Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



ĐỐI THOẠI VĂN CHƯƠNG





Chương Ba

ĐỐI THOẠI THÁNG BA


73. Nguyễn Đức Tùng:

Chúng ta lại bắt đầu. Anh đã nhắc đến giai cấp công nhân. Ngày trước văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đề cao văn học viết về công nhân và văn học của giai cấp công nhân, với nghĩa là do công nhân sáng tạo ra như những tác giả. Công nhân ở các ngành khác chẳng có lịch sử bao nhiêu, nhưng công nhân mỏ lại có một truyền thống lâu đời từ thời Pháp thuộc (bên cạnh công nhân đồn điền cao su miền Nam). Tôi không rõ lắm có tồn tại thực sự một (hay hai) nền văn học như vậy hay không? Và theo anh, có những giá trị văn học nào sẽ tồn tại với thời gian?

Trần Nhuận Minh:

Công nhân mỏ là một bộ phận quan trọng của công nhân Việt Nam, nếu không nói là bộ phận quan trọng nhất. Văn học về giai cấp công nhân Việt Nam là một trào lưu có thật và thực sự có ảnh hưởng trong vòng 35 năm (1951 – 1986). Nó đã thực sự ra đời từ năm 1951, khi người công nhân mỏ Võ Huy Tâm viết cuốn tiểu thuyết đầu tay Vùng mỏ, được tặng giải nhất truyện và ký, Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1952, năm 1953 thì lần đầu tiên được xuất bản thành sách. Trong phong trào sáng tác của công nông binh, và về công nông binh, cuốn sách này vẫn ở đầu bảng. Các tác phẩm sau đó đáng chú ý như tiểu thuyết Những người thợ mỏ của Võ Huy Tâm, Bất khuất của Lê Phương, Mở hầm của Nguyễn Dậu, Xi măng của Huy Phương, Sao băng của Nguyễn Gia Nùng, Những ngày thường đã cháy lên của Xuân Cang, Mảnh đời của Huệ của Võ Khắc Nghiêm... và nhiều tác phẩm khác của các nhà văn, nhà thơ khác. Không có tác phẩm nào về công nhân đồn điền cao su miền Nam. Bản thân tôi cũng góp vào đây một tập truyện vừa Trước mùa mưa bão, 1980; ba tập thơ Âm điệu một vùng đất, 1980; Nhà thơ áp tải 1989; Nhà thơ và hoa cỏ 1993. Đấy là những tác phẩm đã được tặng giải thưởng cao nhất trong các cuộc vận động sáng tác về giai cấp công nhân của Tổng Công đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam…

Bây giờ, Hội Nhà văn Việt Nam vẫn có “Ban văn học đề tài”, nhưng ai cũng biết, đề tài không còn là vấn đề quan trọng nữa và thậm chí cũng không còn có ý nghĩa gì nữa. Nhưng đặt ra vấn đề “đề tài” sẽ giúp cho “công tác phong trào” của Hội, gắn bó với thực tế đời sống, để hy vọng từ đó mà tạo dựng các tác phẩm từ muôn mặt của đời sống. Bởi vấn đề không phải là viết về đề tài gì, công nhân hay bộ đội, mà là viết như thế nào để tác phẩm là tác phẩm nghệ thuật có đẳng cấp. Tôi xem xiếc Trung Quốc, thấy cô gái ra sân khấu, trong tay chỉ cầm có mỗi một sợi dây thừng như bất cứ sợi dây thừng nào, mà cô làm nên một tiết mục kỳ lạ, làm kinh ngạc cả thế giới. Vấn đề đâu có phải ở sợi dây thừng. Và bí mật nghề nghiệp lại càng không ở sợi dây thừng. Các dòng sông đều đã hòa nước vào biển rồi. Chẳng ai thấy cần thiết phải nhận ra nước sông Hồng hay nước sông Tiền Giang trong biển Đông. Ví như tập thơ Nhà thơ và hoa cỏ của tôi, đã được tặng giải A văn học công nhân năm 1988 của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam, đây là lần thứ ba tôi nhận loại cao nhất của giải thưởng này, nên nhà thơ Nguyễn Tùng Linh, đại diện ban tổ chức giải, trong một bài trả lời phỏng vấn báo chí, đăng trên báo Văn nghệ, mới nói vui là tôi đã đỗ “Tam nguyên”. Trong tập này, có một mảng tôi viết về người thợ, nhưng không có bài nào khu biệt họ, trong việc mô tả sản xuất hoặc các tấm gương lao động tiên tiến như trước. Ở đây, là số phận người thợ trong số phận của nhân dân, trước những đổi thay của thời cuộc…

74. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi được biết rằng các nhà văn, nhà thơ trong nước thường được nhà nước cho đi tham quan thực tế, thâm nhập “người thật, việc thật”, dự các trại sáng tác, có lẽ với hy vọng rằng họ sẽ tạo ra được các tác phẩm có nguồn gốc hiện thực, “phục vụ cách mạng và nhân dân”. Tác dụng của chúng ra sao?

Trần Nhuận Minh:

Các trại sáng tác mở ra chỉ là tạo điều kiện tốt hơn để các tác giả hoàn thành tác phẩm. Đối với văn xuôi, tôi nghĩ sẽ có tác dụng cụ thể hơn, nhất là gặp gỡ trao đổi để sửa chữa tác phẩm. Có cuốn viết trong trại sáng tác, nhận tiền đầu tư hẳn hoi, nhưng sách in ra lại bị thu hồi. Rõ ràng là các nhà văn hoàn toàn được tự do, viết theo ý mình… Không ai áp đặt cả, kể cả khi đã giao tiền “đầu tư” cho nhà văn. Còn đối với thơ, sự tụ tập đàm đạo cũng tạo ra cảm xúc mới để có sáng tác mới. Riêng tôi, khi sáng tác, tôi thích ngồi một mình, ở nhà mình, hoàn toàn yên tĩnh, để tự chìm sâu xuống, lắng lại nhiều hơn.

Việc của người sáng tác, nhất là của nhà thơ, trong bất cứ điều kiện thực tế nào cũng có lợi, đôi khi thực tế bất lợi nhất (tất nhiên không ai muốn) lại “có lợi nhất”: tạo ra được tác phẩm xuất sắc nhất. Ví như nhà thơ Hồ Chí Minh, nếu không bị quân sĩ của Tưởng Giới Thạch bắt, giải qua các nhà lao Trung Quốc, thì làm sao Cụ có Ngục trung nhật ký, rất nổi tiếng; hay nhà thơ Bùi Minh Quốc, nếu vợ không bị hy sinh trong chiến tranh ở miền Nam thì làm sao ông có bài thơ Hạnh phúc, đến nay vẫn làm người đọc xúc động…

Những tác phẩm viết về “người thật, việc thật” cũng là trào lưu văn học của một thời, chủ yếu là trong chiến tranh. Có khoảng vài chục cuốn, đều in với số lượng lớn, vài chục nghìn bản, bằng tiền bao cấp của nhà nước. Nổi tiếng hơn cả là Sống như anh của Trần Đình Vân, viết về liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, in nhiều lần, hàng triệu bản. Những nhà chức trách đã phát động toàn dân đọc. Riêng các tầng lớp thanh niên, sinh viên, học sinh thì phải học tập, thảo luận, rồi có chương trình hành động cụ thể như thế nào... Nó có tác dụng tuyên truyền cổ động rất lớn trong thanh thiếu niên, để thực hiện những nhiệm vụ chính trị trước mắt. Trước đây, truyện Lôi Phong của Trung Quốc cũng được dịch ra tiếng Việt và tổ chức học tập ở Việt Nam như thế. Nhà xuất bản Ngoại văn ở Hà Nội dịch Sống như anh ra các thứ tiếng, giới thiệu với các nước ngoài. Chắc nó rất nổi tiếng ở Trung Quốc, khiến phó chủ tịch thứ nhất Hội Nhà văn Trung Quốc, nhà văn Trương Quýnh, đã nói với tôi, khi tôi được ủy nhiệm thay mặt Hội Nhà văn Việt Nam, tiếp ông trong cuộc thăm vịnh Hạ Long, là: văn học Việt Nam hiện đại (chắc ông nói về văn xuôi) được biết đến nhiều hơn ở Trung Quốc chỉ có một cuốn ấy. Sau này tôi biết, tác phẩm Việt Nam được dịch ra tiếng Trung cũng khá nhiều…

Bây giờ thì lớp trẻ ở Việt Nam, cũng không mấy ai biết đã có cuốn sách ấy, hoặc những cuốn sách tương tự như thế…

75. Nguyễn Đức Tùng:

Sau 1975, tôi có dịp đọc qua cuốn Sống như anh nhưng thú thật không nhớ rõ lắm. Và những cuốn như Hòn đất, Bất khuất, Thép đã tôi thế đấy tôi đọc có phần kỹ hơn. Theo anh “bây giờ thì lớp trẻ không ai biết là đã có những cuốn sách như thế” là một điều tốt hay xấu, tại sao họ không biết đến? Giá trị thẩm mỹ của chúng ra sao?

Hay là:

Thôi nhắc chi những đêm dài trống trải

Bao vầng trăng vô nghĩa rụng qua đầu

(Vương Trọng)

Trần Nhuận Minh:

Nếu tính từ thời điểm Sống như anh ra đời, đến nay đã khoảng 45 năm, nghĩa là chúng ta đã đứng rất xa, cách Sống như anh đến “45 km - thời gian”. Ở khoảng cách ấy, chúng ta chỉ nhìn thấy những tháp chuông nhà thờ lớn trên các luỹ tre làng. Đừng nên chê trách nó, nó không phải là cái tháp chuông, nó là một bụi tre xanh tươi của làng xóm thời loạn, cả một thế hệ đã chặt gậy từ bụi tre ấy mà chống qua những nẻo đường bom đạn ra chiến trường. Giờ nó vẫn là bụi tre xanh tươi bao quanh xóm làng, lẫn vào trong luỹ tre làng thời bình. Các bạn trẻ chả để ý, vì rổ rá bây giờ đã làm bằng nhựa, đến cái gậy chống cho các ông già cũng đã làm bằng nhựa rồi. Nó vẫn là bụi tre thôi, không tốt và cũng chả xấu…

Tôi có nói chuyện thơ với nhiều bạn đọc ở một số thư viện, nhân đó hỏi, thì được biết, những cuốn sách văn học rất nổi tiếng một thời, như Hòn đất, Bất khuất… mà anh vừa nói tới, lâu rồi không thấy tái bản, còn những bản in từ nhiều năm trước đây, cũng không thấy có ai mượn đọc. Có lẽ, lớp người như tôi thì đã đọc nhiều lần rồi, còn lớp sau tôi, thì họ lại chú ý những quyển khác. Cũng là lẽ thường thôi. Còn nhắc đến Thép đã tôi thế đấy thì tôi lại nhớ đến Ruồi Trâu của Ethel Lilian Voynich. Những năm dưới 20 tuổi, tôi đã đọc hai cuốn sách này đến sáng. Tôi đã khóc khi đọc thư của Ruồi Trâu gửi cho Giêma, gọi thân mật là Dim, trước khi bị tử hình:“ Dim thân yêu!”. Cách đây khoảng 10 năm, tôi có đọc lại hai cuốn này, tôi thấy Ruồi Trâu vẫn còn đọc được. Quyển sách cũng như con người, nó đã sống oanh liệt cái thời của nó. Thế cũng đã là vẻ vang lắm rồi. Bạn đọc bây giờ đã là những thế hệ khác, những đòi hỏi và yêu cầu chính đáng của họ cũng đã khác… Những đòi hỏi và yêu cầu đó phản ánh sự phát triển của xã hội.

76. Nguyễn Đức Tùng:

Anh nói rằng: “Quyển sách cũng như con người, nó đã sống oanh liệt cái thời của nó. Thế cũng đã là vẻ vang lắm rồi. Bạn đọc bây giờ đã là những thế hệ khác, những đòi hỏi và yêu cầu chính đáng của họ cũng đã khác… Những đòi hỏi và yêu cầu đó phản ánh sự phát triển của xã hội.”

Điều anh vừa nói rất đúng nhưng chỉ mô tả được một khía cạnh của vấn đề mà hình như lại không phải là khía cạnh văn học.

Hãy nói về văn học Nga. Sau năm 1975, tôi đã từng đọc say mê những cuốn sách như Cơn bão táp, Thép đã tôi thế đấy, và đó là sự say mê thực sự, hoàn toàn cá nhân, không phải do tuyên truyền. Trước đó nhiều năm, ở miền Nam, tôi cũng đã từng mê Bác sĩ Zhivago, Anh em nhà Karamazov… Vì không có văn bản trong tay, chỉ căn cứ vào trí nhớ, nhưng tôi tin rằng nếu ngày nay có dịp đọc lại, tôi sẽ không còn thích Thép đã tôi thế đấy nhưng vẫn còn thích Bác sĩ Zhivago, không còn thích thơ Mayakovsky nhưng vẫn còn thích thơ Akhmatova. Còn anh?

Trần Nhuận Minh:

Những tác phẩm anh kể trên, Anh em nhà Karamazov của F. Dostoievski là văn học Nga thế kỷ XIX. Tôi đã đọc ba tập Anh em nhà Karamazov, thấy sâu sắc và hấp dẫn, tuy nhiên trong số các tác phẩm của F. Đôt, tôi thích Tội ác và trừng phạt hơn cả. Còn các tập khác mà anh kể tên, đều là văn học Xôviết, văn học Cộng sản, chủ yếu ra đời giữa thế kỷ XX.

I. Ehrenburg có hai cuốn tiểu thuyết được dịch ở Việt Nam là Cơn bão tápParis sụp đổ. Tôi thấy cuốn Paris sụp đổ dễ đọc hơn, trong đó có nhân vật Lucien vừa đi trên đường Paris vừa lẩm nhẩm câu thơ nổi tiếng của một nhà thơ Pháp (mà tôi thấy có trong thơ Xuân Diệu, của Xuân Diệu): “Hôm nay trời nhẹ lên cao / Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”….

Riêng Bác sĩ Zhivago của B. Pasternak tôi đọc đến hai lần. Nói chung, tôi không thích cuốn này lắm, nhưng điều tôi muốn tìm hiểu là vì sao một cuốn sách như thế này, được tặng giải thưởng Nobel văn học năm 1958, từng làm vẻ vang cho nhân dân Liên Xô trước toàn thế giới, lại mang đến cho nhà văn và cả gia đình nhà văn những hiểm họa khôn cùng.

Tôi có đọc hồi ký của Nikita Khrushchev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Ông ta viết rằng: căn cứ vào báo cáo của Cục trưởng Cục An ninh, chính ông đã ký bắt giam và cho phép sử dụng một số “biện pháp ngăn chặn”… đối với B. Pasternak vì quyển sách này, khi ông chưa hề đọc một dòng nào. Đến lúc sang thăm Hoa Kỳ và làm việc với Tổng thống Hoa Kỳ, tình cờ thấy trong phòng nghỉ sang trọng bậc nhất của khách sạn dành cho ông, có quyển sách đó, ông để tất cả thì giờ rảnh rỗi đọc thử xem sao, thì thấy quyển truyện chủ yếu xoay quanh cuộc ngoại tình của chàng Zhivago và nàng Lara, trong bối cảnh xã hội Nga từ trước đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, trong đó có cuộc cách mạng Nga năm 1917. Cũng có những chuyện rắc rối: hãm hiếp, bắt bớ, trục xuất, tù đày… nhưng không có tội gì đến mức buộc phải sử dụng “các biện pháp ngăn chặn…” Ông rất lấy làm hối tiếc vì đã quá tin vào cấp dưới, và một việc hệ trọng như thế mà ông lại làm một cách vội vàng. Ông viết rằng, về văn chương, không thể tin vào cái đám an ninh này được. Nó giỏi các thứ khác, chứ nghệ thuật với văn chương chữ nghĩa thì nó ít tinh thông.

Cảm động vì sự hối tiếc rất chân thành và cũng rất mới mẻ, thậm chí rất hiếm hoi ấy – bởi tôi chưa thấy một lãnh tụ nào, có văn hóa đến mức công khai tỏ rõ sự ân hận vì đã đối xử tàn tệ với một nhà văn – khi sang thăm Liên Xô theo lời mời của Hội Nhà văn Liên Xô, tháng 4/1990 (tôi ở lại thêm đến giữa tháng 6/1990 mới về nước), tôi đã đến viếng mộ Nikita tại Nghĩa trang danh nhân Matxcơva và đặt trên mộ ông một bông hoa hồng rất đẹp, tôi mua 4 rúp (giá thịt gà loại ngon nhất là thịt gà Ý ở siêu thị: 1,8 rúp / 1 kg, thịt gà Nga: 1,2 rúp / 1 kg). Tôi rất thú vị thấy bức phù điêu Nikita cao ngang mặt tôi, cười có thể nói là hớn hở hết cỡ, một cách cười đầy tự tin và sung mãn, gắn trên bức tường cẩm thạch ghép bằng 9 phiến đá đen xen trắng, tượng trưng cho 9 năm cầm quyền của ông, đặt ở sau ngôi mộ ông, với ý nói sự nghiệp chính trị của ông tốt xấu đan xen nhau, còn chờ sự phán quyết của hậu thế. Trong khuôn viên mộ Nikita, bên cạnh mộ ông to hơn, là mộ vợ ông nhỏ hơn, có hai điều mà tôi không hiểu vì sao, một là mộ bà lại nằm chếch, so với mộ chồng và bên cạnh mộ bà, lại có một cái khung sắt cắm lên, hơi xiêu xiêu như cái giá để phơi quần áo.

77. Nguyễn Đức Tùng:

Cái tình người đọc của anh thật lớn.

Tôi rất thích chi tiết thịt gà Ý 1,8 rúp, thịt gà Nga rẻ hơn 1,2 rúp, còn bông hồng… Nga lại đắt đến 4 rúp.

Thú thật với anh, tôi chưa bao giờ dám mua một bông hồng đắt như thế, dù là để tặng người yêu của mình.

Anh nói anh không thích Bác sĩ Zhivago lắm. Vậy tác phẩm văn học Nga nào anh thích hơn?

Trần Nhuận Minh:

Nếu nói văn học Nga, thì tôi thích nhất Chiến tranh và hoà bình của L. Tolstoi, bản dịch tiếng Việt của Hoàng Thiếu Sơn, Cao Xuân Hạo, Nhữ Thành. Còn văn học Xô viết, thì tôi thích nhất Sông Đông êm đềm của M. Sholokhov, bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Thụy Ứng. Có lẽ cái tạng của tôi vẫn nghiêng về các tác phẩm có yếu tố sử thi, mà sự khởi nguồn, có lẽ là từ cái thuở ban đầu, khi tôi làm bài thơ sát hạch Việt Nam dân chủ cộng hoà…

Đã lâu, tôi có đọc một chuyên luận nghiên cứu của một nhà Xôviết học, người Mỹ, mà tôi quên tên. Phần về văn chương, ông cho hay rằng, toàn bộ nền văn học Xô viết, chỉ cống hiến cho nhân loại duy nhất có một tác phẩm kiệt xuất là Sông Đông êm đềm của M. Sholokhov mà thôi. Tôi không biết ông ta viết thế có đúng không? Thơ Akhmatova cũng như thơ O. Berggolts, tôi chỉ thích được vài bài và vài bài ấy chỉ thích khi đọc qua bản dịch của Bằng Việt. Đã lâu, tôi không đọc Mayakovsky và giờ cũng không muốn đọc lại, vì sợ sự hào hứng với thơ ông trước đây sẽ bị thuyên giảm rất nhiều. Mà tôi chắc thế. Thơ ca Nga, tôi thấy gần gũi hơn với thơ A. Pushkin và X. Esenin. Vào dịp sang thăm Liên Xô trước đây, một nhà thơ Nga cho tôi hay rằng, ngoài A. Puskin, muốn hiểu thế nào là thơ ca Nga, chỉ cần đọc thêm A. Blok và B. Pasternak là đủ. Tôi cũng thích cái chất sang trọng quý phái của thơ A. Blok, còn thơ B. Pasternak, vì nghe giới thiệu thế, nên tôi phải đọc đi đọc lại, nhưng cũng không thích lắm.

Có thể nói, tôi đã mua và đã đọc rất kỹ hầu hết các tác phẩm văn học Nga, văn học Xôviết và văn học các nước khác, được dịch ra tiếng Việt. Hiện những cuốn tôi thích hơn, vẫn còn lưu trong phòng viết của tôi.

Ngày xưa tôi mua sách, cuốn nào thích, tôi thường mua từ hai cuốn trở lên cùng một lúc, trong đó một cuốn tôi đọc, có thể bị quăn hay nhọ hoặc mất (do bạn mượn không trả) và một cuốn bọc giấy bóng kính cất đi, ghi danh mục sách vào sổ để theo dõi… giờ giở ra vẫn còn mới nguyên. Có nhiều cuốn rất hay như Viên tướng của đạo quân chết, Bản nhạc tănggô, Người tù ở Ăngkara, Rômêô - Juyliét và bóng tối, Giết chết một con chim mốckinh, Tarat Bunba, Gatxbi vĩ đại, Chàng Memét mảnh khảnh, Phía Tây không có gì lạ, Vực xoáy…vân vân… (trong số này chỉ có Tarat Bunba của N. Gogol là văn học cổ điển Nga). Có quyển tôi mua đến 5 - 7 bản, vì mỗi lần ra hiệu sách, thấy sách hay quá mà không ai mua, trong lòng rất lấy làm tiếc, khi giá tiền một quyển sách, phần nhiều chỉ ngang giá một bát phở (quyển Tarat Bunba in đầy đủ, khổ nhỏ, một kiệt tác, giá 1,05 đ, quyển Quan thanh tra, kịch tuyệt hay cũng của N. Gogol chỉ có 0,60 đ, trong khi đó, một bát phở ngon ở Hồng Gai là 2,00 đ, thì có tủi không?) Vậy thì nhịn 1 bát phở, để mua thêm 1 hoặc 2 hay 3 quyển sách, loại thật hay, nếu có bạn quý thì tặng, là phải lắm chứ. Có quyển, như Gatxbi vĩ đại, hôm trước tôi mua 1 bản, hôm sau lại mua 1 bản nữa, hôm sau nữa, lại mua 1 bản nữa… vì quyển sách hay thế, bán rẻ thế, mà không có ai mua là cớ làm sao? Có lẽ vì thế chăng, mà tôi đã có đến hơn 5000 quyển sách. Ngay bây giờ, nếu gặp một bài hay trên một tờ báo, tôi thường mua liền 2 bản, một lưu lại, vì có thể có lúc phải dùng đến, và một để ở phòng khách, bạn đến thì “khoe” (không phải tác phẩm của mình) và nếu bạn thích như mình thích, thì tôi tặng luôn, và điều đó làm tôi rất sung sướng.

Trong số các quyển sách rất hay ấy, đọc mãi vẫn thấy rất hay, chỉ có Chàng quý tộc tài ba Don Quichotte xứ Manche của M. Cervantes và Chiến tranh và hòa bình của L. Tolstoi… Riêng văn học Xôviết góp vào kho tàng cao quý này, một cuốn là Sông Đông êm đềm của M. Sholokhov, cũng như văn học Colombia dâng hiến cho nhân loại cuốn Trăm năm cô đơn của Gabriel Garcia Marquez. Những tác phẩm vĩ đại này nằm trong số những tác phẩm hay của mọi thời, mọi quốc gia, mọi dân tộc.

78. Nguyễn Đức Tùng:

Các cuốn sách mà anh nhắc đến thường phảng phất nỗi buồn. Có phải vì nhân loại vốn nghi ngờ chủ nghĩa lạc quan và yêu chuộng nỗi buồn hay bi kịch không? Toàn bộ chủ nghĩa anh hùng cách mạng và phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhập khẩu từ Liên Xô, đã không còn đất sống ở Việt Nam nữa hay sao? Tôi nghĩ đó là câu hỏi mà các nhà thơ Việt Nam cần trả lời vì lợi ích sáng tạo của chính họ.

Tôi ở bây giờ như mũi kim

Bây giờ ơi bây giờ tê buốt quá

Buồn vô lý đau lại càng vô lý

Lấy ơ hờ thưa chuyện với cô đơn

(Thi Hoàng)

Trần Nhuận Minh:

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong văn chương vẫn là một đề tài lớn và có cơ sở phát triển. Vì nó gắn liền với công cuộc giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc. Nếu nó mất sức sống thì chỉ là do các nhà văn bất tài hoặc lạnh nhạt với quá khứ anh hùng của chính dân tộc mình mà thôi. Tôi nghĩ rằng: nhân loại (bạn đọc) không nghi ngờ chủ nghĩa lạc quan, cũng không yêu chuộng nỗi buồn hay bi kịch, mà chỉ không thích những tác phẩm viết không hay, dù tác phẩm đó lấy niềm lạc quan hay nỗi bi kịch làm nội dung chủ đạo.

79. Nguyễn Đức Tùng:

Anh biết rõ Võ Huy Tâm, nhà văn hàng đầu của văn học công nhân Việt Nam. Trong Chân dung nhà văn của Xuân Sách, có mấy câu thơ viết về Võ Huy Tâm:

Bị đập chiếc cán búa

Hóa ra thằng ngẩn ngơ

Đọc câu thơ này, tôi muốn biết sự thể cái vụ “bị đập cái cán búa” ra sao. Võ Huy Tâm ở một vùng với anh, được tặng giải thưởng Nhà nước cùng với anh, thế hệ trước anh.

Trần Nhuận Minh:

Võ Huy Tâm, nhà văn Vùng mỏ, người anh thân yêu trong nghề của tôi. Tôi ở Hồng Gai, ông ở Cẩm Phả. Ông được tặng giải thưởng Nhà nước trước tôi một đợt. Đương thời, ông thường qua nhà tôi, ngoài tình cảm anh em, còn có lý do: nhà tôi gần bến xe mà ông thì thường đi xe đò về Hà Nội. Ông có bài thơ tặng tôi rất vui, nhưng vui quá nên không đăng báo hay in sách được. Trong Nhà thơ và hoa cỏ, tôi có bài thơ Tinh chất tặng ông, với cái ý “tinh chất” của một đời nhà văn chính là tác phẩm hay. Đây là đoạn thơ mô tả ông bỏ phố vào rừng:

Không vào rừng thì đói

Nhà văn lại cười xòa

Mà văn chương còn phải

Vươn lên những tầm xa…

Và cảnh ông ở trong rừng:

Ngăn suối lấy nước uống

Vần đá trồng khoai lang

âu văn chợt đến

Giữa chiều thu rực vàng…

Khi ông mất, chính tôi đã xin tiền của Tỉnh ủy xây mộ cho ông sau khi hung táng. Và bây giờ, ở thị xã Cẩm Phả, quê hương thứ hai của tâm hồn ông, đã có một con phố rất sang trọng mang tên ông, nhà văn được truy tặng giải thưởng Nhà nước đợt 1.

Võ Huy Tâm là một người vô cùng chất phác, có thể nói là hiền lành và tử tế như một ông bụt. Vậy mà ông cũng có bài “khét lẹt” đánh các đồng nghiệp của mình, trong vụ Nhân văn giai phẩm (bài Nọc độc của báo Nhân văn, viết ngày 18/12/1956, đăng báo Văn nghệ, số 153, trang 5, ra ngày 27/12/1956). Cách đây khoảng 10 năm, tôi có đọc lại bài viết này của ông và rất ngạc nhiên. Nhưng rồi ngồi lặng đi một lúc mà ngẫm nghĩ thì… cũng không hề ngạc nhiên gì ở ông cả. Thấm thía cái đáng sợ của thời cuộc và càng thêm thương ông.

Rồi sau đó chỉ 6 năm (tháng 5/1962), ông cũng lại bị “đánh” đúng y như thế. Một cuộc đấu tố công khai diễn ra tại sân xi măng văn phòng mỏ Thống Nhất, Cẩm Phả (Quảng Ninh), nơi Võ Huy Tâm từng là thợ hầm lò của mỏ này từ những năm còn thuộc Pháp và sau khi vùng mỏ được tiếp quản, ông lại mượn bối cảnh hòa bình xây dựng của nó để làm đề tài mô tả trong tiểu thuyết Những người thợ mỏ. Cuộc “đấu tố” rất “hoành tráng” và cũng rất chuyên nghiệp này, do nhà lý luận lớn của giai cấp công nhân Hà Xuân Trường, từ Hà Nội về chỉ huy, để “đánh giá từ thực tế” mà thực ra là “triệt tiêu” nhà văn lớn của giai cấp công nhân Võ Huy Tâm, ở vùng mỏ, nơi buông neo của con thuyền số phận gia đình ông, với sự tham gia của một số nhà văn và nhà phê bình văn học mà tôi không tiện nêu tên. Tại cuộc “đấu tố” như đấu địa chủ cường hào gian ác đó, mà các báo thời ấy thuật lại, có hàng trăm người dự, hàng chục người lần lượt đứng lên chỉ mặt nhà văn mà phê phán, càng phê phán khí thế càng hăng, cho rằng: Võ Huy Tâm trong Những người thợ mỏ có nhiều nọc độc, và ông ta đã phản bội lại sự nghiệp của giai cấp công nhân, trước hết là xuyên tạc sự thật, mô tả cán bộ mỏ quan liêu… Nhà văn công nhân hàng đầu của Việt Nam, xuất thân từ thợ mỏ, đảng viên cộng sản, đứng lên, không thanh minh được gì, khóc như một đứa trẻ con. Đấy là “cái cán búa” đã phang vào đầu ông, như anh nói, ông chỉ “ngẩn ngơ”, chứ không gục ngã, cũng là có bản lĩnh vững chãi lắm. Bởi “bản án” ấy, đã đăng trên các tờ báo và tạp chí lớn nhất nước và cũng có uy tín chính trị nhất nước, đến nay vẫn chưa được xóa, dù Những người thợ mỏ đã được truy tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Cũng chính do “bản án” này mà Hội Văn nghệ Quảng Ninh, lẽ ra được thành lập sớm hơn, sau Hội Văn nghệ Hải Phòng 1962 (lúc đó gọi là Chi hội), nhưng trong danh sách họp trù bị, (hè thu năm 1969), sau đó đã 7 năm, ông Nguyễn Tuân, Bí thư Tỉnh ủy, vẫn dứt khoát không đồng ý có Võ Huy Tâm. Tôi vô cùng kính nể tâm huyết và sự trung thực của nhà văn Tô Hoài, lúc đó là Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam. Tô Hoài gọi điện thoại cho Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Tuân: “chúng tôi sẽ không làm bất cứ cái gì ở Quảng Ninh, nếu các anh không công nhận vị trí của Võ Huy Tâm ở vùng mỏ. Không công nhận Võ Huy Tâm là các anh không công nhận đường lối văn nghệ của Đảng. Và chúng tôi chờ đợi sự thay đổi của Tỉnh ủy Quảng Ninh rồi sẽ làm việc sau”. Ông Tô Hoài nói hôm trước và hôm sau đều y chang như thế, qua điện thoại, trước mặt tôi, tại nhà Giao tế số 1 ở Bãi Cháy, mà tôi là người phục vụ (tôi rời ngành giáo dục về ban Vận động thành lập Hội Văn nghệ Quảng Ninh từ 01/6/1969). Tôi nói: hôm qua nghe anh nói thế, em cứ nghĩ là có hơi men, sáng nay chưa ăn uống gì mà anh vẫn nói y xì như thế thì em khiếp thật. Tô Hoài cười…

Nhân đây xin nói thêm: Nhà văn Tô Hoài là người đã chấm giải nhất và trực tiếp trao giải nhất Văn học thiếu nhi năm Quốc tế Thiếu nhi 1979 cho tôi, với tập truyện vừa Trước mùa mưa bão, tại Hà Nội (năm 1980). Trong cuốn Chiều chiều, ông có viết về tôi vài dòng, rằng ông gặp tôi ở ký túc xá Trường Viết văn Gorki. Tôi thường tháp tùng ông (thực ra là ăn theo) khi ông đi nói chuyện với người Việt ở Nga, về sáng tác của ông và một số nhà văn bạn ông, như Nam Cao, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Bính... với giọng vui vẻ, rất giản dị và hài hước. Còn ông nói tôi sang Liên Xô để chơi với Trần Đăng Khoa thì không phải. Lúc bấy giờ, làm sao mà sang bên đó để chơi được. Tôi đi công vụ trong đoàn của Hội Nhà văn Việt Nam, gồm ba người, theo lời mời của Hội Nhà văn Liên Xô, rồi ở lại thêm non hai tháng, được nhà văn Marian Tkachev, Trưởng ban Văn học Đông Dương của Hội Nhà văn Liên Xô, cho tá túc tại đó, cùng với Tô Hoài và Nguyễn Duy. Nhà văn Tô Hoài đi thăm con ở Đông Đức về, còn nhà thơ Nguyễn Duy thì sang dự Hội thơ A. Pushkin ở Leningrad. Nói Nguyễn Duy ở đấy, nhưng ông chỉ thỉnh thoảng đến đấy chơi, còn tôi, nói ở đấy, nhưng tôi ở luôn phòng của Khoa, để Tô Hoài ở phòng khách một mình cho tiện. Phòng khách này có hai gian thông nhau, giường đệm xuềnh xoàng, lôi thôi, ít được dọn dẹp, sửa sang. Phòng Khoa cũng gần phòng khách, khá rộng. Khoa ở chung với một nhà thơ trẻ người dân tộc Avar. Nhà thơ trẻ này cho hay, mình là cháu ruột nhà thơ Daghestan rất nổi tiếng là Rasul Gamzatov, hiện đang ở Pháp.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, M. Tkachev sang thăm Việt Nam và nhà thơ Thúy Toàn đưa ông cùng đoàn về thăm Hạ Long. Tôi cùng ông Nguyễn Văn Tuấn, lúc đó là Trưởng ban Quản lý Vịnh Hạ Long, nay là Tổng Cục trưởng Du lịch Việt Nam, đưa ông đi thăm một số nơi, trong đó có di tích bài thơ của vua Lê Thánh Tông ở núi Bài Thơ, mà ông thắp hương với thái độ rất thành kính.

Xuân Sách trong Chân dung nhà văn đã viết về Võ Huy Tâm rất đặc sắc, bài thơ ngắn gọn, chỉ có bốn câu mà thâu tóm được một đời người:

Đem than từ vùng mỏ

Về bán tại thủ đô

Bị đập chiếc cán búa

Hóa ra thằng ngẩn ngơ…

Theo tôi, nếu Võ Huy Tâm có một tác phẩm hay thì là truyện ngắn Chiếc cán búa, chứ không phải Vùng mỏ hoặc Những người thợ mỏ. Chiếc cán búa bị phê phán rất nặng nề là có tư tưởng xét lại Khrushchev. Đây là cuộc phê phán Võ Huy Tâm lần thứ hai, nhưng không đấu tố. Là một nhà văn thời thượng, ông đã đi dự đại hội Hội Nhà văn Liên Xô, được chụp ảnh riêng với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev. Tôi đã nhiều lần xem bức ảnh rất quý đó. Chỉ có hai người đứng ngang nhau trên cái sân rộng mênh mông của Quảng trường Đỏ, Matxcơva. Cả hai cùng mặc áo dạ đen, Nikita thì đội mũ phớt đen còn Võ nhà văn thì cầm mũ phớt đen. Ông sợ quá, đã đem đốt cái ảnh ấy đi. Tôi rất lấy làm tiếc…

80. Nguyễn Đức Tùng:

Nghe chuyện anh kể về Võ Huy Tâm, lúc ông đả kích Nhân văn giai phẩm và lúc ông bị nạn, tôi tin là nhiều người sẽ có những cảm xúc và suy nghĩ lẫn lộn, vừa giống nhau và cũng vừa khác nhau.

Riêng tôi, về mặt cá nhân, tôi rất mừng vì khi nhìn lại những quyết định của mình trong quá khứ, những quyết định hệ trọng của cuộc đời, tôi đều nhận thấy rằng khi con người càng hướng đến tự do, người ta càng hạnh phúc. Điều đó có ý nghĩa đối với cả một dân tộc chứ không riêng gì cá nhân.

Trần Nhuận Minh:

Tôi cũng nghĩ như vậy.

81. Nguyễn Đức Tùng:

Lòng ta ở với người

Người thật thà bị lừa dối

Người trung trinh bị phản bội

Người tín nghĩa bị bỏ rơi

(Trần Dạ Từ)

Thật khó khăn để sống với quá khứ của chúng ta.

Trần Nhuận Minh:

Nhưng quá khứ bao giờ cũng có giá trị hiện hữu và ánh sáng của nó vẫn có sức soi tỏ chặng đường ta cần đi tới, với những thông điệp có ý nghĩa sâu xa. Không có cái gì trôi qua vô ích cả đâu. Anh có thấy như thế không? Và rốt cuộc, mỗi người sẽ tìm ra một con đường của mình, tuy có khác nhau, nhưng cuối cùng đều đến với cội nguồn. Đó là Tổ quốc và Dân tộc.

82. Nguyễn Đức Tùng:

Đọc thơ Trần Nhuận Minh, tôi có ấn tượng về một người đàn ông tốt bụng, tình cảm, quan tâm nhiều đến người khác, hiểu biết rộng nhưng không thích mưu lược. Có phải vì thế mà thơ anh bao giờ cũng có khuynh hướng thế sự? Thơ càng nhân hậu thế sự, tức là nói về người, thì thơ càng ít hoa mỹ trữ tình, tức là nói về mình. Anh có lấy làm tiếc không?

Trần Nhuận Minh:

Tôi xin thưa ngay là không. Đời của một người, nếu chịu học, chịu làm, lại có thêm cả sự may mắn nữa, mới có thể làm được một việc. Và nếu được như thế đã là hạnh phúc lắm rồi. Các cụ tôi xưa dạy: trồng được một cái cây, viết được một quyển sách, đẻ được một đứa con, thế là đã có thể nhắm mắt mà xuôi tay được. Tôi hình như đã làm được hơn thế, vậy thì anh bảo còn gì mà tiếc nữa.

Đúng như anh nói, tôi luôn quan tâm đến người khác và không phải là không thích mưu lược mà là không có mưu lược.

Kể anh nghe một chuyện không biết là vui hay buồn. Năm 1990, tôi mua được một cái xe đạp nữ mới, phụ tùng ngoại, giá 680 nghìn đồng. Khoảng 4 giờ chiều, tôi để xe ở sau nhà, vào nhà lấy thêm tiền ra mua sách, cho nhanh, thì mất. Tôi đoán kẻ trộm sẽ mang đi Hải Phòng tiêu thụ, nên suốt đêm chờ ở bến tàu. Đúng lúc chuyến tàu buổi sáng vừa nhổ neo, tôi toan về thì thấy cái xe của tôi chạy sồng sộc qua trước mặt để lên tàu cho kịp. Tôi đuổi theo một đoạn thì nhận ra thằng trộm là con một người quen. Tôi đứng lại ngay. Giám đốc Công ty chạy tàu Khuất Duy Chưng, thức cùng tôi đêm ấy để bắt trộm giúp tôi, bảo: tôi sẽ yêu cầu bến Hải Phòng giữ cái xe lại cho anh. Tôi bảo: thôi, cảm ơn anh, không cần nữa.

Khoảng một tháng sau, tình cờ gặp thằng trộm, tôi hỏi: Này cháu, hôm ấy mày lấy xe của chú mang đi Hải Phòng bán, được bao nhiêu tiền. Nó nói luôn: 150 nghìn, chú ạ. Tôi kêu lên: Trời ơi, chú vừa mua mới được có một ngày, 680 nghìn đấy. Sao cần 150 nghìn, cháu không bảo chú, chú sẽ cho ngay. Nó nói luôn: Chú chỉ được cái nói dối. Giờ tiếc cái xe nên chú mới nói thế, chứ lúc ấy, cháu có hỏi xin 5 nghìn thôi, chắc gì chú đã cho. Tôi im lặng một lúc rồi bảo: Mày nói phải. Và tôi bỏ mặc thằng cháu đứng đó, đi luôn, vừa đi vừa nghĩ là nó nói đúng. Bởi không thể cho nó, con một anh bạn quen, nhưng không thân, tùy tiện như thế được. Dễ làm cho nó hư. Vả lại, 5 nghìn mua được đến mấy quyển sách hay. Và có lúc, đến 5 nghìn, mình cũng không có ở trong túi. Tôi không nói gì với ai, kể cả có lần ngồi chơi với bố mẹ nó, cho đến khi kể lại những điều này với anh, hôm nay.

Cháu ấy bây giờ đã là một cán bộ tốt, rất vui khi gặp tôi.

Chuyện ấy cũng là đề tài của thơ thế sự đấy, nhưng tôi không làm thơ. Thơ thế sự là thơ viết về nỗi đời, về việc người. Mình chỉ là kẻ quan sát và trình bày. Mình càng giấu được mình bao nhiêu thì thơ càng hay bấy nhiêu. Thi thoảng lắm, người đọc mới nhận ra mình đứng khuất ở đằng xa, có thể là dưới một bóng cây nào đó, lặng lẽ lau thầm một giọt nước mắt… rồi mình lại mỉm cười mà tự ngượng với mình…

Tôi rất nhớ câu thơ của Chế Lan Viên, mà có lúc, tôi cứ nghĩ như ông đang nói trực tiếp với mình:

Thế thì thơ làm gì cho khổ

Nói nổi trời đất bao la mà chả nói được mình…

Thực ra, tôi nghĩ, viết về trời đất bao la, viết về người, cũng tức là viết về mình đấy. Và như thế, mình có mặt ở khắp mọi nơi, tự tan ra trong nỗi buồn vui của rất nhiều người. Vậy thì cái được lại càng nhân lên, còn gì sướng hơn nữa.

Viết về người, vẫn cần hoa Mỹ, trữ tình, nếu bài thơ yêu cầu phải như thế để bộc lộ một vấn đề, một cốt cách hay một nhân cách. Thông thường, thơ thế sự cần mộc hơn nhưng cũng cần phải tinh hơn, không mộc thì mất cái chân phác, không tinh thì mất cái hàm súc, dư ba… Thơ sẽ không sống được.

Thơ thế sự hoàn toàn có khả năng kết hợp cái thực với cái ảo. Và trong ý thức của tôi, tôi học tập và cố gắng phấn đấu, để thơ mình có được những phẩm chất ấy, còn tôi làm được đến đâu lại là điều khác. Mọi khả năng đều có hạn. Các cụ tôi lại dạy: mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Trong khoảng rộng dài của miền thơ tôi khai phá, tôi không dám chắc, có hay không, một giọt nước mong manh và hư huyền của Thượng đế rơi vào. Nhưng anh thì có thể biết được. Bạn đọc và thời gian thì chắc chắn biết được. Đúng không?

83. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi chắc nhiều người sẽ đồng ý với anh.

Ta đã từng trông thấy

Những kinh thành huy hoàng lộng lẫy

Bỗng nhiên sụp đổ

(TNM)

Nhưng một người bạn ở Hà Nội của tôi, một người không thích nói đùa, mới đây bảo tôi rằng: ở Việt Nam, thơ đã chết.

Anh nghĩ sao về tình hình thơ ca nói chung trong vài năm qua?

Trần Nhuận Minh:

Anh bạn anh nói vậy là không đúng đâu. Thơ Việt Nam đã khác và đang phát triển..

Năm 2002, nhà thơ Huy Cận về dự một đại hội Văn học nghệ thuật ở tỉnh Quảng Ninh. Trước đông đảo người nghe, nhà thơ Huy Cận có nói rằng, thơ có hai chủ đề lớn nhất là thơ về vận nước và thơ về vận người. Trong thơ vận nước, ông xếp Tố Hữu là lớn nhất; trong thơ vận người, ông xếp tôi là tiêu biểu. Tiếc rằng ý kiến này của ông chỉ được ghi lại có phần giản lược trong một bài báo tường thuật đại hội ở Quảng Ninh. Ông nói vo, và bài nói ấy của ông, sau đó cũng không thấy đăng ở đâu. Trong bài thơ Đọc thơ Trần Nhuận Minh (đã đăng báo, in sách - 1999), ông viết:

Đọc Nhuận Minh giữa biển trời

Cảm thương thân phận những người trong thơ

Cho hay tự cổ đến giờ

Thơ là nhân bản, là tơ nhựa đời…

Anh thấy không, ý kiến của ông trước sau vẫn nhất quán. Bây giờ anh đọc xem, có mấy ai còn làm thơ về vận nước, về vận người? Có lẽ anh bạn anh xét đoán thơ theo quan điểm đó chăng? Dù thơ in ra mỗi năm hàng ngàn tập, và 90% số thơ đó là của các tác giả câu lạc bộ, họ làm thơ, in thơ để chơi cho vui tuổi già. Còn một số bạn trẻ hơn thì in thơ để tặng các nàng thơ xinh đẹp. Cũng cho vui thôi. Người bạn của anh đã bị nhấn chìm trong cái biển lùng nhùng gọi là thơ ấy.

Suốt 5 năm qua (2005 - 2010), là ủy viên hội đồng Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam, năm nào tôi cũng đọc vài trăm tập thơ; riêng thơ được chọn đọc để xét giải của Hội, mỗi năm cũng non 100 tập. Thơ nói về tất cả mọi điều, nhưng dường như chả có tập thơ nào làm ta phải xúc động về vận người, về vận nước? Tuy thế, vẫn có vài ba tập thơ hay mỗi năm. Số này đúng là muối trong biển. Thơ Việt Nam hiện nay đã chuyển và như cánh chim, đã bắt đầu bay ở một quỹ đạo khác…

84. Nguyễn Đức Tùng:

Thưa anh, đó là quỹ đạo nào?

Trần Nhuận Minh:

Vì nó mới bắt đầu bay, nên còn chờ thêm thời gian, mới có thể kết luận được.

Nhưng cái khác thì đã rõ.

85. Nguyễn Đức Tùng:

Mối quan hệ giữa các nhà thơ Việt Nam hiện nay ra sao? Chắc anh có nhiều bạn bè. Giữa các nhà thơ bè bạn, các anh có sinh hoạt hay các hình thức trao đổi thuần túy chuyên môn nào không?

Tôi không có ý nói về các buổi họp hành ở cơ quan, các hội nghị chuyên đề. Tôi muốn hỏi về các quan hệ cá nhân trên phương diện sáng tạo. Ví dụ tôi biết một số nhà thơ thường gửi bản thảo cho nhau đọc để góp ý phê bình và sửa chữa trước khi xuất bản. Anh có ước ao gì về các mối quan hệ đó?

Ngày trước lúc tôi còn ở Toronto, tôi thường lui tới câu lạc bộ của các nhà thơ Canada và rất thích. Các sinh hoạt ấy nâng cao mình lên và mở rộng các quan hệ. Tôi còn nhớ những lần các nhà thơ Mỹ và Canada nổi tiếng đến đọc thơ và giảng bài. Tôi ước gì chúng ta có những salon thuần túy văn nghệ và tự do như thế ở Việt Nam.

Trần Nhuận Minh:

Bây giờ cùng với Hội Nhà văn Việt Nam, còn có hoạt động của các Chi hội Nhà văn các địa phương, các Hội Văn nghệ cấp tỉnh, riêng ở Quảng Ninh còn có Hội Văn nghệ cấp huyện.

Sự ra đời của Hội Văn nghệ cấp huyện ở tỉnh Quảng Ninh bắt đầu từ một chuyện sau đây.

Tính tôi rất thích sum vầy với các bạn thơ. Dù tôi đã lập ra Chi hội Văn nghệ mỏ than Mạo Khê, từ cuối năm 1962, sau khi đã đạp xe đến Chi hội Văn nghệ Hải Phòng, gặp nhà thơ Nguyễn Viết Lãm, lúc đó là Thư ký Chi hội vừa được thành lập, để học hỏi kinh nghiệm và cách tiến hành. Đầu năm 1963, nhà thơ Trinh Đường, thay mặt Sở Văn hoá khu Hồng Quảng về công nhận tổ chức này, nhưng ở đây không có bạn nghề, do đó cứ chiều thứ bảy là tôi đạp xe lên Uông Bí, cách chỗ tôi ở khoảng 20 km về phía Đông, để chơi với các anh Tạ Hữu Đỉnh, Yên Đức, Phạm Doanh, Long Chiểu, Trí Dũng, Thủy Nguyên… đều là các cây bút thỉnh thoảng có thơ và truyện ngắn đăng báo Văn nghệ. Một lần, tôi ghé qua Thị ủy Uông Bí ở nơi sơ tán. Bí thư Thị ủy là ông Nguyễn Sĩ Trung, người cùng quê Nam Sách với tôi. Trong lúc chuyện trò thân mật, ông hỏi tôi có việc gì mà mấy cậu tụ tập rì rầm bàn bạc đến một hai giờ sáng. Công an ngồi sau nhà nghe, kiến vàng đốt sưng cả đít, mà không biết trong nhà bàn bạc những gì. Họ báo cáo có cả cậu từ Mạo Khê lên. Vậy các cậu bàn những gì mà say sưa khuya khoắt thế? Tôi kêu lên: Trời ơi! Việc gì mà các anh vất vả thế cho phí công. Toàn bàn về thơ thôi. Về thơ thì cũng chỉ một lúc thôi chứ? ông Trung hỏi. Không, anh làm thơ sẽ biết, không hết thơ thì không đứng lên mà về được. Thơ mình, thơ bạn, thơ vừa đăng báo… đều là thơ tốt thơ hay cả, mỗi tuần mới gặp nhau một lần, nói đến sáng còn chưa nguôi ấy chứ?

Từ đó tôi nghĩ, phải công khai hoá nhóm thơ văn cho đỡ bị nghi ngờ. Tôi báo cáo với ông Trung và được ông đồng ý, tôi đề nghị ông cử một cấp ủy làm trưởng (Trưởng ban Tuyên giáo), cử trưởng phòng văn hoá, quản lý nhà nước, làm phó, còn một phó chuyên môn, thường trực, do chúng tôi cử ra. Thế là Chi hội Văn nghệ được thành lập, lần này thì Thị ủy Uông Bí công nhận, vào khoảng tháng 10 năm 1967.

Đến khi Hội Văn nghệ tỉnh thành lập, tháng 11 năm 1969, tôi đề nghị ông Ngô Lâm, Chủ tịch Hội, cho tái lập chính thức tổ chức này, với tư cách là cấp dưới của Hội Văn nghệ Quảng Ninh để anh em có chỗ mà chơi bời, bàn bạc thơ phú, theo cơ chế do tôi đã đề xuất từ năm 1967, đến nay vẫn chưa bị giải thể. Ông Lâm đồng ý và cử tôi đi thực hiện, đầu tiên là nơi có cơ sở cũ: thị xã Uông Bí rồi sau đó là huyện Yên Hưng - thị trấn Quảng Yên, quê vợ tôi, rồi huyện Đông Triều (trong đó có mỏ Mạo Khê) nơi tôi dạy học, tất cả đều trong năm 1970, sau đó rút kinh nghiệm, rồi Hội mới cử cán bộ đi thành lập tổ chức này ở Cẩm Phả và Hồng Gai. Vì làm công tác tổ chức có tính thể nghiệm, nên rất cần sự quen biết thân tình với lãnh đạo địa phương. Từ đó rút kinh nghiệm rồi triển khai lần lượt các huyện thị khác. Sau này, ông Lê Hường làm Chủ tịch Hội, tôi làm phó, chi hội nâng lên thành Hội và Hội cấp huyện ra đời đầu tiên ở tỉnh Quảng Ninh, hoạt động với cơ chế đó cho đến tận bây giờ. Được sự đồng ý của ban Thường vụ tỉnh ủy, tôi cũng là người thành lập Hội Văn học Nghệ thuật Miền Đông, bao gồm các huyện miền núi, biên giới và hải đảo Quảng Ninh, thành lập Chi hội, sau đó thành Hội Văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh. Năm 2002, khi tôi là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, nhạc sĩ Trần Hoàn, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương về làm việc, yêu cầu tôi giải thể các tổ chức Hội cấp huyện này. Tôi cố thuyết phục để bảo vệ. Vô cùng khó khăn. Rất may được Bí thư Tỉnh ủy Hà Văn Hiền ủng hộ, nên nó mới tồn tại đến ngày hôm nay. Một số Hội tỉnh bạn, hỏi kinh nghiệm của chúng tôi và thành lập Hội cấp huyện, đầu tiên là tỉnh Hải Dương, quê tôi. Bây giờ nhiều tỉnh khác như Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ An…cũng đã có Hội cấp huyện..

Ngày 28/3/1988, tôi đề xướng thành lập câu lạc bộ thơ cấp tỉnh mang tên Lê Thánh Tông, do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh chủ trì, tôi làm phó chủ nhiệm. Rồi câu lạc bộ thơ có mặt ở các huyện thị trong tỉnh, các phường xã… làm cho đời sống văn học, đời sống văn hoá thêm phong phú, sinh động.

Nhưng về chuyên môn, tôi vẫn tin hơn vào các nhóm nghề nghiệp, hình thành tự nhiên theo sở thích, dăm bảy người hợp nhau thì chơi với nhau, viết cái gì tâm đắc thì đọc cho nhau nghe, gợi ý sửa sang để bản thảo có chất lượng chuyên môn cao hơn, trước khi xuất bản. Việc xuất bản bây giờ thì dễ dàng rồi, ai cũng có thể công bố được tác phẩm của mình, tất nhiên là tác phẩm đó không bị coi là phản động hay đồi truỵ. Tính chuyên nghiệp nhiều hơn là ở những nhóm này, còn các Hội Văn nghệ vốn là tổ chức sáng tạo của các nhà chuyên môn địa phương, ở hơn 60 tỉnh thành trong nước, nhưng thế hệ có chuyên môn hầu hết đã hưu, thế hệ trẻ hơn lên thay, không mấy ai coi chuyên môn là quan trọng và họ cũng không đam mê gì về chuyên môn, họ làm chính trị là chính, dù đó cũng là một điều tốt. Vì vậy, về tổ chức, Hội “tác giả và tác phẩm” ở các địa phương hiện nay là các tổ chức chính trị, đã hành chính hoá như một cơ quan nhà nước và về mặt chuyên môn, Hội chỉ làm phong trào, cung cách hoạt động của nhiều Hội như các câu lạc bộ, nhưng được tiêu tiền của Nhà nước, như các cơ quan hành chính sự nghiệp khác. Tất nhiên, không phải Hội địa phương nào cũng như vậy, và có như vậy, nó cũng có những mặt tốt của nó... Đó là “khuôn mặt chung” của các tổ chức văn học nhà nước hiện nay.

Do đó, nếu hy vọng có được những cái gì đóng góp cho quá trình đổi mới nền văn học, thì người ta nhìn thấy rõ hơn là ở các nhóm “phi chính phủ”, nhưng rất coi trọng chuyên môn này. Nếu hoạt động lành mạnh, với các thành viên có thực tài, sáng tác và quan điểm sáng tác của họ có thể sẽ dần dần tạo thành các xu hướng nghệ thuật, như đã từng có trong văn học Việt Nam trước năm 1945: nhóm Dạ Đài của Huyền Kiêu, nhóm Cống Trắng của Trần Huyền Trân ở miền Bắc, nhóm Quy Nhơn của Hàn Mặc Tử ở trong Nam; chỉ riêng nhóm Tự lực văn đoàn của Khái Hưng (tôi chỉ kể tên một nhà văn mà tôi nghĩ là quan trọng nhất trong nhóm) đã làm nên cả một thời kỳ văn học rạng rỡ cho đất nước. Còn nhóm Xuân thu nhã tập, ít nhất cũng để lại cho hậu thế hai thi phẩm xuất sắc là Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ và Buồn xưa của Nguyễn Xuân Sanh… Hiện nay, các salon văn nghệ như anh nói đã có ở Việt Nam, ở nhiều tỉnh thành… Anh nói, anh ước ao có nó ở Việt Nam, thì có lẽ anh không theo dõi sát thực tế trong nước rồi. Có điều các nhóm văn học này, hoạt động có thể không giống với các câu lạc bộ ở nước ngoài mà anh đã biết hay đã tham gia. Bên cạnh nhiều mặt tốt, các nhóm văn chương hiện nay rất dễ có tư tưởng bè phái mà tôi đã thấy có ít nhiều dấu hiệu, đặc biệt là trong phê bình văn học. Cũng đã thấy dấu hiệu của những xu hướng nghệ thuật cực đoan, không lành mạnh. Có lẽ tôi là một trong những người cảnh báo sớm hiện tượng này, trong một hai tham luận mà tôi đã đọc trong các cuộc hội thảo văn học.

86. Nguyễn Đức Tùng:

Còn anh có tham gia các nhóm văn học nào không?

Trần Nhuận Minh:

Không. Tôi không tham gia vào bất cứ nhóm nào. Nhóm nào vui thì qua chơi chút thôi. Tôi cũng không dự các trại sáng tác, vì không muốn lệ thuộc vào “đồng tiền bát gạo” của ban tổ chức. Các tác phẩm của tôi, tôi hoàn toàn đơn độc thực hiện. Thậm chí sách ra rồi, cũng chỉ tặng một số ít người tâm đắc. Tôi nhớ có lần, Xuân Diệu nói với tôi rằng, các em có biết vì sao ngày xưa, thơ Xuân Diệu khác thơ Chế Lan Viên, thơ Hằng Phương khác thơ Ngân Giang không? Vì họ không gần nhau. Ngay mình ở nhóm Tự lực văn đoàn, trao giải khuyến khích cho Bức tranh quê của Anh Thơ, mà có ai biết mặt mũi Anh Thơ đẹp xấu thế nào đâu. Bây giờ, mới viết được một hai bài, các em đã hoắng cả lên, đã đọc cho nhau nghe, thích nhau rồi thuộc của nhau, có khi thuổng của nhau mà không biết, nên đọc thơ các em cứ thấy na ná như nhau cả. Điều nhắc nhở chân thành ấy, rất nên lưu ý. Tôi vừa đọc xong hai tập Tuyển thơ Việt Nam 10 năm đầu thế kỷ XXI. Riêng thơ của hầu hết các bạn trẻ trong ấy, hơi thơ mới, cách biểu đạt cũng có nhiều nét mới, đáng trân trọng và khích lệ, nhưng nếu che tên đi và đọc cùng một lúc lần đầu, tôi tin anh sẽ rất khó nhận ra thơ này của ai, thơ kia của ai… Tương lai là thuộc về các bạn. Còn thơ các bạn có thuộc về tương lai hay không, phụ thuộc vào tài năng và cách đồng hành của thơ các bạn đối với đất nước và dân tộc.

Nhân đây, tôi muốn anh đọc lại ý kiến mới này của Chế Lan Viên mà ông để lại trong Di cảo:

Làm thơ ngày xưa như ông từ trịnh trọng vào đền

Như chú rể lần đầu tiên sang nhà bố vợ…

Làm thơ ngày nay như người diễn xiếc

Như chú hề lùn yêu cô nàng mắt biếc

Có cái gì quỷ quái, ngây ngô…

87. Nguyễn Đức Tùng:

Nhân anh nhấn mạnh: “phụ thuộc vào tài năng và cách đồng hành của thơ các bạn đối với đất nước và dân tộc”, xin nói thêm: gần đây tôi cũng thấy trên sách báo nhắc đến khái niệm này.

Theo tôi đây là một khái niệm có thể gây ra nhiều tranh cãi. Vì trước hết nó tùy thuộc vào cách chúng ta định nghĩa thế nào là đồng hành, thế nào là đất nước, dân tộc.

Tôi cũng xin nêu các ví dụ cụ thể, trong nước, mà tôi có đọc ít nhiều mặc dù chưa chắc đã là điển hình hay nổi tiếng nhất, chỉ có tính cách ngẫu nhiên để anh dễ hình dung: các loại thơ mà nhiều người cho là xa lạ, xin tạm kể theo trí nhớ, trước đây như thơ của Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, sau đó như thơ của Thanh Thảo, Hoàng Hưng, Nguyễn Đăng Thường, Đỗ Kh., Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Hoàng Nam, Lê Thị Huệ, Mai Văn Phấn, Nguyễn Viện, Đỗ Quyên, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Lê Đình Nhất Lang, Khánh Phương, Nhã Thuyên, Lưu Diệu Vân, Nguyễn Lãm Thắng, Đinh Thị Như Thúy, Trịnh Sơn, Vương Ngọc Minh, Phan Trung Thành… và nhiều người khác. Tôi xin lấy một bài thơ tình cờ, “còn nóng hôi hổi”, để chúng ta cùng đọc. Trang nguyentrongtao.org, ngày hôm nay, ngày trò chuyện của chúng ta, ngày 8 tháng 3 năm 2011, đăng bài thơ sau đây của nhà thơ Nguyễn Đình Chính. Xin trích một đoạn:

BÀI CA TM BIT

biếu không cuộc tình loăng quăng không rõ hình hài

em lại quả một mẩu tình 8x

tiền lẻ ba xu vé vào toa lét (ở bến xe)

đã hoá hai ta (mi và em) thành phường cướp bể

(không phải cướp bể ka-ri-bê)

cướp bể hà thành

thời buổi a còng

chết tiệt

săn lùng tình yêu

ngã tư kẹt xe nghẹt thở

móc túi tình yêu

tanh lòm ngoại ô nhà nghỉ

em khát

mù mờ niềm tin

và nhâng nhâng em cũng khát… tiền

(em phải tự nuôi thân giữa chốn đô thành)

em vô tội

mi (zê) khát

quãng đời vô tình biến mất

biến mất hay là bị quẳng vào sọt rác (không biết nữa)

mi (zê) cũng vô tội

ly dị đi (thực ra là vứt bỏ)

thứ tình yêu đầy ắp tiếng chó sủa và những vuốt ve nhập nhằng

thứ tình yêu bỡn cợt trải đệm cỏ dấu roi dưới đệm

thứ tình yêu kỳ quặc tôn vinh cái nõn cái nường

suốt ngày suốt đêm chạy xô lấm lét

thứ tình yêu như thế

đang chầm chậm rữa ra như là…cứt nát

đệm mềm quẳng đi rồi (tốt thôi)

roi mây lén lút đã lộ diện

nõn nường kỳ quặc ba lăng nhăng đã thôi tháo chảy nước cống

và bây giờ nó đang nhồm nhoàm nhai nuốt

nhai nuốt cái gì (không thể biết được)

những mối tình như thế như thế

đang chầm chậm rữa ra như là…cứt nát

buổi sáng hôm nay

em lăn ra ăn vạ trên trên bãi cát bờ sông

và mi (chính là ngươi) tặng em một con chim sẻ non gẫy cánh

mi nói với em rằng gió đã thổi về khu vườn

lá vàng mùa thu đã rụng

tiếng râm ran mùa hè đã tắt

chỉ còn xác ve trút lại

thông điệp trong veo rỗng tuếch vô hồn

thật là ngu xuẩn tột cùng

khi mi (và em nữa) cứ tự đấm vào đầu

những câu hỏi ngu ngơ vớ vẩn

những thói quen chết tiệt

lùng bùng một mớ đạo đức giả cầy

phi đạo tình yêu bay trên giường

mẹ kiếp

tình ơi là… tình

yêu ơi là… yêu

chẹc chẹc

Làm thế nào để người ta biết là một bài thơ như thế có đồng hành cùng đất nước và dân tộc hay không?

Trần Nhuận Minh:

Tôi đọc bài thơ này, thấy nó tạo được “cảm giác mạnh”, rất khó quên.

88. Nguyễn Đức Tùng:

Đến năm bao nhiêu tuổi thì anh biết chắc hay quyết định rằng mình sẽ là một nhà thơ?

Trần Nhuận Minh:

Nói điều này có thể anh không tin. Tôi quyết định mình sẽ trở thành nhà thơ năm tôi 15 tuổi.

Khi chuẩn bị đề bạt tôi lên Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh, cấp trên gọi tôi vào tỉnh để hỏi thêm một số điều, tại đó, tôi rất kinh ngạc nhận ra, tờ giấy viết đơn tình nguyện xin gia nhập Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam của tôi, vẫn còn lưu trong hồ sơ gốc của tôi, dòng Nguyện vọng, mục đích phấn đấu: tôi chỉ ghi: trở thành NHÀ THƠ. Tất nhiên khi đọc lại cái đơn ấy, tôi chỉ mỉm cười. Hiện văn bản đó vẫn còn.

89. Nguyễn Đức Tùng:

Đó quả thật là một kỷ niệm thú vị, nói lên tính cách của chàng thanh niên Trần Nhuận Minh. Nhưng tôi hình dung trong một xã hội được nuôi nấng và quản lý từ nhỏ đến lớn như thế, vượt ra được như anh về mặt sáng tạo văn chương là một cố gắng hết sức lớn. Hầu hết những người thuộc thế hệ của anh đã không thể làm được. Dĩ nhiên là do tài năng, nhưng có một cái gì đó nữa ngoài vấn đề tài năng, mới làm người ta vượt ra. Những nhà thơ nào đã ảnh hưởng đến anh, lúc anh mới lớn hoặc bắt đầu làm thơ?

Trần Nhuận Minh:

Như đã nói trên, tôi học chữ A đầu tiên ở một làng tề chống Pháp, chính quyền hai mang, khi Pháp về thì chính quyền là của Pháp, khi Pháp đi là của ta. Năm 1953, tôi đã là đội trưởng đội Nhi đồng cứu quốc, từng để tang Stalin. Chúng tôi, toàn bọn nhóc cả, đùa nghịch như quỷ sứ, cài một miếng vải đen lên cánh tay trái, thế là ngồi túm tụm nhau im lặng và trang trọng đến lạ lùng. Và khi anh phụ trách nói, đây là nỗi đau của toàn nhân loại, với giọng sụt sịt, chúng tôi chưa hiểu nhân loại là những ông nào, bà nào, thì đám con gái khóc tức tưởi, rồi chúng tôi khóc theo. Thực khó mà quên cái kỷ niệm có một không hai đó.

Tháng 5 năm 1954, anh phụ trách giao cho tôi tờ báo Nhân dân có bài thơ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu, yêu cầu tôi giấu kín tờ báo đó và học thuộc lòng trong một đêm, để hôm sau dạy truyền miệng cho các đội viên khác. Đấy là bài thơ đầu tiên tôi được đọc bằng mắt. Thơ Tố Hữu đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến tôi suốt 25 năm sáng tác ở giai đoạn đầu, nhất là những năm 1957 – 1960, vì thế, tôi chuyên sáng tác thơ cổ động cho huyện Nam Sách, khi tôi còn là một học sinh cấp 2 trường huyện, như tôi đã nói ở trên.

Hằng tuần, tôi làm những bài ca thường là bốn câu lục bát, sau khi được duyệt, người ta đánh máy gửi cho các làng xã, để phát lên loa công cộng, để kẻ lên các tường vách nhà trong huyện. Chỉ có tôi và một hai người trong cuộc, biết đó là “thơ” của tôi. Bây giờ, tôi gọi đó là “thơ con cóc”, chứ lúc đó, ba chữ “thơ con cóc” chưa được dùng, nghe lại thì buồn cười và xấu hổ lắm. Sở dĩ tôi được bổ sung vào tổ tuyên truyền, vì tôi học rất giỏi, trừ môn thể dục, có điểm 4 về lý thuyết, điểm 3, đôi khi điểm 2 về thực hành, còn tất cả các môn khác, đặc biệt là chính trị, văn và sử, tôi đều đạt điểm 5, điểm cao nhất thời bấy giờ, hãn hữu mới có điểm 4 ở một hai bài tập hoá học hay vật lý. Tôi đã dự các cuộc thi thơ ở các trường, đều là thơ chính trị, bao giờ cũng chỉ có giải nhất.

Nhân nói về thực hành thể dục, tôi có điểm 3 hoặc điểm 2 ở phần xà đơn xà kép, vì tay tôi quá yếu. Năm 24 tuổi, là bí thư Đoàn Thanh niên Lao động một trường cấp 2 ở Quảng Ninh - trường đông giáo viên và nhiều học sinh lớn - tôi xung phong đi B (đi Nam – bí mật), một nữ bác sĩ khám, tay trái tôi có 3 kg, tay phải tôi có 18 kg. Nữ bác sĩ bảo tôi, anh không đủ sức khỏe và cấp cho tôi tờ giấy ghi kết quả tính ra kg lực kéo của tay tôi (giấy ghi tay trái 5 kg, tay phải 20 kg – có tăng lên). Tôi hỏi, tôi cầm cái này làm gì? Bác sĩ bảo cũng cần cho anh đấy. Nếu anh bị tố cáo là đánh nhau, gây chết người, thì anh chỉ cần đưa tờ giấy này ra, anh sẽ có cơ sở được xét để… tha bổng.

Chính nhờ thế mà tôi còn sống đến bây giờ. Các bạn tôi đi chuyến ấy đều chết hết khi vừa vượt qua biên giới Campuchia để vào miền Nam.

42 năm sau, tình cờ tôi mới được biết rằng, việc xung phong đi B của tôi nằm trong một kịch bản đã được chuẩn bị trước. Vì trong một lần tào lao chi khươn về văn chương ở Hải Dương, tôi có “xếp hạng nhà văn này, nhà thơ nọ” và tỏ ý phàn nàn về một câu thơ của Tố Hữu: “Khúc vui xin lại so dây cùng người”. Người đây là cụ Tố Như (Nguyễn Du). Tôi nói: ông Tố Hữu là một nhà thơ lớn, tuy thế, ông không thể “so dây” thơ với cụ Tố Như được. “So dây” ở đây, tôi hiểu là sự so sánh, chứ không phải chỉ là “vặn lại dây đàn”. Tôi cho rằng ông Tố Hữu cũng đã ngộ nhận, khi viết câu thơ này. Một cách hiểu nhập cảng từ Liên Xô, khi chia đôi nền văn học Nga để suy tôn M. Gorki đứng đầu nền văn học sau 1917, sánh ngang với L. Tolstoi đứng đầu nền văn học trước 1917. Trong một dòng chảy của nền văn học Nga, thì ông Gorki làm sao so hơn được ông F. Dostoievski, chưa kể A. Chekhov và I. Turgenev… Ở ta cũng thế. Sau năm 1945 đứng đầu là thơ Tố Hữu để “so dây” với Tố Như (Nguyễn Du), nhưng sau Tố Như, còn có Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương…

Một vị rất thân thuộc với tôi, không tiện nêu tên, đã “bán tôi”, bẩm báo lên trên, rằng: tôi nói như thế là “điên”, có “tư tưởng bất phục tùng”, “dám coi thường Tố Hữu”, và một vị cấp trên cho rằng, nên đưa tôi đi B để “rèn luyện” tôi, đồng thời để tư tưởng “bất phục tùng” của tôi không ảnh hưởng đến tuổi thơ của Trần Đăng Khoa. (Những chữ trong ngoặc kép là tôi trích nguyên văn từ văn bản “bẩm báo” mà tôi đã “xin” và còn giữ được. Lạ thật!).

90. Nguyễn Đức Tùng:

Đó là một thời ở miền Bắc. Bây giờ chắc anh cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Thời đó đã qua hoặc gần như đã qua rồi chứ?

Tác phẩm nào và nhà thơ nào ảnh hưởng đến anh nhiều nhất trong những năm đầu tiên?

Trần Nhuận Minh:

Dĩ nhiên là rất nhẹ nhõm. Dù sự việc đã qua lâu rồi, vẫn nên nhắc lại để hiểu được tường tận căn nguyên văn học của cả một thời.

Như tôi đã nói ở trên, Tố Hữu và thơ Tố Hữu đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến đời sống tinh thần và sáng tác của tôi trong thời kỳ đầu, đặc biệt là từ 1986 đến hiện nay, tôi càng ngày càng nhận ra tầm cao rộng mênh mông của thơ Nguyễn Du và tôi cố gắng học cụ. Tuy vậy, những ảnh hưởng tốt đẹp của thơ Tố Hữu thuở ban đầu vẫn góp phần quan trọng, giúp tôi giữ được sự cân bằng trong tư tưởng và trong sáng tác, trước những biến động về sau này.

91. Nguyễn Đức Tùng:

Ảnh hưởng như thế nào, về tư tưởng nghệ thuật hay về bút pháp?

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

Tố Hữu có những bài thơ lục bát thật hay. Nhưng hình như Trần Nhuận Minh ít làm thơ lục bát hơn các thể thơ khác?

Trần Nhuận Minh:

Tất nhiên là ảnh hưởng cả tư tưởng nghệ thuật và bút pháp. Nhưng làm theo lối thơ của Tố Hữu thì anh sẽ thất bại ngay. Cả một thế hệ nhà thơ đi theo Tố Hữu, cuối cùng chỉ còn lại có một Tố Hữu. Ông là một tài năng lớn, toàn tâm toàn ý cho cách mạng, nên thơ Tố Hữu, kể cả các bài thơ thuần túy tuyên truyền hay minh họa chính sách vẫn có sức chinh phục lòng người.

Anh thử đọc lại một bài thơ tôi viết trong từ trường thơ Tố Hữu, năm 1964, về nơi tôi dạy học, bên con sông đổ nước ra cửa bể Bạch Đằng, sau 2 tháng máy bay Mỹ ném bom xuống tỉnh Quảng Ninh. Ở đây có núi Canh, trong đó 73 người thà chết vì bị hun khói trong hang chứ quyết không ra đầu hàng giặc Pháp.

CHÀO YÊN ĐỨC

Chào Yên Đức, chào núi Canh anh dũng

Núi đội trời xanh, mây nõn như bông

Chào Yên Đức, đồng thơm sông trải rộng

Nếp sóng đời đời ghi những chiến công

Ta muốn hỏi bờ sông xưa xa khuất

Đây là nơi tướng sĩ Trần đuổi giặc?

Đâu đoạn đường phục kích đánh xe tăng?

Lớp lớp quân đi, vằng vặc ánh trăng…

Ta đứng lặng trước chợ Đồn bình dị

73 người – một nấm mộ chôn chung

Hồn liệt sĩ đã lẫn vào mây trắng

Bay ngàn năm trên xóm mạc anh hùng…

Chào anh chị dân quân trên trận địa

Khẩu súng trường thức gác máy bay qua

Sông núi sáng một lời thề Độc lập

Tưởng còn nghe vang vọng tiếng ông bà…

Thân yêu quá bóng tre mờ đường cát

In bàn chân em gái đến trường làng

Núi Thóc vươn những ước mơ phồn thịnh

Giếng Mía trong veo còn thả bóng trăng vàng…

Chào Yên Đức, ta đi, lòng ở lại

Cùng sớm thu, thoang thoảng gió heo may

Cùng hoa xoan rơi tím chiều ngõ vắng

Cùng vầng trăng muôn thuở vẫn tròn đầy…

Yên Khánh 10 – 1964

Bài thơ đã được phổ nhạc, nhiều người thuộc lòng và thường được dùng trong các ngày lễ của địa phương. Tuy thế, tôi cũng không đưa vào tập Gửi lại dọc đường. Nhận định về thơ tôi, áp tết Giáp Thân 2004, giáo sư tiến sĩ, nhà văn Mai Quốc Liên viết: Thơ Trần Nhuận Minh là thơ về những số phận, những nỗi đau nhân tình, được viết từ một sự chia sẻ, cảm thông sâu sắc như hoà vào nhân vật, nhưng vẫn không mất đi tầm cao của thơ chúng ta, đã dạn dày trong thử thách khốc liệt của chiến tranh, của những lý tưởng nhân văn mà chúng ta hằng theo đuổi. (Ba lần định vị… sách đã dẫn). Được thế, một phần quan trọng là nhờ ảnh hưởng từ thuở ban đầu của thơ Tố Hữu.

Còn thơ lục bát, nếu anh thống kê sẽ thấy số lượng của tôi không ít đâu. Có tập như Miền dân gian mây trắng, hầu hết là thơ lục bát. Trong các tuyển tập, tuyển chọn theo đề tài hay theo thời gian, thơ lục bát của tôi được chọn cũng khá nhiều đấy. Nhiều bài, nhiều đoạn, nhiều câu thơ, được nhớ, được khen của tôi là thơ lục bát.

92. Nguyễn Đức Tùng:

Anh vẫn cho rằng: “Tuy vậy, những ảnh hưởng tốt đẹp của thơ Tố Hữu thuở ban đầu vẫn giúp tôi giữ được sự cân bằng trong tư tưởng và trong sáng tác.”

Anh muốn nói gì khi dùng chữ “cân bằng”?

Trần Nhuận Minh:

Đổi mới, hiện đại mà vẫn trên cơ sở truyền thống, gần gũi với truyền thống; cố gắng khám phá hiện thực, đi đến tận cùng các vấn đề cốt lõi của đời sống xã hội, kể cả vấn đề được coi là “nhạy cảm”, thậm chí “ác liệt”, có lúc còn thuộc vòng “cấm kỵ” mà vẫn không cực đoan, dù tả khuynh hay hữu khuynh, cũng không phải là điều tốt; tìm tòi cái mới, cái lạ mà vẫn dễ hiểu, người có trình độ cao thấp khác nhau đều cùng chấp nhận được… v.v… tôi coi đó là sự cân bằng. Giữ được cân bằng như thế rất khó, khi mọi chuẩn mực đều chao đảo, các bậc thang giá trị luôn đổi thay, và ngay cả bạn đọc và các vấn đề cốt lõi của nghệ thuật cũng có nhiều đổi thay… Những phẩm chất ấy, thơ Tố Hữu chưa hẳn đã có đầy đủ. Ông “gần gũi với truyền thống”, nhưng đã dừng lại trước đường biên, khi các nhà thơ lớp sau, vượt qua ông mà đi đến tận cùng các vấn đề cốt lõi của hiện thực xã hội đang đặt ra gay gắt…

Hãy nói riêng về ngôn ngữ. Nhà thơ Phạm Tiến Duật có lần nhận xét về ngôn ngữ thơ của tôi:

“Con đường của Trần Nhuận Minh đi chênh vênh giữa hai bờ mộc mạc và cầu kỳ. Quá về phía bên này thì sa vào thô tháp, còn quá về phía bên kia thì sa vào điệu đàng. Nhờ có nhiều bản lĩnh xã hội và sự thuần thục về ngôn ngữ, mà anh vẫn vững bước thăng bằng” (Nhìn lại tác giả văn học thế kỷ XX - Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 3 / 2005).

Theo Phạm Tiến Duật, sự thăng bằng (hay cân bằng) mà tôi có được, là “nhờ có nhiều bản lĩnh xã hội và sự thuần thục về ngôn ngữ”. Có được điều đó là cả một quá trình, mà cơ sở ban đầu là tôi học được từ thơ Nguyễn Du và sau đó là Tố Hữu.

93. Nguyễn Đức Tùng:

Xin trở lại với câu chuyện “Khúc vui xin lại so dây cùng người” mà anh vừa kể trên đây, tuy chỉ phớt qua, nhưng để lại trong tôi nhiều suy nghĩ. Tôi cố tưởng tượng về một xã hội, đối với tôi ngày còn nhỏ là hết sức xa lạ, trong đó ngoài một số người bất mãn, còn tuyệt đại đa số là tự nguyện vui vẻ phục tùng. Đa số ấy có phải bây giờ cũng vẫn là đa số tự nguyện phục tùng trong giới trí thức Việt Nam chăng? Anh nghĩ thế nào về họ? Và về chính bản thân anh?

Trần Nhuận Minh:

Theo tôi, trong giới trí thức Việt Nam, nên chia làm ba loại: loại phục tùng, số rất đông như anh nói; loại không phục tùng nhưng không bất mãn; và cuối cùng mới là loại bất mãn. Cả hai loại sau thường rất ít. Tôi thuộc loại thứ nhất là phục tùng, thậm chí rất tự nguyện vì tôi thấy nó đúng. Mình phục tùng cái đúng là phải chứ. Đấy là cái cớ, còn cái nguyên của nó thì sâu xa hơn.

Các cụ tôi xưa để lại lời dạy rằng, khi đã thấm cái Đạo của ai thì mới ăn cơm mặc áo của họ và có thể chết cho họ. Đấy là lý do vì sao các cụ tôi có đến bảy người, cùng Trần Quang Châu, tự nguyện cầm gươm đi hộ giá Lê Chiêu Thống, vì ít nhất, trước đó, năm đời nhà tôi đã ăn cơm mặc áo của nhà Lê, lần lượt được vua Lê phong: một tước công: Diệu Quận công Trần Cảnh; bốn tước hầu: Phương Trì hầu Trần Thọ, Sùng Lĩnh hầu Trần Thai (có sách ghi là Trần Đăng), Phương Lĩnh hầu Trần Lương (có sách ghi là Trần Lang), Hộ Thành hầu Trần Điển và ba tước bá: Sách Huân bá Trần Tiến, Trì Trung bá Trần Giản, Côn Lĩnh bá Trần Đĩnh, dù biết vua Lê lúc đó cũng chả ra gì và đi theo Lê Chiêu Thống lúc đó cũng chẳng có hy vọng gì, bổng lộc gì, thậm chí còn biết trước là sẽ thảm bại.

Nhà thư mục học lỗi lạc, giải thưởng Hồ Chí Minh, cụ Trần Văn Giáp, trong lần tôi gặp đầu tiên, đã nói với tôi rằng: Các cụ nhà anh còn biết dừng lại ở trong nước, chứ các cụ nhà tôi còn theo Lê Chiêu Thống sang tận bên Tầu. Khi Lê Chiêu Thống chết, còn làm nhà tạm bên mộ để trông coi…

Đấy là bi kịch của giới trí thức xưa mà ta thường gọi là đám sĩ phu Bắc Hà, “Bắc Hà chân danh sĩ”, như người ta thường nói, với đặc điểm là “ tôi trung chỉ thờ một chúa”.

Đấy cũng là lý do để cụ tổ bốn đời của tôi, nghe Hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi, mà cầm gươm theo Nguyễn Thiện Thuật đánh Pháp và hy sinh khi mới có 24 tuổi, để bảo vệ căn cứ Bãi Sậy.

Nhân đây, tôi bộc lộ một bí mật truyền đời, từng được rỉ tai nói trong đêm khuya của dòng họ tôi. Thực hư thế nào không rõ. Ấy là vua Lê Chiêu Thống đã từng tá túc ở nhà các cụ tôi (đất tôi ở bây giờ) hai hay ba tháng trời và có chôn ở đâu đó tại đây (kể cả vùng đất quanh từ đường của dòng họ) một quan tài vàng lá… Di ngôn là thế. Bây giờ, những vật yểm trong vùng đã bị phá sạch. Voi đá, ngựa đá, chó đá đã bị đập hết ra để nung vôi rồi. Có con chó đá cuối cùng, sứt mũi, rất to, mà chú Khoa có kể trong truyện ngắn, viết rất sinh động nhưng hơi dài Thời sự làng tôi… đăng lần đầu ở tạp chí Văn nghệ Quân đội, tí nữa cũng bị “phiền”, vì mấy ông cán bộ xã cứ khăng khăng cho là nó ám chỉ mình, sùng sục đi kiện lên cấp trên… Con chó ấy cũng đã biến đi đâu mất. Hiện chỉ còn một con rùa đá to, một cái thống đá rộng, chôn khá sâu, bên hồ bán nguyệt, ở phía trước từ đường để tụ thuỷ, xưa là nơi các quan triều về, buộc ngựa ở đây và cho ngựa uống nước… không biết có còn nói lên một điều gì nữa không?... Bây giờ, cái hồ ấy vẫn còn, là nơi chứa nước thải (!), hẹp hơn và nông hơn xưa rất nhiều. Thi thoảng lại có một lão gia, chỉ sau một đêm nằm mơ mà bạc tóc, rồi cha con thì thào với nhau như buôn bạc giả, về cái điềm gọi là báo mộng. Rồi xoay hướng nhà, đào cả bụi tre, đào ao thả cá ngay cạnh sân… vân vân và vân vân…, thực chất là tìm cái quan tài vàng lá kia… Trông thấy nhau trong việc hì hục khuya khoắt ấy, các lão gia chỉ mủm mỉm cười hay lặng lẽ vê râu mà không nói năng gì… Ngay cả bà xã tôi, băn khoăn hàng tháng trời, cuối cùng cũng âm thầm cùng với bà chị dâu trong chi họ, phu nhân quá cố của vị trưởng họ, chỉ đạo một cuộc đào bí mật ở ngay đầu hồi nhà, khi một mụ ất ơ tình cờ gặp, tại một cái quán nước bên đường tỉnh xa, bỗng chỉ vào mặt, mà rằng: Ở nhà chồng chị, đầu hồi phía bắc, cách cái cây mít to mà tự nhiên chết khô, năm bước lệch về phía đông đông bắc…

94. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi đang theo dõi chuyện đi tìm vàng của chị nhà. Những thứ ấy làm nên một phần đời sống tinh thần ở nông thôn chăng? Trong thơ, anh tỏ ra là một người rất trọng những giá trị đạo lý truyền thống.

Trần Nhuận Minh:

Cái đó là ưu điểm, đồng thời cũng là nhược điểm đấy.

Nói về sự tìm vàng… thì có vàng đâu. Đào lên, chỉ thấy có cái bình tích sứt vòi, dùng để uống nước, di tích còn sót lại của cái hầm cha tôi đã đào để giấu cán bộ Việt Minh, khi làng tôi là làng tề hai mang. Cái bình tích ấy, mẹ tôi đựng vôi ăn trầu, hiện để ở góc sân nhà. Bây giờ thì chán rồi, không ai nghĩ đến cái quan tài vàng lá ấy nữa… Hình như cũng không thấy ai nằm mơ báo mộng gì nữa…

Nếu anh đọc Tiên Tướng công niên phả lục, phó đô Ngự sử Trần Tiến viết xong năm 1764, có một điều tôi tin anh sẽ rất kinh ngạc. Đó là cụ Trần Cảnh nhà tôi, khi làm Binh bộ Thượng thư (bộ trưởng quốc phòng), theo lệnh vua phải tháp tùng vua đi đánh dẹp nông dân khởi nghĩa những năm 1740 - 1745: đi đến làng xã nào, cụ cũng thấy dân đói, ở đâu người dân cũng bị lũ quan lại bóc lột đến tận cùng, đàn áp đến không còn cách nào khác là buộc họ phải nổi lên mà “làm loạn”. Các quan nói là đi giúp dân, thực chất là “bòn từ cái chổi cùn rế rách của dân, để thu vén cho gia đình mình và đánh bạc”. Còn bọn “giặc” thì “không tơ hào cái kim sợi chỉ của dân”. Vua (ở đây là vua Lê Hiển Tông, ông nội Lê Chiêu Thống và là vua trước của Chiêu Thống) thì “tăm tối, sáng nói một đằng, chiều đã làm một nẻo, bụng dạ khôn lường, làm sao mà tin được”. Nhưng đã ăn cơm mặc áo của nhà vua thì phải chết cho nhà vua thôi. Anh biết không, một lời như thế, đau xót đến tận cùng rồi còn gì, mà tiết lộ ra là tru di cả ba họ đấy. Hàng trăm mạng sống đã đánh cược vào câu nói khủng khiếp ấy đấy, không đùa được đâu. Bi kịch của giới trí thức, ngày xưa gọi là sĩ phu, là như vậy. Buộc phải theo cái mà mình đã biết trước là sai trái, là không tốt đẹp gì, là tăm tối xấu xa. Có thể chết vì ngu trung, hoặc sống thì xin về ở ẩn, thậm chí bỏ trốn, nếu thấy không còn chịu nổi, nhưng không bao giờ trở cờ hay phản bội.

Cái Đạocái Nghĩa ngày xưa, nó lớn thế đấy (và tất nhiên, nó cũng bảo thủ như thế đấy). Nó ảnh hưởng rất sâu sắc đến tôi. Tôi không bao giờ “chống lại” người mà tôi đã từng ăn ở nhà họ một bát cơm, hay họ đã đứng bên cạnh tôi, an ủi sẻ chia hoặc giúp đỡ tôi, dù chỉ một lần, vào lúc tôi hoạn nạn. Không ưng họ thì tôi im lặng hoặc không cộng tác. Khi không tránh được, buộc phải hành xử, thì bao giờ cũng đặt cái tình lên trên, vì dù thế nào thì mình vẫn phải bảo vệ cái đúng, mà có thể cái đúng, lúc đó, đã không thuộc về họ. Vì thế, tôi rất ghét và rất khinh bỉ sự phản trắc, dù xảy ra ở bất cứ cấp nào. Nhưng tôi cũng ghét giáo điều, muốn tiếp cận sự thật, đến hẳn với sự thật, và khi cần, không ngại bênh vực sự thật, cái mà không ít người thường ngại ngùng, đôi khi sợ hãi. Đấy có lẽ cũng là cái bi kịch của cá nhân tôi.

95. Nguyễn Đức Tùng:

Trong số bạn bè quen biết, nhất là ở miền Bắc, nơi mà anh đang sống hiện nay, còn có nhiều người như anh không? Cách ứng xử của anh (hoặc của họ) như thế nào trước các vấn đề của đời sống? Họ mang lại những giá trị nào cho xã hội?

Ở gần nhà tôi ngày trước có một gia đình người gốc Hà Nội di cư vào Nam năm 1954. Mẹ tôi thường lấy họ làm tấm gương cho chúng tôi noi theo. Tôi nhớ lại quả thật đúng như thế, cha mẹ con cái và anh em trong nhà ấy đối với nhau vừa có lễ nghĩa vừa có tình cảm sâu đậm, họ sống thật thà và tử tế với hàng xóm.

Xã hội bây giờ ra sao thì tôi không biết rõ, chỉ nghe dư luận than phiền, vì tôi đi xa đất nước quá lâu, khi về chỉ loáng thoáng một vài ngày rồi lại đi, toàn lo công việc hoặc gia đình hoặc chuyên môn.

Trần Nhuận Minh:

Tôi chắc là có người như tôi, nhưng ít hay nhiều thì không có cơ sở nào mà tính toán được. Nhưng sự đồng cảm với tôi thì nhiều, có thể là rất nhiều. Vì tất cả điều đó, tôi đều trút hết vào thơ và thơ tôi có nhiều người đọc, năm nào cũng được tái bản. Tôi cũng có hàng trăm cuộc nói chuyện về thơ trước công chúng, trong đó có thơ tôi và lần nào cũng rất đông người nghe và tôi nhận ra sự đồng cảm khi nhìn vào mắt họ, hay quan sát thái độ trên gương mặt họ.

Tôi nghĩ, yêu ai cũng nên biết cái xấu của người ta, ghét ai cũng không được quên cái tốt của người ta. Muốn ăn ở trung hậu thì phải biết được hai mặt của một vấn đề thì tình cảm mới bền, mới không dễ bị lung lạc, do thay đổi các giá trị hay do tác động từ bên ngoài. Thấy đúng thì theo, thấy sai thì nói lại, nhưng không chống lại. Có người bảo tôi gàn dở, vì việc đã định đoạt rồi vẫn cứ bàn ra nói vào. Nhiều trường hợp, tôi nói khác hẳn cách hiểu, cách nói thông thường của người đời. Tôi nghĩ điều đó bao giờ cũng nên làm, nếu có thể, để đóng góp cho sự nghiệp chung, với trách nhiệm và thiện chí của mình. Còn người nghe mình, nghe đến đâu, tiếp thu để bổ sung hay thực hiện điều mình muốn, đến đâu, là việc của người ta, mình không áp đặt được, nhất là khi mình lại là cấp dưới. Điều gì không nói được ở ngoài đời thì nói ở trong thơ. Thậm chí, đã nói hết ở trong thơ. Nếu anh hiểu điều đó, anh sẽ liệt kê được, thậm chí cả một hệ thống các vấn đề xã hội và con người mà tôi đề cập hay kiến giải trong thơ theo quan điểm của tôi.

Tôi nói điều đó là nói cái sức chứa mà tôi mong có ở thơ mình, chứ không hề nói là thơ mình hay. Tôi nghĩ là anh và các bạn đọc sẽ hiểu tôi như vậy.

96. Nguyễn Đức Tùng:

Anh nói: điều gì không nói được ở ngoài đời thì nói ở trong thơ. Nhưng cũng có những điều không nói được trong thơ thì phải nói ngoài đời nữa chứ? Nhà thơ trước hết là một công dân.

Tôi nhớ một câu thơ của anh: Khó nhất là đường ăn, lẽ ở

Trần Nhuận Minh:

Vâng, dĩ nhiên rồi. Tôi đã nói nhiều lần trong đời và không hề né tránh, kể cả những sự thật rất khắc nghiệt. Ngay tôi đang trả lời các câu hỏi của anh đây, cũng với tinh thần ấy. Tôi đã nhiều lần nói chính thức trong các cuộc họp lớn, đôi khi có cả cấp rất cao tham dự, và nói chung là được đồng nghiệp hưởng ứng, cấp trên hoan nghênh. Khó nhất là đường ăn lẽ ở… cái đó đúng đấy. Cái ý ấy, tôi lấy nguyên văn từ lời dạy con cháu của cụ Trần Tiến, ghi trong Niên phả lục: Trong áng công danh / Khó nhất là đường ăn lẽ ở… Vẫn rất đúng trong cả đời thường. Bởi không ai hiểu được lòng người….

Tôi nghĩ: nói theo người thì tôi không nói, vì tôi cho là họ sẽ khinh. Còn chống lại người thì tôi không làm. Một là, tôi thấy không cần phải chống lại ai, mà chống để làm cái gì cơ chứ? Để khẳng định mình ư? Thế thì quá hạ sách rồi. Hơn nữa, việc đó lằng nhằng, phức tạp, phải đa mưu túc kế, là thứ mình hoàn toàn không có và cũng không muốn có. Đã vào cuộc thì phải đi đến tận cùng. Mà tận cùng của mọi mưu toan thì thường là cái ác. Cái ác lại đòi hỏi một năng lực cao hơn nữa, mà mình hoàn toàn không có và cũng không muốn có. Nó thực sự làm mình vô cùng ghê tởm.

Hai là, điều này mới quan trọng hơn, mình còn có một vài việc chuyên môn phải làm. Vì việc ấy, đôi khi ở việc khác, mình phải nhân nhượng. Tôi có câu thơ:

Không mưa biển nước vẫn đầy

Vì cành nặng quả mà cây cúi đầu...

Có cái cúi đầu của kẻ sĩ mà tôi thấy không có gì phải xấu hổ cả, là vì cái lẽ đó. Những việc chuyên môn đó, nói cho cùng, chả liên quan gì đến việc theo họ hay không theo họ, lực lượng này thắng hay thế lực kia thua trong canh bạc đỏ đen ở đời. Như một thầy thuốc lương thiện, ánh sáng nào bay ở trên đầu, cũng bốc ngần ấy thang cho các bệnh nhân… Nhiều lúc tôi tự giấu mình trong bóng tối dưới chân ngọn đèn, không ai biết mình là ai, không ai trông thấy mình… Ngồi trong bóng tối mà nhìn ra ánh sáng, sẽ thấy tất cả các trò diễn của người đời, mà hiểu cái thế sự nó ra làm sao, mà hiểu cái bụng thật của người mình hằng thân thuộc nó ra làm sao. Mà chọn cho mình một cách ứng xử tốt đẹp nhất: có lợi cho người khác mà không có hại cho mình, mà tránh cho mình bớt sai lầm, không hồn nhiên bước vào cái bẫy của cuộc thế, có khi vốn không thèm dành cho mình… Ngày xưa, cụ Nguyễn Trãi nói rằng, mọi việc mọi chốn đều hiểu hết, chỉ có lòng người là không thể hiểu được hết mà thôi…

97. Nguyễn Đức Tùng:

Nhiều người đang hỏi: người trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam thường đứng ở đâu trong dòng nước xiết của lịch sử? Anh nghĩ về họ như thế nào?

Trần Nhuận Minh:

Tôi nghĩ, đa số trí thức không chỉ ở Việt Nam, mà ở tất cả các nước trên thế giới, đại để, đều có một nét giống nhau, mà tôi đã nói ở trên. Đó là sự ngẫm nghĩ để ứng xử trước các tình thế, luôn giữ mình, cũng luôn xét mình, xét người. Và trong dòng chảy xiết của lịch sử, như anh nói, nếu cần phải lựa chọn, thì họ không chần chừ gì, mà đứng luôn về phía nhân dân, cảm thông với mọi khổ đau của con người, bênh vực và bảo vệ “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” của con người, mà Cụ Hồ trích dẫn từ Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ 1776. Điều đó tồn tại dĩ nhiên như một nguyên tắc ửng xử, dù không ít trường hợp: "Đứng về phía Dân ư? - Anh sẽ bị lọai trừ ngay / Quan là chim ưng, Dân chỉ là con vịt..." Tôi chỉ nhắc lại lời của danh tướng nhà Trần là Trần Khánh Dư, đã được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư (1497), để thấy đó là vấn đề của mọi thời đại. Chính họ đau xót hơn ai hết, bởi nhận ra sâu sắc cũng hơn ai hết, sự phản bội của chính quyền, khi chính quyền không còn thuộc về nhân dân, dù ở bất cứ thời đại nào, ở bất cứ quốc gia nào. Đó là sự tỉnh thức luôn thường trực trong lương tri của họ. Tôi có câu thơ:

Người ta cần máu của Dân, chỉ để giữ ngai vàng

Giặc tan rồi, Dân sẽ mất luôn cả nắm cơm chim

khi họ chia xôi thịt…

Vì thế mà trong không ít trường hợp, họ đã bị đầy đọa, dập vùi. Ở một phía khác, đôi khi lại có cảm giác như họ “mũ ni che tai”. Nói họ “hèn” ư? Không phải đâu. Họ có những suy nghĩ riêng của họ, nhất là họ còn có những việc chuyên môn riêng của họ. Họ cần phải làm bằng được cái việc thiết cốt của họ. Cái việc mà vì có nó mà họ đã được sinh ra.

Tôi chợt nhớ đến tập thơ Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du, nhiều lúc ngẫm nghĩ về nó để hiểu đương thời Nguyễn Du đã sống và hành xử như thế nào. Tập gồm 131 bài thơ Nguyễn Du viết trong 15 tháng trên đường đi sứ Tàu. Cụ rời ải Nam Quan ngày 06/02 năm Quý Dậu (1813) và trở về đến đây ngày 29/3 năm Giáp Tuất (1814 – năm có nhuận tháng 2).

Nguyễn Du có ba tập thơ chữ Hán, tập Thanh Hiên thi tập, sáng tác từ năm 1786 đến 1804, là 18 năm, có 78 bài; Nam trung tạp ngâm, từ 1805 đến 1820, là 15 năm, trong đó có 1 năm 3 tháng đi sứ, vậy còn 13 năm 9 tháng, có 40 bài. Chỉ tính riêng số bài thôi, 15 tháng trên đường đi sứ, Nguyễn Du đã sáng tác nhiều hơn 18, 19 năm làm quan, trong cả cuộc đời mình (131 / 118 bài). Và cũng chỉ trên đường đi sứ, lênh đênh vạn dặm ở nước ngoài, cụ mới có điều kiện bộc lộ được tất cả nỗi lòng mình. Để hiểu tâm sự thật của cụ, thậm chí để hiểu hiện thực đang xảy ra trước mắt ở trong nước mà cụ đã trải qua, phải đọc Bắc hành tạp lục Truyện Kiều, hai tác phẩm cụ viết ở nước ngoài và về nước ngoài. Lại nữa, trong Bắc hành tạp lục, cụ có thơ viết về tất cả các nơi với các sự việc diễn ra ở dọc đường đi và về, bình luận đến hơn 40 nhân vật sang hèn của nước Trung Hoa ngàn xưa, khi thì thán phục ngợi ca, lúc thì căm ghét khinh bỉ, nhưng thời điểm quan trọng nhất là ở Bắc Kinh, thì cụ không có bài nào, dù chỉ là mô tả cảnh sắc thiên nhiên hay các việc liên quan đến chuyến đi sứ của cụ, kể cả việc gặp gỡ, chắc chắn là có, với các sứ thần khác. Và suốt 19 năm làm quan ở trong nước, cho đến lúc xuôi tay, cụ không có bất cứ một bài nào về bất cứ một ai, anh hùng, mỹ nhân, những nhà văn hóa hay những kẻ đốn mạt… dù những vị đó, những chuyện đó, đã có hiển nhiên trong lịch sử. Vì sao?

Tôi nghĩ là cụ rất có ý thức trong việc né tránh. Bởi những phiền toái có thể đến với cụ bất cứ lúc nào, từ triều đình bá quyền Mãn Thanh bên Trung Hoa, từ cơ chế nghiệt ngã của nhà Nguyễn, và rất có thể, từ sự ganh ghét đố kỵ luôn có của các đồng sự, đồng liêu. Đến Nguyễn Du, một sĩ phu Bắc Hà danh tiếng, với thiên tài nhường ấy, lại là chú ruột một phi tần của vua Gia Long, được vua Gia Long rất sủng ái, chưa kể còn là con, là em ruột của tể tướng triều trước… còn phải giữ mình đến thế. Chưa thấy ai trách Nguyễn Du là “hèn”. Huống chi lũ hậu sinh chúng ta…

Vậy mà trong Truyện Kiều, chính Nguyễn Du, chứ chẳng phải là một ai khác, lại viết lên những trang hào hùng, oanh liệt, vang dội chưa từng có, về người anh hùng Từ Hải chống lại triều đình, phản ánh khát vọng giải phóng muôn đời của nhân dân trước mọi áp bức:

Đòi cơn gió quét, mưa sa

Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi Nam…

Xét về hành trạng, Nguyễn Du từng chống lại Tây Sơn, nếu không hẳn đã tận tụy, thì cũng có thể nói là khá trung thành với nhà Nguyễn.

Cho nên, vấn đề “dấn thân” của trí thức và văn nghệ sĩ mà báo chí gần đây hay đề cập đến, có vấn đề đó đặt ra hay không và nếu có thì “dấn thân” như thế nào cho phải, cũng là điều lý thú cần bàn, nhưng xin để vào một dịp khác.

Tôi vừa đọc bài thơ Trí thức của anh mà tôi muốn nhắc lại ở đây. Một bài thơ gợi ra nhiều suy nghĩ khác nhau chứ không phải một lối suy nghĩ.

TRÍ THỨC

Người ta than vãn: trí thức bây giờ

Chỉ lo tiền bạc và địa vị

Gặp nhau nói toàn chuyện nhảm nhí

Cà phê buổi sáng dọn ra

Vào lúc ấy em đi qua

Đùi thon ngực nở tóc buông mềm

Cả bọn đều lặng im

Bất kỳ đàn ông nào gặp em

Đều muốn sống thêm cuộc đời nữa

Một cuộc đời chẳng ra gì

(Nguyễn Đức Tùng)

Thật ra, tôi không thích bài này lắm so với các bài thơ hay khác của anh, vì nó không tiêu biểu cho “dòng thơ Nguyễn Đức Tùng” mà tôi luôn trân trọng và đánh giá cao, trong số các nhà thơ hải ngoại. Ở bài này, anh viết về trí thức, nhưng theo tôi, nó không rõ cái đặc trưng mà chỉ trí thức mới có, nó là cái nỗi đam mê muôn đời của cánh đàn ông chúng ta, nói chung, thì đúng hơn. Chữ “trí thức” trong câu đầu, nếu anh thay bằng chữ khác, chỉ lớp người không phải là trí thức (nhưng là đàn ông), bài thơ vẫn thấy được và có lý.

98. Nguyễn Đức Tùng:

Cám ơn anh đã nhớ bài thơ của tôi, mặc dù “không thích lắm” như anh nói.

Đó là một trong những bài tôi viết lâu nhất, viết đi viết lại nhiều lần, mất khoảng một năm. Dĩ nhiên thời gian viết không quan trọng gì đối với độc giả, nhưng nó có thể quan trọng với tác giả và các nhà phê bình quan tâm đến công việc sáng tác. Trong bài này tôi chọn phong cách giản dị, dễ hiểu, nhưng từ trên nền tảng thẩm mỹ mới, đầy tính hài hước thường có của lối viết đương đại.

Bài thơ này không nói về tình yêu, về tình dục, không nói về nhu cầu của đàn ông muôn thuở, mặc dù bề ngoài có vẻ như thế. Thật ra, nó nói về trạng thái và tâm thức của người trí thức Việt Nam.

Anh nghĩ gì về người trí thức và văn nghệ sĩ với nhà chính trị?

Trần Nhuận Minh:

Tầm vóc của giới trí thức và văn nghệ sĩ rất lớn. Tôi đánh giá rất cao sự chuẩn bị của họ cho các cuộc cách mạng, ví như cách mạng Pháp năm 1789.

Cơn bão lớn nổi lên từ nghiên mực

Chữ kinh hoàng hơn chớp lửa những gươm đao…

Hiện nay, ở nước ta, số lượng người có học, sống bằng lao động trí óc khá nhiều, có thể đến hàng triệu người, nhưng chỉ số ít trong đó là trí thức. Cũng như văn nghệ sĩ, khoảng 5 – 7 nghìn người, nhưng trong số họ, trí thức còn ít hơn nữa. Trí thức được hiểu là những người có đẳng cấp trí tuệ cao, có những cống hiến lớn, mang dấu ấn sáng tạo cá nhân rõ rệt, tạo ra được những bước phát triển mới cho đất nước về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, và văn chương nghệ thuật. Họ là bộ phận tinh hoa của đất nước, đồng hành với dân tộc, nhưng đôi khi cũng có những người không hẳn đã đồng hành với những nhà cầm quyền. Bởi về cơ bản, họ có tư duy độc lập và những công trình, hoặc những phát kiến, mà họ cất công tạo dựng, đôi khi độc lập với thời cuộc, trong quá trình tìm kiếm những giá trị lâu bền. Điều rất đặc biệt là: ở các nhà sáng tạo có tài năng lớn, bằng hình tượng nghệ thuật đặc sắc của mình, họ sẽ làm bất tử bất cứ ai mà họ chạm đến. Nếu họ yêu ai, người đó sẽ được ngợi ca đến hàng nghìn năm sau, nếu họ ghét ai, người đó sẽ bị nguyền rủa đến muôn đời: “Tát cạn nước biển Đông không rửa sạch tanh hôi…” (Nguyễn Trãi). Ngay cả những tên vua tàn bạo nhất trong lịch sử cũng run sợ trước ngòi bút của họ.

Trước khi mất, nhà văn Nguyễn Đình Thi về thăm Quảng Ninh lần cuối cùng. Là chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh, tôi đưa ông đi hai ba nơi, theo yêu cầu của ông và ngồi bên ông trong xe, ông thủ thỉ nói nhiều điều rất quí hiếm, nay tôi chỉ tiết lộ một điều. Năm 1962, trong cuộc họp của Hội Văn nghệ Việt Nam, có Thủ tướng Phạm Văn Đồng dự, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát có nói về mối quan hệ giữa trí thức – văn nghệ sĩ với Đảng: Đó là hai bờ của một con sông, nhân dân là nước chảy ở giữa. Ý ông muốn nói là sự gắn bó giữa đảng cầm quyền, nhân dân và trí thức văn nghệ sĩ bên nhau. Nói xong về chỗ ngồi, ông Thi nói nhỏ vào tai ông: Thế ra ông nói trí thức và văn nghệ sĩ, với đảng cầm quyền là không bao giờ hòa hợp được với nhau sao? Chưa kể lại còn nhân dân nữa. Ở giữa là không thuộc về bên nào à? Ông Khoát sợ quá, bảo: Bỏ mẹ, tôi nói thế là thành sai rồi, nhưng tôi không nghĩ thế đâu. Tôi chỉ là thằng làm nhạc, chạm vào cái chữ nghĩa của các ông nó lôi thôi lắm. Ông Thi cười, mình nói thế để dọa đùa ông ấy thôi, thế mà sau đó, ông ấy cứ thấp thỏm lo sợ mãi...

Bất cứ thời đại nào, trí thức và chính quyền cũng có vấn đề khó hòa đồng với nhau. Bởi trí thức thì tin vào chân lí. Còn nhà cầm quyền thì tin vào nhà tù. Trước mắt thì nhà tù có thể sẽ chiến thắng, nhưng về lâu dài, chiến thắng sẽ thuộc về chân lí. Vì thế, chính quyền là việc của một thời, còn trí thức là sự tồn tại của mọi thời.

Mặt khác, không ít nhà chính trị đã vạch được con đường đi trên mảnh đất dồi dào ý tưởng do chính các trí thức hoặc văn nghệ sĩ khai phá và xác lập. Nhà chính trị này mất đi, thì nhà chính trị khác lên thay, thậm chí tài giỏi hơn, mang lại lợi ích nhiều hơn cho dân cho nước, được dân nước nhớ hơn, thậm chí nhớ đến quên cả người trước, nhưng một nhà văn, một nhà thơ (tất nhiên là có tài – xin hãy chỉ nói trong phạm vi văn chương) mất đi, thì không ai thay được, dù thế hệ sau có người tài giỏi hơn. Cái rất hay của văn chương nghệ thuật là như vậy. Tên tuổi người này có thể làm mờ tên tuổi người kia, nhưng cái điệu tâm hồn của người kia, cái hương sắc của trí tuệ người kia, thì người này, tài hoa đến bao nhiêu, cũng không thay thế được. Mỗi nhà thơ là một hương vị của khí trời; mỗi nhà văn là một sắc màu của đất đai, vĩnh viễn và duy nhất. Anh có thấy điều đó không?

99. Nguyễn Đức Tùng:

Đồng ý với anh. Nhưng nhà văn, nhà thơ cần tham gia vào chính trị đến mức độ nào?

Tôi muốn nói rõ hơn. Trước đây trong một thời gian dài, văn nghệ chính thống được xem là đặt dưới sự lãnh đạo hoàn toàn của chính trị, văn chương tất nhiên là phục vụ chính trị, vì vậy người nghệ sĩ bao giờ cũng sáng tạo trong tư cách của một người làm cách mạng. Đọc thơ của thế hệ các nhà thơ miền Bắc chống Mỹ chẳng hạn thì có thể thấy rõ như thế. Gần đây khái niệm nhà chính trị nổi rõ hơn, xem như một thứ nghề nghiệp hay một thứ chuyên trách, thì lại phát sinh một hiện tượng khác, đó là các nhà văn, nhà thơ hoàn toàn lánh xa chính trị và đời sống xã hội, thậm chí trốn tránh các vấn đề thời sự nóng bỏng, đi đến chỗ triệt tiêu thái độ của nhà thơ trước các vấn đề của đất nước và dân tộc.

Một nhà phê bình phương Tây có nói: nhà thơ chỉ nên tham dự vào chính trị đến mức đủ để giúp anh ta tránh được những cái bẫy của chính trị mà thôi. Anh có nghĩ như thế không?

Trần Nhuận Minh:

Trước khi làm nhà văn nhà thơ, hoặc cùng với làm nhà văn nhà thơ, anh là một công dân, vì thế anh làm chính trị hay tham gia vào các hoạt động chính trị của đất nước là việc hoàn toàn bình thường. Có điều, khi sáng tác, anh phải là một nhà nghệ thuật. Cách đặt vấn đề của anh về hai giai đoạn sáng tác, trước đây, nhà thơ, nhà văn, sáng tác trong tư cách của người làm cách mạng và bây giờ, nhà sáng tác như trốn tránh những vấn đề nóng bỏng của đất nước. Nhìn từ bên ngoài, trong một số trường hợp cụ thể, thì có vẻ như vậy, nhưng ở bên trong, tôi không thấy như thế.

Theo tôi, đây là hai mặt của một vấn đề, bù trừ nhau, trong quá trình phát triển. Để các bạn hiểu rộng dài về vấn đề “nhạy cảm” này, tôi thấy nên trích ra đây một số đoạn cơ bản trong tham luận tôi đã đọc tại cuộc hội thảo ở Hội An, do Hội đồng Lý luận phê bình Văn học nghệ thuật Trung ương tổ chức, mà tôi đã nói ở trên:

Cái chung nhất và cũng là cái lớn nhất, cấp thiết nhất, những năm chống Mỹ là bảo vệ Tổ quốc. Để bảo vệ Tổ quốc, có thể nói là chúng ta đã ra trận đến người cuối cùng. Ở đây, chỉ nói về hai câu thơ rất nổi tiếng của nhà thơ Chế Lan Viên: “Những năm toàn đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt / Nụ cười tiễn đưa con, nghìn bà mẹ in nhau”. Không phải một tài năng lớn, không thể viết được câu thơ như vậy, khái quát ý chí “Tất cả để chiến thắng” của cả một thời. Nhưng ngay lúc ấy, dù rất bái phục bậc thầy thiên tài của mình, tôi đã trộm nghĩ là sự thực không hẳn như vậy. Bởi tôi đã chứng kiến nhiều cuộc tiễn con ra trận của những bà mẹ không hẳn như vậy. Tôi tin là nhà thơ Chế Lan Viên biết rõ điều ấy hơn tôi rất nhiều, nhưng ông đã viết thế bằng mệnh lệnh của chính trái tim ông. Chúng ta đã chiến thắng rất oanh liệt kẻ thù từng lớn và mạnh hơn mình, bằng sức mạnh của cả dân tộc, nhưng cũng chiến thắng bằng cả chính những câu thơ như thế.

Và, như tất cả chúng ta đều biết, do những yêu cầu bức thiết của một thời, “cái cây thơ” đã bị chúng ta vít hẳn về một phía. Phía chúng ta muốn, phía chúng ta cần. Và điều ấy, ở thời ấy, là đúng đắn, là chính đáng. Bởi vậy, sau năm 1986, năm cần được ghi vào lịch sử như một cái mốc son vô cùng vĩ đại của đất nước, với phương châm “Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật” để vượt lên của Đại hội VI của Đảng, chúng ta thấy không cần phải vít “cái cây thơ” về một phía nữa, chúng ta “cởi trói”, buông tay ra, và ngọn “cái cây thơ” bật hẳn sang phía bên kia, tất nhiên vẫn là phía bên kia của thơ, với sức mạnh bằng sức mạnh mà nó đã bị kìm nén. Và không phải không có những cành lá, hoa quả đã bị văng ra ngoài. Thời gian “cái cây thơ” trở lại trạng thái thăng bằng, có lẽ cũng phải bằng ngần ấy năm, nghĩa là thời gian nó bị gió bão của thời đại, buộc nó phải ngả về phía bên này hoặc tương tự như thế, ngả về phía bên kia của thơ. Cũng đại loại như chúng ta từng phá đình chùa, trong đó có cả những di sản văn hóa, để xây sân kho hợp tác xã. Rồi cũng lại chính chúng ta phá sân kho hợp tác xã, để xây đình chùa. Lần nào cũng chúng ta làm chứ ai, cũng đều liên hoan mừng thắng lợi cả đấy chứ. Không cần có sân kho hay nhà kho hợp tác xã, mà thóc lúa thu hoạch của xã viên lại tăng lên gấp hai, gấp ba, đấy thôi. Do đó, trước các hiện tượng tạm gọi là “quá đà”, chúng ta không nên lo lắng hay nôn nóng, xử thế vội vàng có thể sẽ hỏng việc. Tôi nghĩ cũng là lẽ đương nhiên ở một nước như nước ta, có khoảng 90 % là nông dân, lại có thói quen tư duy theo nhiệm kỳ, thì kết quả khó mà khác được. Chúng ta phải khắc phục dần dần thôi. Chúng ta cần nhìn nhận, suy ngẫm các vấn đề ấy của thơ, một cách bình tĩnh và có trách nhiệm…

Trước đây, một nhà thơ đã thành danh, hiếm lắm mới được in mỗi người một tập thơ và cũng phải xếp hàng chờ rất lâu với sự kiểm soát có thể nói là nghiệt ngã, tất nhiên như thế cũng chưa hẳn đã là tốt. Nay thì bất cứ ai có tiền đều có thể in được vài ba tập thơ trong một năm, như thế càng chưa hẳn đã là tốt. Chúng ta đã “chạy sô”, từ cái chưa hẳn đã tốt này, sang cái chưa hẳn đã tốt khác. Và thế là hết khoản thời gian chúng ta được sống trên đời. Chúng ta không có giải pháp tốt, có hiệu quả, để xử lý tình huống phát triển của sự phát triển. Nhiều tập thơ rất kém, thậm chí về kỹ thuật còn chưa sạch nước cản đã được in ra từ những nhà xuất bản có tên tuổi lớn nhất nước, cũng từng có uy tín nhất nước. Vì sao có hiện tượng đó? Vì nhà xuất bản thì cần tiền mà nhà nước thì lãnh đạo theo kiểu “quan liêu“, tưởng là chặt chẽ mà thực chất là “tháo khoán”, “sống chết mặc bay”. Tiêu biểu là Bộ Văn hoá Thông tin, không cho phép các tỉnh in thơ của các tác giả ở các tỉnh, bao gồm các tác giả cấp địa phương và thành viên thơ của các câu lạc bộ, buộc họ phải đưa bản thảo về các nhà xuất bản trung ương và bằng cách này hay cách nọ, in bằng được thơ mình. Thế là chính nhà nước những năm gần đây, đã làm cho thơ nhiễu loạn, hoà đồng mọi giá trị, và làm lệch hết các chuẩn mực, rồi sau đó lại lên tiếng trách cứ các nhà văn. Thơ từng được coi là “ngôi đền linh thiêng”, là sản phẩm cao quý của sáng tạo tinh thần, giờ không còn là linh thiêng, cao quý nữa, từ đó, từng bước làm cho số đông người nhận ra rằng, chẳng còn có cái gì là linh thiêng, cao quý cả. Trước đây mình cho là linh thiêng, là cao quý, là mình đã lầm. Cái hại này chưa dễ đã cân đo được.

Rồi: sự bùng nổ của những vấn đề cá nhân trong mọi ngõ ngách sâu kín nhất, với đủ mọi góc độ, cung bậc. Nó dường như quay lưng hẳn với cái cộng đồng. Nó dị ứng với những rao giảng đạo đức, thuyết trình chủ trương, minh họa chính sách, những tiên đoán về thời thế theo kiểu sấm Trạng Trình, thậm chí quan niệm “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm” của thơ cũng đã có phần xa lạ. Nó phá vỡ mọi thói quen của thơ những năm trước 1975, thản nhiên trình bầy mọi cảm xúc, kể cả những cảm xúc từng bị kiêng kỵ…

Tôi nghĩ: nói đến thế là đã đến cái tận cùng của chính trị tác động vào thơ và ngược lại, tất nhiên là theo cách hiểu có thể còn hạn hẹp của tôi.

100. Nguyễn Đức Tùng:

Đúng là có thể tận cùng. Tôi không nghĩ là “cách hiểu có thể còn hạn hẹp” như lời anh nói, nhưng tôi tin rằng đó là cách hiểu từ một phía của lịch sử.

Hình như Engels cũng đã nói một ý rằng: người viết sử không bao giờ có thể khách quan.

Huống gì là các nhà thơ.

Theo anh, giữa chính trị và văn học nghệ thuật nói chung, có ranh giới gì không? Nếu có thì như thế nào?

Trần Nhuận Minh:

Không nên đòi hỏi nhà thơ phải “khách quan”. Nhà thơ mà “khách quan” thì thơ sẽ chết ngay khi nó vừa được sinh ra. Còn các nhà viết sử thì thời nào cũng có người “bẻ cong ngòi bút” (chữ của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh), chỉ có điều ít hay nhiều mà thôi.

Tôi thấy ngày xưa, cái ranh giới giữa chính trị và thơ, hoặc nghệ thuật nói chung, hình như rõ ràng hơn bây giờ. Ví như Nguyễn Trãi. Khi viết Quân trung từ mệnh, để trao đổi với các tướng nhà Minh, hay Bình Ngô đại cáo, để vua Lê bá cáo thiên hạ khi đã dẹp xong giặc, cụ viết thay Lê Lợi, danh chính ngôn thuận, là tiếng nói của Lê Lợi. Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên ghi: “Sau khi dẹp yên giặc Ngô, vua ban bố Đại cáo khắp thiên hạ. Toàn văn bài Đại cáo như sau:…” Cuối cùng, sử gia vẫn không quên ghi thêm một dòng: “Bản Đại cáo này do văn thần Nguyễn Trãi soạn.” Như thế là sòng phẳng.

Tôi đọc cuốn Bất khuất, rất dày, lúc nó vô cùng nổi tiếng, viết về các chiến sĩ tù Côn Đảo, đề tên tác giả trên bìa sách: Nguyễn Đức Thuận; nhưng tôi biết đó là văn của một nhà văn chuyên nghiệp. Tôi nhận ra ngay điều đó, khi đọc đoạn văn mô tả một đêm trăng, người tù bị chở ra biển, để chúng dìm chết, vẫn nhận ra cái vệt ánh trăng vắt ngang núi Côn Sơn đẹp và mơ mộng như một câu thơ Đường. Tôi phải buông sách xuống mà bái phục tác giả và tôi biết chắc không phải câu văn của ông Thuận. Sau này tôi biết cuốn đó do một nhà văn viết mà tên ông nhà văn, một dòng cỏn con cũng không có. Như thế là không sòng phẳng.

Trở lại trường hợp Nguyễn Trãi. Hai tác phẩm trên là cụ làm chính trị. Toàn bộ phần thơ của cụ, là sáng tạo của một nghệ sĩ. Ở đó bày tỏ những tâm tư riêng của cụ, những chiêm nghiệm của cụ về lẽ đời:

Phượng những tiếc cao, diều hãy lượn

Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi…

Cụ có những câu thơ tuyệt vời hay và cũng rất cao ngạo về nỗi cô đơn:

Láng giềng một áng mây bạc

Khách khứa hai ngàn núi xanh…

Bài thơ tôi chép theo trí nhớ sau đây, ám ảnh tôi một cách kỳ lạ. Đó là cái không thể thông hiểu được về sự nham hiểm của lòng người. Tất cả thơ Nguyễn Trãi tôi dẫn ra, đều là thơ chữ Nôm. Nghĩa là ta cảm nhận trực tiếp từ ngôn ngữ thơ của cụ, không phải qua phiên dịch:

MẠN THUẬT

Đủng đỉnh chiều hôm, dắt tay

Trông thế giới, phút chim bay

Non cao, non thấp - mây thuộc

Cây cứng, cây mềm - gió hay

Nước mấy trăm thu, còn vậy

Nguyệt bao nhiêu kiếp, nhẫn này

Ngoài chưng mọi chốn, đều thông hết

Bui một lòng người cực hiểm thay

Cảm giác như cụ không có mặt trong cuộc chiến.

Nhưng rồi Nguyễn Trãi, cơ mưu đến nhường ấy, thiên tài đến nhường kia, cuối cùng cũng sập bẫy Lệ Chi Viên mà bản thân và ba họ bị chém đầu oan uổng, thân bại, danh liệt… Sau đó, từ vua Lê Thánh Tông, cái danh của cụ mới được phục hồi dần…Và mãi đến những năm cuối cùng của thế kỷ XX, Hải Dương mới lập được đền thờ cụ tại Côn Sơn. Cũng là một cố gắng rất lớn của nhiều cơ quan, của nhiều người, trong đó có cái tâm của Nguyễn Hữu Oanh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh lúc bấy giờ..

101. Nguyễn Đức Tùng:

Trong câu chuyện riêng tư, một nhà nghiên cứu văn học có nói với tôi rằng, vì sơ xuất để bản thân và ba họ bị chém đầu đau đớn như thế, thì xem ra Nguyễn Trãi cũng không lớn như người ta ca tụng.

Tôi lại nghĩ rằng đó là một bi kịch lịch sử và nhân sinh mà con người không thể vượt qua được, và cảm thấy nhận xét ấy tuy cũng phần nào có lý, nhưng có cái gì đó chưa thấu suốt.

Trần Nhuận Minh:

Tôi là người tham gia viết kịch bản và trực tiếp viết lời bình cho phim Lệ Chi viên, từng chiếu nhiều lần trên đài Truyền hình Việt Nam những năm trước đây, trong đó có câu nhận xét về Nguyễn Trãi, vốn là lời của người xưa: “Xuất xử đã không rõ ràng thì làm sao mà tránh được tai họa”. Theo tôi thì thời nào cũng thế thôi, chính Nguyễn Trãi đã viết: Họa phúc hữu môi phi nhất nhật (Họa và phúc đều có nguyên cớ, không phải một ngày) cơ mà. Đương thời Nguyễn Trãi đã nhậm chức Nhập nội đại hành khiển, Lại bộ thượng thư, thế là đứng đầu triều rồi. Bảo rằng cụ chức thấp, không phát huy được tài năng, đâu có phải. Sau nhiều năm “về vườn”, nghỉ ngơi ở Côn Sơn, tuổi đã 60, Nguyễn Trãi còn vào triều nhậm chức, với bài Biểu Tạ ơn đầm đìa nước mắt:

Chức giữ Đông đài, thực việc triều đình rất trọng

Việc kiêm Tam quán, ấy điều nho giả cực vinh

Huống ban quốc tính để rạng tông môn

Lại với công thần xếp hàng cùng liệt

Cảm mà chảy nước mắt…

Giữ chức Đông đài là can gián vua, kiêm Tam quán là cơ quan chức năng trọng yếu của triều đình. Nguyễn Trãi toàn tập ngay trong bài mở đầu Nguyễn Trãi, một nhân vật đức tài trọn vẹn, cũng viết rằng: “Đọc những câu thơ… trong Biểu Tạ ơn, sẽ thấy rõ sự hả hê của Nguyễn Trãi”, đủ biết cái bả công danh vẫn còn hấp dẫn cụ, lại càng thương cụ, bởi cụ cũng “người ta thường tình” (chữ của Nguyễn Du) như đám hậu sinh chúng ta mà thôi.

Giá (ấy là tôi cứ nghĩ vậy) Nguyễn Trãi không nhận lại các chức ấy, với sự “hả hê” như vậy, chắc gì cái họa tru di đã xảy ra…

Như vậy, “cái bẫy của chính trị”, thực ra là cái bẫy của quyền lực, của danh vọng và phú quý, thường dễ “lừa” người ta.

Từ thời Trần, Nguyễn Sưởng đã nhận ra:

Hồ hải thập niên tri kỷ thiểu

Công danh nhị tự khiểm nhân đa…

(Có đi khắp hồ biển mười năm,

mới biết là người hiểu mình rất ít

Còn hai chữ công danh thì lừa người ta đã nhiều)

Đến thời Lê, Nguyễn Gia Thiều cũng xác định:

Mùi phú quý dử phường xa mã

Bả vinh hoa lừa gã công khanh…

Tôi muốn nói đến một trường hợp khác là Nguyễn Húc. Theo tôi đây là một nhà thơ rất lớn của thế kỷ XV, chỉ đứng sau Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông. Nhưng về mặt thể hiện những tình cảm tinh vi của cá nhân con người trong đời thường, thì thơ ông mới mẻ và táo bạo đáng kinh ngạc, hơn cả Nguyễn Trãi.

102. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi chưa đọc Nguyễn Húc bao giờ.

Trần Nhuận Minh:

Tôi tin là nếu có đọc, anh sẽ nhận ra như tôi. Có thể nói không quá rằng, ông là người đã báo trước cho sự ra đời của phong trào Thơ Mới từ đầu thế kỷ XV, tức là trước đó khoảng 500 năm. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã quên ông, đúng ra phải tôn vinh ông là người đặt nền móng, trước khi cung thỉnh ông Tản Đà. Tác phẩm chính của ông là Cưu đài thi tập, ngoài thơ chữ Hán, có thơ chữ Nôm và cả ca dao, sáng tác trong thời gian nước ta bị giặc Minh xâm lăng và đô hộ. Bản thân ông là người chỉ huy một đạo quân trong cuộc kháng chiến của Lê Lợi mà thơ ông thường thấy là những tâm trạng lo buồn hiu hắt, phần lớn là riêng tư, đôi khi vơ vẩn, trước sau đều nhất quán, điều mà thơ Việt Nam trước ông chưa hề có. Đó là nỗi lòng của cá nhân ông được nói ra trực tiếp theo kiểu “cắt lớp”. Cái nỗi bâng khuâng, man mác buồn, thức ngủ không ai biết, thở than không ai hay, bồi hồi không yên về cái mênh mang của nước non bát ngát, mây khói bàn hoàn, có một chút gì như là sự ủy mị, yếu đuối, nhưng rất dễ làm xiêu lòng người…, như thơ trước và sau năm 1945, của một lớp người, mà ta thường gọi là “tiểu tư sản”…

103. Nguyễn Đức Tùng:

Xin cho một ví dụ?

Trần Nhuận Minh:

Vâng, có ngay. Xin dẫn trọn vẹn một bài:

HIỂU THÁN

Ngộ mị vô tri giả

Bồi hồi hữu thán yên

Mang mang hoài hải kiệu

Lịch lịch ngộ phong yên

Lãng tích tri hà địa

Thương tâm định kỳ niên

Thử trung như mộng diểu

Lão ngã hà thuỳ biên?

Dịch thơ:

BUỔI SÁNG THAN PHIỀN

Thức ngủ không ai biết

Bồi hồi luống thở than

Nước non bao bát ngát

Mây khói những bàn hoàn

Không chốn tìm tung tích

Bao năm tím ruột gan

Mơ màng trong giấc mộng

Đâu gửi tấm thân tàn?

Ngô Lập Chi dịch

104. Nguyễn Đức Tùng:

Anh nghĩ sao?

Trần Nhuận Minh:

Nguyễn Húc làm chính trị trong vai trò của một vị tướng, nhưng làm nghệ thuật thực sự trong chức năng của một nhà thơ. Hai cái này không phải là một.

Nhiều nhà thơ Việt Nam và thế giới tôi đọc, cũng cảm thấy có những khoảng cách nhất định về chính trị, tiểu sử bản thân và thơ. Thống nhất vai trò và chức năng đó trong một người, tôi thấy chặt chẽ và đậm đà hơn cả, là Tố Hữu. Cũng tương tự như Tố Hữu, cả chức danh trong đảng Cộng sản và vai trò trong thơ, là L. Aragon, của nước Pháp, nhưng Aragon khác hẳn Tố Hữu, không tuyệt đối hoá đề tài, tư tưởng và giọng điệu như Tố Hữu. Tầm lớn, cái hay, những đặc sắc và cả những hạn chế của thơ Tố Hữu đều ở chỗ này. Không biết có phải vì thế chăng, mà hiện nay, “hương đồng gió nội” của thơ Tố Hữu cũng đã “bay đi ít nhiều…” (chữ của Nguyễn Bính), mà lỗi, nếu có thể nói như vậy, tôi chắc không phải ở phía bạn đọc.

105. Nguyễn Đức Tùng:

Theo dõi cuộc đời của nhiều trí thức, hình như các nhà thơ có nhiều “hoạn nạn” hơn, nhưng không phải chỉ có họ. Thỉnh thoảng tôi gặp lại một số bạn bè cũ, nay rất thành công, thấy vài người đã thay đổi. Một số nhà thơ khi mắc sâu vào guồng máy thì không gỡ ra được, không bay lên được. Mà đây không phải chỉ là guồng máy quyền lực, có khi là một hệ thống tư tưởng và tình cảm tinh tế, một hệ thống xếp loại và phản hồi rất khó nhận ra.

Trong phân tâm học, đã có những nghiên cứu rất sâu về bệnh lý này, mà Freud từng gọi là các cơ chế đề kháng (defense mechanism), trong đó có hiện tượng tự biện minh để hợp lý hóa (rationalization) các hành vi của mình. Theo sự quan sát của tôi, hiện tượng này hết sức phổ biến trong hàng ngũ trí thức, nhà khoa học và văn nghệ sĩ Việt Nam hiện nay. Nó là cơ chế “tâm lý quyết định”.

Trần Nhuận Minh:

Chả riêng nhà thơ, anh nào cũng bị cái vòng danh lợi nó làm cho lao đao “hoạn nạn” hết, chỉ có điều, ở nhà thơ thường thấy rõ hơn mà thôi.

Qua nhiều cuộc đấu tranh tư tưởng trong giới trí thức và văn nghệ sĩ, mà tôi biết ở các thời kỳ, gió bão có thể thổi lên từ bất cứ đâu, nhưng rồi cuối cùng, chịu trận nặng nề nhất, chắc chắn sẽ là mấy anh nhà thơ, vì các vị này thường giản đơn, nông nổi, ruột để ở ngoài miệng, tình cảm kiểm soát lý trí. Nói như Tố Hữu: Trái tim lầm chỗ để lên đầu… Và chính nhà thơ Tố Hữu chứ chẳng phải ai khác, một người quyền biến nhường ấy, cơ mưu nhường kia…, cuối cùng trong vai diễn Phó Thủ tướng thường trực trên sân khấu chính trị, cũng “sập bẫy” Giá – Lương – Tiền và tiền – lương - giá… thân không bại thì danh cũng đã… liệt. Nói sòng phẳng, không dối trá, là như vậy. Ít nhất là tôi đã xót xa vô cùng khi biết là như vậy. Có không ít những câu ca dao truyền tụng trong dân gian về việc này, nhiều người thuộc và thường đọc trong các cuộc vui, ảnh hưởng đến tên tuổi của nhà thơ mà tôi rất kính yêu, nên tôi không dẫn ra đây.

Khi Tố Hữu thất sủng, ông về Quảng Ninh, được bố trí ăn ngủ tại nhà nghỉ Công đoàn Bãi Cháy (trước đây, ông vẫn nghỉ ở “Biệt thự Nhà Tròn” hay “Khách sạn Quốc tế Hạ Long I,” phòng VIP), tôi có đến thăm ông. Đến lúc ấy, tôi vô cùng ngạc nhiên. Vâng, quả đúng là như vậy. Mới hay là…

Sự đời mang mang quá

Biết vui buồn ra sao?...

(T.N.M)

Nhân đây, tôi nói thêm về trường hợp của một người ở ngoài thơ, nhưng có liên quan đến văn học nghệ thuật, mà tôi biết. Được không anh?

106. Nguyễn Đức Tùng:

Xin mời anh.

Trần Nhuận Minh:

Năm 1980, tôi là người đề xuất với ông Ngô Lâm, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh là tỉnh Quảng Ninh nên có giải thưởng văn học nghệ thuật “cấp quốc gia” của tỉnh, cứ 5 năm, Chủ tịch Tỉnh trao một lần, và lần đầu trao cho tác phẩm xuất bản từ năm 1975, năm đất nước thống nhất đến 1980, trong đó, tác giả người Quảng Ninh có thể sáng tác về bất cứ đề tài nào, ở bất cứ thời gian nào, về bất cứ nơi nào, còn người ngoài tỉnh thì dứt khoát phải sáng tác về đề tài Quảng Ninh. Ông Ngô Lâm cho là hay và bảo tôi theo ông vào nhà ông Phạm Hoành, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, người cùng quê Hải Dương với ông Ngô Lâm và tôi, xin ý kiến trước xem như thế nào đã. Tôi thưa thêm với ông Phạm Hoành: giải thưởng văn học nghệ thuật nên mang tên một danh nhân, nếu là tên một nhà thơ hay nhà văn lớn thì hay nhất, nhưng Quảng Ninh là đất công nhân mỏ, chỉ có cách mạng, không có danh nhân văn hóa tiêu biểu nào, nên tốt nhất đặt tên Hạ Long, cả nước ai cũng biết là thắng cảnh kỳ quan, cho đỡ có ý kiến lằng nhằng. Nghe xong, ông Hoành cho là hay, yêu cầu làm ngay, và sáng sau, ông Lâm ký tờ trình do tôi thảo, tôi trực tiếp cầm vào phòng làm việc của Chủ tịch Tỉnh và ông Hoành đọc xong rồi ký luôn. Sau đó, ông gọi chánh văn phòng ủy ban lên giao việc còn lại.

Sáng kiến này của tôi, tôi cũng đã có lần lên bục diễn giả, báo cáo chính thức trong hội nghị cán bộ chủ chốt của Tỉnh ủy Quảng Ninh, có cả ông Phạm Hoành và ông Ngô Lâm cùng ngồi dưới, và đó là một trong những thành tích để Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đề nghị Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho tôi vào dịp 2 tháng 9 năm 2000.

Đến nay, hầu hết các tỉnh trong cả nước có giải cấp tỉnh là từ sáng kiến này của tỉnh Quảng Ninh. Tỉnh thứ hai sau Quảng Ninh, có giải thưởng cấp tỉnh, chính là tỉnh Hải Dương, quê hương chúng tôi. Cũng tương tự như giải Hạ Long của Quảng Ninh, giải của tỉnh Hải Dương mang tên Côn Sơn, danh thắng của tỉnh. Hiện Quảng Ninh xét giải cấp tỉnh lần thứ VII và Hải Dương xét lần thứ VI.

Bởi lẽ đó, khi tôi lên làm chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh, tôi đã đề nghị nhà văn Nguyễn Đình Thi, Chủ tịch đoàn chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam ký tặng Huy chương vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam cho ông Phạm Hoành, để ghi nhận công lao đó, dù bấy giờ, ông đã bị thất sủng vì lý do tiền nong gì đó sau chuyến tàu sang Nhật, năm 1990 hay 1991… ông đã hưu và rất phiền lòng về rất nhiều điều… Tôi đã tổ chức trao trân trọng cho ông nhân một ngày lễ, tại Nhà văn hóa Việt Nhật, nhưng ông ốm không ra dự được. Mấy ngày sau, tôi và cậu chánh văn phòng của tôi đến thăm ông và trân trọng trao cho ông tại nhà riêng, có cả gia đình ông cùng tham dự. Ông bồi hồi kể lại chuyện giải thưởng văn nghệ Hạ Long đã được ra đời như thế nào và ông nói tỉnh Quảng Ninh nên làm một cái gì đó để ghi nhận cái công khởi xướng của tôi… Sau đó, ông kể cho mọi người cùng nghe một chi tiết mà tôi không sao quên được.

Ấy là các đồng chí của ông, không hiểu sao lại nghĩ, một người như ông sống vì cách mạng, chết vì cách mạng, lại có thể sẽ trốn ra nước ngoài… nên đã thực hiện chế độ “săn sóc cẩn tắc”… Một đêm khoảng ba giờ sáng, ông nghe thấy có tiếng hắt xì hơi rất to trên mái nhà. Nhà ông cấp bốn, mái ngói tường gạch có trần nhựa. Ông thấy lạ, soi đèn pin lên mái qua lỗ thủng hình vuông ở góc cái trần nhựa, mới nhận ra cậu cần vụ cũ của mình đang ngồi chồm hỗm trên xà nhà, ở dưới, qua trần nhựa, là cái giường nằm của vợ chồng ông, với cái bình nhựa to đựng nước tiểu buộc vào bên cạnh. Ông bảo: Cậu đấy à. Xuống đây, tớ có cái giường một cho cậu nằm nghiêm chỉnh, lạnh thế hắt xì hơi là phải, kẻo cảm cúm thì khổ vợ con…

Nhân đây, xin kể thêm một chi tiết về cái chết của nhà văn Nguyên Hồng, thành viên giám khảo đầu tiên của Giải thưởng Văn nghệ Hạ Long (1975 – 1980).

Tôi đã viết toàn bộ những điều này trong bài Nguyên Hồng mà tôi đã biết, in trong tập Nguyên Hồng của Nhà xuất bản Giáo dục. Một số nhà xuất bản khác đã in lại. Phần tôi trích đây, lấy lại từ Văn Bắc Giang thế kỷ XX, Nhà xuất bản Hội nhà văn, năm 2002. Ban giám khảo đầu tiên của giải thưởng này có 5 người: ông Thanh Lương, Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, thay mặt Thường vụ Tỉnh ủy, ông Ngô Lâm, Chủ tịch Hội, ông Phạm Chính, Trưởng ty Văn hóa, nhà văn Nguyên Hồng (Ủy ban nhân dân tỉnh mời về, cũng theo đề xuất của tôi. Tôi đã sang Hải Phòng làm việc trực tiếp với ông Văn Tiến, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Phòng, mà ông Hồng được mời làm Chủ tịch danh dự) và tôi. Tôi là ủy viên, kiêm Thư ký hội đồng, người trực tiếp viết văn bản tổng kết giải.

Đã có một đêm thơ, tôi được giao tổ chức thực hiện tại rạp Bạch Đằng, thị xã Hồng Gai và tác giả bài thơ nổi tiếng Cửu Long giang ta ơi, nhà thơ Nguyên Hồng, ngồi chủ trì.

Khi giải đã chấm xong, Nguyên Hồng nghỉ ngơi rồi sáng sau về quê. Trong bài Nguyên Hồng mà tôi đã biết, tôi xếp chi tiết rất có ấn tượng này thành một mục riêng, có tên Ăn thịt cò, trang 522 – 523, sách đã nêu trên. Nguyên văn như sau:

“Lúc đó ai cũng nói là cò, nhưng thực ra là một con chim, to hơn nắm tay, màu lông đốm bạc, chả hiểu thế nào, chạm vào dây điện trần rồi lao xuống khoảng sân đất, trước mặt ông Nguyên Hồng. Anh Nguyễn Hữu Chức, cán bộ văn phòng, được Hội Văn nghệ Quảng Ninh cử ra chăm sóc ông, cầm con chim còn đang giẫy, đưa cho ông xem. Ông bảo: “Quay lên rồi làm một chén rượu là được đây”. “Cháu sợ chim sa cá nhảy, ăn vào độc”. “Chim này đâu phải là sa. Nó chạm dây điện đấy chứ”.

Ông xé một cái đùi chim phần anh Chức, nhưng anh bảo: “Cháu là dân thợ thổ, ăn thế này chả bõ bèn gì. Thôi cứ để bác nhắm rượu”.

Hôm sau, xe cơ quan đưa ông về nhà riêng ở Bắc Giang. Hôm sau. Rồi hôm sau nữa, ông (đột ngột) qua đời”.

107. Nguyễn Đức Tùng:

Câu chuyện anh kể về người cần vụ rất thú vị, về nhà văn Nguyên Hồng rất lạ lùng. Tôi sẽ nhớ lâu.

Còn một thời như thế nữa không?

Trần Nhuận Minh:

Chắc là không. Nhưng ảnh hưởng của nó thì còn, không chỉ một thời. Tôi chỉ xin nói thêm về ông Phạm Hoành.

Ngày giỗ ông Hoành, ông Lê Ngọc Cầm (nguyên Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng thi đua khen thưởng tỉnh Quảng Ninh, mà ông Hoành, nguyên Chủ tịch tỉnh, từng làm Chủ tịch Hội đồng, người có nhiều sáng kiến và rất tận tụy đam mê trong công việc, đã góp phần quan trọng, đưa tỉnh Quảng Ninh dẫn đầu công tác thi đua khen thưởng nhiều năm của cả nước, là Trưởng ban liên lạc cán bộ thi đua khen thưởng tỉnh Quảng Ninh và tôi là Phó Trưởng ban của ông, hiện tôi vẫn giữ chức danh này, vào thắp hương cho ông Hoành và tặng quà cho bà Hiên, phu nhân của ông. Bà Hiên vẫn nức nở khóc, kể lại nỗi xót xa đó… Tôi rùng mình… im lặng mà nghĩ rằng: việc đó ở thời đó, có cái lý do nào đó của nó, mà mình người trần mắt thịt không biết được, có lẽ cũng là cần thiết chăng, nhưng gây ám ảnh trong lòng cho người trong cuộc thì quả là khôn cùng… Cũng bởi lương tri còn trong sạch nên nỗi đau mới khó nguôi ngoai đến thế. Tôi không bình luận… Tôi chỉ nói cái giác ngộ của tôi về lẽ đời. Mới hay, thuyền to thì sóng cũng to, và, có những giọt nước mắt, đời không sao thấy được. Tôi tin ở những giọt nước mắt ấy hơn bất cứ một lời rao giảng nào.

Tôi càng thấy những câu thơ vằng vặc càn khôn của cụ Nguyễn Gia Thiều xưa, thấm thía xiết bao:

Gót danh lợi bùn pha sắc xám

Mặt phong trần nắng rám mùi dâu

Nghĩ thân phù thế mà đau

Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê…

108. Nguyễn Đức Tùng:

Buông trên vai em mà đêm mượt như nhung

Lọc qua áo em mà hương trời thơm vậy

Những ngôi sao yêu nhau ríu rít ở trên cành

Ta đứng chờ em bạc cả sắc thu xanh…

là những câu thơ hay, xúc động. Cũng có thể gọi Trần Nhuận Minh là một nhà thơ tình.

Theo tôi, các nhà thơ khi còn trẻ thường viết thơ tình. Hoặc khi họ đã rất già.

Với anh, thơ tình khó hay dễ làm?

Trần Nhuận Minh:

Có một cháu làm luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn về thơ tôi, đã thống kê tập này, tập nọ, rồi cộng vào là bao nhiêu bài thơ tình, và nhận xét rằng, tuy số lượng ít nhưng thơ tình của tôi là thơ tình đích thực, vì tôi chỉ viết rất thực cho một người con gái có thực của mối tình đầu, với những tình cảm có thực của lòng mình.

Dạo đó, khi đến với người yêu, tôi phải báo cáo với chi đoàn, nói chuyện với nhau phải có người thứ ba cùng nghe. Đêm thì phải mở toang các cửa, thắp đến hai ngọn đèn to, ngồi cách nhau một cái bàn. Các bạn trẻ bây giờ nghe thế, chắc khó tin là thực. Có tội tham ô (ăn cắp) chỉ bị khiển trách, phê bình là nặng rồi, còn “quan hệ nam nữ bất chính” thì bị đuổi việc, chưa về đến quê thì thông báo đã về đến quê rồi… Tôi đã bị buộc phải dự những cuộc kiểm điểm thâu đêm suốt sáng một đôi tình nhân, cứ bắt họ phải thuật lại cụ thể cái sự ấy nó đã diễn ra, rồi lại diễn ra làm sao, theo thứ tự thế nào, khoan đã, để tôi hỏi thêm… anh nào anh ấy, kể cả cấp trên về dự họp và chỉ đạo cuộc kiểm điểm, mặt mũi cũng cứ sáng quắc, râu ria đều động đậy, đến răng cửa răng nanh cũng động đậy... Dơ lắm! Tôi thấy vô cùng xấu hổ mà mặt mũi các quan thì xí xớn bừng bừng…

Sau này, người yêu tôi đã đi với người khác. Chính anh bạn trai đã có được người yêu tôi, tiễn tôi ra đến tận ngoài đường ô tô và ân cần dặn tôi rằng: “Con gái bên ngoài kín mít nhưng bên trong chả có cái gì đâu. Ông cứ thò tay vào mà khoắng là được hết. Ông không biết khoắng thì suốt đời không lấy được vợ”. Tôi nhớ đến tận bây giờ. Sau này, anh là người chồng rất yêu vợ, tôn trọng vợ và luôn có quan hệ rất tốt với tôi. Có lẽ vì thế, mối tình mây nước ấy cứ ám ảnh tôi mãi. Và tôi làm thơ vì sự ám ảnh ấy.

Nước mây, tình tuổi đôi mươi

Mà trôi nổi đến cuối đời, lạ chưa

Mỗi lần qua đoạn đường xưa

Chỉ mong một thoáng bất ngờ thấy em....

Thơ tôi không phải là thơ tán gái như số đông thơ tình bây giờ. Tôi chưa thấy cái khó và cái dễ của làm thơ tình. Ruột gan có nỗi niềm gì, cứ thế nó trào ra, tự nhiên thôi, thì làm sao biết được là nó khó hay dễ?

Trong bài thơ Vào phút ấy thì em nên đến nhé... có đoạn:

Ta đã không nhau tất cả mọi ngày đêm

Vào phút ấy thì em nên nhé

Dù bận thế nào, em cũng nên lặng lẽ...

Đi theo anh... chỉ một đoạn đường thôi...

Hẳn anh biết lúc ấy là lúc nào rồi... Tôi đã đọc bài thơ này ở một trường cao đẳng sư phạm, nhiều người đã khóc.

Anh nói đúng: những người mới làm thơ, hoặc làm những bài thơ đầu tiên thì thường là thơ tình. Có người chưa có một bài thơ nào đăng báo, nhưng đã in đến 5 - 6 tập thơ tình riêng mà tập nào cũng khá dày. Chứng tỏ với rất nhiều người, thơ tình không khó viết. Tất nhiên sẽ rất khó viết được một bài thơ tình hay. Lâu lắm, không thấy có một bài thơ tình nào gây được sự chú ý của bạn đọc.

109. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi không nghĩ như vị thạc sĩ ấy rằng thơ tình của anh đích thực là vì anh viết rất thực cho một người con gái rất thực. Thơ tình của anh đích thực là vì nó hay.

Tuy nhiên tôi hoàn toàn tin rằng trong cuộc đời anh có một tình yêu như thế và anh là một người chung thủy.

Nhiều người tin rằng thói quen tạo nên tính cách, tính cách tạo nên số phận. Theo nghĩa đó, thì anh là người may mắn. Tôi đoán có nhiều người đàn ông mơ ước được sống một cuộc đời giản dị như anh.

Trần Nhuận Minh:

Không hẳn đâu. Các bạn thân tôi, đều bảo tôi, sống thế thì chết quách đi cho rồi. Và nếu tôi đi khám bệnh thì các bác sĩ tốt nhất là không phải khám gì cả… Đời người chỉ sống có một lần, nên biết tất cả mọi cái thú ở đời… Tôi nghĩ, cũng phải. Cái gì cũng có cái giá của nó. Có bạn tặng tôi hai câu thơ:

Con bò có một cái u

Những thằng một cái... thì ngu hơn bò…

Chả ai muốn làm… như tôi đâu. Còn những bài thơ tình như thơ của anh Nguyễn Đức Tùng, bề ngoài có vẻ khô khan, nhưng chúng lại có cái hay riêng, cái đau đớn sắc như dao nhọn. Đó là một kiểu thơ hoàn toàn khác. Tôi chép lại một bài thơ rất ngắn của anh để các bạn cùng đọc.

NHỮNG CON RỆP

Ngày thứ hai của tuần trăng mật

Chúng ta ngủ trong một khách sạn rẻ tiền

Những con rệp cắn anh suốt đêm

Bây giờ đây anh nhớ chúng khôn xiết

Khi mỗi lần đi ngang mộ em

(Nguyễn Đức Tùng)

110. Nguyễn Đức Tùng:

Cám ơn anh. Đó là một bài thơ được viết thẳng từ cuộc đời, nếu anh cho rằng điều ấy là quan trọng. Về thi pháp, lấy sự quan sát làm linh hồn, gạt bỏ tình cảm, để tạo nên xúc động, tất nhiên theo kiểu khác và ở những độc giả khác.

Anh nói đúng: cái gì cũng có cái giá của nó. Tôi tin rằng hễ anh được cái này thì sẽ mất cái khác, và ngược lại, muốn không mất cái này thì sẽ mất cái khác. Được cái trước mắt thì mất cái lâu dài, được cái lâu dài thì mất cái trước mắt. Có lúc tôi đã cố gắng sống chết làm cho được một việc, làm xong nhiều năm sau mới biết cái giá phải trả. Trong thơ, tài hoa quá thì không chất phác, chất phác quá thì bớt tài hoa. Trong đời, anh cứ cố cho được một việc, không thuận theo tự nhiên, thì có khi cũng được nhưng sẽ phải dối trá. Đó là nói về cá nhân, nhưng đối với một đất nước, cũng thế.

Thơ ngày nay ít khi làm cho người ta khóc; nhưng nếu được thế thì đó là hạnh phúc của nhà thơ.

Cũng có người khen một bài thơ tình hay bằng cách gọi nó là thơ tán gái, nhưng theo tôi chỉ là cách nói đùa cho vui, vì thực sự đó mới là thơ tình mà người đọc thời kỳ nào cũng cần và tìm kiếm.

Trần Nhuận Minh:

Theo tôi, thơ tình khác với thơ tán gái. Thơ tán gái lại càng không phải “thực sự đó mới là thơ tình mà người đọc thời kỳ nào cũng cần và tìm kiếm” như anh nói. Chỗ này, tôi nghĩ là anh đã nhầm. Bất cứ một cô gái nào cũng có thể hiểu điều này sâu sắc hơn tôi. Chỉ cần nghe chàng trai nói, cô gái sẽ phân biệt được ngay, người yêu mình và kẻ tán tỉnh mình, đầu môi đuôi mắt thì có thể giống nhau, nhưng mục đích cần phải đạt tới, mà cô cảm nhận được, nhiều khi chỉ qua linh tính, thì hoàn toàn khác nhau. Nhưng không ít cô gái biết rõ ràng như thế, vẫn “nhắm mắt đưa chân” (chữ của cụ Nguyễn Du) bởi vì người phụ nữ yêu bằng tai… chưa kể sự dun dủi chênh vênh của số phận. Cứ nghe Sở Khanh và Thúc Sinh thi nhau “bốc khoác” với cô Kiều, cũng biết. Đây lại là cái tài khác của thiên tài Nguyễn Du, vì cả hai đều giống nhau ở sự “bốc đồng” (đang yêu dễ như thế lắm!), nhưng cái ý thâm hậu của hai người thì khác nhau rất xa. Khi Sở Khanh tán mình, rủ mình đi theo, lúc ấy nàng còn chưa biết là có một mưu đồ:

Nghe lời nàng đã sinh nghi

Song đà quá đỗi quản gì được thân

Còn Thúc Sinh thì yêu mình, quyết tâm lấy mình: Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông. Cô Kiều dùng chữ thương, khi nói lại với chàng Thúc, rất khiêm cung và hợp lý, vì cô còn đang là gái lầu xanh:

Thương sao cho vẹn thì thương

Tính sao cho trọn mọi đường thì vâng…

Tôi thấy chữ “vẹn” đi với chữ “trọn” là cô Kiều rất kín nhẽ, còn chữ “vâng” thì đáng yêu vô cùng. Như vậy, chính cô Kiều cũng biết rất rõ và phân biệt được kẻ tán với người yêu, nhưng rồi cô vẫn sai lầm, đấy lại là một vấn đề khác của tâm lý đàn bà.

Còn có thể kể ra nhiều dẫn chứng nữa để phân biệt thơ tình và thơ tán gái không phải là một.

111. Nguyễn Đức Tùng:

Nhìn chung, thơ Trần Nhuận Minh là thơ thế sự.

Nhưng khi có dịp đọc nhiều bài thơ của anh cùng lúc, tôi nhận ra thơ tình của anh là nơi chuyển tiếp, là vùng nối kết giữa loại thơ thế sự và loại thơ trong Bản Xônat hoang dã, tôi xin gọi là dòng thơ tâm linh.

Lịch sử sáng tác của anh có đi theo thứ tự này không?

Trần Nhuận Minh:

Đến nay, tôi đã có trong tư liệu gia đình, sáu tập luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn và hai tập luận văn cử nhân về thơ Trần Nhuận Minh. Có thể còn hơn nữa, nhưng tôi không có văn bản trong tay. Chẳng ai bảo ai, tất cả các nghiên cứu sinh - sinh viên, đều tập trung khai thác về cảm hứng thế sự - hiện thực. Gần đây, có một luận văn thạc sĩ của một nghiên cứu sinh ở Đại học Vinh, tìm cách gắn kết thế sự với đời tư, cũng là một cách hiểu mảng thơ chân dung của tôi như là những mảnh đời tư - những số phận riêng của các lớp người. Như thế có nghĩa là, tôi đã được xác định là một nhà thơ thế sự, như anh nói. Có nhà phê bình còn nhận ra rằng, ngay cả thơ tình, thuần tuý tình yêu, thơ thiên nhiên chỉ có tả cảnh, thơ về con vật… cũng nhuốm màu thế sự. Tôi nghĩ có lẽ đúng.

Ví dụ như thơ tả cảnh, tôi viết ở Giaparôre, Liên Xô, 1990:

Hoa vàng nở hết mình đi

Nghe đâu tuyết trắng bay về rồi đây

Trời ơi, vàng đến thế này

Mà sao đen bạc vẫn đầy thế gian…

Hoặc thơ tả con vật, con chim quen nuôi ở trong lồng. Đây là một bài thơ trọn vẹn:

CON CHIM

Đập lồng chim. Thả chim ra

Chim bay quanh quẩn hiên nhà chim quen

Nhẹ nhàng, chim khẽ đậu lên

Nhành cây trong chậu, ngỡ miền rừng xa…

Rồi chim tìm lại góc nhà

Chui vào lồng bẹp để mà hót chơi…

Con chim quên cả khoảng trời

Chỉ còn tiếng hót tặng người nuôi chim…

Cũng xót xa lắm chứ. Tôi tin ai đọc bài thơ này, cũng hiểu cái điều mà tôi thấy không cần phải nói ra… Có lẽ vì vậy, mà có nhà phê bình nhận định rằng: thơ tôi chạm vào bất cứ cái gì cũng có “mùi thế sự”. Không có cái chất thế sự, thì không phải là thơ của tôi. Có lẽ đúng chăng? Tôi nghĩ: đây không phải là ưu điểm hay khuyết điểm. Đây là đặc điểm. Và xác nhận điều đó không có nghĩa là khen hay chê… Anh có thấy như thế không?

Sang đầu thế kỷ XXI, thơ tình của tôi có sự chuyển tiếp như anh nói, nhưng yếu tố thế sự vẫn đậm hơn. Ví dụ một đoạn trong 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh:

Ta nhận ra em

Run run đứng chờ ta

Tà áo mỏng bay trong sương khuya

Thấp thoáng núi đồi thiêng liêng huyền ảo

Da thịt thơm lừng trái chín…

Em yêu ơi,

Cái hiện hữu hãy tin là cái Đẹp

Chớ bận tâm quá khứ với tương lai

Ta sẽ lặn xuống đất sâu

Khi tiếng đàn bầu dứt

Tìm ta ư?

Hãy hỏi sắc hoa Mai…

Tôi rất thích cái ý: hãy hỏi sắc hoa Mai, sẽ biết, sau khi ta chết, tâm hồn ta nếu còn thì ở nơi nào?

112. Nguyễn Đức Tùng:

Thực ra anh cũng là người của cái đẹp.

Trần Nhuận Minh:

Tôi ngưỡng mộ cái đẹp nhưng phấn đấu cho cái có ích, và ngay cả cái đẹp, tôi cũng muốn là cái - đẹp - có - ích. Có ích, theo tôi là yêu cầu tối thượng ở mỗi con người. Một quyển sách hay, cũng thế thôi, trước hết phải là một quyển sách có ích, giúp cho người đọc sống tốt hơn, có ích hơn.

113. Nguyễn Đức Tùng:

Đồng ý với anh rằng, thơ tình Trần Nhuận Minh phảng phất mùi vị thế sự ở nhiều bài. Đây là điểm mạnh và, tất nhiên, cũng là điểm yếu của thơ anh. Anh là một trong những người làm tôi ngạc nhiên nhất về hiện tượng trộn lẫn giữa những câu hay và những câu kém, những bài chưa được và những bài xuất sắc. Thật ra nhà thơ nào cũng thế, từ xưa đến nay, Đông Tây kim cổ, không có một tài năng nào chỉ toàn sản sinh ra các tác phẩm toàn bích, nhưng ở anh hiện tượng này nổi bật.

Bên cạnh câu bình thường:

Nhẹ nhàng, chim khẽ đậu lên

Nhành cây trong chậu, ngỡ miền rừng xa…

Là những câu vượt lên hẳn:

Ta sẽ lặn xuống đất sâu

Khi tiếng đàn bầu dứt

Tìm ta ư?

Hãy hỏi sắc hoa Mai

không những về ngôn ngữ, mà vượt qua một thứ tâm linh khác.

Hình như anh thiếu một nhà phê bình của riêng thơ mình? Tôi không rõ lắm.

Trần Nhuận Minh:

Nhà thơ chỉ huy các đạo quân chữ cũng như vị tướng chỉ huy các đạo quân tiên phong. Mà trong chiến trận, có đạo quân chỉ có một nhiệm vụ là phải thua. Trong trận đánh đoàn thuyền lương của đại tướng nhà Nguyên, Vạn Hộ hầu Trương Văn Hổ trên tuyến biển Vân Đồn - Cửa Lục (ở vùng sông Mang trên vịnh Bái Tử Long, không phải ở vùng Bãi Cháy bây giờ như nhiều người lầm tưởng) ngày 13/02 năm 1288, Vân Đồn phó tướng nhà Trần là Trần Khánh Dư lệnh cho quân là phải đánh thua, rồi rút chạy dần về phía cửa sông Bạch Đằng, khiến địch ham thắng, vội đuổi theo, vô tình đã để đoàn thuyền lương chở 70 vạn thạch (đơn vị đo lường của Trung Hoa xưa, mỗi thạch là 10 đấu) ở lại phía sau, với lực lượng bảo vệ mỏng hơn. Ấy là lúc hậu quân ta tấn công, và đoàn thuyền lương đã bị đánh chìm. Thế trận oai hùng của Tiết chế Trấn Nam vương Thoát Hoan tự nhiên vỡ ở trong đất liền, chính là bắt đầu từ cú đòn “thua” tài nghệ đó ở ngoài cửa biển. Trận đại thắng Bạch Đằng vĩ đại nhất trong lịch sử đã được bố trí như vậy. Trong văn chương cũng thế. Có trận đánh, người lính nào cũng thắng, mà toàn cuộc lại thua.

114. Nguyễn Đức Tùng:

Thắng và thua như thế nào?

Trần Nhuận Minh:

Ấy là Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Đố anh tìm thấy câu nào non, chữ nào lép. Tất thảy đều được chế tác kỹ lưỡng, đẽo gọt kỳ khu, với một tài nghệ kinh người. Và trong quá trình thao tác kỹ thuật tinh xảo đó, cụ Nguyễn Gia Thiều đã vô tình để lại trong từng chữ, cái dấu vân tay và cả cái mùi mồ hôi của người đời. Trong một lần nói chuyện với chúng tôi, nhà thơ Nguyễn Đình Thi cũng nói là ông “rất không thích” tác phẩm này của cụ, có lẽ cũng vì lý do trên chăng? Trong khi bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành, có một số câu non như Chín lần gươm báu trao tay… Chữ Cửu trùng trong nguyên tác là Cửu trùng án kiếm khởi đương tịch, nhà vua chống kiếm đứng dậy, rời khỏi chỗ ngồi (có thể là bàn tiệc, khi nghe tin nông dân đã khởi nghĩa). Câu trên dịch sai ý nguyên tác, chưa nói, chỉ nói Cửu trùng chỉ nhà vua mà dịch là Chín lần (?) thì rõ ràng là sai và rất dở rồi. Và ngay cả Truyện Kiều, cũng có câu non như Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê… đặc biệt có câu lười biếng đến mức khó mà tin được là thơ của cụ Nguyễn Du: Bộ hành một lũ, theo liền một khi… nhưng Chinh phụ ngâm, đặc biệt là Truyện Kiều, vẫn rất thanh thoát, rất thiên nhiên. Đó là sáng tạo của Ông Giời.

Tôi có câu thơ:

Sáng tạo một lần xong sông núi

Trời không để lại dấu vân tay…

là nói cái tài thượng thặng đó đấy.

Nhân đây, tôi xin nói thêm: nhiều người cho rằng bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành, hay ngang với nguyên tác, thậm chí hay hơn cả nguyên tác. Tôi cho là không phải. Cái uẩn súc của nguyên tác, bản dịch không lột tả nổi. Cái phóng khoáng trong nhạc điệu của nguyên tác, dịch giả rõ ràng là bất lực, khi chuyển nó sang thể song thất lục bát. Dù nó hợp với khúc ngâm. Ngay cả cái ý câu thơ:

Thanh bình tam bách niên thiên hạ

Tùng thử nhung y thuộc võ thần

Đất nước ba trăm năm thanh bình / Đã chấm dứt khi chiếc áo trận (nhung y) lại được trao cho vị tướng (quan võ). Ý thơ rất sang trọng và hiện đại. Bản dịch đã hay:

Nước thanh bình ba trăm năm cũ

Áo nhung trao quan vũ từ đây

cũng chỉ thoát ý thôi. Dịch tài nhất là câu: Trống Trường thành lung lay bóng nguyệt (Cổ bề thanh động Trường thành nguyệt - tiếng trống lớn làm động ánh trăng trên Trường thành), từ chữ động dịch thành lung lay mà câu thơ trong bản dịch có hồn vía hơn.

Trở về với thơ tôi.

Ít nhất đã có ba nhà phê bình, có bài viết đã in trong tập sách Trần Nhuận Minh và ba lần định vị cho thơ, nhận xét rằng, trong một bài thơ, tôi chú ý đến toàn đồ hơn là các câu. Và đó được xem là một nhược điểm. Tôi rất cảm ơn nhận xét đó. Nên ý kiến của anh, tôi nghĩ là đúng đấy. Tôi cảm ơn anh. Điều mà tôi quan tâm nhất, không phải chỉ là câu thơ viết thế nào cho hay, cho ấn tượng, tất nhiên làm được điều ấy là rất cần, nhưng không phải là cái quan trọng nhất. Cái quan trọng nhất là anh phải chuyển tải cùng một lúc, ít nhất là HAI VĂN BẢN đến với bạn đọc. Một văn bản anh đọc bằng mắt, và một văn bản anh đọc bằng tâm tưởng, nghĩa là phải nhắm mắt lại mới… đọc được. Và tôi nghĩ bài Con chim, trong đó có hai câu bình thường, anh vừa dẫn ra, đã làm được hiệu quả hơn cái việc tôi muốn. Và trong cách hiểu của tôi, bài thơ đó có BA VĂN BẢN: một là về con chim, hai là về người nghệ sĩ và ba là về con người nói chung trong cõi đời này. Cả ba đều tự đánh mất TỰ DO của mình. Anh đọc kỹ và ngẫm xem có đúng không? Bài thơ rất đau xót, được bộc lộ trong một sự kìm nén tối đa, để nó hiện ra rất thông thường, tự nhiên nhi nhiên và dễ được chấp nhận. Vì đây là vấn đề “nhạy cảm” nhất trong “các vấn đề nhạy cảm”, đã từng gây “tai nạn lao động” cho không ít nhà thơ trước tôi. Và cũng là điều thuộc loại quan tâm hàng đầu của thơ tôi trong khao khát thể hiện số phận của con người nói chung, mà TỰ DO là quyền tối thiểu và cũng là quyền tối thượng.

Tôi đã có bài thơ viết thẳng về vấn đề này:

TỰ DO

Muốn khóc thì cứ khóc

Thích cười thì được cười

Vì điều đơn giản ấy

Máu bây giờ…

Vẫn rơi…

3.2.1986

Tôi làm bài thơ này vào thời điểm công cuộc đổi mới đang được chuẩn bị để chính thức ra đời ghi một dấu son vào lịch sử đấu tranh của đất nước, vì sự TỰ DO của Con Người.

115. Nguyễn Đức Tùng:

Câu nói của anh: ghi một dấu son vào lịch sử đấu tranh của đất nước, vì sự TỰ DO của Con Người, có phần khó hiểu đối với tôi.

Theo tôi thì, nói chung đối với tất cả các dân tộc chứ không phải riêng chúng ta, không phải đất nước đấu tranh vì tự do của con người xét như những cá nhân. Chỉ có những con người đấu tranh vì tự do của họ. Đó là một khái niệm xã hội.

Trần Nhuận Minh:

Anh nói điều đó không sai, nhưng không hẳn là như thế, vì số phận riêng của mỗi cá nhân bao giờ cũng bị phụ thuộc vào cộng đồng nói chung, mà đất nước là rất cốt lõi. Nó còn liên quan đến

nhiều thứ khác nữa.

Tôi cũng có câu thơ viết thẳng về vấn đề này:

Hương hoa không ở trong hoa

Tự Do bị nhốt, vẫn là Tự Do…

Trở lại với bài thơ. Khi người ta đã đập bẹp cái lồng chim, thả con chim bay về trời. Nhưng con chim quá yêu cái tù túng, đã giam hãm mình, đến mức không còn cảm thấy là bị giam hãm nữa, đã quên cả khoảng trời bao la mà Tạo hoá đã ban cho mình rồi, nên khi bay ra ngoài lồng, nó đậu lên cái nhành cây cảnh trong chậu cảnh, lại nghĩ là cây đại ngàn trong cánh rừng xa, thấy thế là thỏa mãn rồi. Vậy thì cần gì phải bay đi đâu nữa. Sự tự huỷ diệt khát vọng, vốn là trời sinh trong con chim, không đáng sợ sao. Cuối cùng, nó lại tìm đường để chui vào trong cái lồng bẹp. Nó đã tự nguyện giam nó lần thứ hai trong cái lồng đã bị đập bẹp và hoàn toàn không có cửa, một cái lồng trống hoác, vì người ta đã quyết định thả nó, để cho nó bay về trời. Nó đã vui lòng từ bỏ cái mà trời ban cho nó, và bây giờ là người tạo cho nó, để nó làm một con chim. Xót xa đến thế cũng là đã hết nhẽ. Tôi nghĩ một tứ thơ, có tầm khái quát như thế mà đẩy đến được cái mức ấy trong một bài thơ ngắn chỉ có tám câu, là đã đến chỗ tận cùng rồi. Để thể hiện được nội dung khái quát toàn đồ đó, có công của hai tiểu tốt mà anh đã chỉ ra, với một nhiệm vụ là chỉ có dẫn đường. Và người dẫn đường trong một trận đánh, cần phải không để cho bất cứ ai chú ý đến mình, không ai nhận ra mình, thì người lính trận sau đó mới vào trận thành công… Và, tại mặt trận Điện Biên phủ, khi lá cờ đỏ sao vàng đã bay trên nóc hầm của tướng Đờ Cát rồi, thì chỗ này có người lính bị thương còn chưa kịp băng bó, chỗ kia có mấy quả lựu đạn rơi vãi, còn chưa có ai thu lượm, đều dễ được lượng thứ…

116. Nguyễn Đức Tùng:

Anh đang nói về chuyện có lẽ là lớn nhất trong văn học Việt Nam hôm nay. Đó là vấn đề tự do sáng tác và tự do xuất bản, mà nói theo báo chí trong nước là vấn đề “nhạy cảm”.

Riêng anh, một nhà thơ, anh có thấy mình tự do không?

Trần Nhuận Minh:

Có. Hoàn toàn có. Bởi tự do sáng tác là quyền tối thượng của nhà văn, ngoài chính bản thân nhà văn ra, không ai tước đoạt được tự do của nhà văn cả. Tước đoạt cũng không được, mà tước đoạt để làm cái gì?

Nhưng tôi lại nghĩ rằng, trên đời này, nói cho cùng, chẳng có ai có tự do tuyệt đối cả. Anh theo một tông giáo nào chăng? Hoặc một cái gì tương tự như tông giáo. Chính cái đó sẽ có những ràng buộc mà anh buộc phải tự nguyện tuân thủ, làm anh mất tự do. Rồi nữa, anh nhất thiết sẽ có một đam mê nào đấy. Ví như tôi là đam mê văn chương, còn người khác, có thể là đam mê một a múi leng leng (cô em xinh đẹp) chẳng hạn. Chính cái đam mê ấy, cũng làm cho chúng ta mất tự do. Đúng không? Vạn vật cũng thế thôi. Lẽ thường là như vậy mà. Con chim chỉ tự do khi ở trên trời. Con cá chỉ tự do lúc ở dưới nước. Và con tàu hỏa lững lững oai hùng, hét ra lửa, chỉ tự do trên hai thanh đường ray mà người ta đã bắc sẵn cho nó…

Nếu hiểu tự do là như thế, thì chúng ta đều có tự do và ta tự kiểm soát nó trong văn minh và pháp luật.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 30.8.2013.