Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





TRƯỚC MÙA MƯA BÃO



Chương Một

        ÔNG TÔI


Ông tôi đứng sững ở giữa nhà, đưa bàn tay to bè lên vuốt mũi. Đó là dấu hiệu ông tôi sắp nổi giận. Tôi đã quen với điều ấy từ mười ba năm nay như quen cây giâu gia trước nhà, lá trùm rợp hàng hiên. Thế nào ông tôi cũng "e hèm", "e hèm" vài tiếng. Rồi sau đó, có trời mà biết, ông tôi sẽ quát lên điều gì. Tiếng ông tôi rất to. Nghe bố tôi kể, thì ông vốn là một thợ gò hàn vào loại giỏi. Chính mắt tôi đã trông thấy ông, chui vào trong nồi hơi xe lửa, tán đinh đồng. Cái nồi hơi tròn to, phơi bỏng rát dưới nắng tháng bảy, như cái lò bánh mì, nóng đến khủng khiếp. Trước ông, cái quạt máy cao lênh khênh, quạt tới cấp bảy, gió thổi như bão, vậy mà tóc ông cứ bết chặt vào trán. Ông tôi nện búa vào đầu đinh đồng mới dồn dập làm sao. Tay búa hoa lên, nhát đậm, nhát mờ, nhát nghiêng, nhát thẳng, chính xác và nhanh đến mức, tôi chỉ mơ hồ cảm thấy trước mặt ông, phất phơ bay những sợi tơ mỏng. Còn tiếng búa thì oang oang, đinh tai, nhức óc, đi xa hàng mấy trăm mét cũng nghe thấy. Có lẽ vì sống trong những âm thanh luôn luôn náo động chát chúa như thế, nên ông quen nói to. Còn đã quát thì khỏi phải nói. Tôi đã quen với tiếng quát ấy, từ mười ba năm nay, như quen tiếng mìn nổ trên công trường.

- E hèm...

Tôi lướt nhanh trong đầu một bản tự kiểm điểm. Từ sáng qua, đến lúc này, tôi không làm điều gì sai trái. Tôi đi học đến nơi, về học đến chốn. Các môn học của tôi đều đạt điểm trên trung bình. Câu hỏi vật lý thầy ra "hóc búa" là thế, vậy mà tôi trả lời cứ trôi veo veo. Bạn tôi là thằng Cường, đã chả nói với bạn bè rằng, nó phục tôi sát tà vẹt là gì.

- E hèm...

Tôi gánh đầy thùng phuy nước. Trồng được một cây chuối. Có thể, khi lấy cuốc đánh cây non, tôi vô ý làm đứt nhiều rễ quá. Lại lẹm cả vào củ. Tại thằng Cường lúc ấy đến chơi, cứ luôn mồm nói về chim. Nó là tay rất sành về chim, nhất là chim sẻ...

- E hèm... - Tiếng ông bỗng to lên - Mày vừa quét nhà, rồi quét luôn mất của tao một tờ giấy, phải không?

- Cháu không biết giấy nào?

- Giấy nào? Giấy ở trên bàn bố mày, chứ còn giấy nào?

- Cháu nhớ hình như không có tờ giấy nào trên bàn bố cháu cả.

- Sao lại hình như? Ăn nói lập lờ như vậy là không được. Tao đã bảo bao nhiêu lần rồi.

- Cháu không thấy có tờ giấy nào trên bàn bố cháu cả! - Tôi nhấn mạnh với vẻ bực dọc.

- Lạ nhỉ? Sao lại như thế được?

Câu cuối ấy, giọng ông đã dịu đi. Chắc ông bắt đầu ngờ vực mình.

- Ông dặn lại, muốn vứt đi một cái gì, phải xem xét cho kỹ. Ví như tờ giấy ấy. Nó ở trên bàn là có cái lý của nó. Không hiểu thì đừng có mà làm liều.

Ông vào buồng xép. Sau đó, tôi nghe lục cục trong hòm gỗ thông, tiếng ê-cu, lắc-lê va nhau. Cái buồng xép ấy, ông xây năm ngoái. Lý do xây thì thật đơn giản.

Một buổi sáng, thấy tôi ngáp dài, ông hỏi:

- Sao cháu lừ đừ như người mất sổ gạo thế?

- Hai ba đêm nay, cháu không ngủ được.

- Cháu đừng đọc truyện khuya quá. Ngay cả thuốc bổ, uống quá cũng còn có hại.

Tôi nói thực:

- Không phải cháu mất ngủ vì đọc truyện khuya đâu. Mà vì ông đấy.

Ông tôi động đậy cặp lông mày rậm, đốm bạc:

- Sao lại vì ông?

- Dạo này cháu thấy ông ngáy to quá. Có lúc cháu cứ tưởng như có tàu hỏa chạy qua.

Ông tôi cười, nụ cười hơi heo héo:

- Thế à? Ông già mất rồi. Ông mày già thật mất rồi, cháu ạ. Cái khoang miệng người già nó rộng nên nó mới kêu...

Thế là ông tôi xây luôn cái buồng xép ấy. Những lúc nhà đông khách, tôi thường vào buồng ông để học bài, làm bài. Còn không thì đấy cũng là buồng ngủ ca ba của anh Tĩnh tôi. Anh tôi học hết lớp mười thì đi học nghề lái xe mỏ. Anh lái xe bò tót trên công trường của bố tôi.

Tay xách cái túi vải bạt nặng trịch, lem nhem vết dầu mỡ, ông tôi lừng lững đi ra, chẳng nói chẳng rằng.

Tôi gọi với:

- Ông ơi, trưa nay cháu có phải mang cơm cho ông không?

- Khô-ông!

- Ông báo cơm ở bếp bà Tư Máy Xúc ấy. Bà ấy vẫn bảo...

Ông đã đi khuất rồi.


Chương II

         CỨ ĐƯA ĐƯỢC MÁY XÚC XUỐNG SÂU DƯỚI KHÔNG LÀ MỎ CHÚNG TA SẼ CÓ TẤT CẢ


Nhà tôi có năm người. Trừ ngày tết, ngày lễ, còn không mấy khi có đủ năm người ngồi quanh mâm cơm. Có ngày, một bữa ăn phải dọn đến ba bốn lần. Bởi ai cũng có phần việc của mình ở mỏ, và giờ nghỉ thường rất khác nhau.

Ông tôi về hưu từ hơn hai năm trước. Lúc mới nghỉ, ông bần thần cả người. Dáng ông cao to, nên trông càng vụng về, lúng túng và khổ sở. Ông luẩn quẩn đi vào đi ra, quên cái này, lẫn cái kia, gắt gỏng và khó tính đến kỳ lạ. Có lúc vui vui, ông bảo: "Hay là ông đã mắc cái bệnh lẩn thẩn của người già. Và như thế, chả mấy nữa mà ông sẽ đi chầu giời".

Không có việc gì làm, ông rủ tôi ra bãi biển thuốn cá nhệch. Mỏ than của chúng tôi ở ngay trên bờ biển. Thật là lý thú được giẫm bàn chân lên mặt cát mịn, khi nước triều vừa rút ra xa. Nghe quanh mình a a o o... rất xa, rất gần, nhưng không thể biết đích xác cái âm thanh râm ran ấy, vang lên từ đâu. Chân mình xéo bừa lên những vảy đất nhỏ li ti như tổ mối. Sau tôi mới biết, đấy là tiếng con dã tràng và tổ của con dã tràng. Dã tràng xe cát biển Đông. Nhọc mình mà chẳng nên công cán gì.

- A, con dã tràng đây, phải không ông?

Tôi chộp một con. Ông cười, tiếng cười vang rất sảng khoái trên bãi biển.

- Còng gió đấy. Còng gió đấy. Để ông tìm cho cháu một con dã tràng.

Tôi cầm hai con ở hai tay, xem xét. Ông giảng giải:

- Dã tràng và còng gió chắc có họ với nhau. Dã tràng tròn như hòn bi. Còn còng gió thì dài như chiếc kẹo. Cháu hãy nhìn kỹ cái càng của hai con - ông tôi chỉ, ngón tay ông to, ở các đốt, da cộm lại, trắng mốc như đóng thành vảy - Càng dã tràng đều nhau, mỏng mảnh, yết ớt, phía trong đỏ nhờ, phía ngoài trắng nhợt. Càng còng gió màu nâu nhạt, một càng rất to, một càng rất nhỏ. Càng to là càng bên phải, chuyên để đào lỗ, bắt mồi và chống kẻ thù. Nó to và nặng bằng thân con còng. Khi bò trên cát, cái càng to này gác lên mặt, trông như hai con còng chồng lên nhau. Còn càng bên trái teo hẳn lại, nhỏ hơn cả cái cẳng của nó, chuyên để đưa mồi đã bắt được vào miệng...

Ông tôi là người không biết nói thầm. Đến đây, giọng ông bỗng nhỏ hẳn lại:

- Cháu ơi, người biết lo xa cũng phải như con còng gió ấy. Cái tay làm lụng thì phải to. Cái tay tiêu xài thì phải nhỏ. Cháu còn tuổi ăn học, chưa hiểu được rằng: khi người ta không còn làm lụng được nữa, mà chỉ có tiêu xài thôi, dù là tiêu xài bằng tiền của nhà nước cấp cho, thì người ta đau xót và cơ cực đến thế nào. Có lẽ rồi ông cũng sẽ bé đi, như cái càng bên trái của con còng gió...

Nhưng ông tôi không đến cái đận đau xót, cơ cực ấy. Ông lại được đi làm. Ấy là khi mỏ than của chúng tôi, khai thác xuống sâu dưới mực nước biển. Tôi còn nhớ nhiều điều xảy ra xung quanh việc lớn lao đó. Bao nhiêu cuộc họp đã được tổ chức ngay ở mỏ. Bộ trưởng, thứ trưởng, các tiến sĩ, phó tiến sĩ, kỹ sư, các nhà văn, nhà báo, đã về đây. Sau đó, thỉnh thoảng tôi còn gặp họ đi lại thong dong ở ngoài đường.

Một lần, thứ trưởng đến thăm ông tôi. Thứ trưởng không đi xe con mà đi xe đạp. Chiếc xe còn mới, chắc ông mượn của chú kỹ sư nào. Lúc ấy, tôi đang tưới rau. Không hiểu sao thấy ông, tôi lại cứ tưởng là một bác thợ điện.

- Ông cháu có nhà không?

- Ông cháu vừa sang nhà ông Tư Đặc.

- Ông Tư Đặc nào?

- Bác không biết ông Tư Đặc à? Chắc bác ở nơi khác mới về trạm...

- Ừ... ờ...

- Ông Tư Đặc mù, hoạn lợn ấy!

- Có phải là ông Trần Văn Đặc nổ mìn ngày xưa không?

- Đúng đấy ạ.

- Sao lại gọi là Tư Đặc?

- Tư là tên cháu ông ấy. Ở đây còn một ông Tư nữa là ông Tư Máy Xúc, bố thằng Cường. Cả hai ông Tư đều rất giỏi, bác ạ.

- À, cháu đưa bác sang luôn thể càng hay. Được không?

- Được ạ. Bác chờ cháu một tí.

Tôi khép cửa vườn rửa qua loa cái tay, rồi quần cộc, áo may ô, tôi lững thững đi trước.

- Cháu học lớp mấy? - Ông hỏi.

- Lớp bảy ạ.

Vì đoán ông là thợ điện, nên tôi "tố khổ" luôn:

- Lớp cháu sao mãi vẫn chưa có điện, bác ạ. Những chiều gió lạnh, chúng cháu đóng cửa sổ vào, trong lớp cứ tối om om.

- Lớp cháu thế còn khá đấy.

- Vì sao ạ?

- Bác đi đường, thấy ngôi nhà nào dài, nhiều cửa sổ không có cánh cứ toang hoác ra, thì đấy là lớp học.

- Trường của thằng bạn cháu ở dưới phố cũng thế, bác ạ!

- Cháu thích học môn nào nhất?

- Cháu thích nhất môn thể thao...

Hình như ông cười, tiếng cười thoảng qua rất nhanh.

- Bác về trạm lâu chưa? - Tôi vừa hỏi vừa tiện tay dứt ngọn cúc tần, vò nát ra rồi đưa lên mũi. Tôi rất thích hương vị thơm hắc riêng biệt của nó.

- Một vài ngày...

- Nhà ông Tư đây rồi, bác ạ. Đấy, tiếng ông cháu đấy. Nghe cứ như đang cãi nhau. Bác vào đi. Cháu về còn tưới rau.

- Ừ, cám ơn cháu.

Sau này, qua câu chuyện giữa ông và bố tôi, tôi mới biết, đấy là ông thứ trưởng. Ông về đợt này cùng một số chuyên viên kỹ thuật, xem xét sáng kiến của tập thể kỹ sư và công nhân mỏ, trong việc chế ra một cái máy, gọi là phà bơm. Máy bơm đặt trên phà, nổi trên mặt nước ở đáy moong sâu dưới mực nước biển, có khả năng đưa lên cao, một khối lượng nước rất lớn, rồi qua đường lò xuyên núi chảy ra biển.

Một tối, ăn cơm xong, ông tôi lừng lững đi ra đường. Lát sau, ông về. Ông nói sõng sượt:

- Mai tao đi làm!

Lúc ấy, mẹ tôi đã vào buồng ngủ sớm để đi ca ba. Tôi đang đánh muỗi trong màn, còn bố tôi đang ngồi trên chiếc ghế tựa, đóng bằng gỗ hòm mìn, đọc quyển sách kỹ thuật tiếng Nga dày cộp. Ông tôi uể oải ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Dưới ánh điện, mái tóc ông như bạc thêm, cặp lông mày rậm hay động đậy, cũng đốm bạc, và vẻ mặt ông thì đăm chiêu mỏi mệt lắm. Chính điều đó làm tôi ngạc nhiên. "Đi làm"! Chưa bao giờ, tôi thấy ông nói hai tiếng ấy, bằng dáng điệu yếu mềm và buồn bã như vậy. Bố tôi chắc cũng cảm thấy có điều gì khác thường, nên gấp sách lại, im lặng nhìn ông.

- Tao đã gặp anh Vũ Xuân Hải.

Vũ Xuân Hải là giám đốc mỏ. Chú còn trẻ lắm, ít tuổi hơn bố tôi nhiều. Chú mới đi học ở Liên Xô về.

- Chẳng biết anh ấy lý sự với các anh thế nào, chứ nói với tao, cứ như cua ngang chằng chằng, nghe không lọt lỗ tai được.

Mỗi lần nghe ông nói "không lọt lỗ tai được", tôi lại thầm buồn cười. Vì ông là người hơi nghễnh ngãng. Nhưng có lúc, nói rất nhỏ, ông lại nghe thấy, nhất là nói câu gì trái ý ông mà lại nói nhỏ, ông nghe được, thì ông quát to phải biết, cứ giật mình đến thót.

Bố tôi rót một chén nước, khẽ đẩy đến trước mặt ông. Ông uống cạn rồi đứng lên:

- Mai tao đi làm!

Bố tôi hỏi:

- Thế anh Hải nói với ông ra sao?

- Anh ấy bảo rằng, tao đã làm thợ đến bốn mươi nhăm năm, lại tham gia cuộc tổng đình công năm 1936, như thế là đủ rồi...

- Anh ấy nói thế là đúng đấy chứ - bố tôi xác nhận.

- Đúng là đúng thế nào... - giọng ông bỗng to lên như đang cãi nhau - Thế tao hỏi: tao có phải là người đi làm thuê không, hả? Hay tao là thợ thời Tây, thì chỉ biết đi làm thuê. Hả? Chỉ có người đi làm thuê thì mới thấy mình đã làm đủ chứ. Ngày xưa, tao đấu tranh với chủ để được thêm từng phút nghỉ, từng phút nghỉ, là vì làm sao? Là vì tao là người đi làm thuê cho nó. Đúng là đúng như thế nào? Nghe không lọt lỗ tai được.

Giọng bố tôi vẫn nhẹ nhàng:

- Thế ông đưa đơn cho giám đốc rồi à?

- Đơn nào?

- Đơn xin đi làm lại.

- Phải đơn à? Chưa.

- Thế thì ông viết đi, con sẽ ký, để chuyển lên giám đốc.

Ông tôi giãy nảy:

- Sao? Bố đi làm mà con lại phải ký đơn à? Lạ nhỉ? Ai sinh ra cái lệ ấy?

- ...

- Tao không viết.

- Thế con không ký nhận thì sao giám đốc duyệt được và ai sẽ phân việc cho ông...

Lúc ấy, dường như ông mới chợt nhớ ra rằng, bố tôi là phó giám đốc, trực tiếp phụ trách toàn bộ công trường, kiêm quản đốc công trường xúc. Ông tôi cười khà khà, tiếng cười hồn hậu lạ. Ông vui vẻ giục tôi:

- Cháu Tịnh, chữ cháu đẹp lắm đấy. Cháu thảo hộ ông cái đơn nào.

Tôi lấy tờ giấy to và sạch, rồi ngồi vào bàn học. Ông dõng dạc đọc:

- Tên tôi là Kiều Quang Tình, thợ gò hàn bậc bảy (7/7) đã về hưu, sức còn khỏe... - ông nhấn mạnh ba tiếng "sức còn khỏe", rồi quay lại hỏi bố tôi: - Này, có cần phải nói là tao không vui vẻ gì, khi nhận đồng tiền hưu không nhỉ?

- Không cần - bố tôi đáp.

- Nhưng rất cần - ông đọc tiếp - đi làm, để cùng với anh chị em khác, quyết đưa máy xúc xuống sâu dưới không, để mỏ chúng ta sẽ có tất cả...

- Câu dưới dài dòng quá - Tôi nhận xét.

- Dài cái gì? Xong chưa?

- Xong rồi ạ!

- Được! - Ông tôi ngắm nghía cái đơn một thoáng, có vẻ hài lòng lắm, rồi cầm cây bút của tôi, cúi xuống ký, rất là trịnh trọng. Chữ ký chỉ vỏn vẹn có một dấu +, hay là tương tự như thế.

Hai hôm sau, kỹ sư trưởng cơ điện Nguyễn Tùng Linh đến nhà tôi. Chú sục luôn vào bếp, xem tôi nấu nướng thế nào. Rồi ra sân, đứng dưới bóng cây giâu gia tỏa rợp, chú ghệch một chân ủng (ủng chú lúc nào cũng bóng) lên vỉa hè và gọi to:

- Bố già đâu rồi? Có khách nhé!

Trong lúc kỹ sư trưởng nói chuyện với ông tôi, tôi thấy chú có một nét đặc biệt, là rất thích bắt tay. Cứ mỗi câu ông tôi nói vừa ý chú, chú lại bắt tay một cái. Tôi không rõ câu chuyện diễn biến thế nào, chỉ thấy chốc chốc, hai người lại túm lấy tay nhau. Về sau tôi mới biết, ông tôi sẽ là người phụ trách toàn bộ phần gò và hàn phà bơm. Giúp việc ông, có một số người khác, trong đó có hai cha con chị Thủy, thợ hàn nổi tiếng của vùng mỏ.

Tiễn kỹ sư trưởng ra khỏi sân, ông tôi hỏi, nghe rất hách:

- Người anh em, bao giờ thì cái phà bơm của chúng ta, nhất nhất phải xong?

Chú Nguyễn Tùng Linh quay nghiêng người lại, giơ tay phải lên đầu, dõng dạc nói:

- Trước mùa mưa bão!


... CÒN TIẾP...

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 07.9.2013.