Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




OAN NGHIỆT





Nó mồ côi cha mẹ, ngoại nuôi nó từ nhỏ. Ngoại bán cau ở chợ. Cái chợ bé tẹo nằm lọt tỏm trong lòng thị trấn già nua. Nhà ngoại cách thị trấn nửa giờ xe ngựa. Sáng đi, chiều về. Cuộc sống ngoại yên bình.

Bây giờ, người ăn trầu đâu còn nhiều, ngoại buôn bán được là nhờ lễ hỏi, lễ cưới. Bảnh mắt ra là gặp cưới. Chạng vạng còn cưới. Đẻ nhiều, chết nhiều thì cưới hỏi cũng phải nhiều. Cưới xin, lễ lộc, món nào cũng cần trầu cau của ngoại. Đẻ thì trầu cau cúng mụ. Chết thì trầu cau cúng hương linh, lễ nghĩa với âm công, người thổi kèn, đánh trống. Cưới hỏi thì năm, bảy lễ, lễ nào cũng phải có trầu cau. Ngoại sống được mà sống thoải mái nữa là khác. Nhà ngoại ba gian, hai chái có sân trước, vườn sau. Ở cái xóm thuần nông này, chín mươi phần trăm là nhà tranh vách đất, chỉ có nhà ông Cửu Ba là tường xây, ngói lợp. Còn nhà ngoại và một vài gia đình khá giả khác là mái tôn, vách ván. Vườn ngoại toàn những cau và trầu. Ngoại giao cho ông từ giữ đình chăm nom luôn cho ngoại. Đình làng có ai khiêng đi đâu mà sợ. Năm, quét dọn đôi lần vào các dịp lễ, tết là xong. Ông từ cũng chẳng có lương bổng gì, ông cũng phải lao động mới có cái ăn. Ông chọn ngoại làm chỗ dựa lâu dài là hợp lẽ. Ngoại rất quý ông từ bởi tính chân thật, hiền lành nhưng nhanh nhảu. Việc gì ông cũng làm được, ai nhờ gì ông cũng giúp. Đôi khi người ta trả công ông bằng bữa cơm đạm bạc với vài ly rượu nhạt cũng xong. Tánh ông là vậy, khề khà, vui vẻ chưa giận ai bao giờ. Ông thảo ăn, thường tặng quà cho kẻ khác. Quà của ông đến với bọn trẻ con trong xóm là những trái khế chín vàng, thơm quyến rũ. Khế của đình. Ở quê, khế là vị chua không thể thiếu trong những nồi canh ngon. Khế chấm muối ớt đưa cay cũng thú. Cánh lưu linh thường gọi ông khi thấy ông đi ngang qua hàng quán. Ông uống rượu không nhiều nhưng thích uống, uống để nghe người ta nói chuyện dưới đất trên trời, lý sự theo kiểu cái cuốc, cái cày. Dẫu có ngồi đâu thì chập tối ông cũng ghé nhà ngoại, xoa đầu con bé và biếu ngoại những quả khế thật ngon.

Ngoại kể, biết ông Từ từ nhỏ, ông tên là Thiên mồ côi cha lẫn mẹ. Thiên là tên cúng cơm nên người quê ngại gọi. Họ gọi ông là ông từ, cái tên này nghe không xác thực nhưng rất đúng nghĩa, rất nhân văn. Ông từ được ông “ từ cha “ nuôi nấng, bảo ban. Lý lịch tư pháp của ông chỉ có thế và ông cũng thấy thích cái lý lịch ngắn cũn của mình. Biết vài ba chữ Nho lõm bõm đủ để viết mấy cái bài vị, mấy chữ thờ là oách rồi. Làng có mâm cao cỗ đầy thì ông cũng được ngồi chiếu trên như ai. Dáng dấp lù khù nhưng bù lại trời cho ông chất giọng oanh vàng thánh thót đủ làm mê tít mấy bà không công, rỗi nghề. Ông hát cải lương hay nhất xóm. Quanh đi quẩn lại mấy bài ca xưa thật là xưa. Trong số đó, bài Võ Đông Sơ- Bạch Thu Hà của soạn giả Viễn Châu, ông ca chẳng thua gì Minh Cảnh.

Góc sân đình có giếng nước. Giếng của làng. Nước trong vắt. Là chỗ lý tưởng cho trai gái lấy cớ gánh nước để hẹn hò. Ngoại bảo ông từ cũng có một mối tình đắm say ở đó. Nó bụ xụ :

- Tu hành mà còn yêu đương h ngoi ?.

- Công vic ch tu hành gì đâu.

Ngoại cười thầm. Nó không cần hỏi ngoại thì nó cũng đoán ra được chuyện tình ấy chẳng đi tới đâu, bởi giờ cũng gần năm mươi tuổi rồi mà ông từ vẫn trơ trọi một mình. Nó nghĩ lỗi lầm thuộc về ông ta, nó là con gái mà, con gái phải biết bênh vực con gái chứ. Từ đó, nó để ý sít sao ông từ. Nó theo dõi từng cử chỉ, từng lời nói của ông. Tuy ông hiền như cục đất nhưng nó không ưa được, nó chẳng biết tại sao.

Rồi một ngày nó để tuột dây gàu rơi xuống giếng, ông từ chạy khắp làng mới mượn được cái móc sắt và cây sào. Đang lúc lui cui rà soát cái gàu, ông giật mình khi nghe nó hỏi :

- Ngưi yêu chú gi đâu ri.

- Xa lm.

- Sao chú không đến vi ngưi ta ?

Ông nhìn nó từ đầu tới chân, bán tín bán nghi. Ừ, nó đã lớn rồi, chắc hai mươi thì phải. Cũng khoảng ngần năm ấy, người tình của ông biến mất sau khi cho ông biết cha mẹ cô không đồng ý cho cô lấy ông. Nơi họ chia tay cũng cái giếng này, một đêm không trăng. Ông biết ngoài hai trái tim đang đập còn có một trái tim khác nữa đang nhịp nhàng theo hơi thở của người đàn bà tuyệt vọng trong vòng tay ông. Ông đau khổ nhưng biết làm gì. Cả người đàn bà kia nữa, họ đang đứng trước ngã ba cuộc đời mình. Ông bất lực với chính tình yêu của mình. Ông yếu đuối như cọng cỏ. Thứ cỏ mà trâu bò cũng giẫm đạp được.

Ông gượng gạo :

- Chú có tìm nhưng không gp.

- Lâu chưa ?

- Hơn hai mươi năm ri.

Tiếng thở dài của ông nghe chừng bất tận. Bây giờ nó mới thật sự thương hại ông, nó nghĩ ông cũng như nó, có cha mẹ mà đành chịu tiếng mồ côi. Chỉ có ngoại mới biết rõ ngọn nguồn của nó nhưng bà kín kẽ quá, cả cái làng này cũng kín kẽ quá. Nó chỉ nghe phong phanh là ngoại không có đứa con nào, chồng bà chết trận, nó chỉ là đứa cháu nuôi thôi. Nó ấm ức sao không là con nuôi cho thân thuộc mà là cháu. Bao nhiêu câu hỏi không trả lời được cứ lởn vởn trong đầu. Nó tủi thân nhưng bù lại ngoại thương nó lắm, chợ về lúc nào cũng có quà. Bà coi nó là cháu thật sự. Cây kim trong bọc có ngày cũng thòi ra, ngày ấy chưa tới. Nó chờ.

Mấy hôm nay nó ốm, thường bỏ bữa, ngoại tíu tít chạy tới chạy lui. Bà mua cho nó chai dầu Nhị Thiên Đường xoa cho đỡ nôn oẹ, bà nghĩ nó bị gió. Rồi nó cũng khỏi nhưng da dẻ tái mét, nó thường né tránh ánh mắt của bà. Bà nghi, hỏi gì nó cũng lắc đầu quầy quậy. Bà để ý tới cái bụng của nó, nó cố thót lại khi gặp bà nhưng chẳng kết quả gì. Giác quan của người đã từng làm vợ báo cho bà biết là nhận định của bà không sai. Bà lạnh lùng :

- Có bu thì mày giu được sao, gi áo lên cho tao xem.

- Bà ơi, chc cháu chết mt

- Chết mà đưc à.

Rồi bà tiếp :

- Khôn hồn thì bảo người ta cưới ngay đi, không cưới thì tao đi kiện…coi đứa nào xấu hổ cho biết.

Nói thì nói vậy, chớ bà biết…kiện cái con khỉ. Con dại cái mang, xưa giờ vẫn thế. Được chăng là trúng nhà nhân đức, neo đơn, họ cần con cần cháu. Không thì trớt quớt. Trong cơn bối rối, bà quên phéng hỏi nó cái bầu là do con cái nhà ai gây ra. Để rồi, hôm người ta đến xin cưới hỏi liền tay thì bà té ngửa. Sui gia với bà là vợ chồng Cửu Ba. Chết thật, biết làm sao bây giờ. Bà giận nó một, bà trách mình mười. Suốt mấy đêm liền bà không sao chợp mắt được.

Ngày trước, bà tính lúc hấp hối sẽ cho con bé biết họ hàng, cha mẹ nó là ai. Đó cũng là cách thực hiện lời hứa với mẹ nó. Nào ngờ. Nó xay giã kiểu gì mà gạo đã thành cơm rồi. Đổ ư. Không thể. Còn để vậy ư, lòng bà cắn rứt mãi không thôi.

Nhớ lại ngày nào bà còn xốc vác, tiền bạc dễ kiếm mà nuôi nó còn trần thân. Huống chi bây giờ sáu, bảy chục tuổi rồi, mua bán ế ẩm. Miếng ăn cho hai bà cháu ngày càng nghèo nàn, nuôi thêm con nó cho nên người nên dáng không phải là chuyện trơn tru. Gắng công thì chắc cũng được nhưng chẳng hay ho gì. Cuộn chỉ rối càng gỡ càng rối. Thôi thì đành nhắm mắt đưa chân, tới đâu thì tới.

Bà nhớ như in ngày đó, con Diệp - con gái ông Cửu Ba - người cùng làng, tới sập trầu của bà từ tờ mờ sáng. Nó khóc, nó xin bà ra tay cứu vớt cho mẹ con nó đang gặp lúc khốn cùng. Nó kể nghe thảm thiết quá :“ Khi biết có bầu với anh Thiên, con chẳng biết phải làm sao. Mẹ con mất sớm, cha con đương chức đương quyền, dì ghẻ con ác độc vô cùng. Bà ấy mà biết con có bầu chắc bà điên tiết lên như chó phải dại. Bà sẽ đay nghiến cha con, mắng nhiếc mẹ con không biết dạy dỗ con gái. Mẹ con chắc sẽ tủi hổ nơi suối vàng. Con trốn nhà đi từ đó, làm đủ chuyện để mưu sinh, nấu cơm, giặt giũ, trông trẻ cho người ta. Hai tháng gần đây người ta cho con nghỉ việc, dì ạ. Chắc người ta sợ con đẻ đái trong nhà họ, xúi quẩy hay sao ấy. Con gom góp chút vốn liếng đi thuê nhà trọ chờ ngày sinh nở. Khoẻ thì đi bán thêm giấy số kiếm tiền, mua thêm cái tả, cái khăn. Nào ngờ, sinh khó quá dì ơi..”. Vừa nói, nó vừa giở áo lên cho bà xem. Một vết mổ dài bên rốn, mười mấy phân chắc có, còn băng ga rô trắng hếu :

- Con làm gì có tiền đóng viện phí cho cả ca mổ hả dì, con bỏ con bé ở đó…

Nó khóc như mưa. Bà đi mua cho nó tô phở bảo nó ăn rồi chờ bà một lát. Bà đi hết sập này, quầy kia xin tiền cho nó, chắc được vài trăm ngàn. Bà giúi tiền vào tay nó bảo cầm lo công chuyện. Nó nhìn xấp tiền rồi khóc :” Gần chục triệu dì ơi, chắc phải phó mặc cho trời..!” Bỗng dưng bà trở nên mạnh mẽ :

- Hay là tao lên nhn đi là bà ngoi.

Rồi bà đắn đo

- Mà trong h khu tao đâu có tên mày

Bà chạy đi xin tờ giấy và mượn cây bút :

- Mày viết tên h vào đây đi, s chng minh mày na, đ hi my gi, nm phòng nào, ri đi vi tao.

Con Diệp riu ríu làm theo lời bà. Họ đến nhà thương. Qua nhiều thủ tục rối rắm, qua nhiều ngày vất vả tới lui, bà nhận con bé về nuôi từ đó…

Giờ, thì có nên nói chuyện này với ông từ không, dẫu sao thì ổng cũng là cha nó. Không được, lỡ bên kia rút lại lời cưới thì chết. Quả báo thực sự đây rồi. Quả báo trước mắt chớ phải ở thế giới nào đâu. Chịu thôi. Ai gieo gì thì gặt nấy. Xưa, người chồng nhận ra vợ là em gái mình, bỏ đi biền biệt. Người vợ chờ chồng mỏi mòn, hoá đá vọng phu. Dẫu là truyền thuyết thì nó mãi mãi là nỗi đau đớn của người đời. Nay, thì chiến chinh, loạn lạc nhà tan cửa nát, anh em mỗi đứa một nơi thì làm sao tránh được cảnh oan trái. Bà nghĩ không ra ai có lỗi trong câu chuyện này. Ông Cửu, ông từ hay con Diệp. Chắc là cả ba. Một người giàu sang quyền quý cần môn đăng hộ đối, sẵn sàng tống cổ con gái hư hỏng ra khỏi nhà để giữ thanh danh cho mình. Một người khố rách áo ôm dùng chút tài mọn mê hoặc lòng người để lại hậu quả nghiêm trọng. Còn nạn nhân là cô gái thì cũng đáng trách nhưng thật đáng thương. Thương cho họ có một mối tình tuyệt đẹp mà không đến được với nhau để ăn đời ở kiếp. Họ đành chấp nhận sự an bài của kẻ bề trên trong xót xa, tủi nhục. Diệp thì mấy mươi năm bỏ làng đi rồi, không biết nó sống chết ra sao. Còn bà, không cách nào khác ngoài đem câu chuyện bi thương kia xuống dưới tuyền đài. Thượng đế trừng phạt con người như thế này ư. Bà đốt nén nhang ra giữa sân vái lạy bốn phương, tám hướng xin cao xanh tha cho oan nghiệp còn lảng vảng đâu đây. Bóng đen của bà lọm khọm, lom khom in lên nền trời sang sáng. Một cơn gió lạnh chạy dọc xương sống bà.

Hôm nay là ngày mười hai, bốn ngày nữa rước dâu.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ ĐàLạt ngày 12.9.2013.