Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



RÂU CỌP





Kể chuyện về cọp ư ? Có gì là lạ, người ta đã nói về chúng hàng ngàn năm nay rồi. Nhưng với phụ nữ và bọn trẻ con, đây thật sự vẫn là đề tài hấp dẫn.

Ngày xưa tôi cũng vậy. Nghe bà kể chuyện, là thôi, quên hết mọi thứ trên đời. Mà ác, bà thường kể trong đêm. Có chút rùng rợn, có chút sợ hãi nên câu chuyện thật sự ly kỳ. Chúng tôi say sưa nghe, ôm chặt lấy bà cho đỡ sợ và ngủ lúc nào không hay. Bà kể nhiều lần nên nhớ, nhớ mãi tới bây giờ. Còn thật hay không chỉ bà biết chứ làm sao tôi biết.

Nhà chúng tôi sát mép rừng. Những ngôi nhà của phu sở trà Cầu Đất xa xưa. Sở trà này do người Pháp lập. Dưới nền nhà chúng tôi, sâu trong lòng đất, là đường hầm xe lửa. Một bãi đất trống làm khu dân cư. Giữa khu dân cư và sở trà là quốc lộ 21B. Dân đi phu ai cũng còn trẻ, nhiều đôi vợ chồng mới ngoài hai mươi. Trẻ người, mơ ước còn nhiều, thèm bay nhảy nên nhà cửa của họ cũng rất sơ sài. Mái tranh, phên nứa. Đêm thì mễnh kêu, cọp gầm; sức mạnh của đêm thuộc về mãnh thú. Ngày thì vất vả, gian nan; sức mạnh của ngày thuộc về đồng tiền. Chiều tan sở thì mặt trời chỉ còn những tia nắng hấp hối. Đàn bà, con gái rủ nhau vào khe suối nơi bìa rừng gánh nước về thổi cơm, còn dư chút ít thì tắm rửa. Đàn ông, con trai phải chờ cánh nữ ra về mới ào xuống suối. Đổ hết nặng nhọc xuống dòng nước lạnh tê người, xong việc cũng phải ra về cùng lúc. Cảnh vật âm u quá ai mà không sợ. Đêm, cọp về quanh nhà, tìm chó. Chó hung hăng với kẻ cắp, người già rách rưới thì giỏi. Còn thấy cọp thì tiu ngủyu, cụp đuôi, khặc khặc trong cổ họng, mặc cho ổng bê đi đâu thì bê. Nuôi chó, nuôi lợn tối phải mang vào nhà. Chó ngủ gầm giường, lợn nằm xó bếp. Nghe chó sủa hực hực là người ta choàng dậy, lấy thùng thiếc ra gõ. Nhà nhà cùng gõ, cọp hoảng bỏ đi. Có khi đói quá chúng cũng làm liều, xé toạc phên tre vào nhà bắt chó, bắt lợn. Dưới ánh đèn dầu nhờ nhờ, cọp ngang nhiên thẳng tiến tới chỗ con chó đang run lẩy bẩy, ngoạm cổ na ra khỏi nhà. Người nằm trên giường cũng vãi ra tất, hoàn hồn được, thì lo dọn dẹp chứ thiết gì con chó. Mất con chó thì chẳng có gì phải tiếc đứt ruột, bởi hồi đó có ai biết cày bảy món, chín món là gì đâu. Còn lợn thì không. Khi nghe lợn kêu eng éc là cả làng nhào ra. Gậy gộc, thùng thiếc, đuốc đèn nhốn nháo. Thanh niên rượt đuổi theo tiếng lợn kêu. Đuổi sát đít, cọp đói cũng đành nhịn, thả con lợn lại thoát thân. Mỗi lần như thế thì cả xóm hết ngủ. Chủ lợn lục đục đun nước sôi, xẻ thịt. Không xẻ thì vài hôm lợn cũng chết. Mà phải xẻ chứ, xẻ để thưởng công người làng. Người ta đem đầu con lợn và bốn móng chân, cái đuôi và lòng mỗi thứ một ít ra bìa rừng, chỗ giật lại được con lợn, xếp các thứ lên tàu lá chuối. Dâng cọp. Coi như công bằng, không ai cướp ai.

Cọp khôn là thế nhưng cũng không thoát được cạm bẫy của người. Bắt được cọp, dù cọp chết rồi vẫn đốt trụi râu của nó đi. Râu chúng găm trúng người thì không có thuốc chữa, lở lói, chảy nước vàng riết rồi chết. Râu cọp nuôi thành sâu. Sâu có lông đen, cứng và dày. Mắt đỏ. Sâu cũng có râu như cọp. Người ta đồn rằng, nhà nào nuôi chúng sẽ rất giàu với điều kiện phải hại chết ai đó. Trong ba năm mà không hại được ai thì trong nhà phải có một người thế mạng. Chỉ cần nhổ một sợi râu của con sâu, cỡ sợi lông mày, bỏ vào thức ăn nước uống của ai đó là xong. Râu vào trong ruột sống đâu đó, lớn mãi lên, đâm thủng lưng người ra ngoài. Bà tôi còn kể, chính bà đã trông thấy sợi râu cứng như sừng, to bằng que kem, đen trùi trũi nhú ra khỏi lưng người nọ cỡ vài centimet. Không nằm được giường, người nhà lấy thân cây chuối kết lại cho râu sâu đâm vào đó. Mặc cho mủ, nước vàng hôi thối chảy ra, đành chịu, không thể nhấc lưng người bệnh lên được. Khi người bệnh chết đi, người ta thu được sợi râu y chang râu cọp, bén và sắc vô cùng. Chẳng ai nuôi chúng để trả thù, mà biết ai để trả thù. Người ta đốt chúng đi để không còn hậu hoạ. Bà tôi còn kể, trong đám lưu dân đi phu ấy ai cũng nghèo, duy chỉ một người là khá giả. Cùng làm lụng như nhau, cùng tay trắng tới đây lập nghiệp. Vé số thời ấy không có, vàng cũng chẳng ai rơi mà lượm. Người ta nghi. Người ta nghĩ tới nghề nuôi râu cọp thất đức. Canh chừng khi nhà đó đi vắng, người ta trèo vào nhà, lục lọi. Y như rằng. Trong cái thùng gỗ, con sâu to như ngón chân cái người lớn, tưởng chủ cho ăn vểnh râu lên hí hửng. Một gáo nước sôi trút xuống, nó lăn kềnh ra trân chết, giơ cái bụng trắng hếu lên trời khoe hàng chân có móc tua tủa. Người ta đem nó đi đốt cho tiệt nọc. Thời gian không lâu, những người con của nhà đó lần lượt qua đời. Hai vợ chồng cũng bỏ đi đâu mất. Căn nhà mối mọt hoành hành. Bây giờ, ngang qua đó, người ta còn thấy cái ống khói xây gạch chỏng chơ giữa bãi cỏ úa vàng. Cuối cùng thì người ta cũng ngăn được một tội ác tày trời.

Giờ, xem ti vi, thấy người ta mơn trớn, vuốt ve cọp bỗng nghi nghi, ngờ ngờ câu chuyện bà kể. Lại nghĩ, cọp nuôi không ăn xác thối, râu không độc. Nếu không, thì những bộ lông quý giá kia sao chẳng thấy có cái râu nào. Ở quê tôi, những câu chuyện liên quan tới cọp đều rất thương tâm. Người quê chỉ có thiệt chứ không lợi lộc gì ở cọp. Họ ghét cọp nhưng sợ cọp, họ vẫn ngán uy linh của loài này. Lại nghĩ, hồi ấy bọn tề giả dạng, vừa làm phu vừa làm mật thám cho Tây. Chuyện chúng giàu sang không phải từ mồ hôi là thường. Khi người dân nhìn chúng bằng ánh mắt e dè, xa lánh chúng hiểu là chúng phải làm gì. Chúng rút êm không kèn, không trống.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ ĐàLạt ngày 24.8.2013.