Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



ĐỐI THOẠI VĂN CHƯƠNG





Chương Bốn

ĐỐI THOẠI THÁNG TƯ

(câu 117 – 143)


117. Nguyễn Đức Tùng:

Bác làm bông lau ngàn

Thả hồn vào hoang vắng

Khi buồn thì hát ca

Lúc vui thì im lặng

Em quẩy bầu trăng gió

Bác gánh bao nỗi người

Sóng đôi mà đơn độc

“Đi mang mang trong đời”

Giờ thì em đã chán

Những vinh quang hão huyền

Muốn làm làn mây trắng

Bay cho chiều bình yên…

Đó là những câu thơ thật đẹp của Trần Đăng Khoa viết về anh và anh ấy. Khi gặp nhau ở Hà Nội, anh Khoa cũng nhắc với tôi những câu thơ này. Hai anh đối với nhau ra sao, trong đời và trong thơ?

Giờ thì em đã chán

Những vinh quang hão huyền

còn anh thì đã chán chưa?

Anh biết anh Khoa làm thơ khi nào?

Trần Nhuận Minh:

Tôi hơn Khoa 14 tuổi. Tôi có vinh quang bao giờ đâu mà chán… Hiện tôi đã 67 tuổi rồi, đang chờ nó đến để mà… vui say đây. Nó là cái gì? - NGỎM.

Trở lại câu hỏi của anh. Tôi biết Khoa làm thơ năm 1966, trong một trường hợp rất vui. Ngày 21 tháng 2 / 1966, tôi làm bài thơ Gửi Rạch Giá, bởi Rạch Giá – Long Châu Hà (Châu Đốc – Long Xuyên – Hà Tiên) kết nghĩa với tỉnh Quảng Ninh. Bài thơ được in chữ đậm, nền xanh trên báo Văn nghệ và sau đó, nữ nghệ sĩ Trần Thị Tuyết ngâm đi ngâm lại nhiều lần trong chương trình Tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam:

Ta chưa về ăn xoài riêng Chợ Mới

Vị xoài riêng ngọt lưỡi mát thịt da

Chưa đặt chân lên bờ cỏ xanh Kinh Xáng

Nghe xôn xao rễ lúa thở trăng ngà…

Tôi dạy học ở Quảng Ninh, rất xa nhà, dăm ba tháng mới về thăm quê một lần. Tàu xe đi lại cũng vô cùng khó khăn, đường rất xấu vì bom phá trong chiến tranh, có đến mấy bến phà, bến phà nào cũng phải ngồi bên hầm sơ tán, chờ đợi đến hàng tiếng đồng hồ. Lần ấy, cả xóm đến chơi, ai cũng khen thơ tôi hay. Chỉ có Khoa lúc đó mới 8 tuổi ngồi yên. Tôi hỏi: Mày có nghe không, hả? Nó bảo: Có. Bỗng nhiên nó bảo, giọng trầm hẳn xuống: Thơ thế thì ai mà chả làm được.

118. Nguyễn Đức Tùng:

Câu nói rất có ý nghĩa.

Trần Nhuận Minh:

Tôi trợn mắt lên: Mày cũng làm được á? Còn hộc cơm ra em ơi! “Ê, em làm được!”. Nó bảo và con cón chạy vào trong buồng, lấy ra một quyển vở do nó tự đóng, giấy kẻ ô vuông, xộc xệch, chữ mực tím to nghệch ngoạc, sai rất nhiều lỗi chính tả. Nó bảo: Đây, anh xem có được không? Lúc ấy tôi thấy đã có vài chục bài, có bài rất lạ. Tôi bảo: Mày chép của ai, hử? “Ê, em làm đấy.” Vách đất nhà tôi dạo ấy đóng bằng gai bòng (gai của cây bưởi) nhiều trang họa báo Trung Quốc (lúc ấy, không hiểu sao cứ gọi là họa báo, gọi là báo ảnh mới đúng). Xin nói thêm, nhà tôi ba gian thấp nhỏ, không có chái, cửa khép bằng dại tre, ai cũng nhấc ra nhấc vào được, - chữ dại có lẽ nhiều nơi không dùng chăng, chỉ cái cửa ra vào chính của ngôi nhà, đan bằng tre, cửa nhà không dùng khoá, mái lợp rạ, bốn bên trát vách đất bùn.

Nhân có nhiều trang ảnh như thế trên vách, tôi ngẫu hứng chỉ luôn vào một cái ảnh chụp cao nguyên, hình như là Tây Tạng, có hai người đàn bà địu con đi, dáng rất vui vẻ trên nền đất nâu rộng mênh mông, rồi bảo: Mày làm bài thơ về cái cảnh này đi. Nếu không làm được thì mày đúng là thằng nói phét. Nó cúi xuống, viết luôn và một lúc sau, nó làm xong bài thơ, đọc cũng thấy được, vần vè nghiêm chỉnh. Tôi rất tiếc là không còn nhớ và bài thơ cũng không lưu lại, vì lúc ấy, tôi nghĩ, đây chỉ là trò chơi bời nghịch ngợm của bé Khoa mà thôi. Ai nghĩ hai ba năm sau, thằng cu thò lò mũi xanh nhà tôi lại oách thế.

Năm 1968, trong cuộc ứng đối thơ ở nhà tôi có nhà thơ Định Hải và nhà văn Lý Biên Cương tham gia, tôi ngẫu hứng đọc tặng Khoa câu thơ đùa: Hỡi anh thi sĩ học trò / Làm thơ mà vẫn thò lò mũi xanh…

119. Nguyễn Đức Tùng:

Anh Khoa và anh có thể theo trường phái thơ slam hiện nay ở Mỹ.

Trần Nhuận Minh:

Tôi hy vọng thế. Xin nói tiếp. Về sau, đọc một số bài trả lời phỏng vấn đã đăng báo của Khoa, mới hay là Khoa thường bị “sát hạch” tức khắc như thế, để thử “tài”, không phải chỉ một lần. Nhưng chí ít, cũng đã có một lần, có thể nói là thành công, vì bài thơ còn lưu lại được đến giờ. Đó là bài Bên sông Kinh Thầy, in trong tập Góc sân và khoảng trời từ năm 1968. Hiện bài thơ vẫn còn trong Tuyển tập thơ Trần Đăng Khoa. Bài thơ thực hiện cuộc”sát hạch” tại nhà của ông Vũ Đình Ngôn, đại diện phòng chuyên môn của Ty Giáo dục tỉnh Hải Hưng, đến nhà khảo sát tại chỗ. Tôi chép ra đây để bạn đọc tham khảo:

BÊN SÔNG KINH THẦY

Hàng chuối lên xanh tốt

Phi lao reo trập trùng

Vài ngôi nhà đỏ ngói

In bóng xuống dòng sông

Một bác chài lặng lẽ

Buông câu trong bóng chiều

Bỗng nhiên một con cá

Nhảy bên thuyền như trêu

Bắp ngô non răng sún

Óng vàng một chòm râu

Ôi cánh buồm nhỏ bé

Biết bay về nơi đâu?...

1966

Sau khi Khoa nổi tiếng, ông Hồ Thiện Ngôn, người Nam Bộ, rất trực tính (sau này, ông coi Khoa như con, coi tôi như em, sống rất có tình nghĩa), cán bộ Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, dẫn đoàn cán bộ nghiên cứu, gồm sáu người, về nhà tôi, hầu hết đều là các vị đầu ngành, trong đó có ông Đức Minh, viện trưởng Viện Ngôn ngữ, về nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ và giải thích bằng cách nào có trong thơ Trần Đăng Khoa. Sau này gặp tôi, ông nói, tôi mới biết được như vậy. Các vị ở liên tục trong nhà cùng với Khoa ba tháng, có vị đi và về trong vòng sáu tháng, có vị hơn một năm.

Ông Ngôn gửi thư cho tôi, lời lẽ rất ngắn gọn:

Anh Minh! Chúng tôi về xem xét việc cháu Khoa làm thơ để báo cáo với đồng chí Tố Hữu. Tôi yêu cầu anh không về nhà. Khi nào cần anh về, tôi sẽ có thơ sau.

Hồ Thiện Ngôn.

Thư này tôi vẫn còn giữ.

Nhân đây, tôi nói thêm: toàn bộ thư từ trao đổi, các sổ tay ghi lưu niệm của khách đến thăm, nhiều người vô danh, nhưng cũng có cả những tên tuổi lớn, một số bản nháp, bản thảo ban đầu, những bài thơ đăng báo từ bản đầu tiên, đến bản cuối cùng, của Khoa - cũng như của tôi, tuy không đầy đủ - vì tôi từ xa về, chỉ thu được những thứ lúc đó có trong nhà – nhưng những gì đã lưu lại được, thì tôi hiện giữ được, hầu như còn nguyên vẹn, đóng thành từng bao to nhỏ khác nhau, xếp bên tường xây, tại ba phòng làm việc của tôi, ở 47 – Lê Thánh Tông, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh hiện nay, có ghi danh mục cụ thể trong 11 quyển sổ hẳn hoi…

Riêng tư liệu về Khoa, thì tôi giữ theo lời dặn riêng của nhà thơ Huy Cận, Thứ trưởng Bộ Văn hóa. Ông Huy Cận bảo, tốt nhất là Minh làm việc ấy từ bây giờ đi, kẻo sau chả ai biết thế nào, lại làm mò, nói mò… Một số việc đơn giản: vẽ lại sơ đồ nhà, hai cái vườn trước sân và cạnh nhà trồng cây có trong thơ trẻ con của Khoa, ví như dàn trầu ở đâu, cây cau, cây na, cây bưởi, cây dừa… ở chỗ nào, vườn cải, vườn mía là vườn nào…

Khoa rất khốn khổ, luôn bị phiền hà, vì có ông anh làm thơ và tôi cũng chả sướng gì khi có chú em nổi tiếng. Vì ngườì ta chỉ nói đến thơ Khoa là đủ. Việc gì có trong làng văn, trong hai anh em, người ta chỉ cho có một suất, như suất ăn liên hoan lúc đói vậy. Và được thế đã mừng lắm, “trên cả tuyệt vời” rồi.

120. Nguyễn Đức Tùng:

Anh nghĩ thế đã là vui ư?

Trần Nhuận Minh:

Vui chứ. Tôi nghĩ thế cũng là may lắm rồi, ơn Trời rồi. Trong quan hệ anh em, chúng tôi rất quý mến, tôn trọng lẫn nhau và cũng rất thẳng thắn, sòng phẳng về các vấn đề văn học. Khoa đọc thơ khá tinh. Không ít câu thơ của tôi, tôi đã chữa lại theo lời phê bình, đôi khi rất hài hước của chú ấy. Đôi khi chú ấy cũng chữa lại thơ chú ấy theo góp ý của tôi.

121. Nguyễn Đức Tùng:

Anh Trần Đăng Khoa hài hước bông đùa hơn anh, nhưng anh cũng có cái hài hước ngầm rất riêng của mình. Đọc kỹ mới biết.

Như thế, làm anh một người nổi tiếng không phải là điều may mắn. Có điều chưa chắc có nhiều người biết Trần Nhuận Minh là một cái cây có tán lá cao rộng, không cần đến bóng mát của cây khác.

Tôi đã đọc Chân dung và đối thoại, một tác phẩm rất xuất sắc, nhưng là văn xuôi.

Về thơ, sau thời niên thiếu được xem là thần đồng, khi lớn tuổi Trần Đăng Khoa làm thơ ít hơn, và có người cho rằng: thơ không còn hay bằng trước nữa. Theo anh vì sao?

Riêng tôi, đọc thơ “người lớn” của Trần Đăng Khoa rất ít, nhưng có một vài bài gây ấn tượng mạnh. Trong bài Thơ tình người lính biển có một câu thơ có lẽ ít người để ý, vẫn ám ảnh tôi, thỉnh thoảng lại quay trở lại trong đêm vắng, như một thứ nhành cây ai bẻ làm dấu mốc chỉ đường.

Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc

Sự đối chiếu rất lạ, bình dị mà sâu, làm cho hình ảnh vang lên như một âm thanh.

Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn

Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc

Thăm thẳm nước trời, nhưng anh không cô độc

Biển một bên và em một bên

Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên

Bão thổi chưa ngừng trong những vành tang trắng

Cơn bão đang thổi qua bỗng dừng lại trong vành khăn tang.

Nó bị câu thơ chặn lại.

Có thể tôi nhớ sai, nhưng nếu bản gốc là “chưa ngừng” trong câu cuối, thì tôi thích hai chữ “không ngừng” hơn. Chữ “không ngừng” thú vị về âm điệu, và tránh được sự lặp lại từ câu trước, mặc dù dĩ nhiên hai cặp chữ đó khác nhau về ý nghĩa. “Chưa ngừng” là cuối cùng, “không ngừng” là khởi đầu. “Chưa ngừng” là dịu dàng hy vọng, “không ngừng” là nghiệt ngã khách quan.

Trong những câu thơ ấy, có một thứ chuyển động mang tính nhân quả.

Trần Nhuận Minh:

Ý kiến của anh là có cơ sở. Chỉ có một ý nhỏ, tôi thấy khác. Đó là cơn bão không phải “đang thổi qua”, tức là ở ngoài tràn qua, như anh nói, mà nó thổi lên từ trong vòng khăn tang và nó cuộn xoáy (chưa ngưng hoặc không ngưng - trong nguyên bản, tác giả viết là ngưng) ở trong đó.

Còn thơ Trần Đăng Khoa hiện nay, nhất là thơ “người lớn”, nên đánh giá như thế nào? Dẫu sao anh nói về em cũng có cái khó của nó. Tôi nhờ một người nói giùm, đó là nhà văn Đình Kính, hiện là ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá VIII. Bài nói của ông đã đăng báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2008, cách đây 3 năm. Điều rất lạ lùng là toàn bài của nhà văn Đình Kính “trả lời” trùng khít với câu hỏi của anh. Nghĩa là câu hỏi của anh cũng từng là nỗi băn khoăn của nhiều người.

Được sự đồng ý của tác giả, tôi chuyển vào đây, như thế khách quan hơn (có cắt bớt một số đoạn). Một số ý nhà văn mở rộng, rất phù hợp với nội dung của cuộc chuyện trò về thơ, về nghề thơ, mà chúng tôi đang thưa cùng bạn đọc.

ĐỌC LẠI THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA
(Trích)

ĐÌNH KÍNH

Thơ Trần Đăng Khoa vẫn là một miền riêng, không trộn lẫn. Giống như ca khúc Trịnh Công Sơn, giai điệu bài hát khi cất lên, dù nghe ở đâu vẫn nhận ra chất nhạc của riêng một người. Đóng góp của Trần Đăng Khoa còn là chỗ ấy nữa. Viên Mai từng nói: “Làm người thì nên không có cái tôi; có cái tôi thì hay mắc bệnh kiêu căng, cậy tài... Nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi. Không có cái tôi thì dễ mắc tật cóp nhặt, phô diễn...”. Còn Nguyên Hồng thì nhắc nhở: “Trên cái võ đài văn chương nghệ thuật kia, tôi không chỉ không nên bắt chước những ngòi bút có tiếng tăm của thứ văn chương thời thượng, mà ngay cả những ngòi bút cùng khuynh hướng với tôi, đã đi trước tôi, mở đường cho tôi, kích động tôi, tôi không phải là nô lệ, không là cái bóng của sự phỏng cóp”. Nhà văn chỉ có thể đóng góp cái gì đó cho nền văn học khi họ có cái gì đó là của riêng mình. Trần Đăng Khoa có cái Tôi của riêng mình trong thơ.

Thơ Trần Đăng Khoa không hề mới (theo quan niệm nào đấy), càng không lạ, chỉ dung dị trung thành với một lối nói, một lối diễn. Thơ anh chân quê, giống như cô gái làng mộc mạc, không son phấn, không giả vờ ưỡn ẹo làm duyên làm dáng phô khoe cơ thể, nhưng lại là một thứ duyên thầm đằm thắm, nền nã, nhiều nét đồng bãi. Vẻ đẹp toả ra một cách tự nhiên, hồn hậu, chân chất, thuần khiết, đằm lắng...

Đã ngủ rồi hả trầu?

Tao đã đi ngủ đâu

Mà trầu mày đã ngủ

Bà tao vừa đến đó

Muốn xin mấy lá trầu

Tao chẳng phải ai đâu

Đánh thức mày để hái

Trầu ơi hãy tỉnh lại

Mở mắt xanh ra nào

Lá nào muốn cho tao

Thì mày chìa ra nhé…

(Đánh thức trầu - 1966)

Cơn giông bỗng cuộn giữa làng

Bờ ao lở. Gốc cây bàng cũng nghiêng

Quả bòng chết chẳng chịu chìm

Ao con mà sóng nổi lên bạc đầu…

(Cơn giông - 1972)

Thơ Trần Đăng Khoa không là loại cônhắc pha chế nhiều hợp chất nhằm đánh lừa dân nghiền, đến nỗi thoáng ngửi hơi đã thèm, cuống quýt muốn uống ngay. Thơ anh hấp dẫn như loại vang nho, nhẹ, không gây sốc, không nồng, không làm cho người ta khùng, nhưng uống rồi sẽ ngấm, sẽ say lâu và khó bỏ..

Lá trầu khô giữa cơi trầu

Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay

Cánh màn khép lỏng cả ngày

Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa

Nắng mưa từ những ngày xưa

Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan...

(Mẹ ốm - 1970)

Và hai mươi tám năm sau, trong hoàng hôn Hoa Lư - 1998:

Chiều mờ non nước cũ

Bóng kinh thành khói bay

Những vui buồn trận mạc

Còn nhuốm vào cỏ cây

Đường cỏ lơ mơ nắng

Mái tranh chìm chơi vơi

Vài tán cau mộc mạc

Thả hồn quê lên trời…

Nếu ai đó có ý định làm cuộc tìm kiếm, nhặt góp những câu thơ mới lạ trong mênh mông thơ Trần Đăng Khoa, có lẽ khó. Trần Đăng Khoa không mấy nhiều những câu thơ hào hoa. Ngay cả câu: “Mái gianh ơi hỡi mái gianh - Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương”, được chọn là một trong 50 câu thơ hay của nhiều tác giả để thả lên trời nhân Ngày thơ Việt Nam, chưa hẳn đã là câu thơ đặc sắc nhất của anh. Nhưng, nhằm tìm ra những bài thơ hay, lại không thiếu. Đó cũng là một đặc trưng nữa ở thơ Trần Đăng Khoa. Bằng giọng điệu rất riêng, bằng lối viết, lối thể hiện rất duyên, dí dỏm mà có tình, lại khá tự tin, Trần Đăng Khoa có tài, như những nghệ nhân xây Tháp Chàm, biết kết dính những câu thơ (viên gạch) của mình lại thành một bài thơ (ngôi tháp) có hồn, có vía. Thơ anh cứ tuồn tuột đi vào lòng người như thể có ma lực và qua năm tháng vẫn đứng được, có lẽ bởi thế. Nhưng để làm nên ngọn tháp, ngọn tháp có hồn, có vía, với bàn tay diệu nghệ không thôi chưa đủ. Trước hết người thợ phải có một trái tim, biết cảm, phải đam mê, đồng thời nhất thiết phải có sự lịch lãm và cái tình. Bài thơ cần nhất ở cái hồn, cái thần, cái vía. Không có những thứ đó, tác phẩm chỉ là sự lắp đặt, chơi trò chồng xếp con chữ. Mà đã không có tình, dù sắp đặt, chồng xếp khéo tay tới mấy cũng chỉ sinh ra những hình hài chữ khô cứng, sớm muộn gì cũng chết yểu.

Viết tới đây, tôi bất giác liên tưởng tới đêm thơ nhạc và giao lưu do Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng tổ chức nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội Nhà văn Việt Nam. Trên sân khấu không lập loè đèn xanh đèn đỏ, không váy ngắn áo chẽn, không bá vai bá cổ hối hả nhảy hip hốp, không khoe đùi khoe mông, chỉ là những ca khúc cũ kỹ, cũ kỹ như những tác giả của nó, cũ kỹ như con người Trần Đăng Khoa vậy, ấy thế mà khi Hạt gạo làng ta, (thơ Trần Đăng Khoa do Trần Viết Bính phổ nhạc), một bài thơ, một bài hát hết sức dung dị, không màu mè, không mới, không lạ và do các cháu thiếu nhi một trường phổ thông biểu diễn, nhưng hàng trăm khán giả có mặt trong nhà hát thành phố Cảng đã im phắc, hào hứng chăm chú lắng nghe. Thì ra giá trị đích thực của thi ca nằm ở chiều sâu tâm hồn người nghệ sĩ, chứ không phải là thứ màu mè hoa hoè, hoa sói theo phép chồng xếp chữ đơn thuần. Mới hay, văn chương đích thực, văn hoá đích thực thì tồn tại mãi. Cái gì nhân danh văn hoá mà không văn hoá, dù vờn ve mị người tới mấy chẳng thể đánh lừa được sự thông tuệ của thời gian, tất yếu bị đào thải, hoặc nếu tồn tại, chỉ là thoáng chốc do bị ngợp, chưa kịp phân định mà thôi. Tôi muốn bạn đọc bớt chút thời gian lướt lại bài thơ mà người viết bài này cho rằng là một trong những bài thơ hay của Trần Đăng Khoa. Hay, bởi cái đọng lại cuối cùng nơi bài thơ vẫn là cái tình.

Hạt gạo làng ta

Có bão tháng Bảy

Có mưa tháng Ba

Giọt mồ hôi sa

Những trưa tháng Sáu

Nước như ai nấu

Chết cả cá cờ

Cua ngoi lên bờ

Mẹ em xuống cấy...

(1969)

Không cầu kỳ. Rất chân thật. Bởi vậy rất cảm động. Đọc nhiều lần vẫn cảm động. Quả như Tố Hữu khi nhận định về thi ca, đã viết: “Bài thơ hay làm cho người ta không thấy câu thơ, chỉ còn cảm thấy tình người...Thơ là tiếng nói tri âm”. Hạt gạo làng ta, với tôi là tiếng nói tri âm! Trần Đăng Khoa khiêm nhường cho rằng Hạt gạo làng ta bay được cao, bay được xa, được chu du khắp đó đây là nhờ nhạc của ông Bính cõng đi. Đúng một phần. Loại trừ tác dụng lan toả trong một giao diện khá rộng nhờ sự chuyển tải có hồn trong một sức sống mới của âm nhạc, Hạt gạo làng ta đủ tư cách sừng sững đứng độc lập bằng vị thế là một thi phẩm đi cùng thời gian...

Thơ không cốt ở xác chữ mà cốt ở hồn chữ. Chữ là phương tiện để tác giả gửi hồn vào đó. Và khi ấy, lẽ đương nhiên hồn người hồn chữ quyện nhập vào nhau làm một. Người viết không xúc động, chỉ muốn phô diễn sự lạ sao có khả năng thổi hồn vào các con chữ? Sự “cưỡng hiếp” ấy chỉ cho ra đời những hình hài nhem nhuốc, gàn dở. Và đó nhất quyết không thể là thơ. Làm lạ thơ đâu khó. Ăn cơm bằng bát chuyển qua xúc cơm trong cốc, với những người có nghề, dễ ợt. Mục đích cuối cùng của thơ là hay chứ không phải là lạ. Thể hiện bài thơ bằng cách kiểu gì đều do cái hồn, cái tâm, sự lịch lãm vốn có của nhà thơ và điều chất chứa trong lòng muốn phô ra, muốn giãi bày quyết định. Điều ấy nhiều khi nằm ngoài dự định người viết. “Tôi để mặc bài thơ chọn lấy thể thơ”- J.Seervielle. Câu thơ hay, bài thơ hay chẳng phải tự dưng mà có. Đó là thứ Trời cho. Nhưng để chộp được cái thứ ngọc quý giá trời phú ấy, trong mỗi nhà thơ phải luôn túc trực ý thức nghệ sĩ, phải túc trực ý thức sáng tạo. “Các thần thánh ban cho ta câu thơ thứ nhất, nhưng chính ta phải dụng công làm lấy câu thơ thứ hai”- P. Valéry:

Tiếng chim vách núi nhỏ dần

Rì rầm tiếng suối khi gần khi xa

Ngoài thềm rơi cái lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng

(Đêm Côn Sơn- 1968)

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng... câu thơ bật ra tưởng chừng ngẫu nhiên, chỉ là một thoáng cảm bằng tai, nhưng đọc kỹ cả đoạn, cả bài, không khó khăn nhận ra sự bất chợt ấy bắt đầu từ sự rung động của trái tim, sự bất chợt ấy có vẻ vô thức, nhưng lại là tích góp đã được chuẩn bị của ý thức. Bởi thế câu thơ trở nên có hồn, có thần.

Và hai mươi bốn năm sau, sau Đêm Côn Sơn là buổi chiều ở một thành phố cổ nơi quê người:

Thành xưa đổ bóng vào trời

Khói sương lãng đãng – Một thời đã xa

Tháng năm lừng lững đi qua

Chỉ còn mấy đỉnh tháp già ngẩn ngơ

Chiều buông ngọn khói hoang sơ

Tiếng chuông ngàn tuổi tỏ mờ trong mây...

(Qua Xuzdan - 1992)

Rồi mây nước ở Trường Sa:

Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng

Sỏi cát bay như lũ chim hoang

Cứ mặc nó. Nào hỡi các chiến hữu

Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở màn...

Những giai điệu ngang tàng như gió biển

Nhưng lời ca toàn nhớ với thương thôi

Đêm buông xuống nhìn nhau không rõ nữa

Cứ ngỡ như vỏ ốc cất thành lời…

(Lính đảo hát tình ca trên đảo)

Chẳng rối rắm, không có câu chữ lạ. Bài thơ hiện ra tự nhiên, tự nhiên như cuộc sống vốn thế, tự nhiên như thể người làm thơ không có ý định làm thơ. Mộc mạc như bờ ao gốc rạ, chân chất tựa hạt đậu củ khoai, mà sao gần gũi, thân thiết, hoà đồng, gợi mở thế? Phải chăng nhờ cách viết, cách cảm rất chân thành đồng quê đó mà bao năm rồi, thơ Trần Đăng Khoa cứ bỏ bùa mê vào nhiều thế hệ bạn đọc, để người viết ra những câu thơ dung dị nhưng cao sang ấy trở thành một thương hiệu có giá?

Khi trích những câu thơ trên, tôi chợt nhớ đến ý kiến của một người Nam ta, ông Ngô Thì Nhậm: “Thơ mà quá cầu kỳ thì sa vào giả dối, quá trau chuốt thì sa vào xảo trá, hoang lương hiu hắt thì sa vào buồn bã. Chỉ có thuần hậu giản dị, thẳng thắn không giả dối không xảo trá, không buồn bã mà rốt cục chú trọng đến sự ngăn chặn điều xấu, bảo tồn điều hay, mới là những đặc sắc chính của thơ...” Và ý kiến một ông Tây, ông Yannis Ritsos: “Kết quả của một tác phẩm nghệ thuật hay, là làm cho chúng ta cảm thấy sảng khoái và khiến cho chúng ta muốn sáng tạo ra một cái gì đó. Chúng ta muốn yêu và muốn được yêu”. Dù ở gầm trời nào, dù ở thời đại nào, dù Tây hay Ta, quan niệm về thơ hay cũng chỉ là một.

Trần Đăng Khoa là gã có tài quan sát, quan sát rất tinh tế. Từ hương nhãn, hoa bưởi, tiếng chim chích choè, tiếng trống làng, tiếng máy cày xình xịch, đến chiếc ngõ nhỏ, cánh đồng làng, cây dừa, thậm chí cả bé Giang tập xe đạp, đánh tam cúc với mèo; rồi một bông hoa duối, một cây xoan, một bến đò... cũng thành thơ, lại là thơ không xoàng thì giỏi quá!

Sự quan sát đó, nếu trước đây chỉ loanh quanh trong góc sân, vườn cải, ao nhà; hình ảnh quan sát bó gọn, tươi non trong khuôn khổ con ong, cái kiến, cây dừa, hạt gạo, cây đa, cánh diều, thì theo năm tháng, theo tỉ lệ thuận với dung nạp kiến thức, văn hoá và bằng sự dậy thì rồi hồi xuân của cảm xúc, càng về sau đã rộng lớn hơn, khái quát hơn, nhân loại hơn, vừa nồng đượm, lại cũng vừa đằm lắng. Anh suy ngẫm về nỗi đau Mỵ Châu, khi đứng trước tảng đá mang hình nàng, do sóng vật lên bãi biển Thanh Hóa, được dân dùng võng đào đưa về đền Cổ Loa:

... Tôi đứng lặng trước em

Không phải trước lỗi lầm biến em thành đá cuội

Nhớ vận nước có một thời chìm nổi

Bắt đầu từ một tình yêu...

Có những lỗi lầm phải trả bằng cả một kiếp người

Nhưng lỗi lầm em lại phải trả bằng máu toàn dân tộc

Máu vẫn thấm qua từng trang tập đọc

Vó ngựa Triệu Đà còn đau đến hôm nay…

(Trước đá Mỵ Châu - 1974)

Hoặc trước nỗi mong manh của những kiếp người:

... Ôi thiên nhiên cảm ơn người nhân hậu

Những so le, người kéo lại cho bằng

Ít nhất cũng là khi nằm xuống

Trong mảnh gỗ rừng, dưới một vầng trăng.

... Tôi đi giữa nổi chìm bao số phận

Người xưa vẫn đây mà, có xa cách chi đâu

Tôi thầm gọi. Sao không ai lên tiếng

Chỉ hoang vắng dưới chân và sương khói trên đầu...

... Trước thiên nhiên con người như khách trọ

Như ảo ảnh chập chờn thoáng đến, thoáng lìa xa

Chúng ta sống bên nhau, dẫu năm này tháng khác

Thì cũng vẫn chỉ là một thoáng giữa sân ga...

(Ở nghĩa trang Văn Điển - 1986)

Và trước những biến động của lịch sử nhân loại mà không ai có thể lường trước được khi ở Matxcơva:

Thời gian vẫn đi lạnh lùng, khắc nghiệt

Có kiệt tác hôm nay, mai đã bẽ bàng rồi

Bao thần tượng ta tôn thờ cung kính

Mưa nắng bào mòn, còn trơ lõi đất thôi

Ở nơi nào kia, chiến tranh đang gầm rú

Những quốc gia nào đang thay ruột, đổi ngôi

Trái đất mỏng manh và đáng thương biết mấy

Trước những mưu mô, toan tính của con người…

(Matxcơva mùa đông năm 1990)

Trần Đăng Khoa có nỗi buồn, nỗi đau chứ. Nhưng anh không hằn học, không mượn thơ để xả nỗi buồn, nỗi đau riêng. Thơ anh là sự xót xa trong nỗi đồng cảm sẻ chia, với những quan tâm của cả cộng đồng, mà vẫn bảo tồn được cái bản sắc nghệ thuật, đã có từ trong cốt lõi. Tôi cho rằng, thái độ ứng xử và cách nhìn của người làm thơ quyết định tính nhân văn của thơ!

Nhiều người cho rằng thơ Trần Đăng Khoa có hai phần, phần thơ trẻ con và phần thơ người lớn. Tôi không nghĩ có sự rạch ròi đứt đoạn như vậy. Đọc thơ anh, tôi nhận ra sự đồng nhất liền mạch trong cảm xúc, trong suy tưởng và cả sự liền mạch trong cách diễn đạt, cách nói, cách kể, cách cấu trúc thơ...(một hệ thống sáng tạo mà các nhà lý luận vẫn gọi là thi pháp). Có điều phần thơ sau này, ý tứ sâu xa hơn, thâm hậu hơn, nhuần nhị hơn, và bởi thế nói được nhiều điều hơn. Càng không thể nói thơ Trần Đăng Khoa viết khi còn nhỏ hay hơn thơ viết khi anh đã lớn. Nhận định như vậy là chủ quan, thiếu công bằng. Mảng thơ sau này của anh, đặc biệt là mảng thơ viết về người lính khi anh là người lính, và mảng thơ viết về nhân tình thế thái khá đặc sắc và có nhiều đóng góp.

Ta ngự giữa đỉnh trời

Canh một vùng biên ải

Cho làn sương mong manh

Hoá trường thành vững chãi

... Lán buộc vào hoàng hôn

Ráng vàng cùng đến ở

Bao nhiêu là núi non

Ríu rít ngoài cửa sổ

Những mùa đi thăm thẳm

Trong mung lung chiều tà

Có bao chàng trai trẻ

Cứ lặng thinh mà già...

(Đỉnh núi - 1998)

Gửi bác Trần Nhuận Minh là khúc tâm sự của người đã từng trải, qua rồi những gì ngộ nhận, non trẻ; là lời tự bạch của kẻ đã nhận biết mọi lẽ ở đời, với những gì là thật, những gì là phù phiếm. Là nỗi niềm của kẻ tu hành gần đắc đạo đã ngộ nhiều sự. Tôi cho rằng đây là bài thơ hay, bình dị mà lắng đọng, nhiều chiêm nghiệm, phiêu diêu mà sâu xa, lắm nghĩ ngợi...

Bác làm bông lau ngàn

Thả hồn vào hoang vắng

Khi buồn thì hát ca

Lúc vui thì im lặng

Em quẩy bầu trăng gió

Bác gánh bao nỗi người

Sóng đôi mà đơn độc

“Đi mang mang trong đời”

Giờ thì em đã chán

Những vinh quang hão huyền

Muốn làm làn mây trắng

Bay cho chiều bình yên

… Đất trời thì chật hẹp

Làng quê thì mênh mông

Thung thăng em với bác

Ta cưỡi thơ ra đồng…

(1998)

Sao có thể nói thơ ở giai đoạn sau này của Trần Đăng Khoa không hay được! Gửi bác Trần Nhuận Minh, một thi phẩm ngắn gọn mà chất chứa, ủ ấp bao nỗi niềm…

(Đình Kính)

Tôi xin nói thêm về hai câu thơ của Khoa

Người bảo bác theo Đỗ

Em phải học Lý thôi...

Từ bản thảo đầu tiên, đăng báo, cho đến các bản in bây giờ vẫn như vậy, chưa từng thay đến một dấu phảy. Tôi hiểu ý của câu thơ là: người ta bảo bác làm thơ theo con đường của ông Đỗ Phủ, vì vậy, để anh em khác nhau, người ta bảo em phải học ông Lý Bạch. Đây có thể là lời khuyên, thậm chí là lời chỉ bảo của người hơn mình đối với mình. Đó cũng là lẽ thường của nhiều nhà thơ. Vậy mà có người viết lên báo nói Khoa đã tôn anh mình là Đỗ Phủ, còn mình đã tự nhận là Lý Bạch. Rõ ràng sai hoàn toàn ý của tác giả.

Chưa bao giờ các nhà phê bình thơ ở Việt Nam lại cắt xén văn bản tùy tiện rồi phán thoải mái như bây giờ, chả có nguyên tắc nào, thích thì cứ nói lấy được, trong đó có cả các giáo sư, phó giáo sư tiến sĩ hẳn hoi. Có nhà phê bình đã có hạng, chê một bài thơ của tôi, sau tôi điện cho ông, ông hơ hớ cười mà bảo rằng, thế ra thơ của thằng khác à, vậy mà mấy năm nay, mình cứ tưởng là thơ của cậu đấy. Rất vui là như thế.

122. Nguyễn Đức Tùng:

Đọc các tài liệu, tôi thấy những năm 1966 – 1968 ở miền Bắc, có thể gọi là những năm Trần Đăng Khoa. Việt Phương trong tập Cửa mở cũng có câu:

Nam Trần Thị Lý và Bắc Trần Thị Lý

Những bài thơ Trần Đăng Khoa

Có người cho rằng: trong những năm ấy, thơ anh Khoa có nhiều bài đặc sắc hơn so với bây giờ. Nhưng thật ra theo tôi cũng rất khó so sánh, vì thơ hồi ấy là thơ thiếu nhi, thơ sau này là thơ người lớn.

Thơ thiếu nhi và thơ ‘‘người lớn’’, tức là thơ ‘‘bình thường’’, khác nhau ra sao?

Trần Nhuận Minh:

Thực ra thì “nhiều bài thơ đặc sắc” như anh nói, của Khoa, vẫn tiếp tục ra đời sau năm 10 tuổi. Nhưng ba năm ấy là thời kỳ thơ Khoa được dư luận quan tâm nhiều nhất. Vì sao? Vì đó là thời gian các cơ quan chức năng và báo chí về xem xét, chất vấn, ra câu hỏi rồi sát hạch tại chỗ, bắt làm thơ tức khắc theo yêu cầu, điều tra thực hư, rồi kết luận. Và những ‘‘kết luận’’ ấy, đăng liên tục trên các báo, tạo ra một sự chú ý có phần khác thường. Bản thảo thơ (chép tay) của Khoa thường bị lấy đi làm bằng chứng, rồi cũng mất luôn. Đặc biệt có hai nhà nghiên cứu nữ, rất tận tâm, về nhà tôi nhiều lần trong nhiều thời gian khác nhau, mỗi người hoàn thành hai tác phẩm và đã được xuất bản ở thời kỳ khó khăn đó, trên các trang giấy xấu, ố vàng. Tôi muốn ghi nhận với sự trân trọng đặc biệt của bố mẹ tôi đối với bà Đạm Thư và phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết, phu nhân nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Tuyên. Được biết bà Ánh Tuyết đã viết luận văn tiến sĩ khoa học tâm lý được xếp điểm tối ưu, được đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phó Thủ tướng Chính phủ trao bằng, là nghiên cứu về tâm lý sáng tạo tuổi trẻ con của Khoa. Đó là luận văn tiến sĩ đầu tiên về Khoa và thơ Khoa, năm Khoa mới có 10 tuổi.

Có người đi học với Khoa, thả diều câu cá với Khoa, cũng có người về với mục đích phủ nhận, nhưng rồi lại công nhận những bài thơ của Khoa, nhất là những bài được viết hoàn toàn trong sự kiểm soát của họ, rồi sau đăng báo đúng như bản thảo họ có trong tay… Tôi biết có một tập thơ chép tay của Khoa, khoảng trên dưới 100 bài, một vị về nhà, nói sẽ mang lên cho đồng chí Tố Hữu đọc, chả biết có thật không, kết quả là tập bản thảo ấy đến nay vẫn bị thất lạc, mà Khoa thì chỉ nhớ được một số bài trong đó… Tóm lại, nó ầm ĩ lên là bởi thế thôi. Chứ không phải những năm ấy, thơ Khoa hay hơn những năm sau. Rồi các báo ra các trang riêng, báo ảnh Việt Nam của Thông tấn xã Việt Nam ra hai trang rộng với bảy thứ tiếng, giới thiệu chính thức ra nước ngoài… vân vân và vân vân…

123. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi được biết ở ngoài Bắc thời ấy cũng có các hội thảo về thơ thiếu nhi Trần Đăng Khoa; trong đó có các ý kiến giải thích khác nhau về sự ra đời của hiện tượng này. Anh có được dự không?

Trần Nhuận Minh:

Tổ chức chính thức và bài bản, theo tôi biết, có ba cuộc họp bàn, mỗi cuộc một buổi sáng, có nhiều nhà quản lý, nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà giáo… tham dự. Cuộc thứ nhất ở văn phòng huyện ủy Nam Sách do Ủy ban Thiếu niên nhi đồng Trung ương và huyện ủy Nam Sách chủ trì, mà nhà thơ Xuân Diệu và Huy Cận cùng về dự; cuộc thứ hai ở Nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội; và cuộc thứ ba ở thị xã Hải Dương do Sở Giáo dục Hải Hưng chủ trì, khi xuất bản tập thơ đầu tay của Khoa.

Tôi không được dự. Ngay các thông tin tôi cũng chỉ được biết chút ít về sau, nói theo ngôn ngữ bây giờ là do ‘‘rò rỉ’’, chứ cũng không có ai thông báo hẳn hoi cho tôi biết.

Tôi xin nói thêm: các cuộc bàn luận ấy, sau này gọi là “hội thảo”, thời ấy chữ “hội thảo”, cũng như chữ cửa miệng bây giờ là “cảm ơn” hay “xin lỗi”, chưa có. Tôi nhớ cuối năm 1975, tôi vào Huế, khi đi chợ Đông Ba, các cháu cảm ơn tôi, khi tôi mua hàng, và xin lỗi tôi, vì không có mặt hàng tôi cần mua ở quầy hàng của cháu, thì tôi ngạc nhiên lắm, chả hiểu tại sao lại phải rắc rối thế. Việc cho hàng vào túi nylon để người mua xách đi, rất phổ biến ở miền Bắc bây giờ, lần đầu tiên tôi thấy cũng là ở chợ Đông Ba. Và cũng tại Huế, chiều đó, khi cùng tôi đi tản bộ, nhà văn S.H. hỏi một người bên đường: kia có phải là nhà thằng C. không ông? Chắc ngài mới ở ngoài Bắc vô? Vâng, S.H. nói. Tôi biết ngay, vì chỉ ngoài Bắc mới gọi người già trong này là thằng. S.H. ngẩn người ra một lúc, rồi bất ngờ tặc lưỡi một cái, tôi nhớ đến tận bây giờ.

Trở lại với các cuộc họp. Nói chung, các nhận định về nguyên nhân ra đời của hiện tượng Trần Đăng Khoa, như anh nói, cơ bản rất giống nhau. Một là chế độ ta ưu việt, cái nôi bằng vàng cho mọi tài năng được nảy sinh và phát triển; hai là nền giáo dục của chúng ta đúng hướng, tiến bộ; ba là đời sống xã hội được cải thiện, quê hương thay đổi từng ngày theo hướng tốt đẹp lên và bốn là truyền thống văn hoá của đất nước, quê hương, gia đình, đặc biệt là người mẹ đã ru Kiều cho Khoa từ thuở nhỏ… Đại loại là như thế.

Nghe thuật lại, tôi bảo đúng quá rồi, nhưng bốn điều ấy có gì dành riêng cho Khoa đâu. Và xét về từng điểm một, thì đúng như thế mà không hẳn như thế. Ví như ru Kiều thì hàng triệu bà mẹ Việt Nam ru Kiều cho con. Còn truyền thống gia đình tôi, thì làm sao bằng nhiều gia đình khác, với ông bố cả đời chỉ đi cày thuê và đóng gạch thuê, chữ nghĩa học thời bình dân học vụ, dù là con trai thứ của một ông đồ. Tôi chưa từng bao giờ thấy người cầm một quyển sách, hay ngó một trang sách nào và người cũng hoàn toàn không quan tâm đến văn chương, dù là của các con; với bà mẹ không biết viết đến cả cái tên của mình, suốt đời làm lụng trên đồng ruộng “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, ngày nông nhàn thì chạy chợ, nấu bánh đúc, bán ngô luộc, lạc luộc, lo quắt người cho con có bát cơm ăn mà không xong... Việc học hành của Khoa thì cũng như mọi trẻ khác, cùng lớp cùng trường trong làng xã, tuyệt đối không có hơn, tuyệt đối không có khác bất cứ một cái gì, vì đây là chủ trương chỉ đạo hẳn hoi, không để có gì bất bình thường, để Khoa được phát triển hoàn toàn trong tự nhiên... Tôi nghĩ điều đó cũng đúng thôi. Và như thế, những cái gọi là hơn, là khác... thực chất chỉ là lời đồn thổi, hoàn toàn không có thật.

Xưa nay, quan hệ làng xã bao giờ cũng có chuyện phức tạp. Khi mình được một cái gì, có khi cái được đó là rơi từ trên trời xuống, sẽ có nhiều người bên cạnh tự nhiên cảm thấy là, vì mình, mà họ đã mất vài cái gì... Lạ thế… Không giải thích được. Tôi nhận ra ở nhiều làng quê miền Bắc Việt Nam, sự đố kỵ, ghen ăn tức ở, không được ăn thì đạp đổ, tìm bằng được cách để hãm hại nhau, khi không còn cách nào khác thì vu cho nhau là địch, để dễ bề thanh toán… nhẹ nhàng. Bây giờ thì cha con anh em ruột cũng sẵn sàng chỉ mặt réo tên, có khi cầm dao chém xả vai nhau, đưa nhau ra tòa… chỉ vì giành giật nhau từng ly đất vườn, hay sự hơn thua nhau đồng tiền còm, bát gạo hẩm…Có ông bố chém đứt cổ con chỉ vì mấy miếng tóp mỡ bị con rán cháy mà các báo đã nêu…Nhà tôi còn được như thế cũng là phúc trời lắm rồi…

Tôi nói điều đó là rất chân thực, xin đừng ai cho rằng, tôi phủ nhận cái truyền thống nhiễu điều phủ lấy giá gương

Xin kể thêm một chuyện vui. Tôi có ông anh con bà bá, chả biết ai xin cho, được làm việc ở một cơ quan nhà nước. Cũng chả biết thế nào, sau có hơn một năm, anh đã sắm được một cái xe phượng hoàng Trung Quốc, loại xe nam màu cánh chả, cao lênh khênh. Có thể do cơ quan phân phối cho để chạy việc vặt. Sướng quá, anh đạp xe về làng, từ nhà nọ sang nhà kia cũng đi xe, gặp ai cũng không chào, đã thế lại bấm chuông từ xa kính coong, kính coong… nghe sốt cả ruột.

Tuần sau cơ quan anh nhận được công văn của địa phương gửi lên: gia đình anh không chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ, bản thân coi thường quần chúng và lãnh đạo xã. Yêu cầu trả anh ta về quê để địa phương giáo dục.

Tôi về làng, đến thăm, anh bảo: mình mới tập đi xe, chỉ sợ đâm vào người, nên phải bấm chuông từ xa, mắt chỉ nhăm nhăm nhìn vào tay lái, có biết cán bộ xã trước mặt đâu mà xuống xe để chào… Nói xong, anh ta cười khơ khơ khơ, khơ khơ khơ… rất vui vẻ.

Ngay khi tôi nói những điều này, địa chính xã tôi đang đi đo đất vườn, đất nhà. Hàng xóm đều là anh em, con cháu, sống còn góp giỗ, chết còn để tang, bình thường tốt với nhau thế, nhưng khi ông địa chính bật cái thước lên thì không còn nhận ra ai là anh em con cháu mình nữa…

Ngay bây giờ, nếu anh từ phía thành phố Hải Dương về thăm nhà tôi qua cổng làng phía Nam - tôi thường đi và về qua cổng này, vì có nhà cô Bình, em gái ruột của tôi ở cạnh đường - anh sẽ thấy bức tường đầu tiên của làng, tại vỉa hè đường cái lớn, là của ông Vũ Đăng Bản, một đảng viên cộng sản hơn 30 tuổi Đảng, hiện vẫn đang sinh hoạt Đảng, tại chi bộ làng. Trên tường, hai dòng chữ to, viết bằng sơn nâu, rất chân phương, không biết có từ bao giờ:

Giống chó bảo còn biết nghe

Người làng sao cứ ba que hết tình

Tất nhiên trong làng, vẫn có rất nhiều người tốt. Và lớp cán bộ chủ chốt của làng xã tôi hiện nay đều còn rất trẻ, họ có văn hoá hơn và ăn ở với dân cũng tử tế hơn.

124. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi chỉ ra Hà Nội một vài lần trong thời gian ngắn, và không về nông thôn, trừ một lần đi nghe hát quan họ ở Bắc Ninh cùng các anh Du Tử Lê, Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Hoàng Trần Cương, nên không thể nhận xét gì về nông thôn miền Bắc, theo nghĩa địa lý Bắc Trung Nam. Tuy nhiên tôi có để ý khi ra các tỉnh phía bắc sông Hiền Lương, thấy nề nếp sinh hoạt ở các vùng ấy khác với các địa phương mà tôi đã sống ở trong Nam. Nhưng xin quay lại với câu chuyện của anh. Cũng có những trường hợp, có những người tốt bụng, đầy thiện chí, giúp đỡ các anh chứ?

Trần Nhuận Minh:

Dĩ nhiên rồi. Không có sao chúng tôi còn sống được đến ngày hôm nay. Tôi đã nói điều đó ở phần trên.

Tôi xin nói thêm là có Khoa, các thầy cô giáo trường cấp I xã Quốc Tuấn khổ cực vô cùng. Tôi vô cùng kính phục và cảm ơn họ. Lương vẫn thế, không đủ ăn, mà làm việc cả ngày chủ nhật để đón khách. Có cả các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, phó tiến sĩ, các chuyên viên cao cấp của trung ương về dự giờ hàng tuần, hàng tháng, xem sổ soạn bài của các thầy cô giáo dạy lớp 2 lớp 3 ở một làng xã hẻo lánh…thì có khổ người ta không.

Làng tôi xưa ngập lụt, bẩn thỉu, tục ngữ có câu: “Một trăm cái tội không bằng một cái lội làng Trực Trì” (Trực Trì là tên làng sau năm 1945, trước đó là Điền Trì). Kỳ nhất là hố xí và chuồng lợn các nhà, bao giờ cũng làm ở cạnh đường cái (hiện giờ cũng thế), để dễ lấy phân bón ruộng, cửa nhà xí che lèo phèo mấy cái lá chuối khô, có thể chào người qua đường từ trong nhà xí được. Đêm khuya, đi trên đường làng, có những đoạn nồng nặc mùi phân và mùi cống rãnh hôi thối...

Ông Hồ Thiện Ngôn, đại diện Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam về làng, gặp lãnh đạo xã, kêu cha kêu mẹ về cái “bản sắc văn hóa” này, có dạo ông yêu cầu tất cả các gia đình, có nhà xí bên đường từ cổng làng vào nhà Khoa phải dỡ ra làm chỗ khác, để khách xa về thăm Khoa, không thấy mất vệ sinh, và bất chợt cứ thấy một bà tóc vấn trần, miệng nhai trầu bỏm bẻm, ngồi nhấp nha nhấp nhổm ở bên trong hố xí, khi có người lạ đi qua trước mặt, hoặc đi qua bên cạnh, làm các nhà phản đối om xòm và họ ghét lây sang cả bố mẹ tôi.

Còn các nhà báo nữ về làng, nói cười ríu rít, áo phảng phất có mùi nước hoa, thoáng thấy cái bắp chân để trắng, là bà con quê tôi ghét lắm, cho cái đồ ấy chỉ có ăn hại và... làm đĩ. Có người đã nhổ bọt ngay sau lưng các cô và nói mát mẻ: ‘‘Ối giời ơi, chưa mưa mà ếch nhái đã nhảy ra đồng rồi!’’. Tôi biết là các cô đều biết mà không chấp (tôi xin lỗi các nhà báo nữ khi nói vô cùng chân xác như vậy – ít nhất cũng phải có một lần nói thật chứ).

Ngẫm lại rất đau lòng. Vô cùng xót xa về một cái thời rất tốt đẹp mà có không ít chuyện không tốt đẹp như thế...

125. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi đã đến những nơi như Cuba, và ở đó tôi nghiệm ra rằng, trong lịch sử nhân loại, có thể có những xã hội rất tốt nhưng không đẹp, rất đẹp nhưng không tươi. Tôi đã từng gặp những cá nhân cũng có tính cách ấy: họ tử tế đàng hoàng nhưng làm ta mau chán.

Đó là những tính cách không được xem xét. Aristotle đã nói, và tôi muốn nhắc lại nhiều lần khi có dịp: Một cuộc đời không được xem xét là một cuộc đời không đáng sống.

Trần Nhuận Minh:

Tôi cũng nghĩ như vậy. Những điều tôi nói trên, cũng là một sự ‘‘xem xét’’ đấy, đúng không? Để khắc phục cái không hay, giữ gìn và phát huy cái tốt đẹp, vẫn hằng có, trong đời sống, trong mỗi con người. Bây giờ, đường làng tôi đã giải bê tông, nhưng đi trong đêm khuya, cái mùi lưu cữu kia, thì không sao mất đi được.

Đời sống luôn phong phú bởi có nhiều cách nhìn khác nhau. Mà đã là cách nhìn thì có thể mỗi người mỗi khác. Ngay tôi với Khoa, khuôn người và âm tiếng hơi giống nhau, nhưng cách hành xử cũng có giống nhau đâu. Khi tôi về thăm nhà, bao giờ tôi cũng đi chào, đi thăm hết lượt bà con cô bác, xóm xa nhà gần, tặng quà người ốm, viếng người chết, nếu có thể - còn Khoa về, thường không đi đâu. Tôi khá tinh tường các phả hệ họ hàng, còn Khoa thì chẳng biết ai dưới ai trên, ngay các cụ tôi, từ ba đời trở lên là Khoa không biết ông nào thì đẻ ra ông nào.

Trình độ các thầy cô giáo cấp I dạo ấy rất hạn chế, cách dạy và học cũng… rất lạc hậu… Mặc dù các thầy cô đều rất tốt, rất yêu nghề, quý trò và vô cùng tận tuỵ với sự nghiệp giáo dục. Có lần, tôi đã nhận xét như thế. Ý kiến này của tôi bị quy là “phủ nhận sự tốt đẹp của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa”. Anh cười à, không, tôi không nói đùa đâu. Đến giờ, vẫn còn có người nhắc đến “sai lầm” này của tôi, khi viết về sự học của Khoa thuở trẻ con, in thành sách hẳn hoi. Làm một người trung thực ở Việt Nam khó lắm lắm...

126. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi hiểu điều anh nói. Thật ra làm một người trung thực ở đâu, thời buổi nào cũng khó, khó một cách khác nhau.

Vì sự thật bao giờ cũng làm cho người ta sợ hãi. Ở trong nước hay ở hải ngoại cũng đều thế.

Có lần tôi ngồi giữa những người bạn học cũ, nhiều người hiện nay làm lớn, tôi cũng có cảm giác y như thế. Một thằng bạn thân của tôi trước khi vào tiệc ghé tai tôi bảo: Bạn bè ai cũng nhớ mày, thương mày lắm, nhưng nhớ đừng nói chuyện chính trị ở đây.

Cũng có một lý do khác nữa, có lẽ của riêng người Việt Nam chúng ta. Tôi là thành viên của bốn hay năm nhóm gọi là mailgroups, vì có bạn bè lưu lạc khắp nơi, hầu hết các nhóm này thư từ với nhau rất đều, vui vẻ lắm, nhưng tất cả đều hết sức tránh các thảo luận thời sự và tình hình đất nước, vì hễ nói đến các chuyện này, thế nào nhóm cũng tan vỡ. Cuối cùng các nhóm bạn bè như thế chỉ nói chuyện hài hước, nhắc kỷ niệm xưa, chuyện bếp núc, nhà cửa, chuyện chơi bời.

Đó là sinh hoạt thực sự của đa số trí thức Việt Nam hiện nay chăng?

Trần Nhuận Minh:

Không phải đâu. Cứ như tôi thấy thì trí thức Việt Nam ở trong nước, ngồi đâu cũng thường bàn chuyện chính trị, nhất là những chuyện thời sự, đang là những vấn đề nóng trên mạng. Nói thoải mái, chứ không phải ‘‘giữ mồm giữ miệng’’ như ngày xưa. Không khí dân chủ trong đời sống tinh thần là có thực, có thể cãi nhau một chầu rồi mời nhau đi ăn phở hay uống cà phê. Trong trường hợp của anh, là các bạn giữ cho anh đấy, vì anh ở nước ngoài về, khỏi bị ‘‘dị nghị’’. Bởi trong các vấn đề liên quan ‘‘có yếu tố nước ngoài’’, thì ‘‘vấn đề’’, về ‘‘bản chất’’ sẽ bị coi là ‘‘khác hẳn’’...

127. Nguyễn Đức Tùng:

Đi hết sự thật, vẫn còn những bí ẩn của sáng tạo.

Trần Nhuận Minh:

Đúng thế. Theo tôi, bất cứ tài năng nào ra đời cũng đều có sự bí ẩn của nó cả. Đẻ ra những thiên tài vĩ đại nhất của nhân loại như W. Shakespeare, L. Tolstoi hay M. Cervantes, Nguyễn Du... cũng chỉ là những người đàn bà rất tầm thường. Đó chẳng phải là những bí ẩn quá lớn ư? Hàng trăm thiên tài ở tất cả các lĩnh vực…đã làm rạng danh cho cả thế giới đến muôn đời sau... đều được sinh ra trong bùng nhùng của những cái váy vô danh... đôi khi cũng chẳng sạch sẽ thơm tho gì... Cái gì làm cho họ thăng hoa, để lại dấu ấn sáng tạo đến kinh người, đều có cái gì đó bí ẩn mà hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm, không ai giải thích thấu đáo được.

Có một thời kỳ, chúng ta cho rằng, cái gì chúng ta cũng hiểu biết cả, cái gì chúng ta cũng giải thích được, cái gì chúng ta cũng cải tạo được. Không phải thế đâu... Chúng ta chân thành phủ nhận tất cả những cái gì không từ trên đưa xuống, và cho rằng, chỉ có cái từ trên đưa xuống mới là cái duy nhất đúng, cái nhất nhất phải làm theo. Lại có thời kỳ, chúng ta cho rằng, cái gì không phải của chúng ta đều là cái sai, cái xấu. Chỉ có cái của chúng ta mới là cái duy nhất đúng, duy nhất tốt. Ta cứ nghĩ đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ (Việt Phương) là thế.

Đó là sự ảo tưởng đến ngớ ngẩn của cả một lớp người, ở một thời tươi sáng đến dễ dãi, khi hồn nhiên tiếp nhận các giáo điều. Từ đó nảy sinh một thái độ ứng xử đơn giản, nghèo nàn, thiển cận, đôi khi thô bạo, thậm chí tàn ác, không chỉ đối với chân lý và nghệ thuật, mà còn đối với người và các mối quan hệ người, mà chính mình cũng không tự biết.

Tôi có bài thơ viết về điều này, in trong Miền dân gian mây trắng:

NGƯỜI ĐỜI TIẾP NHẬN…

Người đời tiếp nhận thường đơn giản

Chân lý khách quan ư?

Chẳng phải điều cần biết

Cái cần biết chỉ là người đó là ai

Người mình ư?

Thì cái gì cũng đúng

Không phải người mình ư?

Thì cái gì cũng sai…

Anh có thấy điều đó là đáng sợ không?

128. Nguyễn Đức Tùng:

Khi đã quá quen, thì có khi không còn biết sợ nữa. Tôi rất thích ở đoạn trên, anh trích dẫn thơ Chế Lan Viên.

Ăn bát cơm ngô sáng ngời chân lý

Theo tôi đây là một trong những câu thơ tiêu biểu cho một trong hai khía cạnh của Chế Lan Viên. Khía cạnh thứ nhất là tài năng thực sự. Tôi có đọc những tập như Hoa trước lăng Người, Hái theo mùa, viết lúc còn chiến tranh, tập Hoa trên đá, Ta gửi cho mình, lúc đã hòa bình, và tập 1 Di cảo thơ, đã lâu không còn nhớ rõ lắm, nhưng ấn tượng là một tài năng lớn, bên cạnh những câu thơ dở mà chắc nhà thơ nào cũng có, là những câu thơ đĩnh đạc, tài hoa:

Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào

Thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ

Có những câu rất cảm động:

Gió thổi mây bay bất trắc

Lúc nào mà không tử biệt sinh ly

Có những câu vừa dí dỏm vừa mộc mạc:

Sương giăng mờ trên ngõ Tạm Thương

Ngõ rất cụt mà lòng xa thẳm

Ngõ bảy thước mà lòng muôn dặm

Thương một đời đâu phải tạm thương

Lúc trước, khi đọc câu thơ này, tôi những muốn về Hà Nội đứng trước ngõ Tạm Sương (chứ không phải Tạm Thương) một lần nhìn sương bay mờ trong buổi sớm. Mới đây đi bộ lang thang cùng với nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, anh chỉ cho tôi xem cái ngõ ấy, giờ đã đổi tên hẳn ra thành ngõ Tạm Thương, với cái bảng tên rất lớn. Tôi thất vọng bỏ đi.

Chắc anh hiểu vì sao.

Nói thế để nói một ý khác: ở đời, và trong văn học, sống chết nhất là sự chân thực, xuất phát từ cốt tủy của sự vật, tiếng Anh gọi là authenticity.

Viết như trong những câu sau đây, cũng có người thích vì êm tai, nhưng kẻ đọc tinh ý thì không tin lắm, vì nặng về xảo ngữ:

A tên em và H tên anh

Chữ đầu tên, trăng tròn đầu tháng mới

Chùm hoa lạ giấu lưng chừng mặt gối

Tình yêu riêng mình chỉ bẻ giao mình

Chẳng còn tên anh chẳng phải tên em

Chúng nó treo trên đầu ta bom A, bom H

Tôi lấy làm tiếc cho câu thứ ba quá, một câu thơ đẹp bỗng bị tác giả đem hy sinh. Hoặc khá hơn, nhưng vẫn còn vướng cái chất rhetoric của người rất giỏi hùng biện, như:

Anh nghe cái mật của đời đang độ kết tinh

Nó chưa thành hình, anh cho nó có hình

Chưa thành hạt, anh làm cho nên hạt

Rồi trả tận tay người cùng với máu anh

Đó là khía cạnh thứ hai của Chế Lan Viên. Khổng Tử bảo: Ta ghét những người hùng biện.

Trần Nhuận Minh:

Tôi đồng ý với anh. Tuy thế, tôi nghĩ: ở khía cạnh thứ hai, với đoạn dẫn ra bốn câu thơ của Chế Lan Viên, tôi e rằng, hình như anh chưa thấu lắm cái điều Chế Lan Viên muốn nói.

Đây là nhà thơ “lý sự” về phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ở đây, ông dạy đám chúng tôi là, nếu anh làm thơ (hay viết văn) theo phương pháp này, thì anh phải nghe cho được cái tốt đẹp đang nảy sinh, (cái xấu thì bỏ, không nói đến, vì nó không phải là bản chất cuộc sống, nó có cũng như không có), nếu cái tốt đẹp chưa đầy đủ thì anh làm cho nó đầy đủ, chưa thành hạt thì làm cho nên hạt (nghĩa là bằng cách mà người ta gọi là “lãng mạn cách mạng”, anh cứ đắp vào cho nó mọi cái tốt đẹp mà nó cần phải có, hoặc nó sẽ có nhưng lúc ấy chưa có, còn sau này, nó không có hoặc không bao giờ có, cũng không sao). Rồi anh viết ra với cả tâm huyết (máu) của mình và cuối cùng trao cái tác phẩm ấy tới tận tay bạn đọc.

Bằng bốn câu thơ, Chế Lan Viên đã nói cái điều mà nhà lý luận Hà Xuân Trường phải giảng trong bốn buổi, tại một cuộc tập huấn, mà tôi đã dự. Trước hết hãy tiếp nhận cái thiện ý đầy mơ mộng và rất tốt đẹp của các nhà sáng lập ra lý luận này, và cũng phải ghi nhận là phương pháp sáng tác ấy cũng đã tạo ra được những tác phẩm xuất sắc của một thời. Nhưng cuối cùng như tôi đã nói một cách đơn giản hơn, là, nó dạy ta nói lấy được và viết lấy được, bất chấp cả hiện thực khách quan và quy luật khách quan, bất chấp cả tự nhiên và quy luật của tự nhiên. Ý ta là ý của ông Giời. Nhưng ở thời ấy, điều đó lại là cần thiết, bởi thế Nụ cười tiễn đưa con (ra mặt trận và có thể hy sinh, mới) nghìn bà mẹ in nhau (thơ Chế Lan Viên). Không có cái đó, chúng ta khó lòng chiến thắng.

Chế Lan Viên có hàng trăm bài thơ “thuần túy lý luận” về sáng tác như thế.

129. Nguyễn Đức Tùng:

Đó là loại “thơ viết về thơ” đặc biệt mà Chế Lan Viên có đóng góp rất lớn. Nhưng anh nói về nội dung, còn tôi nói về hình thức nghệ thuật.

Trần Nhuận Minh:

Thì cũng là điều hay, bởi chúng sẽ bổ sung cho nhau.

130. Nguyễn Đức Tùng:

Anh thường nhắc đến Nguyễn Trãi:

Khách khứa hai ngàn núi xanh

Một bài thơ hay giống như chuyện một người đang đi tới vùng đất mới. Ở đó anh phải khám phá những quy luật mới, sống với nắng mưa thời tiết mới. Nói cách khác, cái hiện thực mà bài thơ mang lại không còn là hiện thực thông thường; một bài thơ thành công có thể phản ảnh cơ cấu hoạt động của ý thức. Hoạt động ý thức không phải là một hoạt động mang tính hợp logic, nó chứa đầy những giây phút chớp sáng, các hình ảnh đứt đoạn, những bước ngoặt bất ngờ. Đó là nơi chốn của các tài năng.

Trần Nhuận Minh:

Đúng thế. Đồng ý với anh.

Tôi rất thích câu thơ này của Nguyễn Trãi. Toàn văn cặp câu rất đăng đối là:

Láng giềng một áng mây bạc

Khách khứa hai ngàn núi xanh

Tôi muốn nói thêm ở một khía cạnh khác. Theo sự học của tôi, nó “rất Nguyễn Trãi”, ở ba điểm. Một là tư duy và ngôn ngữ rất mới, sau khoảng 570 năm, vẫn rất mới, rất lạ, rất sang trọng, điêu luyện và tinh hoa. Đó là sáng tạo của thiên tài. Hai, nó rất cô đơn, cái cô đơn rất bát ngát, có tầm vũ trụ. Và ba là nó rất cao ngạo, coi thường cái phàm tục của người đời. Cũng theo suy đoán của tôi, cái cốt cách này của Nguyễn Trãi làm cho cụ không thể hoà hợp được với đám quan lại cao cấp ô trọc của triều đình, một trong những nguyên nhân dẫn đến cái họa thảm khốc của cụ và của cả gia đình cụ.

131. Nguyễn Đức Tùng:

Nguyễn Duy:

Xứ sở bao dung
sao thật lắm thần dân lìa xứ
lắm cuộc chia ly toe toét cười

Mặc kệ cỏ hoang cánh đồng gái góa
chen nhau sang nước người làm thuê

Biển Thái Bình bồng bềnh thuyền định mệnh
nhắm mắt đưa chân không hẹn ngày về

Đó là thơ hiện thực. Thơ Trần Nhuận Minh cũng hiện thực, nhưng trong đó phảng phất một điều gì bảng lảng như triết lý.

Trần Nhuận Minh:

Đó là cái gần nhau và cũng xa nhau trong chỗ đứng của hai người, và có thể nhờ thế, mà chúng tôi cùng có mặt bên nhau trong thơ đương đại Việt Nam.

132. Nguyễn Đức Tùng:

Tiếp theo câu chuyện về Hồ Xuân Hương: những điều anh nói về nguồn gốc của những bài thơ Hồ Xuân Hương mặc dù khá thuyết phục nhưng tôi vẫn có một thắc mắc. Chúng ta thử đọc lại một bài, một trong những bài thơ mà tôi rất thích.

CẢNH THU

Thánh thót tầu tiêu mấy giọt mưa

Bút trần khôn vẽ cảnh tiêu sơ

Xanh um cổ thụ tròn xoe tán

Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ

Bầu dốc giang sơn say chấp rượu

Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ

Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ

Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ

Tôi thiển nghĩ thơ Hồ Xuân Hương có hai loại: các bài thơ tình dục và những bài thơ không có tính chất ấy, hay không có nhiều, như bài trên đây.

Đối với loại thứ hai, tôi không thấy lý do nào khiến cho tác giả phải thay tên đổi họ, tự giấu tung tích của mình đi.

Mặt khác, nếu những bài thơ của bà thật ra là do nhiều người viết thì rất khó giải thích về trình độ nghệ thuật cao của chúng. Một tài năng lớn thì không đứng lẫn vào người khác được. Làm ruộng tập thể thì có thể được, mặc dù năng suất không khá, nhưng làm thơ tập thể thì rất khó thành. Ngược lại, nếu những bài thơ ấy chỉ do một người viết ra, nhưng không phải là Hồ Xuân Hương, thì người ấy là ai?

Trần Nhuận Minh:

Trước hết, bài thơ anh vừa chép ra, có nhiều dị bản, với nhiều chữ khác nhau, mà anh cho là của Hồ Xuân Hương, nhiều sách chép, ghi tên tác giả là của Bà huyện Thanh Quan. Cũng có sách ghi là khuyết danh. Tập Thơ Hồ Xuân Hương, có bài Lại Nguyên Ân, một nhà nghiên cứu, phê bình và biên khảo văn học, tôi rất nể trọng, in ở đầu sách, Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành năm 2008, gồm ba phần riêng biệt, phần đầu là Lưu Hương ký, phần sau là Thơ Nôm truyền tụng và phần Phụ lục là Tồn nghi. Bài thơ trên chép ở phần Tồn nghi đấy.

Thơ Lưu Hương ký của Hồ Xuân Hương và Thơ Nôm truyền tụng gán cho bà, khác nhau như nước với lửa. Một người không thể có hai kết quả ADN khác hẳn nhau của một chất thơ. Chính bà cũng đã xác nhận như vậy, khi nói với ông Tốn Phong về tập Lưu Hương ký: Đây là toàn bộ thơ của cuộc đời tôi từ trước đến nay và được ông Tốn Phong ghi ngay ở lời Tựa. Tôi thấy không có gì phải nói thêm.

Còn điều anh băn khoăn thì tôi nghĩ rằng, do anh chưa có điều kiện tìm hiểu vấn đề cho thấu đáo mà thôi. Ấy là sáng tác thành văn của một nhà thơ có danh và sáng tác dân gian của nhiều nhà thơ vô danh, là hai quá trình hoàn toàn khác nhau và đôi khi có thành quả giống nhau, nếu chỉ xét về thành tựu nghệ thuật. Tôi nghĩ là anh chưa đọc lại Xóng chụ xôn xao, sáng tác dân gian của dân tộc Thái. Truyện thơ rất giàu âm hưởng dân tộc, câu văn hay đến mức kinh điển và vô cùng nhất quán về bút pháp, từ chữ đầu tiên đến chữ cuối cùng. Nếu được xếp nó trong hệ thống tác phẩm của văn học cổ điển, tôi xếp nó chỉ sau Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh, Quốc âm thi tập và bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành, ngang với Hoa tiên, trên cả Cung oán ngâm khúc. Bởi Cung oán ngâm khúc, như tôi đã nói, ý tứ sâu sắc lắm, câu chữ đẽo gọt kỳ khu lắm, nhưng hoàn toàn không tự nhiên. Nó như một món hàng cao cấp chế tác bằng vàng hay bằng kim cương chẳng hạn. Thơ hay theo tôi nghĩ, nên định giá theo tiêu chuẩn Nguyễn Du:

Phong sương được vẻ thiên nhiên

Mặn khen nét bút, càng nhìn càng tươi…

Còn Trường ca Tây Nguyên, anh đã đọc lại chưa? Sáng tác dân gian của dân tộc Ê đê đấy. Anh sẽ giải thích như thế nào về trình độ không phải chỉ cao mà “rất cao” của chúng. Nhất là Đam San, Xinh Nhã, hay đến kinh người, mà vẫn tươi thắm, nhất quán, hài hòa…

Xin nói thêm, Ca thư, 602 bài thơ – hát, dịch từ nguyên tác viết bằng chữ Hán của dân tộc Sán Chay. Đó là sáng tác của các ông thày cúng và nhuận sắc nhiều năm của nhiều người… Rồi các truyện Trạng Lợn, Trạng Quỳnh, Xiển Bột…, trong đó truyện Trạng Lợn có hai văn bản khác nhau, một bản là các mẩu chuyện rời, liên kết lỏng lẻo với nhau như truyện Trạng Quỳnh, một bản là tiểu thuyết chương hồi hẳn hoi… xuất hiện cùng thời với thơ truyền tụng được coi là của Hồ Xuân Hương… Rồi Truyện cổ tích, Truyện tiếu lâm…

Nếu có điều kiện đọc lại, anh sẽ thấy các tác phẩm ấy rất điêu luyện, rất nhất quán về tư duy nghệ thuật và thi pháp… mà nó là kết quả sáng tác và nhuận sắc của nhiều người trong một thời gian có thể dài đến mươi năm hoặc lâu hơn, vài mươi năm… chưa ai xác định được.

Theo tôi, trong hệ thống sáng tác dân gian Việt Nam, nền văn học cộng đồng này, đã tạo dựng được những tác phẩm bất tử mà đứng đầu là Xóng chụ xôn xao, Đam San, Xinh NhãThơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương.

Thật là khập khiễng, nếu so sánh tác phẩm này, sáng tác của một nhà thành danh, với tác phẩm kia, sáng tác dân gian của nhiều nhà vô danh… nhưng về độ điêu luyện trong nghề, thì hoàn toàn có thể so sánh được, vì nó tạo ra đẳng cấp, về cơ bản, là từ cùng một tiêu chuẩn nghệ thuật.

Theo tôi, nếu theo tiêu chí ấy, tôi xếp bốn tác phẩm dân gian khuyết danh trên kia, cùng với sáu tác phẩm có danh này: Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh hai tác phẩm của thi hào Nguyễn Du, Quốc âm thi tập của danh nhân văn hoá Nguyễn Trãi, bản dịch Chinh phụ ngâm, chưa rõ của ai (cũng khó có cơ sở để tin bản dịch hiện hành là của Đoàn Thị Điểm, cũng như khó có cơ sở để tin Ai tư vãn, khúc ca nổi tiếng khóc vua Quang Trung là của Lê Ngọc Hân… nhưng ta không bàn chuyện đó ở đây), Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự - Nguyễn Thiện, và Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều… là 10 kiệt tác hàng đầu của nền văn học cổ điển Việt Nam…

133. Nguyễn Đức Tùng:

Xin ghi nhận ý kiến của anh.

Tôi chú ý đến những bài thơ có tính riêng tư (personal), ít thấy trong thơ Việt Nam, nói về hoàn cảnh cá nhân, những chuyện gia đình. Anh có cho tôi xem một bài báo, nhắc một bài thơ của anh Trần Đăng Khoa, nói về chuyện thân mẫu của hai anh ăn dở (ăn gở) đất trát tường, khi bà có thai.

Trần Nhuận Minh:

Bài ấy không chỉ đăng báo mà còn in sách, thậm chí sách dùng trong nhà trường, nghĩa là “công bố” cho cả bàn dân thiên hạ biết.

Xin nói rõ thêm: “đất trát tường” ở đây, là đất trát vách nhà, gồm bùn, nhào kỹ với rơm khô, rồi trát tay lên các bức vách, được coi như tường, ngăn nhà với bên ngoài, ở các làng quê đồng bằng Bắc bộ xưa. Khoa làm thơ về việc đó. Bài thơ cảm động, vì nó chân thành bộc bạch nỗi niềm riêng, có thể nói là một bí mật của gia đình chúng tôi. Bài thơ in trong Tuyển tập thơ Trần Đăng Khoa, tái bản ở Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2007, bao gồm cả câu hỏi và câu trả lời của Trần Đăng Khoa.

Mời anh và các bạn cùng đọc:

ĐẤT ƠI

Đất ơi, hãy nói giùm tôi, núm nhau tôi

mẹ vùi ở nơi nào?

Mà cơn mưa xói mòn làm da tôi bỏng rát

Mà trận nắng chết cây làm tim tôi đau thắt

Đất ơi, núm ruột tôi đất giữ ở nơi nào?

Năm xưa sinh tôi, mẹ ăn dở bằng đất trát tường

Người ăn âm thầm như có gì tội lỗi

Khi mang chửa em tôi, tôi lại thấy tay Người

trong đêm tối

Sờ soạng giơ lên tìm miếng đất trát tường

Tôi sục bàn chân trần trụi xuống bùn

Có gì rất quê hương làm tim tôi run rẩy

Nghĩ thương mẹ và thương cánh đồng héo hon năm xưa

không biết nói sao cho hết

Khi tôi sục bàn chân trần trụi xuống bùn

Trong tình yêu, mẹ tôi đã trở thành đất đai

Và tôi mọc lên như cái cây còn non dại

Nhưng rễ cây đã hứa với nắng trời

những mùa hoa trái

Bởi cây không thể phụ mẹ mình và phụ đất đai…

1974

Cái chi tiết "Năm xưa sinh tôi, mẹ ăn dở bằng đất trát tường" là một hình ảnh văn học mang tính sáng tạo. Anh muốn diễn đạt sự gắn bó mật thiết của con người với đất đai chăng?

Hà Thị Hải Yến (Nhà xuất bản Giáo dục)

Đấy cũng là một cách hiểu. Nhưng thơ thì có nhiều cách tiếp cận lắm. Bằng những cách khám phá ấy, bạn đọc đã cùng tham gia sáng tạo với tác giả.

Trở lại điều bạn quan tâm, câu thơ ấy cũng như cả bài thơ này, bắt đầu từ một hiện thực có thật. Mẹ tôi khi mang chửa, bà đã ăn dở bằng đất trát tường. Cả bốn lần sinh nở, bà đều ăn đất. Nghe mà rùng rợn quá. Cái chuyện ăn đất này cũng đã có người đề cập rồi. Cụ Ngô Tất Tố, trong phóng sự đặc sắc Việc làng, có viết về một ông già ở quê, vào những năm lũ lụt, đói kém, đã chế món ăn bằng... đất sét. Cụ xoay thành bao món cho lạ miệng, toàn những sơn hào hải vị cả, nhưng nguyên liệu chính cũng vẫn là... đất. Ăn mãi cũng không no, mà chỉ thấy nặng bụng. Đây là một chi tiết không thể bịa được. Con người ta đói, khi đã đến bước khốn cùng, phải ăn đến cả đất nữa thì khiếp quá. Mẹ tôi không phải ở trong hoàn cảnh khốn cùng ấy, nhưng cũng đã tìm đến đất để ăn. Đây là một bí mật của mẹ tôi, của gia đình tôi. Đến tận bây giờ tôi vẫn không nỡ hỏi mẹ là tại sao lại như thế...

(Trần Đăng Khoa)

134. Nguyễn Đức Tùng:

Tiếp lời anh. Thời mới lớn, tôi đã chứng kiến việc ăn gở (hay ăn dở) ở một người chị họ của tôi, làm dâu gặp mẹ chồng khắc nghiệt. Trong y khoa, đó là một hiện tượng được biết từ lâu. Nguyên nhân thường là do sự thiết hụt các kim loại hiếm, đặc biệt là sắt. Nhưng cũng có nguyên nhân khác. Có hai loại ăn gở, một là chỉ ăn các chất có đất cát, và hai là loại ăn tất cả các thức phi dinh dưỡng. Phụ nữ Việt Nam có thai thường mắc chứng bệnh có cái tên khá dài là thiếu máu - thiếu sắt - giảm sắc - hồng cầu nhỏ. Theo quan sát của tôi, chứng ăn gở ngoài nguyên nhân trên còn kết hợp (associated) với một số yếu tố tinh thần - văn hóa - cộng đồng hay social status khác nữa. Ví dụ, ở quê tôi phụ nữ thường ăn gạch ngói vụn, nhưng khi làm việc ở nước ngoài, tôi đã gặp phụ nữ ăn tro tàn bếp lửa.

Cũng nhân nói về đời sống riêng tư của các nhà văn, nhiều năm trước tôi có đọc cuốn Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa, một cuốn sách nổi tiếng, viết về các chân dung văn học, gây ra những dư luận khác nhau, như đã nói ở phần trước. Anh có điều gì để thông tin với bạn đọc?

Trần Nhuận Minh:

Tập sách đã gây chấn động dư luận một thời khá dài trên nhiều trang báo xuất bản ở Việt Nam. Đã có những cuộc hội thảo nóng bỏng, và tác phẩm cũng đã tái bản tới 25 lần. Nhiều nhà văn nổi tiếng rất khen và cũng có người, nhất là nhà văn thấy mình không được đánh giá cao, hoặc cách đánh giá không phù hợp với cách hiểu của mình, đã phản ứng với các mức độ và tầm văn hoá khác nhau.

Có người phản ứng rất mạnh mẽ, đã trực tiếp viết thư cho Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng, Khoa từng học ở Liên Xô, đã mang con “vi-rút cải tổ” về nước, đến giờ mới thực hiện cuộc phá hoại theo kiểu Nhân văn giai phẩm, và đề nghị xem xét lại “đảng tịch” và “quân tịch” của tác giả. Cách đánh “chết người” này đã thực hiện có hiệu quả đối với các nhà văn Nhân văn giai phẩm những năm năm mươi của thế kỷ trước. Vì vậy, ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương phải vào cuộc.

Một lần tình cờ ở khách sạn Hạ Long I – khu du lịch quốc tế cao cấp Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, nếu tôi nhớ không nhầm, thì hôm ấy, đón tiếp và chào mừng Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam về thăm Quảng Ninh. Ông Nguyễn Bình Giang, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, một người rất hiểu tôi, đã gặp tôi. Lúc đó tôi là Bí thư đảng đoàn Văn nghệ tỉnh, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, Tổng biên tập báo Hạ Long, đồng thời là đại diện báo Tiền Phong tại tỉnh Quảng Ninh, nên mới có mặt ở đây

Trước lúc cuộc chào mừng được bắt đầu, ông kéo tôi ra bên một gốc cây trên cái sân giải sỏi trắng và bảo: Cái “chân dung… ” của chú Khoa, từng người trong Ban tôi đều phải đọc rất kỹ, thảo luận rất kỹ và có ý kiến kết luận tập thể để báo cáo lên Tổng bí thư. Cuối cùng, kết luận bằng văn bản, ba điều: một, không có vấn đề chính trị, không có “con vi-rút cải tổ phá hoại” nào cả, không có chuyện hạ bệ văn học cách mạng hay hạ bệ các thần tượng của quá khứ cách mạng; hai, các bài xoay quanh các vấn đề chuyên môn về tác giả và tác phẩm với những khen chê, đánh giá cao thấp khác nhau trong nội bộ các nhà văn thuộc Hội Nhà văn Việt Nam - điều đó Đảng và các cơ quan chức năng không can thiệp; ba, văn phong hấp dẫn, đọc rất vui và có nhiều kiến giải mới, đáng chú ý. Vậy thôi...

Anh thấy đấy, rõ ràng là cách hiểu, từ đó dẫn đến cách giải quyết các vấn đề văn học đã khác hẳn trước. Đó thực sự là một điều đáng mừng, chứng tỏ sự đổi mới tư duy của những người cộng sản là có thực. Chính cái kết luận sáng suốt đó mà tác giả được yên, sách được tái bản tiếp. Và bây giờ, sau rất nhiều năm, sóng đã yên, biển đã lặng rồi. Nếu theo dõi đều các tác phẩm biên khảo, các sách lý luận nghiên cứu phê bình văn học được xuất bản những năm gần đây, anh sẽ thấy có một số cuốn sách đề cập đến các vấn đề văn chương, theo tinh thần của Chân dung và đối thoại, nhưng thẳng thắn hơn nhiều, mạnh mẽ hơn nhiều. Ngay quyển sách của chúng ta đang có trong tay bạn đọc đây, cũng là thành tựu tiếp theo của bước phát triển tốt đẹp đó.

Xin nói thêm, dạo ấy ở làng xã tôi, nhân có bài báo “Trần Đăng Khoa đại náo làng văn”, không nhớ của ai, đăng trên báo nào, được phô tô cho nhiều người đọc và bảo rằng, thằng Khoa, con đẻ của cách mạng mà “đại láo” (quê tôi viết và nói ngọng nl), có người dụt dè một lúc rồi mới hỏi tôi là Khoa có bị bắt đi tù như “bọn nhân văn” không? Một vị cao niên của dòng họ tôi thì khẳng định dứt khoát với mẹ tôi là thằng Khoa đã hỏng hẳn rồi, nó là thằng “tờ rốt kít”. Mẹ tôi hỏi “tờ rốt kít” là gì, thì ông giải thích là nó rất “dốt”, i “tờ” chứ còn sao nữa, mà “dốt kít” là “dốt đặc”. Thật là phí cơm rượu đãi nó, cho nó đi học nước trong nước ngoài. Giá cứ để nó ở làng, đi đánh giậm, các cụ dạy cho thì đâu đến nỗi dốt thế. Có ông còn cam đoan rằng, đã trông thấy thằng Khoa bị “cắt hết”, hiện đang làm bảo vệ, gác cổng cho công trường xây dựng ở Phả Lại hẳn hoi, gặp ông còn xấu hổ không dám chào… làm mẹ tôi thở ngắn than dài: đã bảo mà, dính vào cái văn cái chương mà làm gì, chỉ mang vạ vào thân, con ơi…

Chả biết ở nơi khác thế nào, chứ ở làng tôi, trước sau vẫn “trong vắt một bầu khí quyển nông dân” (chữ của Trần Đăng Khoa). Đường làng đã giải bê tông, hàng quán đủ thứ, trong nhà đã có tivi, vài nhà có xe máy, nhưng đời sống tư tưởng, dù có mềm hơn, về cơ bản, vẫn có cái gì làm tôi nhớ đến thời “đấu tranh giai cấp”, khi tôi còn là đội trưởng đội trống cà rùng, đưa đám bạn tôi quàng khăn đỏ đi khắp làng hô khẩu hiệu, đánh trống tùng tùng tùng… Đã nghe là chỉ có nghe đài, đã tin là chỉ có tin vào cấp trên. Đố ai tranh luận với họ được. Thấy ai nói khác đài hay không giống ý cấp trên là lập tức được nhắc ngay: cẩn thận đấy, kẻo mắc mưu của địch.

Nếu ai tinh, chỉ cần đọc thơ thời trẻ con của Khoa sẽ nhận ra không khí chính trị của làng quê tôi đã tự nhiên thấm vào máu chú bé con như thế nào. Tôi có thơ viết về cảnh nghỉ hưu ở làng quê:

Về quê nghỉ ngơi, không điện thoại, không nét

Sáng đánh cờ, chiều tưới rau… hoàn toàn tự do

Muốn nói gì, theo cán bộ nói trước

Cần bầu ai, cấp trên cũng chỉ cho…

Và:

Xóm làng bình yên, chín giờ đi ngủ

Thức khuya hơn là có chuyện gì rồi

Không đói rét như cha ông thuở trước

Một đời cháu con chỉ cần thế mà thôi…

Anh thấy đấy, nhu cầu rất thấp, vẫn chỉ là dân sinh. Tôi rất thích câu thơ của nhà thơ Trần Ngọc Thụ, chỉ ghi lại một chi tiết nhỏ thoáng qua trên đường làng mà hàm chứa những vấn đề lớn về số phận của nhiều người dân quê (ghi theo trí nhớ):

Giữa đường ông cụ đi bừa

Là con ông cụ ngày xưa đi cày

Bây giờ “có điều gì để thưa với bạn đọc” đây. Tôi lại mượn lời của giáo sư - tiến sĩ, nhà văn Mai Quốc Liên, hiện là Giám đốc trung tâm Nghiên cứu Quốc học, ủy viên Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, vừa có một đoạn viết về tác phẩm này, đăng trên tạp chí Hồn Việt, số tháng 8 năm 2010, phát hành trong Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ VIII, nghĩa là cũng chưa xa.

Toàn văn ý kiến đó như sau:

Tôi nể phục Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa. Gần Khoa, mới nhận ra anh là một “lão nông tri điền” trong văn học. Anh đọc và đánh giá văn chương tinh, sắc và độc đáo. Có khi những nhận xét ấy, nhiều người cũng biết, cũng nghĩ, song ngại ngần không nói ra và không có cái “giọng” vừa sắc sảo vừa như đùa cợt của Khoa. Trang văn bình luận văn chương của Trần Đăng Khoa ấm nóng tình đời, tình người, đọc thấy sướng.

Bạn đọc cũng rất tinh, đến nỗi sách phải in lại nhiều lần. Ở trong đời, Khoa cũng là người xét người rất sâu và rất tinh, đưa ra những nhận xét chính xác. Cái chất “nông dân” quyện với chất “bác học” trong người Khoa rất rõ. Nghe đâu anh có dòng dõi của một Tiến sĩ đời Lê, làm đến Tể tướng! Chuyện “truyền thống”, “dòng dõi” nhiều khi biết để chơi, nhưng cứ nhìn vào người Khoa, nghe Khoa hành xử, nói năng… cũng thấy cái lạ!

Mai Quốc Liên (2010)

Xin thông tin thêm: năm 2010, nhà thơ, nhà báo Bùi Hoàng Tám có bài viết Người cát cứ Trường Sa thiêng liêng, đăng trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Theo ông, trong văn học Việt Nam, có ba nhà văn “cát cứ” ba vùng đất rất thiêng liêng của Tổ quốc. Đó là Nguyên Ngọc ở Tây Nguyên trong những năm chiến tranh chống Pháp, Phạm Tiến Duật ở Trường Sơn những năm chống Mỹ và Trần Đăng Khoa ở Trường Sa những năm bảo vệ chủ quyền biển đảo. Ông nhắc đến bài thơ của Trần Đăng Khoa đã được tặng giải nhất kỳ thi thơ của báo Văn Nghệ năm 1982 Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn, và các bài thơ khác Lính đảo hát tình ca trên đảo, Cây bão táp đảo Nam Yết, Ghi ở đảo Chìm, Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài… và các bài thơ khác nữa, cùng với cuốn tiểu thuyết mini Đảo Chìm đã tái bản lần thứ 25. Cũng như Nguyên Ngọc từng ở Tây Nguyên nhiều năm để có Đất nước đứng lên, Rừng xà nu, Phạm Tiến Duật từng ở Trường Sơn, để có chùm thơ giải nhất báo Văn nghệ năm 1971, với Tiểu đội xe không kính, Gửi em, cô thanh niên xung phong…; Trần Đăng Khoa là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam duy nhất, đã cầm súng ở Trường Sa, với nhiệm vụ của một người lính hải quân, nói theo nghĩa đen. Khoa nói, thời gian ấy của anh là đáng nhớ nhất trong những năm ở quân ngũ (1975 – 2006).

135. Nguyễn Đức Tùng:

Thơ Trần Nhuận Minh có thể chia làm mấy thời kỳ?

Trần Nhuận Minh:

Giáo sư Phong Lê, nguyên Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam, đã có bài viết dài, khảo cứu rất công phu về thơ tôi và ông chia thơ tôi ra làm ba thời kỳ. Bài viết có tên là Trần Nhuận Minh và ba lần định vị cho thơ. Nhà xuất bản Lao động đã in bài này trong tập chuyên luận mới của giáo sư và Nhà xuất bản Văn học đã in thành sách, lấy bài của giáo sư làm thành tên tập, dày đến non 500 trang, gồm một số bài viết chọn lọc, toàn bài hay trích đoạn, trước đó đã đăng các báo, của nhiều tác giả về thơ tôi. Theo thông báo trên mạng của trường Đại học Washington, Hoa Kỳ, tập sách này đã có trong thư viện của trường.

Tôi nghĩ, ông nhận định như thế là đúng. Ông là cây bút nghiên cứu phê bình mà tôi rất kính trọng, tuổi càng cao, viết càng hay. Theo ông, thời kỳ đầu (1960 – 1985) tôi viết chủ yếu về giai cấp công nhân mà nhân vật trung tâm là những người thợ mỏ, tập thơ tiêu biểu nhất là Âm điệu một vùng đất, 50 bài. Vì tôi ở vùng mỏ Quảng Ninh, nên điều đó là dĩ nhiên thôi. Thời kỳ thứ hai, từ Đổi Mới, (1986 – 2001) tôi viết về số phận của nhân dân, trong những va đập khắc nghiệt của thời cuộc mà tập thơ tiêu biểu nhất là Nhà thơ và hoa cỏ (đã in lần thứ 19), 113 bài, trong đó có 2 chùm, mỗi chùm có 8 bài ngắn, tổng cộng là 127 bài, tôi hoàn thành trong 15 năm. Thời kỳ thứ ba là từ năm 2002 đến nay, tôi viết về Con Người, trong mọi cung bậc của đời sống, kể cả trong cõi tâm linh, với ba tập thơ, mỗi tập mỗi khác, cả về ý tưởng, kết cấu, giọng điệu và thể loại. Đó là Bản Xônat hoang dã, 2003 (đã in lần thứ 10), 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh, 2007 (đã in lần thứ 4) và Miền dân gian mây trắng, 2008 (đã in lần thứ 4).

Đi từ Công nhân đến với Nhân dân, rồi từ Nhân dân mà đến với Con người, thơ tôi mở rộng dung lượng dần, đã từng bước mà đi dần từ suối ra sông rồi từ sông mà ra biển…

136. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi nhận thấy rằng: mỗi tác giả đều có những thời kỳ hay giai đoạn sáng tác khác nhau. Sự phân biệt các thời kỳ này trong từng tác giả nổi tiếng, các bước ngoặt giữa hai thời kỳ, và động lực của các bước ngoặt ấy, hình như rõ hơn ở các nhà thơ so với các nhà văn, là một quan tâm của tôi.

Trong ba thời kỳ mà anh vừa kể, anh có bài thơ nào tiêu biểu cho mỗi lúc không? Bài thơ mà anh cho là hay nhất hoặc anh lấy làm ưng ý nhất trong giai đoạn ấy?

Trần Nhuận Minh:

Anh nói đúng: sự phân biệt các thời kỳ trong sáng tác của các tác giả nổi tiếng, người đọc nhận ra rõ hơn ở các nhà thơ, bởi động lực của các bước ngoặt ấy chính là tư tưởng và cảm xúc của nhà thơ, được lập tức bộc lộ một cách trực tiếp, với sức truyền cảm rất lớn của ngôn ngữ và nhạc điệu trong tác phẩm, trong khi ở các nhà văn, nó chìm vào trong hiện thực phong phú và đa dạng của đời sống xã hội được mô tả, nên người đọc nhận ra chậm hơn. Tôi nghĩ đó là sự phát hiện của anh. Có thể thấy rất rõ điều này ở Huy Cận, Lưu Trọng Lư, nhất là ở Xuân Diệu, Chế Lan Viên… nếu so với Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng hay Nguyễn Tuân…

Tự chọn bài thơ hay nhất của mình là một điều rất khó và nói chung, tác giả không nên làm. Còn tôi, tôi chọn bài có cái điều để mà nói, ba bài, mỗi bài ở mỗi thời kỳ sáng tác của tôi như tôi đã nói ở trên.

Bài thơ ở thời kỳ thứ nhất, tôi viết để minh họa tuyên truyền:

CHIẾC ĐÒN GÁNH CONG

Bà tôi có chiếc đòn gánh cong

Nửa đời gánh mướn kiếp long đong

Đường lầy, gánh nặng, vai cháy bỏng

Mỗi bước chân đi, nước mắt ròng...

Chân rạc như hai cái cẳng cà

Một lần bà gánh nặng đường xa

Trượt chân ngã xuống không dậy nữa

Chiếc gánh đè lên chiếc ngực già...

Mẹ tôi lại gánh chiếc đòn cong

Lại đi gánh mướn lại long đong

Cuộc đời vít trĩu đôi đầu gánh

Lưng mẹ già nua còng lại còng

Mỗi buổi hoàng hôn tắt ngọn tre

Tôi ra đầu ngõ ngóng mẹ về

Bóng tối nặng trùm lên vai mẹ

Mẹ còn gánh cát chạy trên đê

Mười mấy năm rồi, tôi vẫn nhớ

Có lần mẹ gánh gãy xương lưng

Mẹ dúi cho tôi vài củ lạc

Nhìn tôi mà nước mắt rưng rưng...

Hôm nay tôi chặt chiếc đòn cong

Để đóng chiếc xe chạy giữa đồng

Mẹ cười, lệ bỗng lăn trên má

Hợp tác đời vui mái ngói hồng...

Điền Trì 1960

Trong bài có chi tiết cái cẳng cà, người ở nơi khác khó hiểu. Có thể đây là ngôn ngữ địa phương ở quê tôi. Đó là cái cây cà khi hết mùa thu hoạch, nó chết khô, nhổ cây lên, cả gốc cây và rễ cây đều khô xác, nó rạc đi, khô đét lại.

Mẹ tôi có cái đòn gánh cong là có thật, và cái đòn gánh ấy, hiện tôi vẫn gác lên tường nhà. Anh về nhà tôi sẽ trông thấy nó ngay. Mẹ tôi gánh cái đòn ấy để những ngày rỗi thì chạy chợ, chứ tuyệt đối không có gánh cát và bà tôi cũng không sử dụng cái đòn gánh ấy bao giờ. Nhưng thông qua ba thế hệ, đến thế hệ “tôi” thì chặt cái đòn gánh cong đi, tức là đoạn tuyệt với xã hội cũ: Cuộc đời vít trĩu đôi đầu gánh, xây dựng xã hội mới, với cái xe cút kít, giải phóng đôi vai cho người lao động.

Đấy là một ý tưởng chính trị, nó có trước, rồi cái tứ thơ mới đến sau. Thực ra, nếu chặt cái đòn gánh (nhưng “tôi” có chặt đâu) cũng chả dùng được cái gì trong việc đóng cái xe cút kít. Nhưng thơ thời ấy thì nó như thế đấy, cứ nói lấy được. Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, lớp lang trình tự hẳn hoi, và đầy chân thành, tự tin. Đó là tư duy và đặc trưng nghệ thuật của một thời. Đây là một trong vài bài thơ đăng báo đầu tiên của tôi.

PHÚT LÂM CHUNG CỦA CỤ HÃN

Nhờ ông viết giùm bài báo

Xin lỗi hàng ngàn trẻ con

Một đời tôi chuyên đánh chúng

Có đứa đến hộc máu mồm…

Không tiền mà muốn xem phim

Chúng có trăm mưu ngàn kế

Vẫn không che nổi mắt tôi

Chiến sĩ thi đua là thế!

Trèo tường chui qua cửa sổ

Quấn mình trong tấm màn nhung

Nằm bẹp dưới gầm ghế lớn

Tôi cũng moi ra tận cùng…

Đất nước chả giàu lên được

Dù tôi chắt bóp từng đồng…

Muốn thiện lại thành ra ác

Có ai giống với tôi không?...

- Thưa cụ khó mà viết báo

Tôi làm thơ có được chăng?

Úp mặt vào tường, từ đó

Cụ im chẳng nói chẳng rằng

Cụ đã giã từ cuộc sống

Vong linh muốn được thanh nhàn

Thương ôi!

- Hỡi các bạn trẻ

Tha cho lỗi lầm thế gian...

1991

Đây là bài thơ ở giai đoạn thứ hai, viết về số phận của nhân dân, ở đây là ông bảo vệ già và lũ trẻ con. Câu thơ chạm vào cơ chế xã hội: Chiến sĩ thi đua là thế! Câu thơ ấy chỉ sau năm 1986, mà cũng vững tay, sáng lòng, mới viết được. Bài thơ rất thật. Có câu khái quát tôi rất thú: Đất nước chả giầu lên được / Dù tôi chắt bóp từng đồng, và tôi nghĩ là mình đã phản ảnh một thời, người ta làm những điều vô cùng độc ác, nhân danh cái thiện và làm với thiện tâm hẳn hoi. Vì thế càng đáng sợ. Phải có thời gian rất lâu sau, người thiện mới nhận ra mình ác. Muốn thiện lại thành ra ác / Có ai giống với tôi không? Và tôi nói với các bạn trẻ: Tha cho lỗi lầm thế gian…

*

Tôi Thứ Nhất đã chết

Nằm duỗi thẳng trong quan tài

Tôi Thứ Hai vẫn sống

Là thể xác

Mà không phải là thể xác

Là linh hồn

Mà chẳng phải linh hồn...

Tôi Thứ Hai ngạc nhiên

Không hiểu vì sao

Chính Nó đã chết rồi

Mà gương mặt vẫn âm thầm đau khổ

Vẫn chưa tan

Những dãi dầu trần thế…

Nó lắng nghe tiếng kèn trống ì ào

Tiếng khóc than cuộc đời chính Nó

Dửng dưng như khóc than ai

Vừa thảm thiết và vừa không thảm thiết

Nó không thấy thương cảm

Cái chết của chính mình

Nó đến với từng người thân

Dịu dàng chìa bàn tay an ủi

Vì thế mà họ có được Sự Điềm Tĩnh

Ngay cả khi thể phách đã chơi vơi…

Họ trò chuyện về sinh con, đẻ cháu

Và xây cất những ngôi nhà...

Họ cảm thấy nghe được lời của Nó

Trong tiếng hờ ai oán xót thương

Xin cứ bình tâm

Cõi trần gian

Chẳng có gì tươi đẹp hơn Cái Chết

Hãy tính xem

Nếu tất cả mọi người

Từ thượng cổ

Đều sống cùng chúng ta

Thì thế giới này

Khủng khiếp đến nhường nào...

Bài này ở giai đoạn thứ ba, viết về Con Người, rút ra từ tập Bản Xônat hoang dã (2003), tên bài thơ chỉ là cái chấm tròn, vì ý tưởng các bài lẫn trong nhau trong một tư duy nghệ thuật mà tôi thấy chỉ có ở tôi khi tôi viết tập thơ này. Và anh thấy đấy, con người tự phân thân ra làm hai, cái TÔI nọ nhìn ngắm và phán xét cái TÔI kia một cách nghiêm khắc, lạnh lùng và rút ra cái kết luận không dễ được chấp nhận: Cõi trần gian / Chẳng có gì tươi đẹp hơn Cái Chết. Anh ngẫm đi, nó có cơ sở cả đấy!

Ba giai đoạn thơ hoàn toàn khác nhau. Ba bài thơ cũng hoàn toàn khác nhau. Nhưng nếu anh chú ý, sẽ thấy tôi có một điều này rất nhất quán, xuyên suốt toàn bộ đời thơ tôi, cũng là cái tín hiệu tôi muốn bạn đọc nhận ra tôi, mà đến nay, hình như chưa có ai nhận ra, kể cả anh, đúng không? Tôi nghĩ là mình phải chờ đợi, mà chờ đợi thực sự là một năng lực sống, không phải ai cũng có.

Ấy là, khi nói đến cái chết, ngay sau đó, bao giờ tôi cũng nói đến sự sống và thường đặt hai cái ấy liền kề nhau. Bất cứ bài thơ nào, tập thơ nào, từ trước cho đến nay, đến tận lúc sang thăm Canada và trò chuyện với anh, ví như bài Mưa ở Victoria tôi viết ở Canada vừa rồi, cũng thế. Nó là tư duy nghệ thuật thường trực của tôi về nhân sinh, rất lạc quan, trong một nhận thức có tính triết học. Và như anh nói, nó “bảng lảng”, “phảng phất” trong thơ tôi (ở đoạn trên), còn nhà phê bình, nhà thơ Trần Minh Thái, thì nói, nó “như hương toả ra từ một bông hoa” (trong Ba lần định vịsách đã dẫn).

Đó chính là đặc trưng nghệ thuật, cái làm cho tôi khác các nhà thơ khác đấy, như khác Nguyễn Duy, nhà thơ bạn tôi và cùng thời với tôi, mà chính anh đã nhận ra (cũng ở đoạn trên).

Một ví dụ tình cờ, tôi chợt nhớ:

Những bông hoa lộng lẫy nhất trần gian

Đều tự tử âm thầm trong đêm vắng

Cứ có nước là cá tự sinh ra

Ao hồ rộn vang tiếng quẫy đạp sinh đẻ

Buồn và vui mặt đất vẫn vô tình

Tôi đâu hiểu vì sao?

Trở lại với ba bài thơ trên. Tôi đã nói: tôi không chọn bài hay. Tôi chọn bài có cái để mà nóicái để mà nói ấy, phản ánh rõ nhất đặc trưng cái thời mà nó được sinh ra. Anh có thấy thế không?

137. Nguyễn Đức Tùng:

Đồng ý với anh về nhiều điểm; đó là những tâm sự thú vị của người làm thơ. Mấy chữ của anh, “có cái để mà nói”, làm tôi nghĩ đến một việc. Khi đọc thơ người khác với nhiệm vụ phê bình, tôi thường có một câu hỏi, lặp đi lặp lại: ngôn ngữ trong bài có phải là ngôn ngữ thơ hay không.

Thí dụ thì có rất nhiều. Xin bắt đầu bằng bài học ca dao.

Lúc nhỏ tôi vẫn thường nghe:

Tiếc thay cây quế giữa rừng

Để cho thằng mán thằng mường nó leo

Sau này, có lần trong một câu chuyện riêng, nhà ngôn ngữ học Nguyễn Phan Cảnh ở Canada lại đọc cho tôi nghe một câu khác:

Tiếc thay cây quế giữa rừng

Thơm tho ai biết ngát lừng ai hay

Câu trên là một câu dùng để truyền đạt một thông tin, một thông điệp, một tuyên bố. Đó là ngôn ngữ của văn xuôi mặc dù có vần có điệu. Câu dưới đã tiếp cận với thơ, bước hẳn qua ranh giới của ca dao.

Ngay thơ Trần Nhuận Minh cũng có thể tìm được ví dụ như thế.

Chớ dại mà can chú

Chú nhất cả huyện rồi

Giặc nào chú cũng thắng

Có thua thua ông trời

Thì rất gần với ngôn ngữ văn xuôi. Nhà thơ chỉ chú ý đến thông điệp của mình.

Trong khi:

Tập ăn thừa dưới bếp

Tập khóc chẳng ai hay

Câu chữ cũng hết sức giản dị, mộc mạc, mà lại rất thơ. Tưởng như anh đang cầm các chữ trên tay.

Làm thế nào để biết một tác phẩm là một bài thơ? Chứ không phải là một cái gì khác?

Trần Nhuận Minh:

Bây giờ thì có vần hay không có vần, không thành vấn đề; thể thơ cũng có thể rất tự do, không bị ràng buộc bởi bất cứ luật lệ hay thể lệ gì; ngôn ngữ có thể có hình ảnh, cũng có thể không có hình ảnh, ví dụ như câu trên mà anh khen là “rất thơ”:

Tập ăn thừa dưới bếp

Tập khóc chẳng ai hay…

là không có hình ảnh… Tất nhiên có hình ảnh thì vẫn hay hơn. Vậy thì vấn đề còn lại, theo tôi, có lẽ chỉ còn hai điều này mà thôi.

Một là, câu phải có nhịp điệu. Theo nhà thơ Nga, A. Blok: “nhà thơ là người mang nhịp trên vai”. Như thế, nhịp là cái để phân biệt câu là thơ, hay không là thơ, vậy. Nhịp là tiết tấu của chữ hoặc các nhóm chữ, hoàn toàn phụ thuộc vào cách diễn đạt của tác giả.

Hai là câu phải có cảm xúc. Cảm xúc là nỗi lòng của tác giả, là gan ruột của tác giả.

Tất nhiên câu thơ hay phải là câu có nhịp điệu, có hình ảnh, phản ánh được cảm xúc của tác giả.

Trong hai điều ấy, cảm xúc là cái quan trọng nhất. Lò cừ nung nấu sự đời (Nguyễn Gia Thiều) là ở chỗ này đây. Cảm xúc và nhịp điệu là đường ranh giới giữa “thơ và một cái gì khác” như anh nói. Còn thơ hay, thơ lớn, lại ở một cấp độ khác. Xuân Diệu có câu:

Hoa bưởi thơm rồi, đêm đã khuya

Rất giầu xúc cảm. Thoáng mà sâu. Rất tinh. Vì thế, đó là thơ và là câu thơ hay.

Có câu đầy lòng tốt, rất giầu thực tế, rất lắm âm thanh, tiết tấu phóng khoáng, hình ảnh sinh động, nghĩa là có đủ các yếu tố của thơ:

Đá nhỏ mới rơi còn lộp bộp

Sau lôi đá lớn đổ rầm rầm

(Thơ Xuân Diệu)

Có hình nhìn bằng mắt, có tiếng nghe bằng tai. Nhưng không có cảm xúc. Cũng có nghĩa là không có thơ. Trong tập thơ Hồn tôi đôi cánh (1976), Xuân Diệu viết về "những đồ hộp hoa quả ", có những câu thuần túy báo chí:

Những hoa quả này đã dạy một bài học về kỹ thuật

Phải thế nào cho xứng đáng là phẩm vật của đất nước ta...

Trong một phân khối chỉ cho phép còn mấy vi trùng

Công nhân là nghệ sĩ - tạo thêm ngon đẹp hào hùng!

(Xuân Diệu - Tác phẩm được giải thưởng văn học
Hồ Chí Minh
, bài trang 620)

Xuân Diệu thường có những câu thơ liên quan đến các thứ ăn uống, ví như ăn ổi: "Thì ta ăn hết một đê vừa". Đê đây là "Đê sông Hồng đứng ngắm hồ Tây", được coi là một "đơn vị đo lường". Và ăn xoài: "Đến khi lưa cái hột / Vẫn ôm lấy cạp hoài" . Nhìn bản đồ miền Nam, có mũi Cà Mau, chỉ có Xuân Diệu mới nhận ra: "Dáng em Nam mềm mại chiếc chân giò"... Và uống bia: "Nâng lên cao như đóa hoa thành tích"... Vân vân và vân vân. Những câu như thế, Xuân Diệu có khá nhiều, trong nhiều tập thơ sau cách mạng, thật khác xa với hệ thống ngôn ngữ thơ từng làm nên tên tuổi một Xuân Diệu.

Cảm xúc sâu thì câu thơ sẽ là gan ruột của tác giả. Những câu như thế sẽ làm ta xúc động:

Bây giờ trâm gãy gương tan

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân

Trăm ngàn gửi lạy tình quân

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi

Phận sao phận bạc như vôi

Đã đành nước chảy hoa trôi nhỡ nhàng

Ơi Kim lang! hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây…

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Trong một bài thơ, hoặc một đoạn thơ, rất cần có những câu thông tin, chuyển tải một thông điệp hoặc một tư tưởng. Nó như một chặng nghỉ ngắn, cho câu thơ có sức mà vượt lên cao trào. Nguyễn Du có rất nhiều câu như vậy. Ví như đoạn thơ mô tả Thuý Kiều bị ép gảy đàn cho Hồ Tôn Hiến nghe:

Bắt nàng thị yến dưới màn

Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu

Một cung gió thảm mưa sầu

Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay

Ve ngâm vượn hót nào tày

Lọt tai, Hồ cũng nhăn mày, rơi châu…

Thơ Kiều thường đi từng cặp hai câu một. Hai câu đầu chỉ có thông tin. Hai câu sau là tiếng đàn, được mô tả đến tận cùng của xúc cảm, khi nàng vừa chôn xác chồng bên sông, sau khi bị lừa mà tử trận: Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay…Tưởng không ai có thể viết sâu sắc hơn được, tinh vi và sang trọng hơn được. Hai câu tiếp là tiếng đàn lọt tai Hồ Tôn Hiến, khiến hắn phải rơi lệ. Phải đến đó, tiếng đàn của tài nghệ Nguyễn Du mới làm xong phần việc của mình.

Quý phái và uyên bác là như thế. Ngược lại, là bình dân và nôm na. Tôi chợt nhớ tới câu thơ (ca dao) tả tình rất hiếm hoi, rất lạ lùng:

Em như cục cứt trôi sông

Anh như con chó chạy rông trên bờ…

Em có ra cái gì đâu. Vậy mà anh vẫn yêu, vẫn theo đuổi đến tận cùng. Mà vẫn không được. Một mối tình vô vọng và… khốn nạn… Tôi chưa thấy nỗi đau tuyệt vọng nào của tình yêu được mô tả “khủng khiếp” đến như thế. Và các chữ thông thường là rất bẩn thỉu, thô tục: “cục cứt”, “con chó chạy rông”… bỗng làm ta xót xa mãi không thôi…

Khi xúc cảm đủ mạnh, thì ngôn ngữ hằng ngày của đời sống, thậm chí dưới mức… thông thường… đều có thể là ngôn ngữ thơ.

138. Nguyễn Đức Tùng:

Nhà thơ Hoa Kỳ Jane Hirshfield từng nói, nửa đùa nửa thật: có hai loại người có thể trở thành thi sĩ. Những người hướng ngoại thường đi ra ngoài vui chơi với chúng bạn, và những người hướng nội thường trốn trong phòng ngủ và giấu các bài thơ của họ dưới gầm giường. Đọc thơ anh, có lúc có cảm giác anh là người thuộc nhóm thứ nhất, có khi thấy anh là người thuộc nhóm thứ hai. Ba bài thơ của anh đúng là tiêu biểu cho mỗi giai đoạn. Tuy nhiên sự phân chia nào cũng có tính cách quy ước, vì giữa các giai đoạn ấy vẫn có sự liên tục bên cạnh tính đứt đoạn.

Đọc bài thơ Chiếc đòn gánh cong, tôi cũng thích, có phần cảm động, mặc dù đó không phải là bài thơ hay của anh. Nó có hai điểm yếu, một là ngôn ngữ quá văn xuôi:

Hôm nay tôi chặt chiếc đòn cong

Để đóng chiếc xe chạy giữa đồng

Nhất là trong bối cảnh của một bài thơ trữ tình.

Hai là đoạn cuối kết thúc của nó rơi vào trường hợp rất nhiều bài thơ và truyện ngắn của nền văn học xã hội chủ nghĩa miền Bắc 1954 - 1975:

Hợp tác đời vui mái ngói hồng

Nó làm tôi nhớ câu thơ của Huy Cận ở phần cuối của bài thơ Các vị La Hán chùa Tây Phương:

Hôm nay xã hội đã lên đường

Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại

Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương

Làm hỏng hết toàn bài.

Hay những câu thơ cuối cùng của Chế Lan Viên, trong những bài thơ nổi tiếng như:

Bài Người đi tìm hình của nước:

Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai

Bài Tiếng hát con tàu:

Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân

Toàn màu hồng. Tôi có thể chỉ ra hàng trăm ví dụ như thế trong thơ Chế Lan Viên và những người khác.

Vấn đề không phải là người ta không được quyền nói đến cái vui trong thơ, hay nhắc đến cái tốt đẹp ở đoạn cuối. Hay màu hồng. Vấn đề là cái vui hay cái tốt đẹp ấy phải có sức thuyết phục về mặt thẩm mỹ, phải có sự liên kết cơ hữu với các đoạn đi trước: nó là “hậu quả” tất yếu của phần đầu. Xét về nguyên lý sự vật hay về các vận động tình cảm.

Sau đây là ví dụ tương đối thuyết phục hơn:

Anh đi bộ đội sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

Em sẽ là hoa trên đỉnh núi

Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm

(Vũ Cao)

Sau những giọt lệ đau đớn, người ta có quyền được an ủi. Chính trị mà không chính trị chút nào. Nó rất người.

Một lý do khác nữa là dùng đoạn kết nâng cao như thế, gây cảm tưởng nhà thơ muốn tìm cách giải quyết vấn đề.

Theo anh, thơ có nhiệm vụ gì?

Trần Nhuận Minh:

Sở dĩ tôi chọn bài thơ Chiếc đòn gánh cong, viết và được đăng báo năm 1960, để bàn, chỉ vì đoạn kết, có ba câu thơ “ngôn ngữ quá văn xuôi” ấy mà thôi. Thực ra, cái đặc điểm chính của bài thơ là ở cái công thức trong ý tưởng, sự dàn dựng có chủ ý trước của toàn bài, theo quy luật mà mình hình dung, của sách vở, nhiều hơn là của cuộc sống, và, cuối cùng mới là cái kết có hậu một cách duy lý và vội vã. Tôi cho rằng, thời kỳ đầu, thơ của tôi phần lớn là thế. Suy rộng ra, nhiều nhà thơ thời ấy cũng viết như tôi, và có nhà thơ đến tận bây giờ, vẫn không viết khác đi được.

Thời ấy, giải quyết vấn đề theo một chủ kiến, và chủ kiến đó phải là chính thống, có khi ở ngoài mình, được coi là nhiệm vụ quan trọng nhất của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Đó là cái đích phải có của một bài thơ và cái đó càng rõ ràng hiển nhiên càng tốt. Biểu tượng hai mặt hoàn toàn bị cấm kỵ, ai hiểu thế nào cũng được thì nguy to. Thơ đã không còn “ý tại ngôn ngoại” nữa. Những yếu tố làm cho thơ lung linh, huyền diệu, sâu sắc và đa nghĩa, đã bị phương pháp sáng tác này triệt tiêu. Ai là người cầm bút cũng nhận ra điều ấy.

Tôi nhớ tháng 11 năm 1972, nhà thơ Hoàng Trung Thông, lúc đó là Vụ trưởng Vụ Văn nghệ, Ban Tuyên giáo Trung ương (mà nhà thơ Tố Hữu là Trưởng ban) đến trường Viết văn trẻ Quảng Bá, giảng bài cho khoá 5 chúng tôi. Lúc giải lao, chúng tôi đứng quanh ông. Ông rất hào hứng nói rằng: rất có thể, từ sáng mai, tình hình sẽ khác. Chúng tôi hỏi khác gì? Ông rất hồ hởi nói rằng, chúng tôi đề xuất với cấp trên: phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa là phương pháp hay nhất chứ không phải là phương pháp sáng tác duy nhất. Sáng mai cấp trên sẽ trả lời. Nếu cấp trên đồng ý như thế thì chúng ta mới có các phương pháp sáng tác khác xen kẽ, để cho văn học phong phú, đa dạng hơn.

Hai hôm sau, ông đến trường và thông báo chỉ có năm chữ: “Duy nhất. Không thay đổi”. Tôi nghĩ, ở thời “Toàn đất nước có chung tâm hồn có chung khuôn mặt”, để làm những việc lớn hơn và cấp bách hơn nhiều, cấp trên có cơ sở để chưa đồng ý với đề xuất của ông vụ trưởng. Bây giờ, không ai nói đến phương pháp sáng tác ấy nữa, cũng là phải thôi.

Thơ tôi hiện nay không tìm cách giải quyết vấn đề. Tôi nghĩ đó không phải là nhiệm vụ của thơ. Trước đây, hiện nay, và cả sau này, thơ chỉ có một nhiệm vụ thôi là phải hay. Còn nhà thơ, chỉ có một nhiệm vụ thôi là phải viết hay. Có nhiều kiểu hay khác nhau, càng hay - càng hay khác nhau, lại càng hay hơn nữa. Viết thế nào, kiểu nào, kiểu cũ hay kiểu mới, cổ điển, hiện đại hay hậu hiện đại… được hết, miễn là phải hay. Rậm rạp mà hay, cũng hay. Thưa thoáng mà hay, cũng hay. Có vần hay không có vần, thơ viết dài hay viết ngắn, không quan trọng, viết về cái gì, cũng mặc, chính trị, thời sự hay em út ướt át, liu khiu… cũng thế, miễn là phải HAY. Và khi đã hay thì mọi giá trị hay đều ngang nhau.

Chỉ có thơ hay mới cứu được thơ. Chỉ có thơ hay mới có bạn đọc. Không có bạn đọc thì thơ chết và nhà thơ cũng chết.

139. Nguyễn Đức Tùng:

Vậy thế nào là một bài thơ hay, thưa anh?

Nếu câu này anh cảm thấy khó trả lời, thì tôi xin thay một câu hỏi khác: thế nào là một bài thơ dở?

Tôi đang nghĩ đến nhận xét của một nhà thơ Canada, Margaret Avison: thơ dở là một bài thơ làm tổn thương người khác.

Trần Nhuận Minh:

Câu nói của M. Avison anh vừa dẫn ra là đúng đấy. Rất mới và sâu sắc, nếu xét về hậu quả cuối cùng của nó.

Theo tôi, thơ là sự tương ứng giữa ý và lời. Lời và ý song song nhau, lời hết ý cũng hết là thơ trung bình. Lời hết mà ý vẫn còn, các cụ xưa gọi là dư ba, ý tràn ra cả ngoài lời là thơ hay. Có thơ hay của một nhà, có thơ hay của một thời, có thơ hay của nhiều thời, lại có thơ hay của tất cả mọi thời.

Thơ hay của tất cả mọi thời là thơ rất hay.

Thơ rất hay không có tuổi, nó tự vượt qua các ranh giới về thời gian, giai cấp, quốc gia và dân tộc, nó là tài sản tinh thần của tất cả mọi người. Nói rộng ra là thế, còn nói cụ thể là, bất cứ thời gian nào, ở độ tuổi nào, trong hoàn cảnh nào, đọc cũng thấy thấm, và càng ngẫm nghĩ, càng thấy có một điều gì đó còn ở phía trước... Anh đọc thơ mà cảm nhận được những điều đó là thơ rất hay đấy. Còn ý đã hết rồi mà lời vẫn còn là thơ dở. Nếu anh đồng ý với tôi như thế, thì anh chọn được ví dụ ngay, ở bất cứ đâu.

Chế Lan Viên có lời dặn, tôi rất tâm đắc:

Bài thơ anh làm một nửa mà thôi

Còn một nửa để mùa thu làm lấy

Nói thực với anh, tôi học tập và làm thơ theo lời dạy này của Chế Lan Viên, là bao giờ cũng để một khoảng trống cho người đọc cùng nghĩ tiếp với mình, là đồng tác giả với mình ở cái phần mình không viết thành thơ và phấn đấu để có nhiều bài có cái cho người ta nghĩ khác mình. Tất nhiên, ý thức học hỏi của tôi là thế, còn tôi có làm được không, hay làm được đến mức độ nào, lại là một chuyện khác.

Chế Lan Viên dạy các nhà thơ trẻ thế thôi, nhưng cả đời thơ của ông, chỉ đến Di cảo, nhà văn Vũ Thị Thường, phu nhân của ông, biên soạn và in cho ông, sau khi ông đã chết, ông mới làm được cái điều ông nói. Và theo tôi, chỉ đến đó, Chế Lan Viên mới có thơ thực hay. Cũng có bài như đã toàn bích rồi, nhưng nhiều hơn, nếu không nói là hầu hết, cho ta cái cảm giác là nó còn dang dở… Và dĩ nhiên, dang dở cũng có cái hay riêng của nó đấy.

Nếu anh để ý, sẽ thấy, trong các tập thơ, các bài thơ của tôi, cùng với việc lập ý và tạo chữ, tôi đặc biệt chú trọng dấu chấm lửng (ba chấm…) ở cuối dòng thơ, trong khi các dấu khác, tôi bỏ hết, không dùng, là tôi muốn chuyển tải cái phần tôi không nói, nhưng tôi tin là bạn đọc sẽ hiểu, và có thể hiểu khác nhau… Chắc anh chả chú ý đến điều đó. Đúng không? Với tôi, cái đó quan trọng lắm đấy. Như thế, tập thơ tôi in 1000 bản, nếu có 1000 người đọc, tôi sẽ có 1000 tập thơ khác nhau và tập của tôi là 1001...

Đây cũng là một trong những thành tựu lớn về đổi mới tư duy do công cuộc Đổi mới mang lại. Mà thực ra là trở về với truyền thống nghệ thuật rất đặc sắc phương Đông của cha ông ta. Bởi thế mà trong không ít trường hợp, Đổi mới là trở về với cái CŨ tốt đẹp.

Trước năm 1986, do thơ có “dư ba”, ý tràn ra ngoài lời mà một số nhà thơ có một thời kỳ đã bị hiểu lầm, “bị tai nạn lao động”, rất lao đao, khốn khó.

Bởi vì sao? Vì từ hàng chục năm nay, người ta đã quen với chỉ một loại thơ, là nói cái gì cũng phải rõ ràng, hai với hai là bốn, cộng hay nhân cũng chỉ có một kết quả. Tức là thơ phải thật dễ hiểu, ý tứ phải thật hiển nhiên, lấy cái hiểu của người nông dân ít học làm tiêu chuẩn để cân đo các giá trị nghệ thuật, kể cả những giá trị nghệ thuật lớn, thậm chí cao siêu, và nhất thiết phải phù hợp với nhiệm vụ trước mắt mà người ta đang làm. Liệu anh có thể nào tin được đây là thơ của nhà thơ H.K, ca ngợi cuộc cách mạng văn hóa: “… Dân thành Hạng Vũ hết / Đem chuông chùa nấu cơm / Đơm đó bằng túi dết”… Một nhà thơ nổi tiếng của nhóm Dạ đài xưa mà viết như thế thì còn trách được ai. Hoặc hai câu thơ sau của nhà thơ N.H, vận động cho một phong trào vệ sinh ở nông thôn, đã in sách, vẽ thành tranh, bán cho mọi người: “Anh không tham bạc tham vàng / Chỉ tham hố xí nhà nàng hai ngăn… Làm như anh lấy em chỉ vì… cái hố xí.

Cả hai đều là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam.

Làm được thơ hay, khó lắm. Tôi nhớ có lần, tôi mời nhà thơ Nguyễn Đình Thi về giảng bài ở Quảng Ninh. Trong xe, ông tâm sự với tôi rằng, trong đời ông, ông làm được khoảng 100 bài thơ, đọc lại chỉ thấy có khoảng 10 bài thơ khá, còn thơ hay thì có lẽ chỉ được 2 bài, nhưng không thấy ông nói bài nào. Và tôi cũng không tiện hỏi. Nhưng tôi đoán trong 2 bài đó, chắc chắn có bài Đất nước mà ông đã viết và sửa từ 1948 đến sau chiến thắng Điện Biên phủ, 1954. Gần đây, đọc Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi (sách đã dẫn) của Hà Minh Đức, phần II, trang 253, ghi một ý kiến của Nguyễn Đình Thi, rất đáng chú ý về mặt lao động thơ. Ông nói: Nay mai in lại tuyển thơ, bài Đất nước, nếu bỏ được đoạn:

Bát cơm chan đầy nước mắt

Bay còn giằng khỏi miệng ta

Thằng giặc Tây, thằng chúa đất

Đứa đè cổ đứa lột da…

thì bài thơ sẽ “gọn và đỡ thô”.

Nhưng ông đã mất. Và việc ấy, ông đã không làm được.

Ý kiến ấy của ông, chúng ta rất nên suy ngẫm.

Viết chưa hay là điều dễ được cảm thông, viết dở cũng là lẽ thường, nhưng viết ẩu thì không sao chịu được.

Trong thơ, kỵ nhất là nhạt.

140. Nguyễn Đức Tùng:

Anh định nghĩa thế nào là nhạt?

Sao nó lại là cái kỵ nhất của thơ?

Trần Nhuận Minh:

Nhạt là cái ta chỉ cảm thấy, cảm thấy rất rõ, y như gặp một người con gái, ngay từ cái nhìn đầu tiên, đã biết cô ấy với mình sẽ “mặn”, “nhạt” như thế nào. Còn giải thích hay định nghĩa ư? Khó lắm và hình như cũng chả cần, vì ai cũng hiểu cả mà. Hay và dở thì còn có cái để mà nói. Chứ nhạt thì không có cái gì để mà nói cả. Gặp một người nhạt thì mình còn biết im lặng mà bỏ đi. Chứ gặp một bài thơ nhạt thì biết đi đâu, biết phải làm gì, biết phải nói gì. Chịu. Cái kỵ nhất là ở chỗ ấy. Tôi chợt nhớ một câu thơ của một nhà thơ nào đó ở Sài Gòn trước năm 75 của thế kỷ trước: Đời nhạt liếm môi mình cũng nhạt. Không nhớ của ai và đến với mình bằng con đường nào. Nhưng nhớ đến bây giờ. Đó là một câu thơ của một tài năng lớn. Một câu thơ có đến hai chữ “nhạt” mà không nhạt một chút nào.

Bây giờ nhiều người làm thơ rối rắm, tân kỳ. Tôi tôn trọng cách nghĩ và cách thể hiện riêng của các tác giả ấy. Nhưng bản thân tôi, cố gắng phấn đấu để hy vọng thơ mình đạt đến được sự giản dị. Vì tôi nghĩ: Giản dị mới là cái quý nhất và là cái khó nhất của lao động thơ. Tâm thế phải thật trong trẻo mới viết giản dị được. Ý tưởng phải thật dồi dào mới viết giản dị được. Kiến văn phải thật thâm hậu mới viết giản dị được. Bút pháp phải thật già giặn mới viết giản dị được. Ngôn ngữ phải thật phong phú mới viết giản dị được. Đạt được cái giản dị là không dễ vậy. Không có những yếu tố trên, câu thơ sẽ rơi xuống giản đơn. Giản dị khác giản đơn là ở những điều ấy và như thế, cái giản dị đối lập với cái giản đơn.

Trong nghệ thuật, giản đơn là tự sát.

Tôi có bài thơ bốn câu viết về điều đó đấy. Xin mời anh và các bạn cùng đọc:

MẸ ƠI, CON ĐÓI!

“Mẹ ơi, con đói!”

Đứa bé chỉ nói vậy thôi, mà ai cũng chạnh lòng

Chỗ sâu sắc tận cùng, chính lại là giản dị

Lòe loẹt mà làm chi, hỡi đuôi của Chim Công…

Trong cách hiểu của tôi, cái giản dị không hề hạn chế khả năng bộc lộ những tư tưởng rất mới, không hề giảm thiểu nhiệt thành khi thể hiện tài nghệ của mình trong một xu hướng nghệ thuật tân kỳ, không hề thu hẹp kiến văn khi diễn tả hiện thực rất phức hợp, phong phú nhiều chiều của hiện thực sinh động dù là địa ngục hay thiên đường. Những quan điểm triết học và nhân sinh phức tạp, có thể nói là rối rắm, qua câu thơ của Nguyễn Du, anh có thấy giản dị không:

Ngẫm hay muôn sự tại trời

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần, phải phong trần

Cho thanh cao, mới được phần thanh cao

Có đâu thiên vị người nào

Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai

Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài liền với chữ tai một vần

Đã mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài…

Đâu phải chỉ có những quan điểm triết học mà có cả các giải pháp tư tưởng nữa, Nguyễn Du thể hiện cứ nhẹ nhàng như không, trong những câu thơ có nhiều ràng buộc của thể lục bát. Ai đọc cũng hiểu, cũng thấm. Từ nhà bác học cho đến người mù bẩm sinh như bà cô em ruột ông ngoại tôi, người cùng với mẹ tôi đã dạy Truyện Kiều truyền khẩu cho tôi từ khi tôi còn chưa học chữ, mà tôi đã nói ở phần trên. Cái giản dị là thế. Nguyễn Du cũng là thế. Nguyễn Du vượt qua các thiên tài khác chính là ở điểm này.

Những gì cần tìm câu trả lời về thơ, cho đến tận bây giờ, kỳ lạ thay, vẫn có thể tìm thấy thấu đáo trong thơ của Nguyễn Du.

141. Nguyễn Đức Tùng:

Mỗi nhà thơ đều có bí quyết và bí ẩn về công việc của mình. Chính yếu tố có tính cách craftsmanship (công phu) này làm cho thơ của họ có các sắc thái, phong cách khác nhau.

Trần Nhuận Minh:

Tôi cũng nghĩ như vậy. Và xin góp thêm một điều.

Một lương y được bạn nghề coi là giỏi, thì không phải giỏi ở thuốc mà là giỏi ở thang. Tên các vị thuốc và dược tính của nó thì ai cũng biết, nhưng thang mới là “cái bí mật” của nhà nghề. Bí quyết hay gia truyền là ở thang chứ không phải ở thuốc. Đó là cách pha chế, liều lượng, vị thuốc nào thì sao tẩm, phơi sương hay hạ thổ, hay vừa hạ thổ vừa phơi sương… để các vị thuốc thay đổi dược tính, thực hiện được sự điều khiển mềm của lương y trong việc sai khiến bệnh, để bệnh chuyển hoá và lui dần…

Tôi kể một trường hợp. Anh Trần Thi, phó chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Dương, người tôi rất quý mến, anh có bệnh mọc các mụn nhỏ trên da, ngứa, chảy mủ, chữa mãi không khỏi. Tôi bảo tôi có ông cậu ruột hay thuốc, may ra chữa được cho anh chăng? Tôi đưa về nhà, cậu tôi, lương y Trần Quang Tính mà tôi đã nói trên, bảo: Tôi chữa khỏi cho anh, theo ba bước. Bước thứ nhất, đuổi tất cả các mụn trong người anh ra hai mu bàn tay cho anh đỡ ngứa ngáy, thời gian một năm. Bước thứ hai, đuổi mụn nhọt từ tay phải sang tay trái, để tay phải anh còn viết văn, thời gian một năm. Cuối cùng, đuổi ra khỏi tay trái, thời gian từ sáu đến chín tháng. Biện pháp làm nguội nồi nước đang sôi của tôi là rút củi lửa dần ra ở trong bếp đang đun nước, nên thời gian hơi lâu, nhưng nồi nước đã nguội là nguội hẳn, nghĩa là bệnh không tái phát. Vì anh là chỗ quen thằng Minh, cháu tôi, tôi chỉ lấy anh một nửa tiền thuốc, mỗi chén chỉ vài nghìn đồng, bao giờ khỏi mới lấy tiền. Trong thời gian uống thuốc của tôi, anh phải thực hiện dứt khoát hai điều: Một là, không uống rượu, không ăn thịt gà, cá chép, ba ba. Hai là mỗi tháng chỉ được “quan hệ với vợ” một lần… Tất nhiên, nếu anh cùng cộng tác với tôi trong việc tự chữa bệnh cho mình, như tôi yêu cầu, thời gian khỏi bệnh chắc còn nhanh hơn thế, có thể giảm được đến một phần ba nữa đấy…

Khi Sở Y tế tỉnh về hỏi thuốc của ông cậu tôi, ông bảo, đừng hỏi thế. Thuốc thì tôi chỉ có kinh giới, tía tô, công cống tre… Các anh biết cả rồi, nó trong hòm của tôi kia kìa…, ấy là tôi nói ví dụ thế, nhưng thang mới là cái bí mật, tôi nói cho các anh nghe, rồi tôi mất nghề à…

Tôi nghĩ, cái bí mật của nhà thơ khác với cái bí mật của thầy thuốc: khi anh có truyền hết cái bí mật của anh cho người khác, thì cái bí mật mới lại nảy sinh, có khi khác hẳn với những bí mật trước, vì thế mà không bao giờ nhà thơ mất nghề.

Một nhà thơ được coi là giỏi nghề cũng phải có phần mềm như thế để điều khiển cấu tứ và chữ. Cái thang của thơ, chính là cái bí mật của các giải pháp nghệ thuật, không ai giống ai, và trong cụ thể xử lý một bài thơ, cũng không bài nào giống bài nào… Đó là sáng tạo riêng của nhà thơ, có tính phương tiện chứ không phải là mục đích của thơ. Ví dụ: Anh phải nghĩ ra một cái cách nào đó, để ý thơ được bộc lộ rất mờ ảo về những điều rất thực mà nhiều người đã thấy rõ ràng. Cái mờ ảo sẽ tạo ra sự hấp dẫn. Nếu không làm được điều đó, thơ anh sẽ rơi xuống giản đơn. Rồi anh lại phải có một thao tác như thế nào đó về ngôn từ, để thể hiện được rất rõ ràng, dễ hiểu, về những điều không rõ ràng và không dễ hiểu mà chỉ có anh mới nghĩ ra, hay điều chưa ai được biết đến, hoặc anh thấy là nó rối rắm, khó được tiếp nhận. Không làm được điều ấy, thơ anh sẽ chui vào sừng trâu, tắc tị. Anh chỉ có một bạn đọc duy nhất là chính anh mà thôi.

Nói cho cùng, đấy cũng là sự tương ứng và giải thoát giữa ý và lời.

142. Nguyễn Đức Tùng:

Nếu đọc các bài văn xuôi được xuất bản hiện nay trên báo chí trong nước cũng như hải ngoại, chính thống hoặc tự do, một người đọc có học vấn căn bản sẽ lấy làm ngao ngán trước tình trạng viết lách vô tội vạ, câu chữ lê thê, văn phạm loạn cả lên, ngay ở các cây bút đã có tiếng tăm. Trong trường hợp ấy, các nguyên tắc mà anh đưa ra (ở trên) là các nguyên tắc vàng.

Tuy nhiên, theo tôi, ngôn ngữ thơ phức tạp hơn thế.

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Hai câu thơ mở đầu cho một bài thơ nổi tiếng của Nguyên Sa, nhiều người biết và thích. Nếu lấy ý và lời làm cái đi song đôi, biến nội dung và hình thức thành một cặp đối ngẫu, một nhà thơ khó tính sẽ sửa như sau:

Nắng Sài Gòn anh đi (mà) chợt mát

(Bởi) vì em mặc áo lụa Hà Đông

Rõ ràng các chữ , chữ bởi là dư ra. Nhưng ai cũng biết rằng bỏ các chữ ấy đi thì thơ không còn là thơ nữa mà trở thành một thứ thông báo. Như vậy dư (redundant) không có nghĩa là thừa (unnecessary).

Chúng ta bắt đầu thấy rằng có một điều gì đó “bất thường” đang xảy ra với ngôn ngữ thơ.

Nhà phê bình nổi tiếng Elizabeth Drew cho rằng ngôn ngữ cũng như là một thứ đất canh tác, trồng cây lâu quá thì đất sẽ bị xói mòn mất hết hoa màu, vì vậy hàng năm phải có lũ mang phù sa tới, phải bón phân để đổi mới đất màu. Nhiệm vụ của các nhà thơ là làm đổi mới mảnh đất thơ ca và ngôn ngữ. Ngôn ngữ thơ cũng già đi, cũng cũ, tàn tạ đi.

Gần đây mỗi lần về nước, đứng trong các tiệm sách lần giở sách báo, tôi lại có cảm giác văn hóa Việt Nam đang già cỗi đi, tâm hồn Việt Nam đang tàn tạ đi. Nhiều khi không muốn đọc nữa. Nếu không được làm mới mỗi ngày, không được trẻ lại mỗi giờ, nó sẽ chết.

Kẻ làm mới ấy trước hết phải là các nhà thơ.

Mai sau dù có bao giờ

Đốt lò hương ấy, so tơ phím này

Đó là câu Kiều tôi thường nhớ, hết lời xong, ý vẫn còn man mác vô cùng tận.

Theo anh, như thế là hay. Thì dĩ nhiên là nó hay. Nhưng mà:

Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

Cũng rất hay. Ít nhất là chẳng kém gì hai câu thơ trước. Nhưng rõ ràng lời xong là hết ý hoặc nếu ý còn kéo dài thì cũng không ngân nga bằng câu kia. Vậy có lẽ không phải khi nào ta cũng có thể lấy cặp bài “ý và lời” ra để làm thước đo cho thơ hay và thơ dở được. Theo tôi, sở dĩ như thế vì cái hay của một bài thơ bị chi phối bởi quá nhiều yếu tố: hình ảnh, âm nhạc, ngôn ngữ, liên tưởng. Hay như các nhà thơ thường nhắc đến ba chữ m: music, memory, meaning.

Tuy nhiên tôi lại rất khoái mấy chữ của anh: có cái cho người ta nghĩ khác mình. Hình như anh cũng làm được như thế với các hình tượng Đấng Mê Tơi, Đấng Âm U của anh.

Một lời khuyên đối với các nhà thơ. Nó cũng nói về sự cắt nghĩa, vốn rất khác nhau ở những người đọc khác nhau.

Trần Nhuận Minh:

Về bốn câu thơ của Nguyễn Du mà anh vừa nêu, thì hai câu:

Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng

là hai câu thơ viết bằng mắt, dù là mắt của một thiên tài. Phong cảnh đúng là mùa thu, đầy màu sắc, trong tâm trạng vui mừng và nhẹ nhõm khi Thúc Sinh được vợ là Hoạn Thư gợi ý về thăm bố mẹ. Nhưng với Thúc Sinh, cái chính là về với vợ lẽ vừa mới cưới trộm - Thuý Kiều. Nó ĐẸP là vì thế, ĐẸP đến lộng lẫy, cả trong tâm hồn người và trong không gian, hiện ra qua con mắt của chàng Thúc. Còn hai câu:

Mai sau dù có bao giờ

Đốt lò hương ấy, so tơ phím này

thì cụ Nguyễn viết bằng nỗi đau của mối tình đầu rất thắm thiết nhưng bỗng chốc tan vỡ, trong hoài niệm của cô Kiều. Thơ Nguyễn Du câu bát thường tiểu đối, như: Thành xây khói biếc / non phơi bóng vàng. Câu bát trên cũng thế: Đốt lò hương ấy / so tơ phím này. Dù ấynày đều có nghĩa là cả. Đây là hai câu thơ viết bằng gan ruột Nguyễn Du. Đúng như anh nói: “... hết lời xong, ý vẫn còn man mác vô cùng tận”. Nó HAY là bởi thế, HAY đến thổn thức cả cõi lòng.

Còn Đấng Mê Tơi trong Bản Xônat hoang dã là ai ư? Cũng như Đấng Âm U trong 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh, đều là lực lượng siêu nhiên.

Trong mọi vui buồn của đời người, từ xưa đến nay, với bao ngang trái, vô lý, bất công, thậm chí tàn bạo, đều có một cái gì không hiểu nổi và không giải thích được. Phải có một cái tên gọi ra. Trước tôi, đã có những cái tên quen thuộc rồi, như: Trời, Phật, Thượng Đế, Bụt, Tạo hoá, Con Tạo, A La, Mô Ha Mét, Chúa, Chúa Tể, Dớt, Thích Ca Mâu Ni, Chân Như, Đạo, Thầy, Ngài... Những tên này đã được định danh với nội dung nào đấy, đã tương đối ổn định, nói chung là được tôn sùng, ngợi ca, tôn kính, lễ bái... rõ ràng không thích hợp với yêu cầu của tôi, với điều tôi cần nói.

Do đó, tôi phải sinh ra cái Đấng riêng của tôi, một là, để không ảnh hưởng đến hình ảnh đã được tôn kính của các vị (tôi không muốn ai đó, có thể cho là tôi đã xúc phạm đến các vị); hai là, tôi có chỗ mà giãi bày, kêu ca, trách móc, thậm chí lên án hoặc chế giễu. Tại sao lại không lên án hoặc chế giễu, nếu nó cần phải như thế? Hai Đấng ấy đã ra đời vì thế. Sở dĩ có hai Đấng khác nhau vì có hai vùng ảnh hưởng khác nhau.

Đấng Âm U điều hành số phận con người, bí ẩn và tàn bạo hơn, nên chân dung tôi vẽ ra như sau:

Một nửa gương mặt Người

bừng lên ánh sáng của thần linh

Một nửa gương mặt Người

phủ đầy bóng tối của ma quỷ...

Phải có nội dung ấy của hình tượng Đấng Âm U, tôi mới có cơ sở để viết:

Con Người là những giọt nước mắt

Của Đấng Âm U rơi xuống trần gian

Giọt nước mắt bên phải là đàn ông

Giọt nước mắt bên trái là đàn bà…

Chúng lẫn trong nhau

Mà hoá ra bát ngát…

Còn Đấng Mê Tơi, chế ngự trong tâm linh con người, nên thanh thoát hơn, gần gũi và cũng vui vẻ hơn:

Người vắt dải râu trắng ba ngàn thước

Sang một bên trời

Và phấp phới đi

Như một cô gái non trong ngày cưới...

Việc tạo ra hai nhân vật “khác thường” này, lúc đầu cũng có người không hiểu vì sao. Cái gì mới quá cũng dễ gây ra một cảm nghĩ như vậy, và đó là điều hoàn toàn bình thường, trong chặng đường phát triển, phải không anh?

143. Nguyễn Đức Tùng:

Sự tương ứng giữa ý và lời: tôi xin phép được đồng ý với anh, nhưng chỉ… một nửa mà thôi.

Nhận xét của anh cũng chính là của những người có kinh nghiệm làm thơ và về thưởng thức thơ ca, có tính kinh điển và cổ điển. Dĩ nhiên không phải cứ cổ điển là lúc nào cũng xưa cũ.

Ở phương Tây, Coleridge đã từng nói một câu nổi tiếng, sau này trở thành phương châm của các nhà thơ:

The best words in the best order

(Những chữ hay nhất trong sự sắp xếp tối ưu)

Anh nghĩ về điều đó như thế nào?

Trần Nhuận Minh:

Tôi nói thơ là sự tương ứng giữa ý và lời, là nói về mặt đại thể. Đấy chỉ là một cách hiểu, và ngay bản thân tôi, cũng không chỉ có một cách hiểu duy nhất như vậy.

Đã hai lần, tôi được mời giảng về thơ tại Trung tâm bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du của Hội Nhà văn Việt Nam. Cả hai lần, tôi đều nói một ý rằng: Đọc thơ của một người nào, tôi muốn được đưa tay vào khoắng (lại nhớ chữ khoắng của người bạn tôi) trong thơ của người đó, xem ngón tay mình có chạm vào gan ruột của tác giả hay không? Thơ chỉ hay khi có gan ruột của tác giả ở trong đó. Đấy lại là một cách hiểu khác. Tôi tin anh cũng có một cách hiểu khác nữa. Và như thế, mỗi chúng ta mang đến cho thơ ít nhất là một cách hiểu khác nhau, và vì thế, thơ mới có nhiều bài thơ hay khác nhau, nền thơ mới có nhiều nhà thơ hay khác nhau.

Trở lại với chữ không phải là thừa như anh đã nói và nói rất đúng. Trong cách hiểu của tôi, dư ba là sóng ở ngoài sóng, đấy là hình ảnh để nói cái ý tràn ra ngoài lời, như tôi đã nói ở trên. Đặc sắc thơ phương Đông là ở chỗ này mà bây giờ các nhà thơ trẻ ảnh hưởng phương Tây nhiều hơn, có cái hay khác, nhưng không có, hoặc rất ít có CÁI HAY NÀY. Tôi nhận ra nét riêng của thơ các bạn trẻ, còn ở điều ấy nữa đấy.

Đấy là lý do vì sao, người đọc tuổi tôi trở lên, đọc thơ trẻ bây giờ thấy ít dư vị, như ta thưởng thức dư vị đã từng có của trà Thái (Thái Nguyên) chính hiệu.

Vài mươi năm trước, tôi rất thích trà Thái (đã lâu bỏ không dùng). Tôi vẫn nhớ cái cảm giác, nhắp xong một chén trà Thái (chính hiệu) ngày xưa, yên lặng ngồi trầm ngâm trong một hai phút, sẽ thấy trong cổ họng mình lắng lại một vị ngọt rất riêng và trong cơ thể mình, bỗng cảm thấy như thơm ra, một hương thơm thoáng nhẹ nhưng cao khiết, một loại hương kích thích mình nghĩ những điều đẹp hơn và làm những việc tốt hơn.

Tất nhiên như thế, phải uống trong thong thả, tĩnh tâm, có lẽ ít phù hợp với tốc độ sống nói chung bây giờ. Bây giờ, đôi khi tôi có uống trà Thái được cho là chính hiệu, trong lúc tĩnh tâm, thư nhàn, nhưng cái vị và cái hương ấy không còn, không hiểu vì sao?

So sánh hai cái đó với nhau, có vẻ khập khiễng và hơi thô thiển, nhưng thơ hay của phương Đông, chủ yếu là thơ cổ Việt Nam – Trung Hoa, cho tôi cái cảm giác như uống trà Thái đó.

Thơ của các bạn trẻ bây giờ có một đặc điểm chung là nói thẳng, nói trực tiếp (tất nhiên vẫn là cách nói của thơ) với tốc độ nhanh. Có lẽ vì thế mà mất cái dư ba chăng?... Chính điều này là đặc điểm dễ thấy nhất ở thơ các bạn trẻ. Lắng lại, ít thấy, nếu không nói là không thấy, có cái gì còn ở đằng sau; cũng ít khi thấy, nếu không nói là không thấy, có cái gì còn chìm lặn vào bên trong của câu chữ.

Thơ có tốc độ chậm phù hợp hơn với sự tiếp nhận của số đông người đọc. Cũng như chèo, một loại kịch hát cổ truyền rất ưa chuộng của ta, thường được bà con nông dân và những người trạc tuổi tôi trở lên thích hơn. Mỗi câu hát phải láy đi láy lại đến hai ba lần, lại thêm những từ đệm ngân nga khá lâu, những ới a, i ì hi hì… nghe một lúc mới hết một câu, đủng đỉnh thư nhàn, hợp với nhà nông Thì thòm tát nước gầu giai / Đến mai vợ đẻ lấy ai thì thòm… hơn là dân thành phố, hoạt động trong các ngành, như dịch vụ thương mại, chẳng hạn. Và đặc biệt, với sự năng động, đầy đột biến, các bạn trẻ không thích cũng là điều dễ hiểu. Thưởng thức chèo, phải thanh tĩnh, đủng đỉnh, thư thái, để thưởng thức cái láy đi láy lại ấy của nó, thấy hay, thú vị, mà không thấy sốt ruột. Thơ phương Đông có lẽ cũng thế. Bởi vậy các cụ xưa, trước khi đọc thơ, phải tắm nước thơm và đốt trầm ở trong phòng cũng là phải thôi…

Sáng tạo rất lớn của nhà thơ là chữ. Lao động rất vất vả của nhà thơ cũng là chữ. Chữ là vô cùng quan trọng, nên Lê Đạt nói nhà thơ là phu chữ cũng phải, nhưng ai đó nói chữ tạo ra nhà thơ thì lại không đúng đâu. Vì từ xưa đến nay, chữ không bao giờ tạo ra nhà thơ. Chỉ có thơ hay mới tạo ra nhà thơ, mà trong thơ, chứ chưa nói trong thơ hay, chữ chỉ là một yếu tố, dù rất quan trọng. Đương thời Xuân Diệu hay dùng ba chữ rất đáng nhớ là vặt lông vịt. Theo Xuân Diệu, con vịt béo hay gầy không phải ở bộ lông. Tìm thơ là tìm ở thịt con vịt chứ không phải ở bộ lông. Thịt con vịt, theo Xuân Diệu là thực tế, là đời sống, với tiêu chuẩn chân chân chân, thật thật thật. (Điều này, chưa hẳn đã đúng hoàn toàn và tôi sẽ bàn thêm một chút nữa ở đoạn sau).

Nếu lấy quan niệm về thơ này của Xuân Diệu làm căn cứ, thì những đặc trưng rất quan trọng của nghệ thuật thơ như tiết tấu, ngôn ngữ, hình ảnh - liên tưởng, là thuộc “bộ lông vịt” đấy. Xuân Diệu lấy ví dụ là khi dịch thơ ra tiếng nước ngoài, “bộ lông vịt” bị vặt đi, chỉ còn thịt là cái tứ, cái chất sống. Trong trường hợp này thì tôi nghĩ là ông có lý. Ví dụ như bài thơ bốn câu của Trần Đăng Khoa (tôi xin lỗi phải nêu ví dụ từ thơ của chú em, vì tôi không sành ngoại ngữ và không biết các trường hợp khác):

ĐẤT

Đất muốn nói điều chi thế

Mà không nói được với người

Mà rạo rực trong quả ngọt

Mà rưng rưng màu lá tươi…

Nhà thơ Nga Gogol đã dịch ra tiếng Nga, xuất bản tại Nga. Hào Minh đã dịch lại từ tiếng Nga trở về tiếng Việt, bài thơ thứ hai này như sau:

ĐẤT

Lời của đất ngắn gọn

Thay cho lời, chỉ có

Hoa tươi

Quả ngọt

Vậy lao động thơ, tâm đắc chữ... vân vân..., trong những rạo rực, rưng rưng… rồi đến cái tiết tấu của câu thơ lục ngôn (dù ở đây, cái tiết tấu ấy đã rất năng động, thậm chí có biến động, so với cái nhịp của thơ lục ngôn cổ điển) đều đã bay tiệt, chỉ còn lại cái tứ, cái ý tưởng. Cái đó mới là cái cốt tuỷ của thơ, cái bản quyền của thơ, cái nội sinh của thơ, như xương của người cha truyền lại cho con, ở bên trong, đến lúc chết, máu thịt của mẹ ở bên ngoài tan rữa hết, chỉ có xương là còn lại. Tuy thế, nói thơ là xương cũng không phải.

Hiện nay, trong thế giới phẳng, hội nhập toàn cầu, thơ là tài sản của cả nhân loại, ý kiến trên của nhà thơ Xuân Diệu rất đáng để chúng ta suy ngẫm…


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 19.9.2013.