn thiếu các thứ gì gì ấy.

- Không thiếu đâu. Vỏ phà thì tôi đang làm. Máy bơm thì ta vẽ sơ đồ thiết kế, rồi đặt nhà máy chế tạo bơm Hải Dương. Chỉ có một khoản đáng lo thôi.

- Khoản gì? - ông Tư hỏi.

- Hoặc là ta phải chế cánh quạt máy bơm bằng một loại hợp kim đặc biệt, hoặc là ta phải chế ra được một loại sơn riêng...

- Tại sao phải cầu kỳ thế? Sơn tàu biển không dùng được à?

- Cũng được, nhưng không đảm bảo - ông tôi giảng giải - Nó là như thế này...

Ông tôi nói một thôi, tôi nghe cũng lủng củng như thế nào ấy. Đại khái tôi hiểu là: nước ở đáy mong rất phức tạp và riêng biệt, nên phải có loại cánh quạt máy bơm và một loại sơn thích hợp. Những thứ đó chế tạo ra, giá thành rất cao, mà lại chỉ dùng được ở một mỏ, là mỏ của ta mà thôi.

- Gay nhỉ! Gay nhỉ! - Ông Tư chậc chậc lưỡi - Liệu ta có làm được không? Làm thế thì đắt lắm, lấy tiền đâu mà làm.

Ông tôi đứng dậy, cởi tấm áo dày cộp ra vắt lên cành giâu gia. Giọng ông hoan hỉ:

- Có một anh tiến sĩ ở Hà Nội đã về mỏ ta rồi đấy. Anh ấy sẽ chế tạo cho ta loại sơn riêng đó.

- Thế à! Người ông tiến sĩ thế nào?

- Chẳng thế nào cả. Trẻ, mặt tròn, không mang kính, cũng không cắp cặp.

Ông Tư mỉm cười, nụ cười mỉm của người mù, vừa có vẻ khiêm nhường, vừa có vẻ dò xét, đắn đo, mà tôi không thể nào miêu tả được.

Không biết về sau, hai ông còn nói với nhau những gì. Tôi đến nhà Cường - bạn cùng lớp - rủ nó cùng đi học.


... CÒN TIẾP...

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 20.9.2013.