TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



THẾ PHONG



Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

Khởi sự viết văn cuối 1952.

Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la baneliue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).






BÚT KÝ & TRUYỆN


THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN -1. E-mail 1/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - 1. E -mail 2/2

CHÀNG VĂN SĨ ĐẤT TỀ

ĐÊM DÀI TÌNH ÁI

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA -Chương 1 Kỳ 1

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 1 Kỳ 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 2/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3 tiếp theo

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 4

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 4

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 5

CON CHÓ LIÊM SỈ

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 6

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 5

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 7

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - Lá thư E-mail 8









Mời bạn mở nhạc để nghe
Có Phải Muà Thu Hà Nội




















THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN


Chân thành cảm tạ anh Thế Phong đã cho phép đăng tải.
Từ Vũ


lá thư E-mail 8 nhờ chuyển cho:
_________________


Nguyễn Thiệu Hùng
(Mai Trung Tĩnh)

… Marcs Court, Annapolis,
MD 21403



Tao nhớ mày rời phi trường Tân Sơn Nhất ngày 6 tháng 6 năm 94. Lần đầu tiên, nhìn mày qua bộ complet cắt rất đẹp, vải Ăng-lê thế là giây phút đầu tiên, giữa tao và mày xa nhau bắt đầu. Ra tiễn, chỉ có thi sĩ lươn om, đó là Hoàng Hải Thủy gọi nhà thơ Thái Thủy. Cũng có lần hai tên này định đánh nhau vì xưng hùng, xưng bá – Thủy này chê Thủy kia, nhà thơ chẳng có tác phẩm in dắt ngang tai sao gọi là thi sĩ cho được; chỉ có thể làm quản lý tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa, thập niên 60 thôi. Còn thi sĩ lươn om phản pháo Thủy kia, có nhiều tác phẩm nhưng là giẻ rách, tác phẩm cháo lòng. Sang đến Huê Kỳ, thi sĩ lươn om được giải thưởng phong cách người viết thơ có tư cách trong tù nhiều năm cải tạo. Giải thưởng này cũng trao cho một anh khác, trước đó Đinh Thành Tiên (gọi tên thật đúng hơn bút danh thơ, bởi cũng nhận giải phong cách của người làm thơ đi cải tạo). Rồi một thiếu tá Bảo An từ thời trước 1954 ở Hà Nội giận mình nhiều tác phẩm đã in, trong ngoài nước tái bản, nào là bên Nhật in lại Tuyển Tập Chuyện Cấm Cười, cũng đi cải tạo bao năm, lại chẳng ai đề nghị nhận giải phong cách phong kiếc. Anh viết báo chê Tô Thùy Yên, không có l'œuvre d'abord. Vì lý do Đặng Trần Huân chê như vậy, năm 1998, Tô Thùy Yên đích thân bỏ tiền; Tác giả xuất bản THƠ TÔ THÙY YÊN. Gửi về Sài gòn tặng hai người duy nhất, trong số có nhà thơ nữ Ý Nhi. Thụy Vũ chỉ cần đô, không cần thơ tặng – bây giờ nhà văn nữ này nhiễm óc thực dụng. Nhắc đến Đặng Trần Huân, cảm ơn anh chỉnh: nhà văn Thế Phong còn ở lại Việt Nam (nhắc đến hai lần trong hai bài khác nhau, cùng cuốn sách). Nào là Thế Phong dốt tiếng Pháp, dốt một cách sơ đẳng, bataillon vietnamien thành bataillon vietnamienne– wingman số ít chỉ một phi công thành wingmen (anh nhất định cho không phải lỗi vi tính), Le Rocher Noir, viết là La Roche Noire v.v…(). Đặng Trần Huân không chỉ giỏi đối với tôi, về chữ và nghĩa; nghĩ rằng anh còn giỏi hơn cả người Mỹ da đỏ ở dãy núi Rocky Mountains hay người Pháp trong đoàn quân viễn chinh, gốc dãy núi Pyrénées. Xin tha thứ, xin tha thứ…, lần sau Hồi ký ngoài văn chương tái bản ở Huê Kỳ, sẽ sửa hiệu đính. Anh phê bình tôi viết cuốn sách này có tính cách phô trương, trước tiên, đúng với chính anh nghĩ. Nhưng tôi vẫn chịu ơn anh chỉ ra sai sót.
“Mai Trung Tĩnh ơi! Tấm ảnh mày cùng bà Thảo, bà Bonnie Phan, vợ họa sĩ Phan Diên (còn là công chức Mỹ, loại white collar) chụp ở nhà mày, nhìn trên đồng hồ là 16 giờ, không ai nhìn thấy bệnh tật trong người. Béo tốt phương phi, cả căn phòng toát lên sự sung túc, nhưng với tao không khí lạnh ẩn chìm. Mày còn nhắc tao về bài viết chiêu niệm nhà văn Sài gòn vào dịp Sài gòn 300 năm như Chu Tử, không được nhắc vì không phải diện thuộc vào ba trăm năm, vì Người Sài gòn cũ duy nhất được nhìn nhận trong cuốn Sài gòn ba trăm năm là học giả Nguyễn Hiến Lê. Tao gửi cho mày đọc bài này đây, có nhắc đến Đinh Xuân Cầu, Thanh Hữu, Thế Nguyên, Ninh Chữ, Thiết Tố, Ngọc Thứ Lang, Minh Vồ, Duyên Anh, Xuyên Sơn… (những kẻ qua đời). À quên, còn nhắc đến Dương Hùng Cường, Vũ Bằng, Tam Lang, Hùng Lân, Vương Hồng Sển, Vũ Hoàng Chương, Lê Tôn Nghiêm v.v…. Mày lại còn muốn biết về bài Nguyễn Bính, một vì sao sáng của Hoàng Tấn, do tao viết tựa. Còn hỏi tại sao bài Nguyễn Bính ký Tương Huyền, Hoàng Tấn không chịu?. Bởi lẽ, Hoàng Tấn không ưa Chu Văn, người tao dẫn rằng ông này viết giai thoại Nguyễn Bính độc đáo đáng nhắc nhở (mày đọc bài này ở phần sau). Hoàng Tấn còn buộc phải ký tên dưới bài tựa bút danh Thế Phong, dầu bài chỉ một hai trang. Bài này được gửi tới ông đọc trước, đọc xong viết trả lời, giơ hai tay tán thưởng. Cũng gửi cho mày đọc luôn thể. Nhưng Hoàng Tấn viết giai thoại này chưa ai hay, kể cả nhà nghiên cứu văn học, những nhà giáo dạy văn cũng chỉ biết Nguyễn Bính có ba bà; thực sự bốn. Hoàng Tấn tiết lộ mới về cô thư ký Trăm Hoa, em trả con cho anh nuôi, em đi lấy chồng. Đó là thời kỳ báo Trăm Hoa bị đóng cửa và anh ruột nhà thơ, ông Trúc Đường tống cổ N.B. ra khỏi cửa, sợ liên lụy. Tao lại còn nhớ một giai thoại nữa về Nguyễn Bính, khi ra Hà Nội vào năm 1995; lần họp với một số nhà văn Pháp. Mày nhớ, sau đó tao viết bút ký Hà Nội 40 năm xa, quên chưa nhắc đến chuyện tác giả Một nghìn cửa sổ và Quang Huy, nhà thơ hiện có thẩm quyền cấp giấy phép xuất bản T.T.KH - NÀNG LÀ AI?. Nhà thơ mời tao đến nhà chơi, ở khu Láng Hạ. Cứ như lời ông, nhà tọa lạc trên hai mặt đường, có đến 84 cái cửa. Tao không hỏi cửa gì, đoán cũng biết là cửa ra vào, cửa sổ của nhiều tầng lầu. Ông còn khoe chỉ nhỏ hơn, nếu so với tư thất biệt thự của Giám đốc nhà xuất bản Kim Qui. Tao hỏi ông:
“- Nhà anh như thế quả là lâu đài của thi sĩ rồi còn gì!. Những 84 cửa… Nhưng còn thua một nhà thơ khác, lâu đài của ổng những một ngàn…
“- Ngàn gì, nhà giá ngàn cây vàng, phải không?.
“- Cũng ngang tầm một ngàn cây vàng, vì là Một ngàn cửa sổ.
“Ông nhà thơ bị nghe cắt quãng nên không dễ tỉnh trí – nghĩ rằng Nguyễn Bính nghèo rớt mùng tơi, làm sao có nhà ngàn cửa sổ?.
“- Ông thua nhà thi sĩ ấy đấy!.
“Bây giờ ông nhớ ra rồi, Nguyễn Bính không chỉ Lỡ bước sang ngang, còn có Một ngàn cửa sổ…
“- Đúng, tôi thua Nguyễn Bính có một ngàn cửa sổ.
“- Thua Nguyễn Bính một ngàn cửa sổ không có thật; nhưng ông hơn Nguyễn Bính 84 cái cửa có thật.
“- Ông chơi chữ với tôi; thì kẻ này dùng quyền chơi chữ với ông. Từ nay cho đến ngày về hưu, thề sẽ không ký một giấy phép nào cho ông nữa. Mai Trung Tĩnh biết không, ông này còn là thi sĩ, tác giả bài thơ Thánh Gióng:

Giặc tan. Phi ngựa lên trời
Đình cong còn chiếc lá phơi cuối chiều
Đất hằn dấu ngựa mờ rêu
BuÏi tre bật gốc thả neo cuối hồ.
Công danh coi tựa trò đùa
Gió hoang thổi lạnh ngai vua đến giờ.
1998

QUANG HUY ()

“Mày còn nhớ Vương Đức Lệ, bạn thơ rất thân của mày, từng in thơ chung, có nhau trong thời kỳ đi cải tạo. Bây giờ, anh chờ với đợi để được phỏng vấn xuất cảnh. Nhà thơ vừa trúng an ủi một triệu hai, kết quả mười hai tấm vé số, mỗi tờ trúng 50 triệu; sai số hàng đơn vị. Nếu Noël 98 vừa rồi, trúng độc đắc, anh sẽ không cần chờ ngày được phỏng vấn như hiện nay. Anh thường rủ tao và nhà thơ nữ Lê Thị Kim, đi uống cà phê ở Spago; một hiệu cà phê nằm trên trục lộ Đồng Khởi và Lý Tự Trọng, Quận 1, rất thơ mộng. Một lần ngồi trong quán có không khí rất Tây Phương này, anh giơ bàn tay nhìn, da chưa mồi, dù tóc điểm sương; nhưng tình tứ vẫn chưa lú. Bởi ở Quận 4 Sài gòn có một ni cô còn trẻ đi tu, lại vừa cho xuất bản tập thơ mang tựa Thơ tình. Thư pháp, vẽ, bay bướm, đẹp, tình tứ – theo Vương Đức Lệ, thơ hay. Vương Đức Lệ cho biết hiện anh có 18 vạn bài thơ (kể cả đã và chưa in). Chỉ một cuốn nhật ký thơ viết tay, gáy mạ chữ vàng, anh làm theo kiểu ghi không bỏ sót ngày nào. Tao thấy có bốn câu tứ tuyệt này, bóng gió tặng Y Sa:

Đọc Thơ tình một ni cô
Lòng tôi chót ngẩn chót ngơ mất rồi
Mai đây chuyển kiếp luân hồi
Cửa chùa tôi đứng đợi người xuất gia.

(Đợi người xuất gia - thơ chưa in)

“Cảm ơn mày nhiều. Tết ta, gọi điện thoại đường dài đêm 30, chúc tụng năm mới phước lành. Noël nào cũng gửi thiệp Giáng sinh, Just for you…. Và ba bài kèm E-mail này gửi cho mày, đáp lại điệp khúc quen thuộc Just for you, my best friend….
“Tiện, kể cho mày nghe về Chu Tử và…, đến Nguyễn Bính và bốn bà vợ, cả bài tựa của tao viết giới thiệu Hoàng Tấn với Nguyễn Bính một vì sao sáng luôn thể nhé.


1.VỀ CHU TỬ và …

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời.

TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG

… Có thể gặp Chu Tử, chủ nhiệm nhật báo Sống vào khoảng 1967. Hồi ấy, tôi đưa vợ con từ Đà lạt về Sài gòn, hàng ngày ra sạp báo ở gần rạp Thanh Vân (đường Lê Văn Duyệt), đọc cọp báo xem truyện ngắn gửi đăng chưa?. Hồi đó, tôi rất đói, chẳng biết làm nghề gì để nuôi vợ con, lại còn phải lánh mặt quân cảnh, cảnh sát truy tìm bắt lính. Có thẻ hành sự, cờ vàng ba sọc đỏ, như vậy cũng yên lòng khi họ gặp hỏi giấy tờ. Tôi đôn đáo đem bản thảo đến các nhà xuất bản bán, may là Nhà xuất bản Đời mới ở 288 Vĩnh Viễn, Sài gòn 10, mua luôn mấy cuốn, trong đó có truyện dài Nửa Đường Đi Xuống, tái bản Frederick Nietzsche, Chiếc roi ngựa, truyện dịch La Cravache của Virgil Gheorghiu. Khi Chu Tử đăng truyện ngắn rồi, tôi mang bút ký Tôi Đi Dân Vệ Mỹ lại bán cho anh, sau đăng vào Sống chủ nhật hàng tuần, kéo dài cả trang báo, anh xếp typô đổi tên Đinh Bạch Dân thành Đinh Bạch Đàn. Thế là cũng giải quyết được cơm áo hàng ngày một phần và bút ký này được độc giả đón đọc nồng nhiệt, càng nồng nhiệt hơn là cuối tuần, nhân viên Bộ Xây dựng Nông thôn của tướng Nguyễn Đức Thắng cho người đi mua đón đọc theo dõi việc nói về chương trình xây dựng nông thôn ra sao?. Khi bút ký này đăng hết, năm 1967, in lại thành sách vẫn để tên Đinh Bạch Dân do tủ sách Đại nam văn hiến xuất bản. Quen Chu Tử từ dạo ấy, người tính tình cởi mở, hay cười, kiểu người Việt Nam, mẫu của nhà báo lớn tiền chiến Nguyễn Văn Vĩnh mô tả, gì cũng cười. Tôi còn nhớ thời kỳ anh thuê nhà ở đường Trần Hưng Đạo, Sài gòn 5 (gần ngã tư THĐ - Trần Bình Trọng), chưa khá giả như về sau này; nhưng đối với anh em trong nghề, anh dễ chia xẻ ngọt bùi, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Sau này tôi mới hay, nhà báo nhà văn Chu Tử, từng đậu Cử Nhân Luật thời Pháp, chẳng biết có là bạn đồng liêu với tri huyện Đoàn Thêm không, và anh từng được đề cử làm Hiệu trưởng trường Trung học chuyên khoa Lê Văn Trung ở Tây Ninh (Cao Đài). Ở Bến Kéo (Tây ninh) cùng với Trần Lương (sau viết sách, ký tiến sĩ Nguyễn Hữu Lương), Lê Văn Anh, Hồ Hán Sơn thỉnh thoảng ghé qua, tôi vẫn chưa biết ông Hiệu trưởng Chu Văn Bình này cũng bôn ba như mình, cơm áo không đùa với khách thơ. Rồi Chu Văn Bình trở thành Chu Tử, chủ nhiệm nhiều nhật báo, nhưng Dân Việt, Sống thời kỳ ấy bán chạy, nổi đình đám, nhất là Kha Trấn Ác quất roi vun vút trên mục Ao thả vịt, độc chẳng kém gì Tây độc. Nhưng phải nói là độc, nhưng không ác, nhớ những buổi, tôi và anh ngồi trước xe nước, đối diện với báo Sống ở 106 Gia Long, Sài gòn 1; trời mưa, cả hai vẫn ngồi nói chuyện với nhau, có khi tranh luận, khiến anh chau mày, dáng bực tức, nhưng vẫn cười và nghe. Ít ngày sau, Kha Trấn Ác vút roi trên Ao thả vịt cho biết Thế Phong vua chửi, từng đi đào vàng với Đinh Xuân Cầu ở Phi Nôm v.v… và v.v…. Nhớ lại đi đào vàng ở Đà lạt, kịch tác gia Đinh Xuân Cầu, đẹp trai kiểu Tây lai, chiếm cô con gái duy nhất của kịch tác gia Vũ Đình Long kiêm chủ báo, chủ nhà xuất bản Tân dân nổi tiếng vào bậc thượng thừa ở Hà Nội. Chính Tiểu Thuyết Thứ Bẩy đã phăng ra bao nhiêu nhà văn nổi tiếng sau này. Đinh Xuân Cầu tác giả cuốn Bên kia Bến Hải, cuốn này giá trị văn chương không là bao, song cuốn kịch ngắn Đôi kính, một tác phẩm có giá trị văn chương đích thực, một số vở đã đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy của bố vợ. Dự định viết cuốn truyện dài mang tên Đỉnh đồi hoa đào, tôi nói về Đà lạt thơ mộng, hàng đêm chứa chấp những tên đào vàng ban ngày, tối khiêu vũ ở La Tulipe, Night club, thuê khách sạn Au sans souci, sáng sáng kéo riềm màn cửa, nhìn lên con đường dốc Trần Hưng Đạo đầy hoa anh đào nở. Hoặc sáng ngồi uống cà phê, chân ghếch lên thành cửa, nhịp nhịp theo điệu nhạc thính phòng. Bao kỷ niệm với bà Huỳnh thị Thu Thủy, vợ bạn Nguyễn Mạnh Cường, nhảy đầm tuyệt diệu, nói đùa là bà đi guốc mà nhảy valse vẫn có khách phải lắc đầu thán phục. Hoặc buổi rong chơi tay đôi với Đào, thiếu nữ có dáng đẹp phương Tây, với những câu nói âu yếm lấp lửng kiểu nửa chừng xuân của đồng ý và chưa đồng ý ấy!. Rồi Đào cũng đi về chân trời xa, và người ở lại là bố cô ta, và tôi. Bây giờ bố cô ta đã không còn trở về sau những năm đi cải tạo, người ấy Đinh Xuân Cầu.
Trở về với Chu Tử, tác giả Sống, Yêu, Tiền…, chi chi đó, nói thực, tôi nghe tên mà chưa đọc, bởi tôi không còn viết phê bình văn học, chẳng cần phải theo dõi tác phẩm văn học của bất cứ ai ra mắt, thích hay không thích vẫn phải đọc, ghi ghi, chép chép, để như là một người phụ trách nuôi con mọn. Tôi không đọc, vì có tựa của một ông linh mục Viện trưởng Viện Đại Học Huế viết, do công tiến cử của nhà báo còn dạy học cùng trường với ông Hiệu trưởng Chu văn Bình xưa kia, nói tên ra là vừa, Trần Tử. Bởi lẽ, một vị tu sĩ như linh mục nọ, tôi chưa thấy được câu văn được gọi là văn chương đọc được, hẳn tựa tiếc gì, có đọc thêm nặng bụng, khó tiêu. Nên chỉ mở phớt qua tác phẩm của anh, càng không thể bốc thơm nhì nhằng bằng chữ viết hoặc bằng lời như những văn sĩ khác khen để có bánh ít trao đi, bánh quy trao lại.
Danh nhân, văn sĩ cộng tác hoặc viết bài cho báo của Chu Tử, có Nguyễn Thụy Long (sau này nổi tiếng), Tú Kếu () còn nổi tiếng với vai trò dũng sĩ xây lò gạch, Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Mạnh Côn (tay này viết ít, nhưng đòi tiền nhiều), họa sĩ Trần Duy Cát sau trở thành tế tử của chủ nhiệm. Riêng họa sĩ Cát phần sau sẽ nhắc tới ông nhiều hơn. Rồi những tay như Nguyễn Văn Minh, một chữ không ra giấy, bút – nhưng được mệnh danh Minh Vồ, chủ nhiệm tờ tuần báo trào phúng nổi tiếng Con Ong. Nhưng có lòng với bạn bè, anh em văn nghệ. Đến tay nhận quảng cáo vào hạng thượng thừa, ranh sĩ Hàn Tâm tục danh Vũ Hải Vân; đến công tử họ Đỗ chỉ giỏi thâu quảng cáo Đỗ Đăng Đảng sau làm chủ nhà xuất bản Trí Dũng, in Bố Già, bản dịch nổi tiếng của Nguyễn Ngọc Tú, bút danh Ngọc Thứ Lang – Nói tiếng Anh, Tú không thích, bởi học tiếng Anh từ thời ở Hà Nội, L'Anglais sixième, cinquième bleu hay beige, năm 1954 làm Công cán Ủy viên cho Tổng trưởng Thông tin Phạm Xuân Thái (), chỉ nói tiếng Anh bằng lối bút đàm với Cố vấn Mỹ duy nhất của bộ. Nhưng Ngọc Thứ Lang dịch tiếng Anh, theo tôi, khỏi chê. Sau 1975, xác anh chôn vùi ở Đồng Xoài, vì phải đưa đi cai hút.
Tiếng Anh phóng tác có hạng như Hoàng Hải Thủy (cũng là bạn chí thiết của Ngọc Tú) chưa chắc Hoàng ăn Tú?. Nói đến Sống cũng phải nhắc đến một nhà báo nổi danh sống sượng, Duyên Anh ký Thương Sinh với mục Sống sượng, múa bút hàng ngày tới một phần tư trang 2 của nhật báo, cây bút này độc địa, chứ không phải như Kha Trấn Ác: độc mà không ác. Duyên Anh đánh sì phé chẳng giỏi hơn ai, nhưng nói trên lý thuyết lại còn tài hơn kẻ đánh phé giỏi, Thanh Chương mà anh đưa vào một cuốn truyện là Chương còm, suýt nữa là anh em cột chèo với Duyên Anh - Vũ Mộng Long(). Thương Sinh viết trên báo bảo tôi muốn kiếm một đồng tiền trong sạch thì hãy cầm cái mũ đi từ Bến Hải đến Cà Mau, may ra đồng tiền ấy mới có thể gọi là sự bố thí trong sạch, không tính toán. Anh cho tôi chửi cả nước, nên chẳng ai chấp nhận cho viết báo kiếm bạc, in sách kiếm tiền, vì làm gì cũng không thể một mình một ngựa giống như tôi. Duyên Anh đã giũ sạch nợ trần vào ngày 27 Tết năm ngoái, tính đến nay gần một năm rồi. Buổi tối hôm ấy, tôi đang nấu bánh chưng, nghe tin đài phát thanh xa xa loan tin Vũ Mộng Long, nhà văn Duyên Anh ra đi, như tôi hay thêm câu: “ra đi không mang va li, quần áo ướt hết, chân không đi ba ta…”, lời nhạc của bản nhạc nào nói về hải quân trong thời kháng chiến. Với Duyên Anh, Chu Tử xử sự khéo léo nhất vì tính tình anh này cũng khó đoán, đừng tưởng lấp miệng anh ta bằng tiền mang hình ảnh đức Trần Hưng Đạo là xong.
Chính ở báo Sống, Chu Tử thường nhận một số các cô gái trẻ tuổi vào làm tại tòa báo là con nuôi, như cô X. chẳng hạn, chỉ cần khai với bố rằng bố mẹ chết hết, không họ hàng, ra đời thân lập thân, thế là bố Chu Tử chẳng cần đề phòng, sau này cô trở thành con cái gia đình liệt sĩ sau 1975. Như vợ Nguyễn Thụy Long chẳng hạn, cô Tâm đã tố khổ ông chồng, chẳng yêu mà có với chồng hai con gái. Nay cô đem con gái sang Mỹ, ly dị với chồng, chấp nhận ngồi đằng sau xe một anh Tây lai đáng tuổi con mình đang đạp dốc Cầu Kiệu đi làm thủ tục xuất cảnh. Tôi được hân hạnh biết vợ Nguyễn Thụy Long, bởi tôi ở Phường 2, Quận 1; nơi cô công tác Bàn tiết kiệm. Ủy Ban lúc này đóng đô ở căn nhà của bố mẹ vợ giáo sư Lê Tôn Nghiêm, đường Trần Khánh Dư. Nay giáo sư cũng đã chẳng còn lưu lại cõi dương gian ta bà. Ông ra đi ở nơi cuối cùng, đường Lý Thường Kiệt, quận Tân Bình, bà vợ cũng không báo cho ai quen ông hay; đôi khi nhìn thấy sách triết học của ông do nhà Trình Bày xuất bản đang nằm lăn lóc nơi một tiệm bán sách cũ nào, tôi lại nhớ đến ông Lê Tôn Nghiêm. Tôi nói nhớ, bởi tôi chỉ biết tên ông, có sách xuất bản chung với nhà xuất bản có in sách của tôi.
Một kỷ niệm nữa, tôi thường hay đánh sì phé với Chu Tử vào những ngày 1967 trước khi tôi vào lính Không quân. Căn nhà của ông trên đường Trương Tấn Bửu cũ (nay là Trần Huy Liệu), trên gác xép, ông thường chơi xì phé với Long (Long đất), Phạm Huấn, ai nữa tôi không còn nhớ, trong đó có tôi. Ông chủ nhiệm này bộc lộ cá tính của mình trong bàn đánh bạc, ỷ trường vốn, bất cứ đi lá nào ra tiền và tố tapi là thường. Đánh bạc với Chu Tử, con bạc thường ăn; còn Chu Tử đánh chỉ lấy cảm giác. Có một lần, ông chủ nhiệm này bị ám sát hụt, chẳng hiểu một Thượng tọa nào đó không thể chịu được lối viết pô tanh của Kha Trấn Ác, thuê người bắn ông. Ông chỉ bị thương không chết. Hồ Nam viết một cuốn sách mỏng dính về Chu Tử thì phải, tôi nói vậy, bởi chỉ nhìn thấy ảnh của anh đăng trên bìa sách. không đọc.
Đến ngày 30 tháng tư năm 1975, tôi không còn được gặp rất nhiều người quen, trong đó có Chu Tử, sau này biết anh qua đời vào đúng ngày 30 tháng tư năm 1975 trên chiếc tàu đang ra khơi, bị đạn pháo.
Họa sĩ Trần Duy Cát tên thật Đằng Giao, con rể của ông bà Chu Văn Bình, chồng Chu Thị Thủy. Hiện nay ông ở chính căn nhà của bố mẹ vợ trên con đường Trần Huy Liệu, quận Phú Nhuận. Ông sửa lại căn nhà thật khang trang và hàng năm, ông bà mời một số anh em quen biết đến ăn giỗ nhạc phụ. Họa sĩ Đằng Giao có một thời gian cắp cọ đến nhà của họa sĩ bậc thầy Nguyễn Gia Trí học sơn dầu ta sau 1975. Nhà ông đầy tranh, lớn và nhỏ, những bức lớn ghép vào nhau từ ba mảnh trở lên. Tranh của ông màu sắc thật lạ, không lẫn với màu sắc của bất cứ họa sĩ nào khác. Khách của ông đa số là Việt kiều, ngoại kiều, người giới thiệu tranh của ông chính là vợ ông, có giọng nói và sử dụng tiếng Anh lưu loát. Năm nay, ông bà Đằng Giao tổ chức giỗ nhà văn Chu Tử vào trước ngày 30 tháng 4 một vài bữa – không như trước, thường vào tháng năm. Lần này có đủ mặt bạn bè quen nhau như: Văn Quang, Nguyễn Đình Toàn, Lê Văn (hồi hương), Thạch Thái Phúc, Đỗ Đăng Đảng, Nguyễn Thụy Long, Tú Kếu lần này bộ nhớ quên nên không tới, nhà báo Xuyên Sơn(), dự xong chỉ vài tháng sau là giã từ cuộc đời, Vương Đức Lệ, Thanh Thương Hoàng, Nguyễn Đức Quỳnh Kỳ (thứ nam nhà văn chủ soái Hàn Thuyên: Nguyễn Đức Quỳnh), Hồ Nam, Phan Nghị và đặc biệt lần này có nhà báo kiêm nhà văn kỳ tình, trinh thám Hùng Phong có tác phẩm Xóm Chuồng Bò ngày nào được Tô Ngọc xuất bản. Lại nhớ nhà báo Tô Ngọc, chủ nhà xuất bản Cơ Sở Chọn Lọc từng in quyển truyện đầu tiên của Nguyên Vũ, Đời pháo thủ; sau Nguyên Vũ trở thành nhà văn nổi tiếng như Phan Nhật Nam v.v…. Năm ngoái, Mặc Thu ra về nằng nặc đòi kỳ nữ Kim Cương phải lái xe hơi đưa về mới chịu. Năm ngoái có Thái Thủy, năm nay không, bởi anh đi Hà Nội để từ biệt “mẹ ơi thôi đừng khóc nữa” vì tháng 7 vừa rồi, anh cùng vợ mới sang Huê Kỳ theo diện H.O muộn màng!.
Trên bàn thờ, tôi thấy hình Chu Tử là tranh vẽ chứ không phải ảnh. Bức vẽ không giống nhà văn chủ báo Chu Văn Bình là bao, nhất là không lột được hết nét sắc sảo và thông minh của vầng trán Chu Tử. Tôi tự nhủ, bức truyền thần này hẳn không phải của con rể, hoạ sĩ Đằng Giao. Hoạ sĩ có thể vẽ những bức tranh tuyệt tác, nhưng lại rất có thể vẽ phác họa về bạn bè nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ lại tồi. Nhớ lần anh vẽ chân dung tôi vào năm 1996. Hôm ấy anh vẽ tôi và một nhạc sĩ khác. Tôi dự định in bức vẽ của anh lên bìa cuốn sách nhạc của nhạc sĩ kia sắp ra mắt. Lúc đầu, nhạc sĩ này đồng ý, nhưng chỉ nửa tiếng đồng hồ sau, anh đạp xe đến báo là chưa nên in vội, vì bà xã, bạn anh phản đối. Còn tôi, tôi nói với anh, tôi được may mắn có nhiều người phác họa chân dung, đầu tiên là Duy Thanh (1957) (),Vị Ý rồi Ngy Cao Uyên (1963), Tạ Tỵ (1969), Cao Bá Minh (1981) và nay đến anh (1996), tôi sẽ in chân dung này của anh vẽ, dầu không tâm đắc lắm. Nhìn lại qua nét vẽ của anh, tôi đúng là một moujik Việt Nam. Tôi in chân dung này trong Hà Nội bốn mươi năm xa (bản thảo), phía trên những câu nhận xét về tác phẩm này của anh Lê Ngộ Châu, nguyên chủ nhiệm tạp chí Bách khoa ở Sài gòn trước 1975.
Tại sao lại không thích làm nông dân?. Với ai, tôi không biết, nhưng với tôi, thời kỳ chưa về Hà Nội học, trước 1954, tôi là nông dân đúng vai trò – biết cày, bừa, nhổ mạ, đắp bờ ruộng, cấy lúa hơi chậm, gặt lúa khá nhanh, xay, giã gạo, đốt cơm lam…. Vậy bây giờ Đằng Giao nhìn qua tôi vẫn còn thấy chất nông dân trên khuôn mặt chải chuốt đúng quá đi chứ!. Tại sao lại không thích – có thể nói không mấy tâm đắc thì được. Có phải vậy không?. Bạn bè văn nghệ bây giờ chẳng còn mấy: Qua đời cũng nhiều, như Dương Hùng Cường, Ninh Chữ, Thanh Hữu, Xuyên Sơn, Vũ Bằng, Tam Lang, Hùng Lân, Nguyễn Hiến Lê, Vương Hồng Sển, Vũ Hoàng Chương v.v…, nhớ ai ghi tên. Như Lê Tôn Nghiêm chẳng hạn, hai ba cuốn sách triết học của ông sáng giá lắm!.
Riêng Thanh Hữu, chỉ gặp lại được anh trong vòng một năm. Hôm tôi cùng Giang Kim đến kiếm ở đường Lê Lợi, phường 3 quận Gò Vấp, anh không nhận được tôi là ai?. Tự giới thiệu, nói nghịch ngợm xưng tên trùng với tên thật của người đang đối diện. Khai: Thưa, tên tôi là Lê Trung Hậu!. Anh trừng mắt ngỡ ngàng nhìn từ đầu đến cuối nên Giang Kim phải khai thay: Thế Phong!. Anh ôm chầm lấy kể có lần đi xe buýt qua Tân định, xe ghé vào trạm nhìn thấy tôi đang phụ bán mũ với vợ ngoài lề đường Hai Bà Trưng, quận 3. Anh vẫy, tôi vẫy anh, cho đến nay mới gặp nhau lại. Trước 1954, Thanh Hữu () nhà văn nổi danh với Chuyện tình người sinh viên được nhà xuất bản Tia sáng của Ngô Vân in đến hai lần, bán chạy như tôm tươi. Vào Nam sau 1954, anh còn cho xuất bản Chồng tôi muốn sống (Yên Sơn, Sài gòn 1955) v.v…, viết cho các báo Thời Đại, Việt Chính,…. Anh ký rất nhiều bút danh, Lê Công Tâm, phê bình sách trên tạp chí Sinh Lực…, nay anh trước mặt tôi với thân hình gầy còm, ốm yếu; nhưng nụ cười bao giờ cũng tươi. Anh có cậu con rể, nay cũng làm báo Tuổi Trẻ – Ngọc Ẩn, chuyên trách về xe cộ. Còn Ninh Chữ, những năm về sau bị tai biến mạch máu não. Vợ con đưa anh về ở khu nhà ven quận Gò Vấp. Lần chúng tôi đến thăm anh, buổi ấy có Thanh Thương Hoàng, Vũ Mai Anh, Lữ Quốc Văn, cô Hồng Ngọc. Chúng tôi leo lên gác ba tìm gặp cô giáo nuôi chồng phế nhân. Anh không nhận ra chúng tôi, nhưng anh biết Thế Uyên mới về Sài gòn, đến thăm cho tiền. Vợ anh thông ngôn, cho biết Thế Uyên người Mỹ gốc Việt, còn Thanh Thương Hoàng, nhớ tên được - cũng có thể vì anh cảm động với hai tờ giấy năm mươi ngàn mới trao cho vợ anh. Hỏi anh biết tên tôi không?. Anh lắc đầu. Tôi đáp: “Đinh Hùng. Anh có nhớ xưa kia, lúc anh còn là chủ nhà may Can ở đường Tự Do, anh đã may tặng Đinh Hùng một bộ com-lê, để cảm ơn Đinh Hùng ngâm thơ anh trên Tao Đàn không?”. Anh lắc đầu bảo tôi không phải là Đinh Hùng. Chẳng có gì tặng anh, ngoài cái xiết tay giã từ và nhắc lại tập thơ Miền lưu đầy xuất bản vào 1963, của nhà thơ Ninh Chữ do Thế Phong in không xin giấy phép vào thời Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Nhắc tới Ninh Chữ in thơ trong nhà xuất bản Đại nam văn hiến không giấy phép vào trước 1963, phải nhắc đến Thế Nguyên với Hồi chuông tắt lửa, gây một dư luận văn chương sôi nổi, người mua sách đầu tiên và tán thưởng hết mình là Nguyễn Văn Trung, Khoa trưởng Văn khoa lúc đó. Uyên Thao viết bài phê bình sách đọc trên đài phát thanh, khiến giới Thiên chúa giáo, nhất là linh mục, cha xứ bất bình…bởi lẽ tại sao cha xứ lại có con riêng trong Hồi chuông tắt lửa?. Sau Thế Nguyên chủ trương nhà xuất bản Trình bầy, do đầu nậu Thành, nhà phát hành Hiện đại bao thầu, sách ra được vài chục cuốn. Sau 1975, anh là một trong những người có vai vế với Hội văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, cán bộ văn hóa của tuần báo Văn Nghệ. Nhưng chỉ ít lâu sau, tự cho mình nghỉ hưu, rồi hút sách. Ban đầu còn có tiền của, rất phong lưu, sau cạn dần, mở tiệm hút ngay trong nhà mình để bạn đến hút, chia xẻ nguồn lợi, đổi trao. Trong số bạn bè này có một người cũng in thơ trong Đại nam văn hiến, đó là Thiết Tố (tên thật: Đinh Hoàng Trọng, cựu khóa sinh Trường Võ Bị Đà Lạt), tác giả những tập thơ Độc thoại, Gánh bán linh hồn, Chàng nô lệ da vàng (in từ 1961 đến 1962).
Lần đưa tiễn Thế Nguyên tới nơi yên nghỉ cuối cùng ở Nghĩa trang Thanh Minh (quận Tân Bình giáp Bình Chánh); có cả linh mục Chân Tín, Gs. Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Ngọc Lương, Nguyễn Quốc Thái, Trịnh Viết Đức, Tiệp, Nguyễn Nhật Duật v.v…. Anh qua đời, một phần vì vi khuẩn uốn ván; thực ra chết không có thuốc phiện trong một tuần ở bệnh viện Chợ Quán thì đúng nhất.
Một lần nữa đi đưa tang bà Chu Tử, nhạc mẫu Đằng Giao; lần này không có một con rể khác của ông bà Chu Văn Bình – tôi muốn nói tới một người viết có tên Phan Nhự Thức. Chàng từng là nghị viên Hội dồng tỉnh Quảng Ngãi nên được xuất ngũ; bởi luật pháp của Việt Nam Cộng Hoà hồi ấy, quân nhân trúng cử dân biểu nghị sĩ, Hội đồng thành phố, tỉnh, thị trấn, xã…, đều được cởi áo lính. Cũng như vào thời của ông Ngô Đình Diệm, người trúng số một triệu đồng, nếu là quân nhân cũng có thể cởi áo lính mặc dân sự, như người viết có tên Phan Nhự Thức được cởi áo lính làm nghị viên vậy. Sau 30 tháng 4, đi học tập cải tạo. Sau ra trại, chàng được cấp giấy, nộp đơn làm thủ tục xuất cảnh theo diện H.O, khi được phỏng vấn, phái đoàn Mỹ thấy giấy ra trại của chàng đề ngày 30 tháng 2 năm…; phái đoàn Mỹ khước từ, không cho xuất cảnh theo diện H.O, vì nghi ngờ giấy tờ giả.
Không biết chàng có làm đơn khiếu nại về vụ này không?. Nhưng ít lâu sau, đám tang Phan Nhự Thức, con rể nhà văn chủ báo Chu Tử đã diễn ra. Và tôi hỏi hoạ sĩ Đằng Giao, anh xác nhận Phan Nhự Thức qua đời hoàn toàn đúng.


2. NGUYỄN BÍNH
(bài tựa, nhưng Hoàng Tấn không chấp nhận, buộc viết bài khác)

Tên khai sinh ban đầu là Nguyễn Trọng Bính, bút danh Nguyễn Bính, xuất đầu lộ diện trên văn đàn vào đầu thập niên 30. Thời kỳ vào Nam kỳ, 1943, tránh sự theo dõi phiền phức của chính quyền thuộc địa, ông sửa thẻ căn cước thành Nguyễn Bính Thuyết. Sinh 1918 (khoảng cuối xuân đầu hạ năm Mậu ngọ) tại làng Thiệu Vĩnh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định trong một gia đình nhà nho nghèo.
Thuở nhỏ, ông học với cha là Nguyễn Đạo Bình (thường gọi là ông Cả Biền), sau được cậu ruột là ông Bùi Trình Khiêm nuôi dạy. Ông Khiêm tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục, bị chính quyền Bảo hộ buộc về quê chịu quản thúc. Nguyễn Bính ra đời được ba tháng thì mẹ qua đời, cảnh nhà túng thiếu, bà con họ hàng đùm bọc. Cuối năm 1932, Nguyễn Bính rời quê, theo anh cả Nguyễn Mạnh Phác (sau này ký Trúc Đường) trên đường tìm kiếm mưu sinh. Thời gian này Nguyễn Bính biết Hà Nội lần đầu. Nguyễn Bính làm thơ khá sớm, bài thơ được đăng đầu tiên Cô hái mơ, sau này nhiều nhạc sĩ tài danh phổ thành bài nhạc trữ tình bất hủ. Năm 1937 tập thơ Tâm hồn tôi được nhận giải thơ của Tự lực văn đoàn. Từ 1940 đến 1942, Nguyễn Bính cho ra mắt độc giả khắp Trung, Nam, Bắc bẩy tập thơ trong đó có những tập ghi mộc trong đời thơ như Lỡ bước sang ngang, Tâm hồn tôi, Mười hai bến nước, do NXB Lê Cường in (Hà Nội 1940) và Hương cố nhân, (Nxb Á châu, Hà Nội 1941). Hoài Thanh có nhận xét về thơ Nguyễn Bính thật hay, đúng, tinh tế: “…Ở mỗi chúng ta đều có một người nhà quê. Cái nghề làm ruộng và cuộc đời bình dị của người làm ruộng cha truyền con nối tự mấy nghìn năm đã ăn sâu vào tâm trí chúng ta…. Người nhà quê kia vốn khiêm tốn và hiền lành ít có dịp xuất đầu lộ diện. Đến nỗi có lúc ta tưởng chàng đã chết rồi. Ở Nguyễn Bính thì không thế…, Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất nhà quê nhiều lắm. Và thơ Nguyễn Bính đã dánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta…, người đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm và những tác phẩm của người, bây giờ đã có vô số những nhà thông thái nghiên cứu…. Đáng trách chăng là giữa những bài giống hệt ca dao người bỗng chen vào một đôi lời quá mới…. Cái lối gặp gỡ ấy của hai thời đại rất dễ trở nên lố lăng…”. (Thi nhân Việt Nam, 1941)
1942, vở kịch thơ Bóng giai nhân soạn theo phác thảo cốt chuyện của Yến Lan () được dàn dựng, diễn ở Hà Nội, Hải Phòng. Nội dung ca ngợi sự xả thân vì nước, hy sinh tình riêng, mưu sự nghiệp lớn…
1943, Nguyễn Bính lại rời đất Bắc về phương Nam mưu sinh và gây sự nghiệp (có tư liệu cho là năm 1945). Lưu lạc nơi này cũng bồng bềnh, nay Chợ Quán mai Đa kao, rồi lại Cầu Kho, Xóm Nancy…, nợ áo cơm chưa dễ trả cho no bụng hình hài. Ba năm sau Ngày lớn 1945 khởi sự, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến ở Nam Bộ. Thời gian này, ông gặp những cây bút trẻ của Rạch Giá như Kiên Giang - Hà Huy Hà, Sơn Nam v.v…, và những sáng tác như Ông lão mài gươm, Sóng biển cỏ, Trăng kia đã đứng ngang đầu, Những dòng tâm huyết…, được in trên những chế bản bằng bột, li-tô đến với quần chúng độc giả Nam Bộ.
1954, Hội nghị Genève, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, rồi nhận công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam.
1955 đến 1962, Nguyễn Bính cho xuất bản liên tiếp nhiều tác phẩm thơ có cụm từ ngày Bắc đêm Nam – đúng hơn nữa là tình riêng nhớ người vợ còn ở phương Nam: Gửi người vợ phương Nam (1955), tác giả viết cho Cô Ba Bến Tre sau khi đã ly dị với người vợ đầu tiên Hồng Châu, mẹ của Hồng Cầu.
1956, Nguyễn Bính chủ trương báo Trăm hoa ở Hà Nội, một số bài viết trong đó có ông đã từng bị lên án mơ hồ trong tư tưởng. Và cũng nên nhớ bài thơ Màu tím hoa sim của Hữu Loan, từ trước chỉ truyền miệng, được đăng đầy đủ lần đầu tiên trên báo này.
1958, Nguyễn Bính quyết định rời Hà Nội về quê Nam Định. Ở quê hương Thành Nam, ông vẫn sáng tác thơ và gây dựng làm cho phong trào văn nghệ mạnh lên. Thời gian này, ông viết kịch thơ và vở chèo Cô Son (1961), Người lái đò sông Vỵ (1964).
1965, Mỹ leo thang chiến tranh ra Bắc, ông viết tập thơ Bức thư nhà.
Một giai thoại về sự sắp lầm chữ nghĩa của thợ nhà in. Pháp gọi lỗi này là coquilles. Nhớ một lần anh thợ nhà in sắp câu: Hai vợ chồng quì gối trước ban thờ trong truyện dài của A. Malraux (Les Conquérants tạm dịch Những kẻ chinh phục). Tác giả tả đôi vợ chồng mới người Trung hoa làm lễ trước bàn thờ tổ tiên, autel des ancêtres, thợ nhà in sắp autel thành hôtel (bởi chữ đồng âm khác nghĩa), thì ở đây, câu thơ Nguyễn Bính viết:
Lấy thân làm bức thành đồng CHO con
Anh thợ nhà in sắp thành:
Lấy thân làm bức thành đồng CHE con
Không phải vì có tài thi thẩm siêu việt như Chu Văn() tán tụng, nhưng người kể lại chuyện này cho biết Nguyễn Bính rất trân trọng,cảm kích, đôi khi quần chúng sáng tạo lại làm thầy nhà thơ, có khi chỉ là một chữ…. Cứ như Chu Văn kể, độc giả chỉ biết vậy thôi; hai thợ nhà in sắp chữ khác nhau; anh giỏi sửa chữ CHO thành CHE, còn anh kia sắp đúng. Chu Văn viết lại kể rằng Nguyễn Bính khen quần chúng là thầy – nhưng anh thợ sắp chữ đồng nghiệp mũi lõ trong tác phẩm của Malraux từ AUTEL thành HÔTEL lại tồi; bởi đầu óc dính đầy hiện thức quá đáng.
Trong một đoạn khác, vẫn Chu Văn kể lại về Nguyễn Bính:
“…Cũng vì thích giao du rộng trong xóm làng nên Nguyễn Bính hay đi chợ. Còn gì vui hơn cái chợ, với chuyện mua bán mà cả: con gà, con lợn, thóc gạo, chuối hồng, trái bưởi đào, chục cam chanh và cá tép sông Châu – mùa nào thứ ấy. Nhà thơ áo quần nâu lăn trong đám đông, la cà khảo giá thóc, giá gà, lợn, nếm thuốc lào. Ra về thường là lúc nửa buổi, chợ đang đông. Và anh vào hàng cắt tóc bên bãi sông Châu thường giúp anh húi ngắn gần trọc, rất cẩn thận và không lấy tiền. Nguyễn Bính đền công anh bằng một tờ báo, một bài thơ in mới nhất. Và anh thợ dán các thứ đó lên vách ken lá mía, vừa để chào hàng, vừa giới thiệu với khách – rất hãnh diện – mình là bạn của ông Bính làm thơ.
“Và Nguyễn Bính ra về lúc đứng bóng. Từ Chợ Chủ, Bình lục về Nhân Nghĩa qua con sông Châu. Cô lái đò – cô Bé, cũng có tên là cô Thoa nữa – sẵn sàng chở bác nhà thơ qua sông, không bao giờ lấy tiền. Chẳng biết cô Thoa có bao giờ đọc bài Cô lái đò của anh nhưng vẫn cảm thông:
Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô gái ở bến sông kia
“Chúng tôi thường đem chuyện này ra tán, đùa Nguyễn Bính. Anh cười và ngâm lại bài thơ ấy – tiếc rằng chẳng bao giờ cô Thoa cùng nghe. Bài Cô lái đò, như chúng tôi biết, có một đoạn cuối:
Thế rồi trên bến một đêm kia
Người khách tình duyên lại trở về
Cô lái đã vui duyên phận mới
Khách còn trở lại nữa làm chi …
“Nguyễn Bính hết sức ngạc nhiên: Bốn câu ấy không phải anh làm. Ai nối điêu vào lúc nào, không rõ. Hay … có một cô lái đò nào đó đã sáng tác ra, một lần gặp gỡ bẽ bàng với người khách của cô…. Nguyễn Bính không trách người bạn thơ vô danh nào đó, còn thú vị. Cái vốn của Nguyễn Bính là từ dân gian mà ra – dân gian thêm vào, chuyện đó, dù hay dù dở, cũng không lấy làm lạ…
Không chỉ sâu sắc cảm động, lại bùi ngùi, vừa nhận ra được chân tình cao thượng, thanh cao mà không vụ lợi – giữa một nhà thơ và anh thợ hớt tóc – rồi đến cô lái đò thương tiếc nhà thơ qua đời hơn cả đời mình:
“Một buổi chiều, tôi (Chu Văn) từ Chợ Chủ qua đò Sông Châu về cơ quan ở Nhân nghĩa. Vẫn con đò gỗ cũ kỹ và vẫn cô lái đò năm ngoái, cô Thoa. Tôi tưởng nên lịch sự, thông báo với cô cái tin về Bính.
“- Cô Thoa ạ!
“- Dạ !
“- Cô Thoa, bác Bính làm thơ vẫn thường ngày đi chợ nhờ đò cô đưa sang ngang, bác ấy mất rồi, cô ạ!
“Một tiếng nấc nghẹn. Cô Thoa gục mặt lên mái chèo, tiếng lạc đi:
“- Cháu biết giá chết được thì cháu tự nguyện chết thay để bác ấy sống, bác ấy làm thơ.
“Tôi bàng hoàng. Chao ôi! Ngay bạn bè anh Bính đã mấy ai nghĩ về anh chí tình đến thế!.
Hoàng Tấn rất không thích đoạn văn trên, là giai thoại nói về Nguyễn Bính. Lại được Kim Ngọc Diệu viết rằng, thuở sinh thời, Nguyễn Bính phán về Chu Văn: …đó là môt kẻ sĩ, một cây bút có bản lĩnh(). Anh bạn già văn chương của tôi thẳng thừng chỉ trích, đại để: “…lúc sinh thời, anh ta chẳng ưa gì Nguyễn Bính, có anh còn lợi dụng sự quen biết với Nguyễn Bính (thời kỳ Trăm Hoa) để thủ lợi cho mình. Bây giờ lại giở giọng yêu thương Nguyễn Bính, ”…Tôi nghĩ cho dầu vậy, giai thoại văn chương về Nguyễn Bính được trích trên kia vẫn hay. Không những chỉ tô đẹp cho cuộc-đời-thơ Nguyễn Bính còn được liệt vào giai thoại văn chương hay, cấp tư liệu cho văn học soi sáng sự thâm nhập thơ lục bát Nguyễn Bính vào trong dân gian thấm sâu đến độ nào?.
1999, một người bạn lâu năm của Nguyễn Bính từ thời Nguyễn Bính còn gửi thư cho Hoàng Tấn theo địa chỉ 39 Julien Blanc () cho ra mắt Nguyễn Bính, một vì sao sáng. Xin chào mừng người bạn yêu bạn, đôi khi hơn chính bản thân, nên Hoàng Tấn thường chú thích dưới ảnh: “ ở mọi nơi, trong mọi lúc, hễ có dịp thuận tiện Hoàng Tấn lại nói về Nguyễn Bính và thơ…”.

TƯƠNG HUYỀN()


3. GIAI THOẠI DO HOÀNG TẤN KỂ VỀ NGUYỄN BÍNH VÀ 4 PHU NHÂN

“…Cuối những năm 30, Nguyễn Bính thuê một căn gác nhỏ ở làng Hoàng Mai mà Bính gọi là Gác Hoàng Mai, còn có mỹ tự là Mộc hoa trang.
Nhớ bạn, một chiều thứ bảy tôi đến thăm. Như mọi lần, tôi thận trọng lần từng bậc cầu thang hẹp bằng gạch không có lan can. Cánh cửa vừa mở, cả Thâm Tâm lẫn Nguyễn Bính đều reo lên:
- A! Tiếng Vang đây rồi!.
Tôi ngỡ ngàng không hiểu. Thâm Tâm ấn tôi xuống chiếc ghế ọp ẹp đã mọt và sôi nổi:
- Mình mới hoàn thành một kịch bản ngắn bằng thơ, rất ngắn.
Tôi hỏi:
- Chủ đề?.
- Ồ, mình viết về cô Oanh.
Tôi lập tức hiểu ra ngay. Thì ra, cái cô Oanh, người tình trong mộng, mà bao năm Nguyễn Bính ấp ủ trong lòng mối tình tuyệt vọng, đơn phương, âm thầm ngao ngán. Cô Oanh mà Bính đã viết:
Tâm hồn tôi là một bình rượu nhỏ
Rót dần dần, rót mãi xuống nàng Oanh
Không say sưa, Nàng rất vô tình
Hắt ly rượu hồn tôi qua cửa sổ.
Rồi thì:
Ba năm trở lại đất Hà Đông
Người cũ, cô Oanh vẫn má Hồng
Rồi lại:
Nếu có phép tiên tôi nặn được
Một người xinh đẹp y như Oanh
v.v.. và v.v..
Không những thế, Nguyễn Bính còn cho xuất bản một cuốn tiểu thuyết cả trăm trang nhan đề Ngậm miệng nói về mối tình vô vọng này. Nhiều đoạn rất thật và rất ngây thơ khiến độc giả vừa phì cười, vừa ái ngại.
Sau khi tan mộng với huyền thoại cô Oanh, Nguyễn Bính lại tiếp tục yêu thương những người trong mộng, đơn phương. Hết cô Chính, cô Diễm, cô Nhi lại cô Chung, để:
Bao năm ôm ấp người trong mộng
Mộng tỉnh canh tàn châu lệ rơi…
Lại thêm mối tình tuyệt vọng nữa. Đó, là Bính say mê đến điên cuồng cô Tuyên (Nguyễn thị Tuyên) ở Bạch Mai. Tập thơ Người con gái ở lầu hoa do Hương Sơn xuất bản nói về mối tình này. Nàng Tú Uyên là chiết tự của âm tiết Tuyên.
Nàng Tú Uyên ơi!
Cả mùa mai trắng đã rụng rồi
Cả một dạo đò sen đang độ nở
Bốn mùa trơ lại một thân tôi.
Sau khi những mối tình câm ấy lần lượt tan biến như bọt xà phòng, Nguyễn Bính bắt đầu yêu thực sự và được yêu cũng thực sự. Đó là mối tình với Mai Thơ, mối tình đã đi vào thi sử với tập thơ nổi tiếng Hương cố nhân. Nhưng chẳng được bao lâu, khiến Bính suốt đời đau khổ:
Tưởng rằng bền, ngỡ rằng lâu
Lửa giàu sang đốt cháy cầu tơ duyên
(Tiện thể cũng xin phép anh hồn cố nhân được nói luôn Nguyễn Bính về sau cho đến khi qua đời, đã lần lượt xây dựng với đệ nhất, đệ nhị, đệ tam và đệ tứ phu nhân. Mỗi vị đã cho ra đời một người con)
Như vậy, danh hiệu Ông chúa thơ tình của Xuân Diệu đã về tay tác giả Lỡ bước sang ngang.
Trở lại chuyện cô Oanh, Thâm Tâm say sưa cao đàm hùng biện: Được biết Bính chết mê chết mệt cô Oanh nên tôi cố tình tìm hiểu xem cô nàng tuyệt thế giai nhân cỡ nào khiến Bính say mê. Tôi đến cửa hàng xén nhỏ bên dòng sông Nhuệ, đối diện chợ Đơ. Sau vài lần mua nhiều thứ lặt vặt, tôi đã quen cô ta. Nói về dung nhan thì cũng thường thôi. Nói về trình dộ học vấn là con số không. Nguyễn Du cô còn chẳng biết là ai, nói gì Nguyễn Bính. Tôi cho cô ấy mù nên sáng tác vở kịch thơ ngắn này. Trong đó có ba nhân vật: Bà Mẹ, cô Oanh và Tiếng Vang. Thâm Tâm sẽ thủ vai Bà Mẹ, Nguyễn Bính đóng vai Cô Oanh và Tiếng vang dành cho Hoàng Tấn. Nào, chúng ta đóng thử vở kịch thơ độc đáo này. Có 3 diễn viên đồng thời là ba khán giả.
Nói rồi Thâm Tâm cho tôi coi kịch bản. Tôi thông minh vốn sẵn tính trời nên chỉ lướt qua 2, 3 lần là nhập vai mình diễn.
Cô Oanh:
- Mẹ ơi, trời đã chiều chưa?.
Bà Mẹ:
- Trời còn sáng lắm…
Cô Oanh:
- Mẹ đưa con vào.
Hình như vừa có người nào?.
Bà Mẹ:
- Không! Không! Chỉ tiếng lá xào xạc rơi.
Tiếng Vang:
- Lá vàng đấy, cô Oanh ơi!.
Nên cô thấy tiếc cái thời năm xưa
Những ngày cô ghét ngâm thơ
Trời cao mắt biếc cô chưa biết nhìn
Bây giờ đôi hố sầm đen
Muộn rồi… Người ấy còn tìm được đâu…
Bà Mẹ:
- Con ơi đừng đọc thơ sầu
Cô Oanh:
- Chiều rồi, thưa mẹ, còn màu nào tươi?.
Còn thơ nào mới ra đời?.
Còn người nào ở chân trời về đây?.
Bà Mẹ:
- Không! Không! Đeo kính lên này!
Oanh ơi!…
Cô Oanh:
- Đấy có tiếng giày đấy thôi.
Tiếng Vang (tàn nhẫn):
- Tiếng giày của kẻ dong chơi
Không bao giờ ngắm một đôi mắt mù!
Cứ như thế… Cứ như thế, chúng tôi diễn đi diễn lại hai ba lần và cả cười thích thú.
Nguyễn Bính lấy ra ở góc tường một chai rượu ngang còn lưng chai (ngoài Bắc gọi rượu lậu, trong Nam gọi cuốc lủi), trịnh trọng rót ra 3 chén cọc cạch và nói: “Trà tam, tửu tứ. Tiếc nếu có Trần Huyền Trân thì cuộc họp mắt này trọn vẹn”. Và nói tiếp:
- Nào, chúng ta tam bôi.
Thâm Tâm nói :
- Không được đâu, tôi còn phải về … Tam bôi thì xuất môn đảo mất thôi.
Tôi đưa ra ý kiến, vở kịch này sẽ công bố trên tạp chí Bình Minh mà tôi đang làm chủ nhiệm. Thâm Tâm cười sặc sụa:
- Ông đứng đầu một tờ báo mà không sắc. Nếu báo đăng, người đẹp sông Nhuệ đâm đơn kiện thì trước hết ông Quản lý Trị sự, kế đó là ông Chủ Nhiệm và tôi, Tuấn Trình tác giả cũng bị ra trước tòa thượng thẩm, lúc đó chúng ta đào đâu ra những… một đồng để bồi thường danh dự cho người mà Nguyễn Bính ngày đêm mơ tưởng?. Chúng tôi vỗ tay cười ran rất hồn nhiên ().

HOÀNG TẤN


4.MỞ …

Tựa cho Nguyễn Bính, Một Vì Sao Sáng của Hoàng Tấn, NXB Đồng Nai 1999.

Thấy dừa lại nhớ Bến Tre/ thấy hoa sen nhớ đồng quê Tháp Mười/ thấy trăng lại nhớ đến người…. Ngay trên phong bì bên trái có bốn gốc dừa minh hoạ, bên phải trên cao chiếc tem sáu xu hình một cô gái áo tứ thân, nón rộng vành – Nguyễn Bính viết thêm mấy câu thơ gửi bạn Hoàng Tấn, ký tên, mùa hè Nam Định 1964. Đọc lối gieo vần lục bát, câu cuối thường là 8 – nhưng Nguyễn Bính gieo sáu chữ; và có lần nhà thơ đã viết : Chiêu Quân lên ngựa mất rồi. Thì ở đây, ông lại gieo vần dị loại, thấy trăng lại nhớ đến người…. Người đây là Hoàng Tấn, Hoàng Phố, Đoàn Giỏi…, những người bạn chiến đấu ở Đồng Tháp Mười, chống Pháp vào năm 1949. Tấm ảnh chụp chung với các văn nghệ sĩ khác ở Nam bộ, nét mặt Nguyễn Bính, Hoàng Tấn thật trẻ trung của thanh niên ngoài 30 tuổi. Tôi, kẻ hậu sinh được ông cho đọc trước; thực sự cảm động trước ưu ái!. Nhưng thực tâm tôi không muốn làm công việc này; mặc dầu phê bình văn học từng làm từ những năm 60, khi mới gần 30 tuổi (). Nhưng thôi, bỏ qua chuyện không cần bàn đến. Và điều cần là đọc hồi ký viết về Nguyễn Bính, rồi có bài viết coi như là mở đầu. Nguyễn Bính qua đời từ năm 1966 đã có rất nhiều văn nghệ sĩ từng viết về ông; phê bình thơ, cảm nghĩ về thơ, hồi cảm kỷ niệm với đời thơ Nguyễn Bính đều có cả. Riêng với tôi đọc viết về Nguyễn Bính cũng khá nhiều; song tôi chỉ nhớ tới Chu Văn viết về giai thoại văn chương của nhà thơ lục bát dân gian Nguyễn Bính như thế này. Chẳng hạn có một chiều Chu Văn từ Chợ Chủ qua đò Sông châu về cơ quan ở Nhân Nghĩa (Nam Định); găïp lại con đò cũ, cả cô lái đò quen tên Thoa. Báo tin cho biết Nguyễn Bính đã qua đời; cô lái đò gật đầu rồi gục lên mái chèo, giọng lạc đi: Giá tôi chết thay bác để bác sống làm thơ. Chu Văn bàng hoàng: Vậy là Nguyễn Bính vẫn sống và thơ anh vẫn sống(). Quả thật đúng!.
Riêng với Hoàng Tấn qua hồi ức này; không giống với bất cứ bạn bè nào khác. Có khác hơn, sống với bạn như thế nào, viết lại trung thực thế ấy – kể cả những điều không gây ấn tượng đẹp; nhưng rất nhân bản của người đối với người, bạn đối với bạn; không thể chỉ đẹp và cao thượng không thôi!. Nhờ tính trung thực, giúp tôi soi sáng được một thời đoạn sống đời thường khổ hạnh của những ngày Nguyễn Bính lưu lạc ở phương Nam. Cuộc sống ông vẫn bồng bềnh, nay Chợ Quán, mai Đa Kao, lại Cầu Kho, mốt xóm Nancy…. Cả những ngày sống phiêu bạt ở Rạch Giá, Hà Tiên; với nắm cơm chẳng lấy gì gọi là bát cơm Siếu Mẫu của một Nàng Úc nào đó…. Chàng thi nhân Nguyễn Bính quán quân lục bát, cả đời chỉ sống vì thơ, làm thơ trải qua đời sống nhiệm màu, nhưng đời chẳng mấy khi cho chàng no bụng thân xác đòi. Đúng là cơm áo không đùa với khách thơ!. Song ở Rạch Giá, chàng gặp gỡ một bạn trẻ rất yêu thơ mình và muốn dẫn dắt người trẻ tuổi vào con đường thi ca. Nguyễn Bính rất sẵn lòøng nâng đỡ chỉ bảo, hướng dẫn; người ấy sau này một tác giả của rất nhiều tập thơ lục bát rất Nguyễn Bính(). Năm 1954, Hội nghị Genève, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc còn để vợ con ở lại phương Nam.. Nên ông có tựa đề tập thơ Gửi người vợ miền Nam xuất bản ở Hà Nội vào 1955 có từ đấy.
Tôi nhớ có một Tết ta vào năm 1992, đúng ngày 23 rước ông Táo, tham dự buổi tổ chức mạn đàm thơ Nguyễn Bính, diễn giả Hoàng Tấn được giới thiệu qua bút danh khác Hồ Tăng Ấn. Chính Hồng Cầu và một người bạn văn khác, Phạm Tường Hạnh tổ chức; người sau này luôn cầm máy ảnh chụp văn nghệ sĩ tham dự, trong đó có nhà văn Thanh Châu, Hoài Việt, Trần Thanh Đạm, Kiên Giang-Hà Huy Hà, Hoàng Hương Trang, Hoàng Vũ Đông Sơn, Lữ Quốc Văn…, và một số người nữa không biết phương danh. Nhưng có một người bạn văn rất đặc biệt từ Nam Định vừa đến, Phong Giao, nói về kỷ niệm cuối đời của Nguyễn Bính ở những ngày cuối tại huyện Lý Nhân. Riêng Hoàng Tấn rất yêu bạn, đôi khi hơn chính bản thân; nên ông thường chú thích dưới tấm ảnh mỗi khi diễn thuyết: Ở mọi nơi, trong mọi lúc, hễ có dịp thuận tiện Hoàng Tấn lại nói về Nguyễn Bính và thơ.
Vào năm 1956, Nguyễn Bính chủ trương báo Trăm Hoa ở Hà Nội đăng một số bài viết trong đó có cả bài của Nguyễn Bính. Sau này Trăm Hoa bị lên án có khuynh hướng mơ hồ trong tư tưởng và Màu tím hoa sim thơ Hữu Loan lần đầu tiên đăng đầy đủ trọn vẹn trên báo này – mà xưa kia chỉ được truyền khẩu. Đời làm thơ Hữu Loan chưa bao giờ vui sướng như vậy, kể cả việc nhận nhuận bút 15đ từ tay Nguyễn Bính trao lại (lương công nhân bình thường 27đ/tháng).
Với tôi, hồi ký về Nguyễn Bính ở đây; không phải là của một ai đó, sinh thời chẳng ưa gì Nguyễn Bính, có khi xử sự rất tệ, lợi dụng quen biết, thủ lợi cho bản thân; nhưng khi Nguyễn Bính qua đời, lại có giọng văn đầy yêu thương tốt bụng với Nguyễn Bính hơn cả những kẻ thật lòng yêu thương thi nhân, (đoạn này bị biên tập bỏ trong sách ‘Nguyễn Bính, một vì sao sáng’). Người bạn già văn chương, tôi thường gọi Hoàng Tấn, ông thật thương yêu khi viết về đời sống khổ hạnh, kỷ niệm sôi động; khí phách đầy hào hùng, lãng tử hào hoa, khinh đồng bạc to hơn núi của bạn lúc sinh thời. Một đời thơ Nguyễn Bính để lại phía sau ông ngàn câu thơ châu báu ngọc ngà lục bát rất dân gian, đã thấm sâu vào văn học Việt Nam lâu dài, mãi mãi.

THẾ PHONG
Sàigòn 1 tháng 1.1999

Có một đoạn văn với tôi; thật nhân bản, đau thương đầy bi thảm khi Hoàng Tấn kể chuyện Nguyễn Bính đem con đi cho hai bà gặp gỡ rất tình cờ ở ga Hàng Cỏ. Cho con đi rồi, lòng không nhẹ bổng; như khi nghĩ lúc đầu, rảnh rang, không phải chăm sóc con trẻ đỏ hỏn, chỉ có mẹ nó mới đủ bầu sữa và lòng nhân ái vô bờ mới nuôi nổi con tăng trưởng hình hài. Mẹ nó đi lấy chồng trả lại con cho bố nuôi, bố không thể nuôi nổi thân bố lấy gì nuôi con. Bố cho con đi rồi, lòng lại bị dày vò, lương tâm xỉ vả bố táng tận, Nguyễn Bính trở lại ga Hàng Cỏ, hy vọng gặp lại được hai người đàn bà đã nhận nuôi đứa con đỏ hỏn kia. Thì, đây bạn đọc cùng Hoàng Tấn trong Nguyễn Bính, một vì sao sáng (bản in 1999 không có đoạn này), cô Trần Thu Hằng, biên tập viên nhà xuất bản Đồng Nai, đã chỉ muốn mình cô, người duy nhất (sau Hoàng Tấn) biết chuyện này:
“…Nguyễn Bính rất cảm động:
“- Tôi tâm sự với ông (Hoàng Tấn) điều này, lẽ “ra phải sống để dạ chết mang đi. Ông là người duy “nhất tôi kể chuyện này, ông có hứa là sẽ không kể “lại với ai không?
“(Bây giờ hơn một phần tư thế kỷ trôi qua, tôi kể lại chuyện này ra đây, ở Đồng Giao lúc này, tri kỷ cũng rộng lòng tha thứ).
“Thế rồi tấn bi kịch ấy đã được Nguyễn Bính kể lại như sau:
“- Tối này khi Bính tay bế tay bồng, xách bọc “quần áo ra ga lấy vé về Nam Định. Trời bắt đầu “đổ mưa, chưa đến giờ, cửa ga chưa mở, Bính ngồi “trên băng ghế, nước mắt rơi lã chã. Lòng Bính “ngổn ngang rối bời. Ngồi bên cạnh, hai bà chờ tàu, “thấy lạ, hỏi Bính, nguyên do nào bố nó bế đứa bé “đỏ hỏn trên tay chỉ có một mình, không “có mẹ. “Bính đột nhiên trả lời:
“-Nếu tôi cho đứa bé này, hai bà có nhận “không?.
“Một bà mau miệng:
“-Ông nói thật hay đùa?.
“-Tôi nói thật đấy!.
“Bà này mừng quá; vội vàng đưa tay ôm đứa bé “vào lòng nựng nịu.
“Nguyễn Bính lên tầu, như bừng tỉnh cơn mộng. “Tàu Bắc chạy trước, hành khách tàu “Nam chạy “sau. (Có nghĩa là hai bà đi tầu ngược lên Phú Thọ, “Yên Bái, Lào Kai, còn Nguyễn Bính xuôi tầu “Nam về Nam Định, và tầu này chạy suốt vào “Nam). Tầu Bắc chạy trước rồi, hai bà đem theo đứa “con nhỏ của Bính. Lúc này Bính hối hận vô cùng, “gào thét lớn tiếng như điên, trước sự ngạc nhiên “của hành khách xung quanh “Con tôi đâu rồi, Trời “ơi! Hãy trả lại con cho tôi”. Có hành khách nói với “nhau, cho rằng một trong hai bà bế con kia, vợ ông “khách này không chừng? Chắc hai vợ chồng giận “nhau, bà vợ bế con đi tầu Bắc rồi chăng? Bính vẫn "la to: “Con tôi sẽ xuống ga nào? Thanh Ba, Chí “Chủ, Phú Thọ, Yên Bái, Đông Cuông, Lào Kai….
“Con tầu rít còi chạy từ lâu, chỉ còn lại Bính. “Tình phụ tử trong Bính giờ này như sóng biển nổi “cơn thịnh nộ. Đứa con rơi với cô đào Dung ở Ngã “Tư Sở, Bính cũng đã từng khuyên nhủ thiết tha…. “Bài thơ cha khóc mà thương nhớ đứa con đã rời tay “khỏi bố, mai sau này gặp lại, chẳng ai nhận được “ai? Bài thơ khóc cho hoàn cảnh bi đát của tác giả, “dễ xúc động mãnh liệt, làm mủi lòng người đọc:
“…Giờ đây cha khóc mà thương nhớ
“Gửi vọng về con một chiếc hôn
“Tiền cha không đủ hoàn lương mẹ
“Còn lấy đâu mà nuôi nấng con
“Thôi cha cầu chúc cho con gái
“Mắt chớ lưu cầu, môi chớ son
“Ngu đần xấu xí hay tàn tật
“Yên phận chồng con, yên phận con
“Càng, tài sắc lắm càng oan nghiệt
“Bẩy nổi ba chìm với nước non
“Đắng cay cố chịu đừng mơ tưởng
“Gái lẳng lơ kia mắt chẳng mòn
“Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ
“Nghèo lắm con ơi, bạc lắm con!”
(Oan nghiệt)
Nguyễn Bính, một vì sao sáng do NXB Đồng Nai cùng Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học Đồng Nai cấp giấy phép xuất bản (1999). Giám đốc NXB, ông Huỳnh Văn Tới còn là Phó Chủ Tịch; Bùi Quang Huy, Tổng thư ký Hội. Do đó, cuốn sách được nhiều ưu ái trong việc biên tập, nhưng cũng không tránh khỏi, như đã nói ở trên; người biên tập quá tủn mủn trong việc bỏ một đoạn nói về Nguyễn Bính cho đứa con đỏ hỏn ở ga Hàng Cỏ. Đứa con này do Nguyễn Bính đi lại với một cô trong đám quần hồng ở Ngã tư Sở mà có. Mẹ không thể không bận bịu khi làm nghề này; bố, nhà thơ không đủ tiền cho mẹ đứa bé hoàn lương. Trần Thu Hằng, người biên tập sách, không muốn cho độc giả biết được chuyện rất người, gạch bỏ thay bằng vài câu tóm tắt, hiển nhiên độc giả sẽ không ai có thể biết đến lai lịch đứa con đỏ hỏn giữa Nguyễn Bính và cô Dung. Độc giả hoặc kể cả bản thân tôi không đọc đoạn văn này, cũng chẳng hiểu gì hai câu thơ trích sau; tại sao viết não nuột đến vậy:
“…Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ
Nghèo lắm con ơi bạc lắm con.”
Bỗng chợt nhớ tới hoàn cảnh nhà thơ Đỗ Phủ vào những năm 757, với lý do ông viết hai câu thơ như thế này:
“…Văn chương thiên cổ sự
Thất đắc thốn tâm tư”
Nôm na diễn giải, văn chương đẹp hay xấu, tự đáy lòng tác giả cảm được – tha nhân chẳng nên dèm chê; nếu có chỉ là phụ. Dư luận, tiếng thị phi dèm chê tác giả buổi sinh thời không ít, tác giả mới bật thành hai câu thơ ngạo nghễ kia!. Hoặc một nhà văn khác cũng của Trung Quốc đầu thế kỷ này, đầm tính đến như Lỗ Tấn, tác giả AQ chính truyện, cũng khó thoát vòng kim cô dư luận bủa vây, như một trò văn, thành công sau tạo phản, dư luận thị phi, lời ra tiếng vào. Bạn đọc còn nhớ vào năm 1924, nhà văn trẻ có phương danh Cao Trường Hồng nổi danh, nhờ Lỗ Tấn dìu dắt, hướng dẫn, chỉ bảo. Nổi danh rồi, ông Hồng không muốn dư luận nhìn mình như cái đuôi của Lỗ Tấn, nên trò đặt điều nói xấu, công kích, thoá mạ, bịa chuyện phỉ báng, làm hạ giá tiếng tăm, nhân cách thầy văn chương. Lỗ Tấn đọc, không dằn được nóng giận, cả khoan dung, ông viết một chuyện ngắn mang tên Bôn Nguyệt (Lên Trăng); kể chuyện Bàng Mông bắn lén Hậu Nghệ là thầy mình. Bởi Bàng Mông muốn trên thế gian này chỉ có một mình Bàng Mông được xưng danh thiện xạ đệ nhất nhân. Khi mũi tên của Bàng Mông vụt khỏi tầm, lao trúng điểm huyệt yết hầu Hậu Nghệ, thầy trúng tên, ngã lăn, chết. Bàng Mông lại gần cười đắc thắng, hả dạ. Nhưng bỗng xác thầy vùng dậy, ha hả cười, mắt mở, tay rút mũi tên khỏi vết thương, chỉ vào mặt Bàng Mông mắng nhiếc: “Con đến nhà ta cả nghìn lần nữa cũng vô ích. Bởi ta chưa dạy con phép ‘cắn tên’, nên con bắn ta, trúng yếu huyệt, ta không chết, vẫn sống sờ sờ. Từ nay cấm con đến gặp ta…”. Lỗ Tấn chưa đã nư, khi sắp qua đời, viết chúc thư có năm điều căn dặn con cháu. Điều thứ năm, đại để khuyên con, nếu bất tài vô tướng, đừng cầm bút viết văn, hoặc làm nghệ thuật, hãy kiếm nghề khác độ thân.
Nào khác gì Nguyễn Bính dặn con gái lưu lạc kia: …càng tài sắc lắm càng oan nghiệt/ bẩy nổi ba chìm với nước non/. Và nhất là phải:
“… Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ
Nghèo lắm con ơi; bạc lắm con .”


___________________________________________________



( còn tiếp ... )


THẾ PHONG

THƯ VIẾT Ở SÀI GÒN
do VĂN UYỂN xuất bản và phát hành

Điạ Chỉ Liên Lạc Mua Sách :
Nhà xuất bản VĂN UYỂN
PO Box 1882
San José, Calofornia 95109, USA
Email: ttbg@sbcglobal.net


Hính Ảnh : Tư liệu của nhà văn Thế Phong


© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ




TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC