TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





TỪ NGUYÊN TĨNH

. Tên thật là Lê Văn Tĩnh .
. Sinh ngày 18 tháng 11 năm 1947
. Tại Bàn Thạch, xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
. Hiện sống tại Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa,
. Tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1994).
. Tổng Biên Tập Tạp Chí Xứ Thanh- Hội Văn Nghệ tỉnh Thanh Hoá .

. TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Hàm Rồng ngày ấy (ký sự viết chung, tập 1 in 1984, tập 2 in 1978);
. Mối tình chàng Lung mù (tập truyện ngắn, 1991);
. Gã nhà quê (tập truyện ngắn, 1992);
. Mảnh vụn chiến tranh (tiểu thuyết, 1993);
. Không thành người lớn (tiểu thuyết, 1995).

. GIẢI THƯỞNG :

- Giải thưởng văn học: Mối tình chàng Lung mù (tập truyện ngắn)
- Giải thưởng Hội đồng văn học về đề tài chiến tranh và lực lượng vũ trang Hội Nhà văn;
- Giải thưởng văn học tỉnh Thanh Hóa - Mẹ (truyện ngắn),
- Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Sông Hương 1993;
- Giải thưởng Hội Văn nghệ Thanh Hóa 1993; Gã nhà quê (tập truyện)
- Giải thưởng Hội Văn nghệ Thanh Hóa 1994. Mảnh vụn chiến tranh (tiểu thuyết)









Ao Sen tranh của họa sĩ Đào Hải Phong






CÕI NGƯỜI


CHƯƠNG VI - X

S au cái chết của ông Cuông, gia cảnh nhà họ Lê ngày càng sa sút, mất hẳn tăm tiếng. Người ta vẫn thường kháo nhau, nói cho nhau nghe mỗi khi bàn về giàu nghèo. Của ấy, có nhà Cửu Cuông. Chả là ông Cuông có Cửu Phẩm...Ông Cuông và con cái gọi là m là gọi bên phía bà ấy. Chứ thật ra cha ông Cuông chỉ làm một chức quan nhỏ, trong hàng bét của bọn thư lại.

Truyền thuyết về sự giàu có của gia tộc ông Cuông còn lưu lại vài thế kỷ sau này. Không ai viết sách để kể về sự lạ đó. Vì nó chẳng đáng gì với câu chuyện thương tâm. Cậu m Di bị bọn đốc tờ Pháp tiêm thuốc cho điên dại để không làm loạn. Cậu m Di còn để lại trong dân gian bao điều kỳ quặc. Lúc cậu điên xé rách quần áo không ai dám gần, khi lành lặn, khoác chiếc áo thụng nhàu nát. Có lẽ là tấm áo khoác vẫn mặc mùa đông lúc học ở trường thuốc, hát nghêu ngao.

Ta là ... là dân nước Nam

Thiếu áo mặc í a

Mà thiếu cơm ăn...

Cái quân là quân ăn cướp

Ngồi ở trên cao í a...

Bóc mà...lột

Mà lột...

Mà chia í a...là phần

Than ơi...là than ơi...

Cái dân...Cái dân à mình

Còn chưa thoát nổi í a...

Mà lầm than...

Người lớn thì buồn bã dậy rít thuốc lào. Trẻ nhỏ mơ mơ màng màng nghe được câu hát của Di điên thì sợ sệt vãi đái ra quần.

Người ta bảo cô đào Tuyết Tuyết đối với
m Di sâu nặng tình nghĩa, mối tình keo sơn có một không hai...Người ta kháo nhau về đêm vẫn gặp m Di lẻn đến gặp cô đào Tuyết Tuyết. Chuyện ba lăng nhăng. Không ai tin được lời đơm đặt của thiên hạ...Nhưng trong trái tim người đời vẫn có điều gì đó thật ngưỡng mộ con người xa lạ không phải là người kia...

Ông Di đến cây cột điện thoại gõ vào đó, cắc cắc...Những đứa trẻ chăn trâu ùa tới...Bác sĩ Di ơi! Ông nói tiếng Tây đi nào... Cháu biếu ông củ khoai...Ông Di nói cho chúng nghe một tràng dài...Ông đọc thơ của La Phông Ten, ông đọc thơ Huy Gô...Ông không nhận ra đứa cháu ruột, thằng Bản trong đám trẻ đó...Ông không còn có tình riêng, nhận thức rõ ràng về kiếp người. Thằng Phách xô Bản đến trước mặt ông, gào lên:

- Bác Đốc tờ Di...Ông có nhận ra đứa nào đây không?

Ông Di cười ha hả...Đôi mắt lạnh lẽo núp trong đôi lông mày chổi xuể:

- Thiên thần...Thiên thần bé nhỏ của ta ơi! Ngày mai sẽ gặp cuộc đời thanh tân.âủCh hiể oông đọc thơ của ai nữa.Trong cái bể nhớ nhớ quên quên của ông.

u

VII

Câu chuyện rất bí mật của cụ kỵ xa xôi: ông Cả, ông Hai, ông Ba và ông Tư lúc đầu đến khai khẩn, nghèo khó thì cùng nhau chịu đựng. Nhưng khi con cái đã đề huề. Cần đất để chia cho các con ra ở riêng, không tránh khỏi khục hoặc, bất đồng ý kiến.

Ông Cả Hữu sau khi vợ mất lấy thêm bà hai. Bà này vốn là dân buôn bán, chuyên chở cá mắm từ vùng biển lên đổi lấy lúa gạo, hoa quả, chẳng mấy chốc đã giàu có. Làm nhà gỗ to, nuôi kẻ hầu người hạ, kể là sung sướng hơn người. Từ đó lại xui chồng con tách ra thành lập làng mới. Xây dựng đình chùa, đút lót cho quan huyện thành lập chợ và mua cho chồng chức lý trưởng, không kể chi đến thân phận nghèo hèn hôm qua.

Ông Hai Công vốn là người giản dị, thích nghề sông nước. Sẵn tre pheo đan thuyền, dùng sơn lấy ở rừng sơn lên khung đan. Kiếm lấy vài tay lưới cùng bà vợ trôi nổi, nay đây mai đó đánh hết cá ở hồ, lại ra sông kiếm sống. Gặp mùa nước lũ vớt được vô khối lợn gà ở vùng Thượng trôi xuống. Thấy ai thiếu thì đem cho, có tiếng là người phóng khoáng. Nhưng nghe nói đời sau này lại nứt nòi ra đứa con đi buôn thuốc phiện, thắng lớn tiền chất vào cả dó. Làm nhà to ở phố chợ. Nhưng mãi vui cờ bạc mà vào tù.

Ông Ba Quốc lại có tài thảo mộc, làm nghề thợ thủ công. Thấy ông Hữu có ý tư riêng mà sinh ra bất bình, không phục. Tính tình lại nhu mì cần kiệm. Hay chỉ vẽ cho người ta đan nong nia ,đan bồ đan cót. Gặp năm đói kém lên rừng hái củi, đúc gạch đốt lò nấu gạch đã có tiếng là khéo. Chọn nơi chân gò, gần suối mà ở nên thuận lợi cho việc cấy trồng. Chỉ có điều là con muộn, nhưng lúc đẻ thì kéo nhau ra lít nhít, mỗi năm mỗi đứa. Người ta truyền tụng lại rằng hai vợ chồng ông Quốc rất yêu quí trẻ, nhưng trời chưa rủ lòng thương. Một hôm hai vợ chồng dậy sớm thổi cơm ăn để vào rừng sâu lấy gỗ về sửa nhà. Ăn cơm xong mà gà chưa gáy canh ba.
Ông bà Quốc rủ nhau lên giường ngủ lại. Hai người đang thiu thiu thì bỗng từ trên mái nhà sáng rực lên như ban ngày. Vợ chồng sợ quá tưởng là vùi tro không kỹ nên củi bốc cháy. Bà mới bảo:

- Ông ơi! Xem củi lửa thế nào?

- Tôi vùi kỹ rồi!

Nói chưa hết câu thì xuất hiện một cụ già, râu tóc bạc phơ như tiên. Cụ mới bảo cho vợ chồng ông Quốc...Vợ chồng các cháu là người hiền lành, làm ăn chăm chỉ nhưng lại muộn màng...Nay ta đem đến cho nhà các người cục vàng...Hãy giữ lấy nó mai sau sẽ có phần nhờ cậy...Bà Quốc sợ quá phải cấu vào tay ông Quốc xem thức hay ngủ. Hai người còn đang lưỡng lự, chưa biết thực hư ra sao thì nghe tiếng trẻ con khóc. Đoán già đoán non có phải ông tiên báo mộng, nói cục vàng là đứa trẻ đang khóc hay không...Vợ chồng vội vàng đốt đuốc, lần theo tiếng trẻ khóc mà tìm...Đi một đoạn chừng non cây số, ngửi thấy mùi thị thơm, vợ chồng ông Quốc phát hiện thấy có đứa trẻ nằm trần truồng trên đám lá thị khô. Thấy ánh sáng nó mở mắt nhìn, miệng toét ra cười. Ông Quốc giật thót tim vì ngửi thấy mùi cọp. Nhớ tới giấc mơ, vội khấn thầm: “Lạy ông ba mươi...Tiên ông dẫn lối, vợ chồng tôi được báo mộng mà lần theo tiếng trẻ khóc, chớ chẳng có bụng dạ nào hại tới uy danh của ngài. Mong ngài tha mạng cho dân ngu khu đen...” Tức thì con cọp vẫy đuôi bỏ đi. Đôi mắt của nó chiếu sáng như lúc vợ chồng nhìn thấy ở nóc nhà mình. Bà Quốc ôm đứa trẻ vào lòng. Trời sinh ra con người nên trời mách lối. Bà Quốc tự nhiên vạch vú đút vào miệng đứa trẻ. Rõ ràng bà chưa đẻ lần nào, vậy mà sữa ứa ra, đứa trẻ đớp lấy chùn chụt. Hai vợ chồng bà cho là thần linh phò trợ nên chuyển nhà tới ở nơi cạnh gốc thị, cuối năm đó bà Quốc sinh con gái đầu lòng, rồi cứ thế mỗi năm một bận chín đứa con cả trai lẫn gái. Không ai biết đứa con đầu là con nhặt. Lớn lên nó cũng không nhận ra là bố mẹ nuôi. Chỉ có điều lưng có ba khoáy có lông màu vàng, phải là người tinh mắt lắm mới nhận ra. Họ đặt tên cho đứa bé là May - May là đứa có hiếu. Dọn cơm bao giờ cũng dành phần đầu nồi, xới cơm cho cha mẹ và các em đắp thật đầy. Còn mình chọn cháy cho nó vồng lên, ra vẻ là ăn no. Đứng dậy ra chum nước mưa uống hai gáo nước là căng cứng cả bụng. Từ việc đồng áng đến lên rừng hái củi , làm gấp hai gấp ba người thường. Lúc nằm ngủ, úp bụng xuống, hai chân sau quì gối, hai tay trước khoanh lấy làm gối, gáy vang nhà, ai đánh thức cũng chịu. Nói dại phải lấy rơm để ở đít mà đốt chắc gì May đã tỉnh giấc.

Một lần May bảo: Bố mẹ ạ hôm nay con đi củi ở rừng xa. Con thấy một cây gỗ thơm lắm, màu vàng au, con phải đẽo đem về, tết nhất sắp đến rồi. Dù thiếu thốn nhưng nhà ta, gì cũng phải vui vẻ. Bố mẹ không phải đi đón con làm gì. Lúc nào con về con tự liệu cơm nước.

May đi một mạch hai ngày liền. Ông bà Quốc đứng ngồi không yên. Đến ngày thứ ba chập chiều May mới lễ mễ gánh một gánh củi xếp đầy có ngọn. May bổ củi mỏng tang, lại khéo xếp nên lúc ông bà Quốc dỡ ra đầy cả một sân. Mùi củi thơm lựng. Cả nhà đều rất vui vì May trở về vô sự. Lại lấy một vài que dăm cho vào bếp, quả là mùi thơm rất đặc biệt. Như thể mùi hương quyến rũ lòng người. Trong lòng ông bà Quốc có điều gì thật khó diễn tả. Vì bâng khuâng nên cả nhà nằm ai cũng thấy khó ngủ. May hôm nay nằm im lặng, không ngáy rầm nhà như mọi hôm. Cả nhà vì thức khuya nên mặt trời chiếu xuống sân mà vẫn chưa ai dậy. Đến khi ông bà Quốc thấy trời nắng quá mới chạy ra sân. Một sân củi sáng rực. Thật khó tin vào mắt mình. Ông Quốc cầm lấy một que củi. Que củi nặng cứ như díu lấy tay người. Cả một sân củi đã biến thành vàng ròng. Ông Quốc và vợ lấy nong nia che lấy cho khỏi phát ra ánh sáng, rất sợ người đi làm tò mò phát hiện thấy. Đem chăn, màn, quần áo gói lại vẫn còn thừa. Sẵn hốc bên cây thị ông bà Quốc cho vào đó và lấp đất lại.

Quá trưa cả nhà mệt phờ. Đói cồn cào, mới lo cơm nước. Cơm kịp chín sực nhớ đi gọi May. Không thấy May ở đâu. Tìm hết ruộng nương đồi núi cũng không thấy hơi hướng của May đâu...Trong suy nghĩ của ông Quốc, có lúc cũng nghi ngờ May bị hổ bắt đi. Nhưng thật là vô lý, vì cái đêm nhặt được May về, tại sao con hổ lại không làm hại đứa bé?

Sau này ông bà Quốc làm nhà thờ, lấy ngày sân củi biến thành vàng làm ngày giỗ cho May. Lại nói đến cái thời thành làng, thàng tổng, con người có họ rõ ràng, làng xã có nghè và chùa ông bà xin được cung tiến tiền bạc sửa sang để dân được đèn hương cho chốn linh diệu.

Từ đời ông Quốc đến cha ông ông Cuông đã xa xôi lắm rồi. Đã chia không biết bao nhiêu là chi nhánh khác nhau. Chữ lót cũng được đệm vào: Văn, Huy, Khả, Trọng...đôi lúc có xuất đinh nào đi lập nghiệp nơi khác, hoặc biết chữ nghĩa đã tự ý thêm vào...Nhưng đến đời ông Cuông kể là có chút học hành nhưng cũng nặng lòng với chốn khởi nghiệp của ông cha. Cậu
m Di bị bọn mật thám tiêm thuốc cho mất trí thành ngây dại. Quẫn chí, ông Cuông đã lẻn ra tự treo cổ ở gốc cây thị...Câu chuyện hoang đường về được của đã từ lâu không ai nhớ, lại rộ lên như mới xảy ra hôm qua. Người ta lại dệt thêm, mấy năm nay cây thị khô héo, năm nay tự dưng lại đậu rất nhiều quả...Quả thị cũng thơm hơn hay sao?

 

VIII

Từ hôm
Út Thường chết hụt đến giờ, người đứng ngồi không yên là m Vệ. m Vệ gặp ai cũng thanh minh. Tôi muốn cho nó học lấy tài nấu nướng của mấy bà chị, rồi ra còn biết tề gia nội trợ. Nghề đàn hát đâu phải là xấu. Năm nào làng chả vào hội tế thần, chả làm lễ tế Cao Sơn Đại vương, làm kỵ Nương Nương công chúa. Tài sắc, có triển vọng như chị Tuyết của tôi mà không chê họ ca công là bần hàn thì còn ai dám chê trách... Bà Hoa vợ m Vệ không dám luận bàn nhiều lời. Có nói thì m Vệ cũng để ngoài tai. Làng xã này, ai thèm biết đến thân phận người đàn bà, đầu tắt mặt tối. Phận sinh nở đã đành, cái phận đứa ở tôi đòi để chồng con rượu chè, vui thì đùa dỡn, lúc bực bị quan viên, kẻ mạnh bắt nạt thì thượng cánh tay hạ cẳng chân. Hứng lên chiêu nạp môn khách có kể chi trong chuồng có còn con gà con vịt nào, trong cót trong bồ có thứ gì ăn được là đưa ra mời mọc thi lễ. Bộ mặt trơ trơ, áo lương khăn xếp, hai tay xuýt xoa thi lễ vậy mà lại cục cằn vũ phu, ăn tục nói phét nào có biết dơ mồm bẩn miệng. Rượu vào là lôi cha tỉ tằng tổ thằng nọ con kia ra mà chửi...Bà Hoa biết cái luật lối đè nặng thân phận người đàn bà. Đến cái tên về đến nhà chồng là người đời quên mất rồi: Một bà m Vệ, hai cô cậu Vệ, đến lúc sinh con, đẻ cái lại lấy tên con mà gọi. Bà đã tan biến, vỡ vụn ra trong đồi, bãi, vườn tược, trâu bò, gà vịt từ lâu rồi.Việc cậu Tháp, cậu Văn bỏ đi đã làm cho cụ Cử Hà tức muốn chết. Vì ông không chịu nổi cảnh bợ đỡ cho bọn tây mũi lõ tóc quăn, ăn bơ thừa sữa cặn của nó. Ông thấy bọn chúng cướp vợ người ta ngay nhãn tiền mà không chịu nổi. Ông liều mình cùng đám lính ta nhảy vào hành sự. Từ chân Ách Xì đằng ông bị dáng xuống lính trơn đưa về giam lỏng tại quê nhà...ông cho con ăn học, cốt để tẩy rửa phần tăm tối, phần nghèo nàn của làng quê bùn lầy nước động. Ông trốn đi theo các bậc Duy Tân cũng là mong muốn phục quốc, đẩy cái lũ mũi lõ, tóc quăn ra khỏi đất này. Thế mà thằng Tháp đứa con rứt ruột của ông đẻ ra, ngang nhiên không biết ngượng nói với ông:

- Nước mình do sự cai trị của quan lại phong kiến mà kìm hãm mất vài trăm năm cha ạ...

- Mày bảo ai kìm hảm? Ruộng đó, đất đó, trâu đó...Ai cấm bọn bay cày?

- Cái no thì có lúc đói lúc no... Nhưng cái khổ thì con thấy khổ lắm?

- Cha mày...Họ hàng này...Cha ông mày, đời này qua đời khác ở đất này có sao đâu? Từ bàn tay, khai khẩn ra đất đai...Thú vui với điền viên...Sinh con đẻ cái...Thiếu áo mặc thì lấy vỏ cây, quả bông mà dệt lấy vải, cái xứ mình nóng ăn mặc lụa là cho nó mát...Tại sao tụi bay muốn mặc đồ tây? Cho ống tay ống chân nó cứng đơ ra? Bọn bay muốn nhác lười...Uống phải cặn bã của tụi mũi lõ...Này nhớ, cha ông mày là nông dân...Đời đời là nông dân mày bảo sao? Chú Đỏ Vang đấy thôi...Đăng lính sang đánh nhau bên Châu Phi...Dồn được ít vốn liếng, như người ta đem về mà tậu ruộng đất cho nó đổi mẹ cái đời đi...Lại cưỡi ngay cái phành phạch về làng...Có điếc tai dân chúng không nào? Thử hỏi đường xá đâu cho anh đi...Xăng đâu cho anh dùng. Va đập vào người và gà lợn...Bây giờ cái nghèo đi đến nơi nào cũng nghèo...Ông muốn nói nữa với cậu Tháp, cậu Văn nhưng tự nhiên tắc nghẹn trong lòng. Ngồi câm lặng.

- Thầy thứ lỗi cho con...Cậu Văn thận trọng hơn lựa lời. Cả cái nước Nam ta, vua quan còn khom lưng làm nô lệ...Thì bọn con làm được gì hở thầy...Cũng là học lấy cái chân công chức, lo cày trên giấy tờ mà thôi...

- Hỏng ...Hỏng tất rồi...Các anh đi đi...

Hai người em của bà Hoa đưa hai cô vợ về thăm cha mẹ, họ hàng lần ấy rồi ra đi biền biệt. Có người đi phu Buôn Mê Thuật về bảo nhìn thấy các ông ấy đo sông, đo biển ở mạn Bình Thuận, Khánh Hòa nhưng không dám hỏi...Người ta giờ ăn mặc sang lắm, lại đi xe Zép.

Cảnh nhà nheo nhóc, bà ngoại đau quặt quẹo. Không tiền thuốc thang, buồn rầu rồi cũng lăn ra chết. Lo tang ma cho mẹ vợ xong,
m Vệ dắt Út Thường về sống ở La Hà. Đã vất vả bà Hoa càng vất vả hơn. Mấy mẫu ruộng, lấy cớ ở tận ngoài Hà đường xá xa xôi nên bán đổ bán tháo. Đội Oánh mua lại cho người nhà phát canh thu tô, ông ta cũng sống ở phố huyện Lôi mở phòng kê đơn bắt mạch. Có ai gọi thì đi tiêm chích lấy tiền tiêu vặt. Mặc dù tuổi đã ngót tứ tuần nhưng vẫn chưa chịu lấy vợ. Đeo đuổi cô đào Tuyết. Có lúc thiếu người Đội Oánh cũng chơi đàn phụ họa cho đám hát.Công bằng mà nói m Vệ là người vô tích sự. Ba tuổi học chữ Nho. Học đâu thuộc đấy. Viết sớ, lấy lá số, đọc thơ Đường cứ là ngọt giọng. Học ròng rã mười năm trời. Học lèo cả tiếng Tây. Chữ quốc ngữ không học một dòng nào, chỉ lướt qua là có thể đọc thông viết thạo. Ông Cuông mua đất lập đồn điền, mở trường dạy học võ. Thầy giáo từ Hà Đông, Hà Nội vào giảng dạy. Dạy ai chứ m Vệ không dạy nổi. Nói thì vanh vách nhưng không thi cử gì ráo. Đi bộ bốn mươi cây số về thành phố xem phim. Kéo cả đám bạn về, chặt cả đồi cà phê của ông Cuông ra mà quay phim chụp ảnh. Bán hai mẫu ruộng mua chiếc xe đạp đầu tiên của Đông Dương mà đi. m Vệ nói phét nói lác thế . Nhưng ai cũng tin như đinh đóng cột. Đi thì ngả người ra sau. Đầu đội chiếc mũ phớt có dễ giá bằng tạ lợn. Lại còn sắm đồ hớt tóc, giọng cao ngạo: - Phải xoa đầu cho thiên hạ. Phải quan sát cho thật kỹ bộ mặt của loài người. Vừa cắt tóc, vừa bình phẩm thời sự quốc tế, trong nước. Về tướng tá của Tàu, của ta. Về trên trời dưới biển...Buồn với thiên hạ thì về nhà. Chạy xuống cụ Quản Mầm ngồi chầu chực. Có ai mệt thì thay chân trống chầu, đàn đáy. Về các món ham chơi thì m Vệ và Đội Oánh cùng một duộc. Còn tiền bạc thì m Vệ nhiều khi phải vay của Đội Oánh để tiêu pha. Họ không ưa gì nhau. Một anh thì lùn tịt, đã thế lại com lê, ca vát, râu ria tỉa xén sức nước hoa, chống cái can đánh véc ni, còn một người thì cao to, mặt mũi nhẵn nhụi, lông mày rậm rạp, có nụ cười vô hồn. Thỉnh thoảng, họ vẫn chửi nhau bằng tiếng Pháp. Cũng có thể là làm điệu bộ mà cũng có thể là thật.

 

I X

Từ hôm
Út Thường định treo cổ tự tử, nhà m Vệ không một phút giây rời mắt khỏi cô. Cô Tuyết ngoài giờ hầu quan viên ra, thường sang nhà m Vệ chăm sóc cho Út. Hôm nay cô Tuyết cũng tranh thủ ra ngoài vườn quan hái các loại lá dùng để gội đầu và tắm của phụ nữ. Thuở ấy nhà quê phần lớn không có hố xí. Mỗi làng để ra một khoảng chừng một trăm, hai trăm mét vuông làm nơi phóng uế cho cả làng, cỏ mọc, cây tầm ma, cứt chó mọc ê chề. Các bãi phân phóng ra bừa bãi. Chó nhà, chó hoang tha hồ mà hưởng phần hôi thối. Người đi trước, người đi sau mặc nhiên ngồi chổng tồ hô mà làm việc đại tiện. Chỉ có điều họ phớt nhau như không hề quen biết, không hề thẹn thùng. Kể ra nói về phần văn minh thì không được một phần, nhưng phần tiện lợi phải nói không biết đâu mà bàn.Người ta vẫn nói lỡm với nhau là :"ra vườn quan mà xem voi đẻ".Kỳ thực là người đi phóng uế chổng mông, nhìn xa như nhưng đàn voi thật. Chính cai thằng bản cũng bị Phách rủ ra vườn quan xem voi.Voi ở đâu không thấy chỉ thấy người trước người sau chổng mông. Đến lúc phách hỏi tại sao ngươi ta chổng mông.Bản không tai nao hiểu nổi.Thi ra bẩn thiểu và sợ chó hoang nó đớp cho nên ai cũng chổng mông,tay cầm một đoạn que đẻ đuổi chó.Cô Tuyết phải nín thở để hái lá gội đầu cho đủ vị. Cô muốn mình tắm táp, gội đầu và tắm luôn cho cái Út. Cô bẻ ít lá tre, lá cứt lợn và những loại cỏ dại...Cây cỏ mọc trên uế tạp nhưng khi nấu lên lại có mùi thơm đến dễ chịu. Bà Hoa vừa sợ cô Tuyết lại vừa kính nể người đàn bà tài sắc này. Kể ông Di không bị tiêm thuốc cho điên dại thì cô Tuyết đã là chị dâu rồi. Bà Hoa không tài nào hiểu nổi tình yêu của anh chồng với cô Tuyết hệ trọng, keo sơn và đau khổ tới mức nào. Người đàn bà gia thế như cô Tuyết lại phải huỷ hoại cả cuộc đời vì cái tình yêu ấy.. Bỏ cả cơ nghiệp và nghĩa vụ của người vợ đi vào đoạn trường trôi nổi. Nghĩ mà xa xót cho cô Tuyết, thương cho anh chồng. Ông Di không còn cuộc đời của người bình thường, nhưng m Vệ nay đây mai đó, đi cắt tóc dạo là bình thường hay sao? Bà Hoa và cô Tuyết, khác nhau ở đâu, phận đàn bà?...

Bà Hoa đẩy cho củi vào trong bếp lửa nói với cô Tuyết:

- Chị để em tắm cho dì Út cũng được ạ!- Thôi mà, bà

m Vệ có việc gì thì cứ làm, để tôi tắm cho em út. Nói rồi, cô Tuyết vào trong nhà ngang khẽ lay vào vai út Thường.

- Em dậy đi nào...để chị tắm cho...Nằm mấy ngày nay chắc gì đã sạch.

- Cô ơi...Cô để mặc em! -
Út Thường thẹn thùng khẽ đẩy bàn tay cô Tuyết.

- Bậy nào...không cô quả gì sất...Em cứ coi chị là chị của em...Đừng sợ...Chị không để cho ai bắt nạt em đâu.

Út Thường rơm rớm nước mắt. Bà Hoa bỏ ra ngoài, cô Tuyết khẽ kéo Út Thường dậy, bẹo vào má Út nựng. Kể ra con bé Út cũng xinh đấy. Chị mà còn mê huống chi người đời...Nào, chỉ có chị và em thôi, đừng ngại...Chị cũng muốn được chăm sóc cho em. Cô Tuyết cởi dần áo và quần Út ra. Bàn tay khẽ thoa khắp người Út. Út khẽ rùng mình. Lời của cô Tuyết lại buông ra ngọt ngào. Người con gái, sắc đẹp là tài sản. Chị cũng biết là mình đẹp. Chị yêu anh Di là phục tài của anh ấy. Anh ấy có thể giúp ích cho đời. Anh ấy mà không bị bọn chó Tây nó hại...Chị cũng đau khổ lắm...Chị biết, em cũng có chữ nghĩa...Em có thể làm nội trợ, làm một việc gì đấy...Hay em đi lấy chồng. Lấy một thằng khốn nào đấy. Có một ít ruộng, một ít vườn...Sinh con đẻ cái. Kể ra chẳng có gì là không yên cả. Thế ai bảo em phải đi làm chân hầu hạ người đời nào. Em có biết hát không? Chị dạy cho nhé. Em có biết nấu ăn ngon không? Chị dạy cho em các món tây món tàu, món mường, món mán nhá. . Cái đàn có cần dài như chiếc đòn gánh ấy, là đàn đáy. Tiếng của nó u trầm, thánh thót hát không lấp được tiếng đờn. Như nấu canh rau không được chìm xuống đáy. Còn trống hả. Đừng cướp tiếng trống. Trống gọi ta vào lời, trống tiễn ta dừng, trống thúc ta nhưng trống và phách không làm lời cho ta tan ra, lấp hết cả lời... Út Thường trước đây chỉ nghe người đời đồn thổi về cô đầu. Bây giờ ngồi trước mặt Út là cô đầu bằng xương bằng thịt. Út không khỏi thèm khát sắc đẹp của cô Tuyết. Không khỏi thẹn thùng vì ngồi trước cô Tuyết Út nhỏ bé, không là gì cả. Như đoán được ý nghĩ của Út Thường, cô Tuyết kỳ mạnh vào ngực em, tay xoa vào hai trái nhỏ:

- Em à! ...Em cũng đẹp có kém gì chị đâu...Đôi chõm cau này đỏ thế này...Nhưng chị bảo này...Nghe chị và các chị ấy hát nhé...Làm cô đâu rượu, đào thịt thôi...Em đừng hát nhé.

- Sao hở chị? -
Út hỏi lại.

- Chị cũng chẳng hiểu được nữa...Chị không hiểu thật mà...

Út Thường thấy mắt mình rớm lệ. Út Thường không biết mình nghĩ gì nữa.

 

X

Nhà thờ họ đạo Bếch nằm ở phía nam đồn điền của lão Cuông. Kể về sự ra đời của nó không ai có thể tin được. Đó là vào đầu thế kỷ XX, người Pháp bắt phu làm đường. Làm cầu Long Biên ở Hà Nội, làm cầu Hàm Rồng ở sông Mã Thanh Hóa. Cầu Tràng Tiền ở Huế...Xây một số đập ngăn nước sông để khai thác đồng ruộng, lấy lương thực phục vụ cho việc nuôi quân đội và khai thác hầm mỏ ở Hòn Gai,Hông Quãng.

La Hà cũng phải cung cấp hàng trăm xuất đinh đi phu, để đắp đập, làm đường phục vụ cho chương trình “khai hóa”. Quan tỉnh bổ xuống các phủ, các huyện, tức thì huyện bổ xuống hàng tổng. Chánh tổng yết về các chánh phó lý các làng. Chuyện đi phu không có gì mới. Nhưng các thôn làng đều nhằm vào bọn nghèo hèn và đầu bò đầu bứu, đầu chày đít thớt mà đăng.

Một đêm lão phủ Thiệu cho khiêng cáng về La Hà để đốc phu và tiện thể cùng với quan tây duyệt phương án đào sông. Đào sông bắt nước chảy từ thượng nguồn sông Tra xuống thành phố hàng bốn năm chục cây số. Bọn nào cứng đầu, cứng cổ, không chịu nôn ra bạc thì cứ một vạch đỏ vào chính nhà của chúng nó cho sặc tiết. Vì thế mà Chánh Tào phải họp chức dịch bàn góp tiền mời quan về hát ả đào. Lão quan phủ Sành, sau lúc rượu thịt ê hề, ợ lên toàn mùi xú khí, vỗ vào vai Chánh Tào:

- Thày làm cha dân mà không biết còn một nơi mà bọn sức rộng vai dài dễ trốn lính đó sao?

- Thưa ...Tôi đã cho phó lý lật lên từng tên một ...Từ tên cúng cơm đến tên khai sinh cả rồi ạ!

- Thế trong đám hát kia ...Nhà Cửu Thọ có mấy người ? (Cửu Thọ là cha của Quản Mầm)?

- Thưa quan ...Con hiểu rồi ạ! Tối nay mời quan sang đó ...Tiện thể xem mặt mấy đứa hỗn láo dám chống lệnh nhà nước.

Tức thì Chánh Tào, Phó Du dìu quan phủ Thiệu là Trần Khánh Chí sang nhà Cửu Thọ. Cửu Thọ là gọi theo chức Cửu Phẩm mà từ xa xưa của nhà Cửu Thọ bỏ tiền ra mua, Chứ thằng Mầm làm có công trạng gì. Đi lính được vài năm mua được chức Quản. Sẵn tiếng có tổ tông là đàn hay hát ngọt. Nhờ cả bàn tay tài xoay sở của vợ mà ăn nên làm ra. Vợ của Mầm vốn là con gái ông Đỗ Ngoạn bên Vĩnh. Tổ tiên đâu tận ngoài Hải Dương, Hưng Yên, đi phu đắp thành xây luỹ cho Thái sư Hồ Quý Ly, rồi ở luôn bên Bồng Thượng. Lại gặp con cháu của ông Tư Doãn đi tìm người hát cho họ ca công mà rước về. Bà Quản Mầm có tên tục là Đỗ Thị Nhự về làm dâu ở La Hà biết hát múa gì đâu. Nhưng nhờ bàn tay lo tư văn vặt vãnh cho nhà Cửu Thọ mà như người đem của đổ vào nhà. Bao nhiêu là quan viên chức dịch trong làng đều mê mẫn trước tấm thân giỏi giang của cô Nhự. Mặt cô Nhự ngời ngời. Mắt cô như mời chào. Kìa nhìn cô nhíu cặp mày thật khó nhịn được, phải nói ra một câu gì đó. Dù vô nghĩa cũng được, nhưng cứ nói ra là ta mới yên lòng.

- Hôm nay cô Nhự chuẩn bị cho ăn khuya chưa?

- Ăn khuya hả? ...Đó, thấy chưa cô ta cười...Làm cho trái tim đàn ông của họ phải hồi hộp. Buông ra một câu biết là dại rồi.

- Chuẩn bị cho con gà tơ nhá!

- Nhà em...Mời thày tối sang chơi.

Trời hỡi trời...Có thày bà gì cho cam. Thế mà cô ấy lại khéo phỉnh cho thằng đầu chày đít thớt phải mềm lòng. Dấu diếm vợ con, bon chen bóp nặn thêm chút mồ hôi của dân đen...Đem nướng vào chốn vô thuỷ vô chung.

Người ta nói cũng vì bà Nhự mà thày Bạ Giang người họ khác đến ngụ cư từ đầu thế kỷ XX và cha lão Phó Cáy uỵch nhau không biết bao nhiêu trận. Cha Phó Cáy dùng cả đôi giày ống nhằm khấu đuôi của Bạ Giang mà đá...Sau trận ấy Bạ Giang thành chàng thọt. Chân đi một bước là vẽ thành vòng tròn trên mặt đất.

Bà Nhự đẻ ra cho Quản Mầm ba đứa con. Đặt tên thật là có vần có lối: Bần là con gái, Thanh là con gái thứ hai, may mà đứa thứ ba là thằng Tịnh, hương khói cho họ Ca Công. Đến lúc đi học, nghe chữ Bần nó chướng, mới đổi tên là Bân. Bân đẹp không kém gì mẹ, nhưng có điều sùng cúng bái...Thế mà lại lấy Căn em
m Vệ...Thành ra giữa nhà m Cuông và Quản Mầm thành họ hàng.

Là nói sau này kia. Lúc này Cửu Thọ là chủ cái nhà ngói năm gian, hai chái. Cái sân gạch rộng mênh mông, có việc là cho mốc đá vào, cắm luồng vào làm rạp. Hè làm rộng có tới hai mét rưỡi. Ban ngày có bức dại che chống nóng, ban đêm được dẹp đi, thành sân khấu. Người xem ngồi dưới chiếu nơi sân gạch. Còn người hát trò thì lấy hè làm sân khấu. Hai chuồng cửa phía tả và hữu, lũ hầu hạ chạy ra vào, xốn xang. Bọn bậu nhậu chịu sai của các cô đào lấy thứ này thứ nọ. Bọn lo chuyện dao thớt, lo món ăn đêm, hoặc là đồ nhắm rượu. Cũng có khi gặp đám khách trái tính trái nết thì có cả thịt cày thịt cáo, cá rán và tiết dê tái lăn... Không kể chi được ý thích của quan viên. Nói dại, các ngài bảo trèo lên lấy gan của trời cứ là xin vâng.

Chánh Tào, Phó Du dìu quan phủ Trần Khánh Chí sang đám hát. Được báo trước mà gia chủ vẫn khúm na khúm núm sợ sệt. Ngài phủ Sành có phải lần đầu đến đây đâu. Có đêm ngài bắt chước đức vua Trung Hoa đi vi hành vào đột xuất. Tống cổ bọn hào mục phó lý ra rìa. Cũng là quan xem bọn nầy mẫn cán vì dân đến đâu. Bay lấy đâu ra tiền mà quăng vào đám bài bạc, hát xướng. Tất nhiên thấy quan Sành, bọn Cửu Thọ mặt tái mét, dập đầu, mấy đứa chầu chực bên cái trống, tay cầm đàn vội vàng đặt đàn vào ngạch cửa khúm núm. Có thể chúng xu phụ vì tính quan cũng vào loại thất thường. Vui thì quan gọi thưởng rượu, lúc tức khí quan tha gì không cho bạt tai. Tốt nhất là gặp quan thì bọn đày tớ khúm núm. Cái sợ cố hữu, cái sợ vô hình, từ đời này qua đời khác đã ngấm vào máu thịt. Đó là tâm lý cam chịu của nô lệ...May ra có dịp ngoi lên, lại thích đồng loại khúm núm với chính mình. Quan Trần Khánh Chí vuốt râu. Chánh Tào biết ý vội quát:

- Bay đâu hầu đàn...

Thật ra thì lời ấy giành cho đức vua, nhưng vua thì ở xa quan phủ quan huyện ở gần. Với lại nói cho sướng cái miệng có chết ai. Lần ấy, dân làng này biết ơn tri phủ Chí lăm lắm. Bọn Chánh Tào và phó Du tha hồ mà phét lác. Chả hiểu Cửu Thọ cha của Quản Mầm kiếm đâu được hai kép mới. Cô Mai Hoa trẻ đẹp có giọng hát mê hồn. Bộ mặt dễ thương tới mức quan Chí đau thắt ở bụng dưới. Còn tay chơi đàn không kém thánh thót là Hai Sang. Mỗi lần vào nhịp vào phách là Hai Sang liếc mắt cho cô đào Mai Hoa. Cái cách ấy làm cho quan Chí khó chịu lắm. Ông mới nói thầm vào tai mấy thằng lính đi theo. Lý trưởng, phó lý cũng không dò được lòng quan.

Quan Trần Khánh Chí làm bộ mặt vui vẻ, vỗ tay. Quan bảo với thày kỹ sư người ta. Thôi thì vì lòng tốt của dân La Hà ngài mới cho một vạch bút chì Cu Lơ, con sông đi chệch ra rìa làng. Con đường ô tô đáng lý qua mấy tổng khác, nhưng ngài kéo lại gần cây cầu xi măng sắp bắc. Ngài nói phải làm cho ô tô qua lại được, để xe các quan còn qua vào tận vùng trong, vùng đồn điền Mã Cọp, Mã Mây.

Ngài bảo mấy thày lại xem căn cước mấy đứa ngồi chơi đàn, gõ nhịp. Chúng không có căn cước; không sao, ngài cho ra phủ để tra xét. Cô đào Mai Hoa cũng ra phủ với lý do khác. Có lúc cần quan thẩm vấn. Nhà Cửu Thọ không việc gì phải lo, cứ việc đàn hát cho đồng bào vui vẻ, yên ổn làm ăn.

Hai Sang bị quan phủ sung vào chân đi phu tận đàng trong. Ban đầu Hai Sang vô cùng đau khổ, Sang chửi vào mặt tri phủ Chí:

- Ông là cha dân mà vô cùng bỉ ổi!

- Thằng dân đen kia...Bay đâu tát vào mặt nó cho tao. Tức thì mấy cậu lệ thay nhau tát bốp vào mặt Hai Sang. Sang bị nhốt lên một chiếc xe bịt bạt kín mít. Người ta đoán nó bị vu cáo là Cộng sản hoặc tội đồ gì đó. Bị đầy ra nhà tù ngoài Côn Đảo, Phú Quốc hoặc chết rục xương ở Buôn Mê Thuột mất rồi.

Còn quan phủ thì giữ luôn cô đào Mai Hoa, lấy cớ là cô có biết chữ nghĩa, ghi chép sổ sách cho quan. Gặp dịp quan Pháp chỉ huy đào sông đến bản hạt. Vì phải sửa thiết kế và làm chiếc cầu cho dân tổng Cương mà đành nhắm mắt biếu quan cô đào Mai Hoa. Người ta nói, quan đau ốm hàng tháng trời vì nhớ người tình.

Mười năm sau thì Hai Sang xuất hiện trên chiếc xe Zép với quan Công Sứ. Quan Công Sứ cười ha hả, bắt tay quan phủ Trần Khánh Chí.

- Ô quan Chí...ông có nhận ra ai không?

- Thưa ...Ngài Mông Kiơ...Đờ Panh tôi thật tình không thể nhận ra vị này...

- Thật sao, quan Công Sứ lật chiếc mũ khỏi đầu người mặc áo thụng. Chánh Toà và phó Du giật mình, không tin vào mắt mình được nữa.

- Chú Hai đàn đấy...Nghe tin chú đã...về...

- Ông Hai Sang, không còn là người chơi đàn cho các hát ả đào nữa rồi...Ông ấy về đây làm giáo học.

- Vâng...Tôi về quê...Xin với quý ông cho lập trường để dạy học. Hai Sang nói giọng từ tốn, nhu mì thật khác xa với Hai Sang ngỗ ngược ngày xưa, toan đập cả chiếc đàn đáy vào mặt ai có cái nhìn đam mê, thèm khát ả đào Mai Hoa.

- Thưa quan Công Sứ...ở tổng tôi đã có trường tiểu học do nhà nước bổ nhiệm...Chẳng hay ông Hai Sang về lập trường mới khai sáng cho dân quê...Chánh Tòa không dám nói hết câu, thăm dò nét mặt quan phủ Chí. Quan phủ Thiệu cười nịnh quan Công Sứ:

- Là nhà nước mở mang dân trí...ông Hai đã học hỏi được nhiều điều hay nên có hoài bão mới.

Quan Công Sứ không để cho tri phủ Chí nói hết lời, vội sổ ra một tràng tiếng Tây. Hai Sang mới nhỏ nhẹ nói với chánh, phó lý La Hà.

- Tôi xin mấy quả đồi nhỏ ở gần trại Mã Cọp để mở lớp học...Chắc các cụ không từ chối chứ ạ!

Những ngày sau Hai Sang đi thuê người đến các mường bên Chủa, Ngã Tư mua gỗ lạt, tre pheo dựng lên ngôi nhà gỗ, lợp lá gồi. Ngôi nhà này thiết kế rất khác với đình làng. Một chái ngôi nhà làm cửa chính và một gác cao kiểu như chòi canh. Còn phía chái bên kia lại đắp cao lên thành bục như sân khấu.
giữa các gian chừa ra lối đi. Bàn và ghế rất thấp có thể làm bàn mà cũng tỳ được tay khi ngồi nghe giảng bài. Sau vài tuần lễ thì một xe ô tô kiểu nhà binh chở về một chiếc chuông, thợ ở đâu kéo đến không ai biết được. Treo chuông lên giá chuông ở tầng hai, mà nay, ai cũng biết đó mới là cửa chính.

Người hầu đi theo Hai Sang, vẫn gọi Hai Sang là thầy, vào một buổi sáng chủ nhật, người dân La Hà giật mình nghe tiếng chuông dóng giã. Họ nhận ra cuộc sống ở La Hà không còn tĩnh lặng như xưa kia, cái thuở trong câu chuyện truyền miệng có bốn người đến khai khẩn đất đai, rồi các họ khác đến ngụ cư, đất lành cò đậu. Bây giờ cũng không chỉ đơn thuần có tiếng chuông từ chùa Hoa ngân lên nữa...Mà có tiếng ngân dài của nhà thờ Bích Phượng...

Chức sắc trong tổng, trong làng nhận ra một điều, quyền hành của họ vô tình như lơi ra, lỏng lẻo, thật khó phân định...

Hai Sang tìm những người thân cận, có giọng tốt lấy từ họ ca công, từ trong làng xã chọn ra, dạy hát. Thật lạ lùng lần đầu tiên người ta thấy một cái máy to như chiếc gương để của nhà giàu, hai Sang nhấc nắp lên, ngồi gõ vào những phím đen- trắng đổ ra những dòng âm thanh thật lạ lùng. Sự lạ lùng này căng thẳng đến cao độ. Căng thẳng hơn cả khi người La Hà chạy bán sống bán chết ra đường cái quan xem ô tô chạy bằng than qua cầu xi măng...Các cô gái thanh tân thì túm lại xem thày Hai Sang gõ vào những phím ngân lên cho các cô gái hát. Bài hát xa lạ lắm... Làm cho các bà các cô ngây ngất và thất đởm...

Cô Mai Hoa lại từ đâu trở về không ai biết. Cô bảo cô cũng xin vào đạo của thầy Hai Sang. Bây giờ không gọi là Hai Sang nữa. Phải gọi là Phao lô Khai Sang...Cái xóm nhỏ Bích Phân, bây giờ cũng được đổi là Bích Phượng cho dễ gọi. Ngày xưa tăm tối. Sợ cọp, sợ bọn trộm cướp đón đường vậy mà trong thoắt chốc đã thay đổi. Có cái gì đấy chuyển động trong con người...

Người lớn trẻ con suốt một dải đất này từ xưa đến giờ, đều sống hiền lành như đất, người từ La Hà lấy chồng cưới vợ sang tận bên Sơn bên Hạ...Nói chung là nhau hiểu từ chân tơ kẻ tóc...Từ nhà giàu đến kẻ bần tiện, khố rách áo ôm. Bọn trẻ chăn trâu thì lùa qua cánh đồng chung chạ. Lùa qua con sông vắt vẻo chiếc cầu treo. Tranh thủ vào đồn điền của
m Cuông mà hái gánh củi, mà nhặt mớ sim, hoặc ăn trộm đọt măng tre,măng luồng không ai ngó tới. Hơi thở của sình lầy thấm tháp vào da thịt họ thành khí chất của người sơn địa.

Ai ơi buôn bán đâu đâu

Nhớ về vui với chàng ngâu tháng mười

Có cốm nếp để chàng xơi

Có quả sim ngọt cho lời em ngoa

Em về thưa với mẹ cha

Ra giêng anh đẩy xe hoa rước nàng...

Bây giờ thì khác rồi . Trước lúc hoàng hôn, mặt trời chưa kịp tắt. Bọn trẻ Bích Phượng đã lùa trâu về kịp nghe tiếng chuông nhà thờ đổ, gọi thiết tha. Có người coi sóc phần hồn mà lâu nay chúng chưa hề biết đến nó. Trước nay khi đau đớn chúng rên rĩ: Cha ơi...mẹ ơi. Hoặc la khóc lóc: Trời ơi trời...Thì bây giờ chúng có cha chung, là ngời đứng trên bục kia rao rảng. Còn trên cao kia có đức chúa toàn năng đầy sức mạnh và quyền uy. Ngài sáng tạo ra tất thảy. La Hà không còn thuần nhất như thuở xa. Chức dịch và quan làng thấy tiếng nói của mình đâu còn thiêng. Những người, mới hôm qua còn là họ hàng, hôm nay đã có điều gì đó...Nhìn kỹ xem, ở trong cặp mắt kia.




CÒN TIẾP ....



TỪ NGUYÊN TĨNH

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC