Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



ĐỐI THOẠI VĂN CHƯƠNG





Chương Hai

ĐỐI THOẠI THÁNG GIÊNG


36. Nguyễn Đức Tùng:

Cảm ơn anh đã cho biết thêm những chi tiết rất hay về dòng họ văn học Nguyễn Tường. Thật tiếc nếu ở Cẩm Giàng hiện nay không còn ai quyến thuộc. Hình như hầu hết đã vào Nam và sau này qua định cư ở Hoa Kỳ. Trong văn học miền Nam, các nhà văn Duy Lam, Thế Uyên, cháu gọi Nhất Linh bằng cậu ruột, cũng rất nổi tiếng. Nhưng anh nói đúng, thế hệ sau không thể bằng thế hệ trước; mặc dù thời nhỏ tôi rất yêu chất văn lãng mạn bi phẫn của Thế Uyên, chất hài hước nhân từ của Duy Lam. Những năm cuối 1990, tình cờ trong một thư viện ở Calgary, tôi có đọc một cuốn sách của Nguyễn Tường Bách.

Tác giả là em trai kế của Thạch Lam, con út trong gia đình, tốt nghiệp bác sĩ ở trường Y khoa Hà Nội và hoạt động về văn học báo chí một thời gian ngắn trước 1945. Ông thoát ly qua Trung Quốc rồi lập gia đình với một phụ nữ Trung Quốc, chứng kiến nhiều cảnh thăng trầm, sống ở đó cho đến cuối đời mới đi định cư ở Mỹ. Cuốn sách có tên Trên sông Hồng cuồn cuộn, dày sáu hay bảy trăm trang, như một hồi ký giá trị về thời kỳ sôi động 1945.

Đến nay tôi vẫn còn nhớ một đoạn ở chương cuối, như một tiếng khóc được nén lại, cố gắng thuộc lòng đoạn văn ngay trong lần đọc thứ hai ở thư viện, vì mùa hè ấy tôi sắp đi xa Calgary, linh cảm còn lâu mới trở lại.

“Vòng vây đã xiết chặt gần quá rồi. Đêm nay là đêm cuối còn có thể nằm trên mặt đất của nước mình. Dị quốc gần, gần quá. Chỉ vài chục bước lội bì bõm trên những hòn đá cuội nhẵn lì là được, dễ lắm.

Nhưng như thế là giã từ đất nước, quê hương, giã từ tất cả những gì thân yêu nhất với bao ngọt bùi cay đắng đã ăn sâu vào linh hồn ta, da thịt ta từ lúc còn thơ đến tuổi trưởng thành. Không, không thể nào như thế được.”

Xin lỗi tác giả nếu tôi ghi không đúng lắm. Nhưng thôi, chúng ta chuyển qua chuyện khác. Câu trước anh vừa nhắc đến Xuân Diệu và Thế Lữ.

    Tôi là con chim đến từ núi lạ
            Ngứa cổ hót chơi
            Khi gió sớm vào reo um khóm lá
            Khi trăng khuya lên ủ mộng xanh trời
            Chim ngậm suối đậu trên cành bịn rịn
            Kêu tự nhiên nào biết bởi sao ca
            Tiếng to nhỏ chẳng xui chùm trái chín
            Khúc huy hoàng không giúp nở bông hoa
            Hát vô ích thế mà chim vỡ cổ
            Héo tim xanh cho quá độ tài tình
            Ca ánh sáng bao lần dây máu đỏ
            Rồi một ngày sa rụng giữa bình minh

Trên tờ báo Tuổi ngọc ở miền Nam trước đây, trong bài viết nhan đề Sa rụng giữa bình minh, tưởng niệm Quách Đàm, nghệ sĩ ngâm thơ, Duyên Anh đã nhắc đến những câu thơ đẹp và trong suốt như mơ của Xuân Diệu, đến nay tôi vẫn nhớ, mặc dù có thể không chính xác.

Anh từng khá gần gũi với nhà thơ. Nhân nói về thơ tình, anh nghĩ thế nào về Xuân Diệu?

Trần Nhuận Minh:

Có người gọi Xuân Diệu là “ông hoàng của thơ tình”. Tôi nghĩ không biết gọi thế có đúng không? Ông có hai giai đoạn sáng tác khác hẳn nhau. Trước năm 1945, ông là một nhà thơ, ai đọc ông cũng bị thơ ông chinh phục. Mà hầu hết là thơ tình. Tôi đọc thơ tình ấy của ông lại chỉ thấy thơ, thậm chí thơ hay, thơ của một nhà thơ rất có tài, có tài hơn người, chả nghĩ nó là thơ tình.

Sau năm 1945, ông là một nhà thơ công dân, làm thơ như làm nhiệm vụ công dân đối với đất nước. Điều ấy rất quý và rất đáng kính trọng. Còn thơ tình thì ông làm xen kẽ, như trổ ra mấy cái lỗ thông hơi cho thoáng cái căn nhà của thơ ông mà thôi. Sau đó, ông viết thơ tình nhiều hơn, đủ các tình huống. Ông nói với tôi là ông muốn làm một “bộ từ điển tình yêu bằng thơ”, xếp theo các hạng mục tình yêu, từ thăm dò, tìm hiểu, tán tỉnh, hỏi, cưới, sinh con, giận dỗi cãi cọ, rồi lại yêu nhau, kể cả chuyện sinh hoạt giường chiếu, rồi về già, yêu nhau lúc già… Tóm lại là toàn bộ quá trình. Đến khi ông mất, việc ấy đã không thực hiện được.

Bây giờ đọc lại những bài thơ tình ấy của ông, tôi cảm thấy là ông “chế tạo” ra nó nhiều hơn là ông viết nó từ trái tim đang yêu của mình. Tôi rất nhớ một lần Chế Lan Viên nói về thơ tình Xuân Diệu, trước mặt Xuân Diệu, có tôi ngồi hóng chuyện ở đó. Chế Lan Viên nói: người ta bảo thơ tình Xuân Diệu “độc đáo” thì đúng quá rồi. Bởi vì không ai yêu như Xuân Diệu cả. Đàn ông không ai yêu như thế, đàn bà không ai yêu như thế, thanh niên không ai yêu như thế và ông già cũng không ai yêu như thế… Sau đó Chế Lan Viên nói một câu rất tục mà tôi không tiện nêu ra đây. Xuân Diệu bực lắm mà không làm gì được. Vài lần được chứng kiến những cuộc “giao tranh” như thế, tôi thấy Chế Lan Viên cực kỳ thông minh, và hơi cay nghiệt, còn Xuân Diệu thì lúc nào cũng “thua trận”, bực dọc lắm, nhưng cứ ậm à ậm ừ…

Trong bản tham luận đọc tại hội thảo khoa học của Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, tổ chức tại thành phố cổ Hội An (tỉnh Quảng Nam) ngày 4 và 5/8/2009, có đoạn tôi viết về thơ tình Xuân Diệu. Tôi xin trích lại để bạn đọc tiện theo dõi:

Một điều thấy rất rõ là thơ hiện nay đã khác rất xa với thơ trước đây. Những năm ấy, thơ chỉ nói về cái cộng đồng, gần như loại bỏ hoàn toàn cái cá nhân, kể cả cái cá nhân rất chính đáng, như tình yêu, cũng không thể có được một phút hoàn toàn im lặng trong thanh vắng dành riêng cho hai trái tim. Nhà thơ Xuân Diệu mà nhiều người cho là ông hoàng của thơ tình, có hai câu thơ nổi tiếng (trong bài thơ có tên là Cầm tay): Một tuần công việc tạm xong / Cầm tay chủ nhật hoà trong phố người… Tôi nhớ, hai câu này, đã được Xuân Diệu dùng làm đề từ cho cả tập thơ tình của mình và tập thơ tình ấy, cũng có tên là Cầm tay, đủ thấy nó có vị trí như thế nào trong quan niệm về thơ tình của Xuân Diệu. Hai câu thơ rất được hoan nghênh, nhưng tôi tin không một trái tim đang yêu nào, dù ở thời điểm đó, công nhận là nhà thơ thân yêu của mình đã viết cho chính mình. Bởi trai gái yêu nhau, ngay cả ở thời chống Mỹ ác liệt nhất, cũng không phải chờ đến ngày chủ nhật, khi công việc tạm xong mới cầm tay nhau, và khi đã cầm tay nhau rồi, chả ai muốn đi vào phố có rất đông người, để họ trông thấy và chỉ trỏ về cái sự cầm tay nhau của mình. Xuân Diệu đã nói theo cái ý rất chủ quan của ông, dù có thể chính ông cũng biết, điều đó không có trong thực tế. Theo tôi, đấy không phải là thơ tình.

Nhiều bài thơ tình khác của ông cũng có cái cảm giác do ông “chế tạo” ra bằng tài nghệ hơn người của mình. Có cái gì như thế mà không phải như thế.

Nhớ Xuân Diệu, tôi chỉ nhớ những bài thơ viết trước năm 1945 của ông.

37. Nguyễn Đức Tùng:

Câu cuối cùng của anh “nhớ Xuân Diệu, tôi chỉ nhớ những bài thơ viết trước năm 1945 của ông” là một nhận định quan trọng. Đến nay hình như tôi ít được nghe ai nói một câu khẳng định rõ ràng như thế về Xuân Diệu. Nó có ý nghĩa lớn về văn học.

Trần Nhuận Minh:

Xuân Diệu làm thơ nhiều, chỉ một hoặc hai năm, ông lại cho in một tập thơ dầy cộp. Nếu chỉ tính về số lượng, ở thể loại thơ, có lẽ ông lập được kỷ lục xuất bản đấy. Và ở thời ấy, bao cấp toàn bộ việc in ấn và phát hành hàng chục nghìn bản, được như ông…, sau Tố Hữu, có lẽ cũng chỉ có một mình ông mà thôi. Nhưng Tố Hữu thì số tập thơ xuất bản không nhiều như ông. Ông tự ví mình như gà đẻ trứng: Cục tác, cục tác!... Đẻ trứng này, tôi còn trứng khác…

Những tập được chú ý hơn cả của ông là Riêng chung, Mũi Cà Mau - Cầm tay, Tôi giầu đôi mắt…, trong đó có những bài nổi tiếng thời chống Pháp như Làng Còng, nổi tiếng thời chống Mỹ như Mũi Cà Mau, Ngói mới, Quả sấu non trên cao… Chưa kể những bài thơ thuần tuý chính trị mà hiện nay không mấy ai nhắc đến khi bình hay giới thiệu thơ Xuân Diệu, nhưng ở thời ấy, đã có những đóng góp rất lớn cho công tác tư tưởng của đất nước. Ông là tác giả những câu thơ viết về đế quốc Mỹ: "Nếu để cho chúng mày lăng loàn tàn ác, thì không còn có trời có đất gì nữa à?" (Xuân Diệu - Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn học, 2006, trang 659)... Hay nói về nối tiếp truyền thống các thế hệ: "Con của chúng con lại đẻ ra con của chúng" (Xuân Diệu - sách đã dẫn, trang 449)… Tôi nhớ Bùi Giáng cũng có nhiều câu thơ kiểu “đặc biệt” như vậy, tất nhiên hàm lượng nghệ thuật khác nhau. Đây chỉ nói về sự “đặc biệt”. Hầu hết các tập sách, Xuân Diệu đều tặng tôi và tặng Khoa, mỗi người một tập riêng. Cũng như thơ tặng của Sóng Hồng (Trường Chinh), Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh…, các tập thơ và phê bình thơ của Xuân Diệu tặng tôi, cùng nhiều nhà thơ nhà văn khác, tôi đều rất quý, đọc xong rồi cất giữ rất cẩn thận và hiện vẫn còn lưu nguyên vẹn.

Công bằng mà nói, thơ Xuân Diệu sau năm 1945 không hay bằng thơ trước đó của ông, đến nỗi khi chọn Tinh tuyển thơ Việt Nam thế kỷ XX, ban tuyển chọn của Hội Nhà văn Việt Nam gồm bốn nhà thơ và ba nhà nghiên cứu phê bình văn học, trong đó có tôi, do nhà thơ Bằng Việt làm trưởng ban, thảo luận nhiều lần, cân nhắc kỹ lưỡng, cuối cùng chọn ba bài của ông đều là thơ viết trước năm 1945.

38. Nguyễn Đức Tùng:

Xuân Diệu đến với cách mạng hoàn toàn tự nguyện. Theo những tài liệu tôi được đọc, ông đã sống vui, hào hứng, và đã được chế độ đối xử tốt. Trong những giai đoạn khó khăn nhất ở miền Bắc, trong khi mọi người có thể không đủ ăn đủ mặc, có vẻ như ông đã có một cuộc sống không đến nỗi khổ sở về vật chất. Về vụ Nhân văn giai phẩm, ngay từ những năm 50, Xuân Diệu đã, và cùng với Chế Lan Viên, Huyền Kiêu, Tô Hoài, Nguyễn Công Hoan… đứng hẳn về lập trường cứng rắn của Tố Hữu. Có thể nói Xuân Diệu là một người tham gia con đường “văn chương cách mạng” tự nguyện.

Tôi tự hỏi tại sao cũng tự nguyện mà về mặt sáng tác, thì Tố Hữu có thể làm thơ hay trước và sau 1945, Chế Lan Viên cũng viết được một số tác phẩm có giá trị, mặc dù không nhiều, trong thời gian 1945-1975 và đến cuối đời thì để lại các tập thơ di cảo rất lớn lao - mặc dù phần nhiều chưa hoàn tất và các vấn đề văn bản học theo tôi còn rất nhiều vấn đề - ngay Huy Cận cũng có một vài bài hay, mặc dù còn lâu mới bằng được thời gian trước 1945, mà Xuân Diệu về sáng tác thơ thì gần như không có gì?

Trần Nhuận Minh:

Về Nguyễn Công Hoan, hình như không có vai trò “đặc biệt” gì trong vụ Nhân văn giai phẩm. Về Xuân Diệu, anh nói đúng. Ông đến với cách mạng hoàn toàn tự nguyện và hồ hởi, tận tâm. Nói thơ Xuân Diệu sau năm 1945 về sáng tác, “gần như không có gì”, là một nhận xét thật “dễ sợ”. Trong suy nghĩ, sáng tác, nghiên cứu phê bình, nói chuyện thơ, tất cả đều nhất quán. Có lẽ vì hồ hởi tận tâm, nên Xuân Diệu đã tự nguyện cắt đứt hoàn toàn, có thể nói là tuyệt đối, với chặng đường thơ cũ mà thành tựu từng vang dội lẫy lừng. Trong các nhà thơ nhà văn tiền chiến, tôi thấy chỉ có Xuân Diệu, Hoài Thanh và Nguyễn Tuân, là quyết liệt từ bỏ mình đến mức sòng phẳng và phân minh như vậy. Nhưng Nguyễn Tuân thì nói thế, chứ viết không hẳn thế. Đấy là chỗ Xuân Diệu có phần khác với Chế Lan Viên và Huy Cận, lại càng khác với Tố Hữu. Tố Hữu chỉ có một con đường thẳng, ông từ cách mạng mà bước ra, nên thơ ông rất đĩnh đạc, quan phương và thơ cách mạng của ông cũng từ trong lòng ông mà ra, do đó ông viết gì về chính trị cũng làm rung động được lòng người. Chế Lan Viên, Xuân Diệu… và một số nhà thơ tiền chiến khác là từ ngoài mà bước vào, có bước đi còn lo lắng, rón rén, cẩn trọng… vừa đi vừa “nhận đường” (chữ của Nguyễn Đình Thi)… vì thế, giữa thơ và cách mạng, dù sao vẫn có một khoảng cách, khoảng cách đó dài hay ngắn là tuỳ từng người. Do đó, có người lấy lòng mình lấp vào khoảng cách đó không được, thì lấp bằng ý chí, mà ý chí thì không phải là thơ rồi. Xin lưu ý rằng, vào thời điểm đó, thơ không “vị nghệ thuật”, đã đành rồi, thơ cũng không “vị nhân sinh” như hai nhà văn Hoài Thanh và Hải Triều từng tranh luận trước kia. Bây giờ thơ là “vị cách mạng”. Tất nhiên, cách mạng không mâu thuẫn với dân sinh, nhưng dẫu sao, cũng không phải là dân sinh. Lúc ấy, cách mạng không chỉ là nội dung mà còn là mục đích của nghệ thuật. Nói ra điều này, hoàn toàn không hề có ý ca ngợi hay phê phán, mà tôi chỉ cố gắng tìm hiểu cho đúng, hướng đi đã từng tồn tại một thời kỳ khá dài của thơ mà thôi. Cũng xin nói thêm, vào thời điểm đó, với nhiệm vụ cấp bách của thế cuộc, nếu có xác định cách mạng là mục đích của nghệ thuật, trong đó có thơ, thì cũng không phải là sai. Vì “Tổ quốc là trên hết”. Tổ quốc lúc này là cách mạng và kháng chiến chống ngoại xâm. Hoà hợp cách mạng với thơ, hay thơ với cách mạng, nói đúng hơn, hàm lượng, sự gắn bó nội tại, gắn bó của cõi lòng nhà thơ, giữa thơ với cách mạng, vào thời điểm khá dài ấy, là điều dễ thấy, để ta phân biệt thơ Tố Hữu với thơ của các nhà thơ khác cùng thời với ông. Chế Lan Viên, Huy Cận… luôn cố gắng bổ sung mình, làm mới mình, dù rất chậm chạp (Chế Lan Viên chỉ viết được ít bài còn Huy Cận dường như không viết gì… suốt những năm chống Pháp) nhưng cả hai ông, đều không từ bỏ hoàn toàn mình. Còn Xuân Diệu thì khác. Xuân Diệu vào cuộc ngay và vào được ngay từ ngày đầu tiên của cách mạng. Và chúng ta có một Xuân Diệu hoàn toàn mới. Vâng, tôi xin nhắc lại, một Xuân Diệu hoàn toàn mới. Sau Quốc khánh 2/9/1945, ngày 30/11/1945, Xuân Diệu đã có Ngọn quốc kỳ, một tráng khúc nồng nhiệt ca ngợi lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc. Đầu năm 1946, Xuân Diệu lại có bài thơ dài Hội nghị non sông, ca ngợi Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Phải ghi nhận khả năng chuyển hóa nhanh, sự nhạy bén, lòng tận tâm của ông đối với chế độ mới.

Trích một đoạn trong Ngọn quốc kỳ để thấy bước chuyển biến mới, rất đáng quý của Xuân Diệu:

Lũ xâm lăng luồn lỏi kéo binh sang

Tức mặt đất rầm tiếng chân mãnh thú

Cậy súng ống, giở trò gian tặc cũ

Chúng quyết đem thời Trung cổ về đây!

Lập gươm dao, roi vọt với tù đày

Lập trở lại luật côn đồ bạo ngược!

- Ôi năm cánh sao vàng trên đất nước

Đang cười bay, bỗng lặng giữa trời cao

Thân rướn lên như căng thẳng buồm đào

Rồi sắc đỏ chuyển sang luồng tức bực

Trong gió bão, cả thân cờ thét ngược:

Tiến lên! Tiến lên! Đoàn Việt tiến lên!”

Ngọn quốc kỳ in trong Tuyển tập thơ Việt Nam 1945 – 1960 (Nhà xuất bản Văn học, 1960) do Xuân Diệu tham gia ban tuyển chọn và trực tiếp viết Lời giới thiệu.

39. Nguyễn Đức Tùng:

Dù vốn thích thơ Xuân Diệu, tôi cũng khó mà cho rằng những câu trên đây là những câu thơ xuất sắc. Một người hồ hởi phấn khởi như thế, đi theo cách mạng từ ngày đầu, mà tôi tin là với tấm lòng chân thật, nhưng viết ra những câu thơ như trên đây là một điều đáng để cho các nhà thơ và các nhà phê bình hiện nay phải suy nghĩ.

Tài hoa ngôn ngữ của:

Đây mùa thu tới! Mùa thu tới!

Với áo mơ phai dệt lá vàng

Đi đâu mất hết rồi? Mà có ai bắt ép ông đâu, Xuân Diệu tự nguyện kia mà?

Trần Nhuận Minh:

Ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy, cũng là công cụ của tư duy. Khi tư duy đã thay đổi thì ngôn ngữ cũng phải thay đổi theo. Đó là lẽ thường.

Nhân đây, mời các bạn đọc thêm một bài thơ rất tiêu biểu khác, để thấy sự mới hoàn toàn (tôi chỉ nói mới mà thôi) trong tư duy và hệ thống ngôn ngữ của thơ Xuân Diệu.

LÀNG CÒNG

Sớm nay xa cách làng Còng,

Bước đi một bước, trong lòng mến yêu.

Làng Còng vất vả deo neo,

Tô đong, thóc rẽ bao nhiêu căm thù.

Nông dân lao động bốn mùa,

Trồng bông, bón mía, lại vừa tỉa ngô.

Mùa thường ngập lụt chẳng no,

Chiêm thời thỉnh thoảng mất khô một kỳ.

Tháng ba hái củi nặng nề,

Tháng mười kéo mật đêm khuya thức ròng.

Quay xa biết mấy trăm vòng,

Còm lưng bà mẹ trên khung cửi dài.

Nắng hồng chưa kịp sớm mai,

Lưới, nơm, người đã ngâm ngoài ruộng chiêm.

Làm mà nhà rách vách lem,

Vì chưng địa chủ nằm êm mấy toà!

Làng Còng phát động trải qua,

Cây rung đất chuyển như là mùa xuân.

Mặt người lao động nông dân

Sáng tươi gạt hết mấy lần mây đen.

Lửa hờn nhen nhúm đêm đêm,

Thác căm hờn đã đè trên kẻ thù,

Tôi về hai tháng không lâu,

Cùng nhau bát mẻ, chung nhau chiếu sờn.

Hạt cơm ăn của bà con

Là tình, là nghĩa, là ơn thấm nhuần.

Tay anh tôi nắm, tôi cầm,

Khổ xưa gạn kể, đau ngầm phanh phơi.

Khóc chung nước mắt nghẹn lời,

Cười chung sung sướng với người nông dân.

Thuộc đường, thuộc ngõ quen chân,

Ớt cay, mắm mặn, là dân làng rồi,

Mẹ nhìn con bước xa xôi,

Con nhìn mẹ khuất trên đồi lá xanh.

Sớm nay xa cách lều tranh,

Tưởng như khúc ruột còn quanh làng Còng.

11-1953

40. Nguyễn Đức Tùng:

Cũng cương quyết làm mới mình, nhưng Hoài Thanh và Nguyễn Tuân, những người mà anh nhắc đến, có gì khác với Xuân Diệu?

Trần Nhuận Minh:

Cũng muốn vì cách mạng mà làm mới hoàn toàn mình, tương tự như Xuân Diệu, nhưng Hoài Thanh và Nguyễn Tuân có những bước đi khác hẳn nhau. Xin nói trước về Hoài Thanh. Hoài Thanh cũng có một quyết tâm thay đổi mình hoàn toàn để chúng ta có một Hoài Thanh mới, đi qua hai cuộc chiến tranh. Tác phẩm xuất sắc nhất của ông, Thi nhân Việt Nam, viết xong tháng 11 năm 1941. Trong suốt thời gian dài đến 26 năm (1951 – 1977), ông đã nhiều lần tự phê phán nghiệt ngã và lớn tiếng ruồng bỏ.

Năm 1977, Hoài Thanh viết về sai lầm của Thi nhân Việt Nam: “Sai lầm không chỉ ở chỗ đã đề cao quá đáng nhà thơ này hay nhà thơ nọ. Có thể nói toàn bộ sự đánh giá ở đấy là sai, vì sai từ gốc sai đi. Ngay cả những đoạn có vẻ đúng, thật ra vẫn là sai và sai về căn bản” (Toàn tập Hoài Thanh tập II, Văn học, 1999). Và ông từng khuyên bạn đọc phải tránh xa Thi nhân Việt Nam, vì nó “nguy hiểm”, “sức phá hoại” của những bài thơ “buồn nản, hay mơ mộng vẩn vơ” của các nhà thơ “tiểu tư sản” như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử… “ đều là đồng minh của giặc”, có khả năng “bám vào đầu óc như đỉa”. Do đó: “ Cần phải bôi vôi vào mà dứt nó ra” (TNM nhấn mạnh - Sách đã dẫn, tập IV).

Bây giờ, oái oăm thay, đọc Hoài Thanh, vẫn phải tìm đến Thi nhân Việt Nam, cũng như đọc Xuân Diệu, vẫn phải tìm đến Thơ thơGửi hương cho gió… Xin đừng ai cho là tôi phủ nhận thành tựu giai đoạn sau của hai ông. Không ai phủ nhận được ai cả. Chỉ có tác phẩm của Xuân Diệu và Hoài Thanh ở giai đoạn trước đã phủ nhận tác phẩm của chính Xuân Diệu và Hoài Thanh ở giai đoạn sau.

Xuân Diệu nhận ra rất sớm điều này. Theo ngẫm nghĩ của tôi, có lẽ là từ năm 1973. Bởi từ đó, khi nói chuyện với chúng tôi, đặc biệt, khi có dịp giảng giải cho tôi về cái hay của thơ, ông thường chỉ dẫn chứng ở thơ mình, trong hai tập Thơ thơGửi hương cho gió. Còn Hoài Thanh thì phải đến lúc sắp mất (1982). Trong Lời cuối sách, in ở cuối quyển Thi nhân Việt Nam, Nhà xuất bản Văn học, 2000, nhà văn Từ Sơn, con trai cả của Hoài Thanh, đã ghi lại lời của cha mình nói với mình, trước khi từ trần, tại phòng cấp cứu Bệnh viện Việt Xô (1982): Nếu không có cuốn Thi nhân Việt Nam, thì không chắc gì người ta đã công nhận cha thực sự là một nhà văn”. Mặc dù sau Thi nhân Việt Nam, ông còn xuất bản 12 tác phẩm khác, suốt hai cuộc kháng chiến, trong có có cuốn như Phê bình và tiểu luận, dày đến 3 tập, hoàn thành trong 11 năm trời (1960 – 1971).

Còn Nguyễn Tuân, tôi sẽ thưa riêng ở phần sau.

41. Nguyễn Đức Tùng:

Chúng ta nên lấy làm mừng rằng: trước khi mất, cả hai ông đều đã nhận ra điều này. Về mặt tâm linh, biết đâu đó là sự giải thoát cao nhất dành cho một người khi rời bỏ cuộc đời, để họ dễ dàng bay về những vùng trời khác. Đó là nói về cá nhân, còn về cả nền văn học, thì ý nghĩa của nó lớn hơn.

Ý nghĩa ấy còn phải được soi sáng nhiều lần từ những tiếp cận khác nhau, như thứ di sản tinh thần cha ông để lại mà người sau cần biết cách đọc và rút ra những bài học cần thiết.

Tác phẩm tiêu biểu hơn cả của Xuân Diệu sau năm 1945, không phải ở lĩnh vực sáng tác mà ở nghiên cứu phê bình, với tập Các nhà thơ cổ điển Việt Nam. Tôi được biết anh có những bài báo viết công phu về cuốn sách này, làm nhiều người chú ý, trong đó có vấn đề Hồ Xuân Hương và thơ Hồ Xuân Hương. Đó là những đề tài thú vị của nghiên cứu văn học và văn học sử.

Trần Nhuận Minh:

Cũng không hẳn chỉ về “nghiên cứu văn học và văn học sử” như anh nói. Đây chính là một trường hợp Thơ đến từ đâu: từ Hồ Xuân Hương thật và Hồ Xuân Hương giả.

Trở lại tác phẩm của Xuân Diệu. Các nhà thơ cổ điển Việt Nam gồm các bài giới thiệu sách, hay nghiên cứu của Xuân Diệu về các nhà thơ lớn của nền văn học cổ Việt Nam, từ Nguyễn Trãi tới Trần Tuấn Khải. Ông viết rất tâm huyết và công phu, câu văn giầu cảm xúc và hình ảnh, có trang cảm thấy như ông viết văn chứ không phải chỉ có làm nghiên cứu với phê bình. Đó là văn của một nhà văn, mà vẫn có nhiều phát hiện rất sắc sảo, nhiều nhận xét rất tinh vi về câu thơ, lao động thơ trong từng chữ, nêu bật được những đóng góp lớn lao của từng nhà văn vào nền văn học dân tộc với những đặc sắc riêng. Tập sách cũng thể hiện kiến thức uyên thâm và sự từng trải về nghề nghiệp của một nhà thơ lớn. Bài Đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, 2 bài trong chùm 7 bài về thơ Nguyễn Du: Chung quanh từ ngữ Truyện Kiều, Bản cáo trạng cuối cùng trong Truyện Kiều và bài Đọc thơ Tú Xương thật mới mẻ và sâu sắc.

Tuy nhiên, tập sách cũng không toàn bích, thậm chí có những lỗ hổng rất lớn mà càng về sau, càng chịu những thử thách nặng nề.

42. Nguyễn Đức Tùng:

Ví dụ?

Trần Nhuận Minh:

Ví như ông nhiệt tình tán dương bài thơ của Nguyễn Trãi, đặt bài thơ ấy trong từ trường nghệ thuật và tư tưởng của Nguyễn Trãi, hoá ra bài thơ lại của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đặc biệt, ông rất nồng nàn ca ngợi Hồ Xuân Hương, nhưng đến ba phần tư số bài thơ ông dẫn ra để suy tôn Hồ Xuân Hương là bà chúa thơ Nôm, thì ngay những người soạn thơ Nôm truyền tụng được coi là của bà, cũng cho là không phải thơ của bà. Còn tôi thì tôi cho rằng TOÀN BỘ thơ Nôm được truyền tụng coi là của Hồ Xuân Hương, đều không phải của Hồ Xuân Hương. Và suy tôn Hồ Xuân Hương (thật) là Bà chúa thơ Nôm là không có cơ sở.

43. Nguyễn Đức Tùng:

Anh có thể làm nhiều người giật mình. Anh đang chạm đến những vấn đề của lịch sử văn học.

Trần Nhuận Minh:

Đúng thế. Nhưng tôi không phải là người đầu tiên nói về vấn đề này.

Trong tập sách kể trên, Hồ Xuân Hương - bà chúa thơ Nôm là bài viết tiêu biểu hơn cả. Xuân Diệu đã viết và sửa công phu chuyên luận 83 trang này liên tục 22 năm từ 1958 đến 1980. Thực ra thì Xuân Diệu không phải là người đầu tiên đưa ra khái niệm này. Trước ông từ 8 đến 30 năm, từ năm 1950, Lê Tâm đã gọi Hồ Xuân Hương là Bà chúa thơ Nôm rồi. Bạn sẽ thấy rõ điều đó trong tập sách mỏng có tên là Thân thế và thi ca Hồ Xuân Hương của Lê Tâm, do Nhà xuất bản Cây Thông, Hà Nội, ấn hành năm 1950.

Đây là một vấn đề rất lớn và rất phức tạp, tồn tại nhiều chục năm, cũng có cơ sở để kết thúc được rồi, nếu người ta muốn kết thúc, muốn mọi sự rõ ràng. Mà bạch hóa là cái rất khó được thực hiện ở Việt Nam ta. Từ thời Lê, cụ Nguyễn Gia Thiều đã viết:

Cái quay búng sẵn trên trời

Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm

Ý cụ Nguyễn có độ bao quát lớn về triết học và nhân sinh, nhưng trong trường hợp này, tôi thấy cụ Nguyễn như nói hộ mình. Chúng ta phải ra khỏi cái sự “đi đêm” ấy, mới hy vọng bạch hóa được. Do đâu? Do cơ chế của xã hội phong kiến hoặc có tính chất phong kiến? Do thói quen...? Dù là do cái gì thì đó cũng là một thực tế. Vì vậy, cho phép tôi nói sòng phẳng và dài rộng hơn một chút.

Những bài thơ Nôm đầu tiên được coi là của Hồ Xuân Hương, xuất bản ở Hải Phòng, năm 1913, như một tài liệu không chính thức. Bốn năm sau, năm 1917, Đông Khê Nguyễn Hữu Tiến xuất bản Giai nhân di mặc, toàn những chuyện hư cấu… trong đó có chuyện Hồ Xuân Hương và thơ Hồ Xuân Hương… dĩ nhiên, cũng là những thứ “hư cấu”. Ấy thế mà có nhà phê bình lại dựa vào đó mà soạn ra Thân thế và sự nghiệp của Hồ Xuân Hương và đánh giá thơ văn của bà, như một tác giả chính thức và tác giả đó có mặt thực sự trong đời sống xã hội. Thấy bán được, các nhà xuất bản tiếp theo in thơ Hồ Xuân Hương như một tác giả thực thụ và số bài mỗi lần in một tăng lên, cuối cùng đến hơn 200 bài thì thôi, bởi không thể tăng được nữa, trong đó có khoảng 30 bài độc đáo và đặc sắc, thường có mặt trong các lần in khác nhau.

Xung quanh tiểu sử của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, có một số điều đã được thời gian bạch hóa. Đến nay thì việc bà là vợ kế (chứ không phải vợ lẽ) quan tham hiệp trấn Yên Quảng (tỉnh Quảng Ninh ngày nay) đã rõ. Bà đã hai lần từ Nghi Tàm (Hồ Tây, Thăng Long) về Yên Quảng bằng thuyền, thăm người yêu, là ông Trần Phúc Hiển, để lại 2 bài thơ tình chữ Nôm viết bên bờ sông Bạch Đằng và 5 bài thơ chữ Hán về vịnh Hạ Long, đã in trong tập Lưu Hương ký, từ năm 1814, thì cũng đã rõ. Như vậy, bà ở hẳn tại Yên Quảng từ năm 1815 (khi ông Hiển cưới bà, thường cho bà dự vào việc quan) đến khi chồng bà bị bắt (tháng 5 năm 1818) chịu án tử hình (1819), vì đã nhận hối lộ 700 quan tiền, (dù bố chồng bà là tướng Trần Phúc Nhân, đã từng giúp vua Gia Long đánh thắng Tây Sơn rồi tử trận). Việc chồng bà chết ở Yên Quảng năm 1819, cũng đã rõ, vì điều đó còn ghi trong Thực lục của nhà Nguyễn. Khi vua Minh Mạng rà soát lại các bản án liên quan đến các quan, ông rất chú ý đến vụ án quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển, ông phê vào bên cạnh: “Tham nhũng như thế mà không giết, thì lấy gì mà khuyến liêm”.

Căn cứ vào các tư liệu mới phát hiện và không còn gì phải tranh cãi này, mà người ta đã xác định được năm sinh của Hồ Xuân Hương là 1772, đặc biệt năm mất là 1822. Điều đó đã được dòng họ Hồ Quỳnh Đôi Nghệ An, quê hương bà, cho khắc vào tấm bia đá lớn, thờ ở ngay đầu làng.

Nếu năm mất được xác nhận là 1822, thì nơi mất có thể có cơ sở, là chùa Giải Oan ở Yên Tử, vì cùng một nguồn tư liệu. Theo tư liệu trên, sau khi chồng chết, để thể hiện lòng thủy chung đúng đạo nhà nho của bà, bà đi tu ở Yên Tử và khi mãn tang chồng thì chết theo chồng ở đây. Bà yêu thi hào Nguyễn Du, điều đó cũng đã rõ vì bà có thơ tặng người cũ là Nguyễn Du, có chép trong Lưu Hương ký (sẽ dẫn ở phần sau). Được biết, người bạn thân của Nguyễn Du là Phạm Quý Thích, như một tài liệu cũ đã xác nhận; có đến Yên Tử thăm bà, trước khi bà tự tử. Chồng bà (Trần Phúc Hiển) mất năm 1819, bà mất năm 1822, năm 1823, phủ Tam Đới, nơi ông Hiển từng làm tri phủ khoảng hơn 10 năm trước, mới đổi tên là phủ Vĩnh Tường. Vậy bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường mà hàng chục năm nay gán bừa cho bà là không phải của bà vậy. Ấy là chưa kể, khi chồng chết vì án tử hình, liệu có bà vợ nào nỡ khóc chồng:

Cán cân tạo hóa rơi đâu mất

Miệng túi càn khôn khép lại rồi.

Ta hiểu cán cân kia và miệng túi ấy là cái gì rồi. Khóc thế không những vô văn hóa mà còn vô cả đạo lý nữa. Ấy là chưa kể, khi phủ Vĩnh Tường có tên, thì Hồ Xuân Hương cũng đã chết rồi.

Còn mộ bà hiện nay ở đâu? Có cơ sở để nghĩ rằng, sau mấy năm hung táng ở Yên Tử, thân nhân đã đưa hài cốt bà về nơi ở của bà trước khi làm vợ kế ông Hiển, là ở Nghi Tàm, gần Hồ Tây. Có nhà nghiên cứu đã căn cứ vào bài thơ Long Biên trúc chi từ của Tùng Thiện vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm, con vua Minh Mạng, em ruột vua Thiệu Trị nhà Nguyễn, in trong Thượng sơn thi tập, mà đưa ra giả thuyết: mộ bà ở bên hồ Tây, và bây giờ có thể là ở lòng hồ, gần bờ hồ.

44. Nguyễn Đức Tùng:

Như thế có lẽ bài Khóc ông phủ Vĩnh Tường không phải của Hồ Xuân Hương, đúng như anh nói. Nhưng những bài khác thì không chắc như thế.

Trần Nhuận Minh:

Chắc chứ! Sao lại không? Căn cứ vào đâu? Vào chính ý kiến của bà Hồ Xuân Hương. Bàn về thơ bà mà lại cứ đơn phương gạt ý kiến của bà ra thì rõ ràng là rất phi lý. Trong tập Lưu Hương ký, mà theo bài Tựa của ông Tốn Phong viết, hiện vẫn còn in ở đầu sách, thì Hồ Xuân Hương nói rằng: “đây là toàn bộ thơ của cuộc đời tôi từ trước đến nay, trong đó không có bất cứ một bài nào trong số tất cả các bài thơ Nôm truyền tụng thường được gán cho bà. Như vậy, theo ý của chính bà, các bài thơ ở ngoài Lưu Hương ký đều không phải thơ của bà. Và ngày nay, chúng ta coi thơ truyền tụng kia, không phải là thơ của bà, chính là tôn trọng bà vậy. Trong bài Tựa nói trên, viết tháng 3 năm Giáp Tuất (1814), Tốn Phong nhận xét, thơ Hồ Xuân Hương "xuất phát từ cảm hứng nhưng biết dừng lại ở phạm vi lễ nghĩa. Vui mà không đến nỗi buông tuồng... thơ đúng phép mà văn hoa..." Đọc Lưu Hương ký mới thấy Tốn Phong nhận xét thơ bà như thế là rất chuẩn xác.

Như vậy, thơ thực của bà hoàn toàn xa lạ với thơ được coi là của bà.

Căn cứ vào lời Tựa của Tốn Phong: “Khi hỏi đến tên họ, mới biết cô ta là em gái ông lớn họ Hồ, đậu Hoàng Giáp, người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu”, từ đó, các nhà nghiên cứu mới bạch hóa được tiểu sử của Hồ Xuân Hương. Làng Hoàn Hậu nay là làng Quỳnh Đôi. Bà là con Hồ Sĩ Danh, chứ không phải con Hồ Phi Diễn, như các sách giáo khoa đã ghi từ mấy chục năm nay, vì Hồ Phi Diễn không có con đỗ Hoàng Giáp và làm ông lớn. Hồ Phi Diễn và Hồ Sĩ Danh là anh em con chú con bác, lại rất xa nhau, kể ngược lên đến đời thứ 10 mới cùng một ông tổ. Bà là em ruột Hồ Sĩ Đống (1738 – 1785), đậu Đình nguyên, đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, (tức Hoàng Giáp), làm quan đến Hành tham tụng, (quyền Tể tướng) tước Quận công, cùng với Bồi tụng Bùi Huy Bích, đứng đầu chính phủ thời Trịnh Sâm và Trịnh Khải. Hồ Sĩ Danh (1706 – 1783), chỉ đậu Hương cống (tức Cử nhân), không ra làm quan, nhưng có con làm to, được phong tặng chức Hàn lâm thừa chỉ, hàm Thái bảo. Như vậy là đã rõ.

Xuân Diệu còn khẳng định: đặc trưng để bà có lối thơ ám chỉ cái ấy của phụ nữ và chuyện ấy trong buồng kín, tạo thành đặc sắc, “ một không hai trong văn học Việt Nam, có lẽ trong văn học thế giới. Đó là một kỹ nữ”, mà các quyển Từ điển tiếng Việt đều ghi kỹ nữ là gái mại dâm (là làm đĩ).

45. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi xin phép dừng lại, mở ngoặc và đóng ngoặc ở đây. Nếu quả thật định nghĩa của các từ điển tiếng Việt rằng kỹ nữ là “gái mại dâm”, “là làm đĩ”, thì tôi không đồng ý, mặc dù dĩ nhiên đó không phải là nghề được xã hội tôn trọng.

Và mặc dù:

Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt

Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi

Làng chơi thì không thể đứng đắn được. Nhưng mà:

Chớ đạp hồn em! Trăng từ viễn xứ

Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn

(Xuân Diệu)

Tôi có bênh vực các kỹ nữ nhiều quá không? Nhưng xin đóng ngoặc và quay lại với câu chuyện chính của chúng ta về Hồ Xuân Hương.

Trần Nhuận Minh:

Chả riêng gì anh, tôi cũng bênh vực kỹ nữ, không phải vì thơ Xuân Diệu mà vì cô Kiều rất đáng yêu của chúng ta. Cô Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là gái làng chơi, làm nghề chơi,kỹ nữ đấy.

Nghề chơi cũng lắm công phu

Làng chơi ta phải biết cho đủ điều

Đấy là lời của mụ chủ nhà chứa Tú Bà dạy cô Kiều (chữ Nghề chơiLàng chơi là do tôi nhấn mạnh). Nhưng đó lại là vấn đề khác. Ở đây là nói về chữ nghĩa trong Từ điển, theo ý kiến “không đồng ý” của anh. Tôi nói có sách, mách có chứng. Trên bàn làm việc của tôi là quyển Từ điển tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học Việt Nam, trung tâm Từ điển học và nhà xuất bản Đà Nẵng, in năm 2002, do giáo sư Hoàng Phê làm chủ biên, có bút tích đầu trang của Thủ tướng chính phủ Phạm Văn Đồng, với sự tham gia của giáo sư Hoàng Tuệ và 15 nhà khoa học khác. Sách in lần thứ 8, có sửa chữa đợt 2, gồm 39 924 mục từ, dày 1 222 trang, khổ 14,5 x 20,5 cm, trong đó, trang 520, ghi: Kỹ nữ cv. kỹ nữ d. (cũ: vch) Gái mại dâm. (Chú thích trước ở đầu sách ghi rõ: cv. là cũng viết; d. là danh từ; cũ: vch là trong văn chương thì gọi là kỹ nữ, còn ngoài đời (hiện nay) thì gọi là gái mại dâm). Lại nói: thiên phóng sự Làm đĩ rất nổi tiếng của Vũ Trọng Phụng là viết về gái mại dâm đấy.

Trở lại với tác phẩm của Xuân Diệu, xin dẫn nguyên văn. Sách Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, phần Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm, Nhà xuất bản Văn học, 1998, có một mục viết hoa THIÊN TÀI, Kỹ NỮ, trong đó, trang 377 – 378, Xuân Diệu viết: “Tâm hồn Xuân Hương đẹp đẽ như vậy. Và do một số điều kiện sinh lý nào đó, với do hoàn cảnh gia đình xã hội ở thời đại Xuân Hương, tâm hồn ấy cũng là hiện tượng độc đáo kỳ lạ, có thể nói là một không hai trong văn học Việt Nam, có lẽ trong văn học thế giới. Đó là một kỹ nữ” (tôi nhấn mạnh - TNM). Trang 382, Xuân Diệu còn nói rõ hơn: “ Chẳng lẽ bây giờ, ta yêu cầu Xuân Hương đừng là kỹ nữ nữa? Như vậy là ta đã mất Xuân Hương”.

Đến đây thì ai cũng biết: nhà thơ Xuân Hương họ Hồ Quỳnh Đôi, Nghệ An, vợ kế quan Tham hiệp trấn Yên Quảng, từng yêu Cần Chánh điện học sĩ – Hầu tước Nguyễn Du, chú ruột vợ vua Gia Long, em ruột tể tướng Nguyễn Khản, con ruột tể tướng Nguyễn Nghiễm… bản thân bà cũng có anh con bà cả làm tể tướng, bố chồng hàm Thái bảo, một trong ba tước cao nhất của triều đình, như đã nói trên, không phải là gái làm nghề… mại dâm. Trong nghiên cứu khoa học, cứ liệu nền tảng không vững vàng, ổn định, thì các luận điểm đưa ra, chắc chắn không vững bền, dù tác giả của những luận điểm ấy là một người có uy tín rất lớn. Theo tôi, công trình rất nổi tiếng Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm này của Xuân Diệu là không có cơ sở khoa học, dứt khoát sẽ tự sụp đổ, chỉ có sớm hơn hay muộn hơn mà thôi.

Tôi đồng tình với nhận định của giáo sư Hoàng Xuân Hãn đưa ra tại Paris (Pháp) từ năm 1952 và giáo sư Trần Thanh Mại, đưa ra tại Hà Nội năm 1964, cho rằng, TOÀN BỘ thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, tất thảy đều không phải của Hồ Xuân Hương mà là thơ dân gian của các ông đồ, sáng tác và nhuận sắc cùng thời với truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn.

Để hiểu quá trình dân gian hóa thơ được coi là của Hồ Xuân Hương, tôi chỉ dẫn một bài là Chơi đu rất nổi tiếng, gọi là của Hồ Xuân Hương (1814), đã có trong thơ Lê Thánh Tông (1442 – 1497):

Bốn cột lang nha khéo trồng

Ả đánh cái, ả còn ngong

Vái thổ địa, khom khom cật

Khấn hoàng thiên, ngửa ngửa lòng…

Thơ thời Lê của Nguyễn Trãi hay Lê Thánh Tông thường có câu lục ngôn lẫn với câu thất ngôn. Tôi thấy thơ vua Lê, âm hưởng rất hay, hình ảnh rất đẹp và sang trọng. Bốn cột người đứng đầu xã (lang nha) đã cho trồng, để dựng cây đu. Ả lên chơi đu (đánh cái) rồi, ả còn chờ đến lượt mình. Chữ ngong chính là chứ ngóng biến dạng mà thành. Hai câu tả chơi đu rất chuẩn xác mà rất gợi cảm, khi cây đu quay lại, người cúi xuống là vái đất, lúc cây đu hất lên, người ngửa ra là khấn trời, vì hai tay bao giờ cũng phải giữ chặt dây đu, cao ngang mặt… Hai câu thơ rất tài nghệ đó, khi bị “Hồ Xuân Hương hoá” là lập tức có “mùi giường chiếu” ngay, để người đọc hình dung cái “chuyện ấy”:

Trai cong gối hạc, khom khom cật

Gái uốn lưng ong, ngửa ngửa lòng…

46. Nguyễn Đức Tùng:

Nhiều người thuộc thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương, những bài mà anh nói không phải của bà. Nhưng không phải ai cũng đọc Lưu Hương ký. Anh nhớ bài tiêu biểu nào không?

Trần Nhuận Minh:

Nói tiêu biểu thì cũng khó. Xin dẫn nguyên văn hai bài thơ của Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương ký có liên quan đến các ý đã trình bày ở trên. Bài thứ nhất về mối tình của bà với quan Tham hiệp trấn Yên Quảng, Trần Phúc Hiển, lúc bà về thăm ông, ở trấn lỵ Yên Quảng, nay là thị xã Quảng Yên, bên bờ sông Bạch Đằng, khi ông chưa cưới bà làm vợ. Đọc bài thơ này, các bạn sẽ thấy bà Hồ Xuân Hương yêu ông Hiển đến mức nào, chỉ lo ông Hiển không giữ lời hứa với mình:

BẠCH ĐẰNG GIANG TẠM BIỆT

Khấp khểnh đường mây bước lại dừng

Là duyên là nợ phải hay chăng

Vun hoa khéo kẻo lay cành gấm

Vục nước mà xem động bóng giăng

Lòng nọ chớ rằng mây nhạt nhạt

Lời kia nay đã núi giăng giăng

Với nhau tình nghĩa sao là trọn

Chớ có lưng vơi cỡ nước Đằng…

Các sách đều chú thích nước Đằng là một quốc gia nhỏ bé bên Trung Quốc. Theo tôi, chú thích thế là sai. Nước Đằng chỉ là nước sông Bạch Đằng khi lưng, khi vơi theo mức lên xuống của thuỷ triều. Bà Hương nhắc ông Hiển lòng dạ yêu bà chớ có như thế.

Bài thứ hai là nỗi nhớ người cũ, gửi “Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân”:

CẢM CỰU KIÊM TRÌNH
CẦN CHÁNH HỌC SĨ NGUYỄN HẦU

(Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân)

Dặm khách muôn ngàn nỗi nhớ mong

Mượn ai tới đấy gửi cho cùng

Chữ tình chốc đã ba năm vẹn

Giấc mộng rồi ra nửa khắc không

Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập

Phấn son càng tủi phận long đong

Biết còn mảy chút sương siu mấy

Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong

Nguyên tác ghi rõ Hầu người làng Tiên Điền huyện Nghi Xuân. Như vậy, Nguyễn Hầu ở đây đúng là Nguyễn Du, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, được phong tước Hầu (Du Đức hầu). Tháng 2 năm Quý Dậu (1813), vua Gia Long bổ nhiệm ông làm Cần chánh điện học sĩ, rồi cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc.

47. Nguyễn Đức Tùng:

Thơ Hồ Xuân Hương cũng có nhắc đến những người đàn ông khác như Chiêu Hổ. Theo tôi, đó là những cái tên rất cụ thể, như thế phải có nguồn gốc.

Trần Nhuận Minh:

Trong Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương, có một số bài liên quan đến Chiêu Hổ. Cặp đôi Xuân Hương – Chiêu Hổ cũng cần được làm rõ. Tập Thơ Hồ Xuân Hương, Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành năm 2008, có ba bài, xin dẫn lại hai bài:

TRÁCH CHIÊU HỔ (I)

Anh đồ tỉnh, anh đồ say

Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày

Này này chị bảo cho mà biết

Chốn ấy hang hùm chớ mó tay…

Chiêu Hổ họa lại:

Này ông tỉnh, này ông say

Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày

Hang hùm ví bẵng không ai mó

Sao có hùm con bế chốc tay…

TRÁCH CHIÊU HỔ (II)

Sao nói rằng năm lại có ba

Trách người quân tử hẹn sai ra

Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt

Nhớ hái cho xin nắm lá đa…

Bài này Hồ Xuân Hương ám chỉ Chiêu Hổ nói dối như thằng Cuội nên mới có hình ảnh “nắm lá đa”.

Chiêu Hổ họa lại:

Rằng gián là năm, quý có ba

Bởi người thục nữ tính không ra

Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt

Cho cả cành đa lẫn củ đa…

Cũng từ nhiều chục năm nay, nhiều người cho rằng Chiêu Hổ trong Thơ Nôm truyền tụng này là Phạm Đình Hổ. Cũng có ý kiến cho rằng có lẽ không phải, hoặc cao hơn, chỉ dè dặt nêu vấn đề thật khó mà tin Chiêu Hổ lại là Phạm Đình Hổ. Theo tôi, điều này hoàn toàn ngã ngũ được. Chiêu Hổ hoàn toàn không phải là Phạm Đình Hổ (1768 – 1839).

Phạm Đình Hổ, có tên chữ là Tùng Niên và Bình Trực, tên hiệu là Đông Dã Tiều, người làng Đan Loan huyện Đường An, nay là huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương. Ông sinh trong một gia đình có truyền thống khoa bảng, nhưng bản thân ông chỉ đỗ tú tài. Biết ông là người tài xứ Bắc, trong dịp ra Hà Nội, vua Minh Mạng nhà Nguyễn cho mời ông lên gặp và chỉ sau ít phút tiếp kiến, đã đặc cách phong ông làm Tế tửu Quốc Tử Giám Thăng Long – Hà Nội, tức hiệu trưởng trường, chức danh này chỉ dành cho các tiến sĩ mà bài thi, hoặc sự tiếp xúc sau đó của nhà vua với vị tiến sĩ ấy, thấy được tính uyên bác hơn người. Xin nhớ rằng, tài giỏi như Chu An, thời Trần, cũng chỉ là tư nghiệp, tức hiệu phó, để thấy sự liên tài của vua Minh Mạng và cái thoáng, rất trọng thực tài trong quan chế của nhà Nguyễn.

Phạm Đình Hổ có nhiều trước tác, nhưng nổi tiếng nhất là Vũ trung tùy bút, tác phẩm duy nhất nói về mình, về chuyện đời mình, cho thấy ông là một ngưởi “trầm lặng, mực thước, khắc khổ, nhạt nhẽo”, đặc biệt, ông “rất ghét thanh sắc, nghề cờ bạc, và những chuyện rủ rê chơi đùa”. Ai nói những điều ấy thì ông “bịt tai lại, không muốn nghe” - lời Phạm Đình Hổ - thì không thể có chuyện ông (quan Tế tửu - hiệu trưởng - Quốc Tử Giám Thăng Long Hà Nội) là tác giả của các bài thơ trên, lại “ghẹo nguyệt giữa ban ngày”, cho Hồ Xuân Hương, “Cho cả cành đa lẫn củ đa”, và chửi đời rất sảng khoái theo kiểu lưu manh: Rày thì đù mẹ cái hồng nhan…(ở bài thơ khác) và Hồ Xuân Hương, một nhà thơ “đúng phép mà văn hoa” bao giờ cũng biết “dừng lại ở phạm vi lễ nghĩa” (tựa thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương ký), cũng không thể là tác giả của những bài thơ trên: Chốn ấy hang hùm chớ mó tay… Như vậy lại càng rõ. Đây là chuyện hư cấu của văn học dân gian.

Phạm Đình Hổ nói, suốt đời ông, ông chỉ có “mỗi một cái tội là nghiện… nước chè”, chủ yếu là do ông tự pha lấy cho mình. Xin nhớ cho, Bộ Luật Gia Long thời Nguyễn ghi rõ: “Phàm quan văn võ ở đêm với con hát, hay đem con hát vào tiệc rượu, phạt 60 trượng”, nghĩa là giải ra công đường, lột mũ áo, đánh cho 60 gậy rồi đuổi về vườn.

48. Nguyễn Đức Tùng:

Theo tôi, Phạm Đình Hổ rất giống Trần Nhuận Minh, hoặc là ngược lại.

Nhưng tôi thích nhất là câu trích dẫn của anh liên quan đến Bộ Luật Gia Long.

Nếu nhà nước hiện nay đem bộ luật này ra áp dụng, sẽ có nhiều người đau khổ, đặc biệt nhất là các quan chức và các nhà thơ.

Trần Nhuận Minh:

Anh nói tôi rất giống Phạm Đình Hổ là tôi rất khoái chí đấy. Riêng tôi thì chắc chắn không hề hấn gì. Nhưng tôi cũng buồn và “phản đối” việc đưa điều luật “cổ lỗ sĩ” này ra “áp dụng”, không chỉ với các quan, nguy to đã đành, mà còn với các nhà thơ, cũng rắc rối lắm, bởi những người trẻ trung, đẹp giai và rất đáng yêu như anh và các bạn khác của anh, cũng là của tôi, rất có thể sẽ được vinh dự nhận thưởng… 60 hèo.

49. Nguyễn Đức Tùng:

Có thể thấy rằng anh quan tâm đến vấn đề Hồ Xuân Hương đã lâu, bởi những dẫn giải chi tiết, công phu và có tính thuyết phục. Tôi hy vọng các nhà nghiên cứu văn học sẽ quan tâm nhiều hơn.

Trần Nhuận Minh:

Xin nói thêm: tên tập thơ duy nhất của Hồ Xuân Hương là Lưu Hương ký.

Theo giáo sư Trần Thanh Mại, thì chữ Lưu có bộ ngọc ở bên, chỉ quê hương Quỳnh Lưu, không phải là lưu biệt hay lưu truyền, còn Hương là tên bà. Vậy đây là thơ của người Quỳnh Lưu tên là Xuân Hương, đã được (ghi lại). Đặc biệt, giáo sư Trần Thanh Mại khẳng định: “Lưu Hương ký là một tài liệu chân chính, đáng tin cậy, và trong trường hợp này, không thể có vấn đề, có kẻ nào đó muốn chơi khăm, làm ra tài liệu giả mạo để đánh lạc hướng nghiên cứu của chúng ta”. (Lưu Hương ký và lai lịch phát hiện nó - Trần Thanh Mại, toàn tập, tập III, Nhà xuất bản Văn học, 2004).

Cũng xin nói thêm: Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 26. Năm ấy, có 13 tháng, vì nhuận tháng 2. Đối chiếu với dương lịch Gregorius là ngày 03 tháng Giêng năm 1766 (hơn Hồ Xuân Hương 6 tuổi), chứ không phải tháng 12 năm 1765 như đã từng ghi trong sách giáo khoa, Từ điển văn học và các sách danh nhân có tiểu sử của ông.

Như vậy, có một Hồ Xuân Hương có thật, quan phương, hoàn toàn xa lạ với chân dung nữ sĩ bình dân, từng được mô tả trong văn học sử là mắt lá răm, mặt rỗ huê, thường ngồi bắc chân chữ ngũ, châm chọc mọi người với hàng chục bài thơ, hầu hết các bài đều có những câu ám chỉ chỗ kín của phụ nữ và chuyện buồng kín, được viết với sự háo hức, bí ẩn đầy đam mê, thường thấy trong “thơ truyền tụng Hồ Xuân Hương”, là sản phẩm của đám mày râu chúng ta, chứ cùng giới nữ, họ không thấy “cái đó” của họ có ma lực gì mà hấp dẫn thế, mà họ cũng chẳng chú ý đến mức “Trưa trật nào ai móc kẽ rêu”. Chữ “móc” nghe rất mất vệ sinh. Họ chả mô tả tường tận “cái trò này”, theo giọng “rất đàn ông” làm gì:

Hai chân đạp xuống năng năng nhắc

Một suốt đâm ngang thích thích mau

Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả

Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau…

Và cận cảnh rõ ràng được nhìn từ phía khác, từ người ngoài:

Chành ra ba góc, da còn thiếu

Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa…

Cụ thể làm sao là cái “chuyện giường chiếu” được nhìn ngắm từ trên xuống cơ thể họ:

Mỏng dày chừng ấy, chành ba góc

Rộng hẹp dường này, cắm một cây…

Giáo sư Trần Thanh Mại cho rằng: đó là thứ thơ “nhảm nhí” của đám đàn ông.

Tôi nghĩ là ông đã nói đúng.

50. Nguyễn Đức Tùng:

Cám ơn anh về những phân tích thú vị. Tôi đồng ý với ý kiến cuối cùng của anh.

Nhưng tôi nghĩ rằng trong những bài thơ còn lưu lại, ngoài Lưu Hương ký, có những bài “nhảm nhí” trong dân gian do nhiều người làm và có những bài thực sự của một tác giả duy nhất.

Việc phân biệt hai loại thơ này cần dựa trên nhiều cách nghiên cứu khác nhau: cách tiếp cận văn học sử, xã hội học, và cách phân tích thuần túy văn bản.

Việc chúng ta đang bàn luận này, lúc sinh thời Xuân Diệu, người gọi Hồ Xuân Hương là Bà chúa thơ Nôm, có biết đến không?

Trần Nhuận Minh:

Xin thưa ngay là có.

Như trên tôi đã nói, người đầu tiên vinh danh Hồ Xuân Hương là Bà chúa thơ Nôm, không phải Xuân Diệu, mà là Lê Tâm, trong tập sách xuất bản ở Hà Nội từ năm 1950, trước Xuân Diệu từ 8 đến 30 năm, nhưng sau này người ta chỉ nhớ Xuân Diệu và coi thuật ngữ đó là của Xuân Diệu.

Xuân Diệu biết rất rõ điều đó, vì các hội thảo đó, ông đều đến dự. Tất nhiên là ông không vui, nhưng sau đó, không thấy ông viết bài “cãi lại”.

Tôi rất nhớ một lần, tôi đến thăm Xuân Diệu, sau khi có một hội nghị bàn về thơ Hồ Xuân Hương ở Viện Văn học. Tôi có hỏi ông về những điều trên, ông nói với tôi, giọng rất bực dọc, tôi nhớ vô cùng chính xác và tôi chịu trách nhiệm về sự chính xác này, khi lần đầu tiên công bố ra đây: “Có một Hồ Xuân Hương giả mà cả thế giới nó sợ thật, lại không sướng hay sao. Lại còn tìm ra với tìm vào”. Như vậy, chính Xuân Diệu, người sau Lê Tâm (1950) đã bỏ ra đến 22 năm để vinh danh Hồ Xuân Hương là Bà chúa thơ Nôm, cũng đã biết đâu là thực hư trong vấn về này.

51. Nguyễn Đức Tùng:

Anh thường nhắc đến quan điểm chân chân chân, thật thật thật của Xuân Diệu?

Trần Nhuận Minh:

Xuân Diệu đề cao chân chân chân, thật thật thật là cách hiểu đơn giản của một thời, đi ngược lại với chính thành tựu thơ tiền chiến của Xuân Diệu để chúng ta ngày nay có một Xuân Diệu. Cũng bởi hiến thân cho nguyên tắc sáng tác có phần thô sơ, dù rất chân thành, tự nguyện này, mà thơ Xuân Diệu về sau mất rất nhiều bạn đọc. Nói theo cách nói của ngày hôm nay, thì đầu vào phải thực, đầu ra phải hư. Cái hư mới là cái đặc sắc của nghệ thuật. Lột tả được cái thực đã là tài nghệ. Lột tả được cái (cái ảo, cái không – đối lập với cái thực, cái ), cái ở trong tâm hồn, trong tâm tưởng, cái chỉ có thể nhìn thấy, khi nhắm mắt lại, còn tài nghệ hơn nhiều. Một họa sĩ diệu nghệ là phải: vẽ được cái không, chứ không phải là cái có; vẽ được cái ảo, chứ không phải là cái thực. Xuân Diệu thống nhất đầu vào với đầu ra, đầu vào là chân chân chân, đầu ra là thật thật thật. Phần không thành công của Xuân Diệu chính là ở chỗ đó. Đến Xuân Diệu còn thế, đủ biết làm được thơ hay khó biết nhường nào.

Khi sáng tác, nhà thơ như đã ở ngoài thời gian, ở ngoài tuổi tác. Nhà thơ cũng như người đang yêu, không có tuổi là vì vậy. Nghệ thuật nhiều khi là cái không nhìn bằng mắt, không nghe bằng tai. Tôi nghĩ vậy, nên có câu thơ:

Muốn nhìn ư

Phải nhắm mắt lại

Muốn nghe ư

Phải bịt tai lại

Những bí ẩn xanh rờn

Dạt dào tuôn chảy tự trời cao…

Phải như thế, nhà thơ mới tiếp nhận được từ trời cao, cái “bí ẩn xanh rờn”… của thi ca và cũng là của đời sống nghệ thuật.

52. Nguyễn Đức Tùng:

Nhận xét của anh về vấn đề thựctrong thơ rất hay, tôi nghĩ là có ích cho các nhà thơ khác.

Nhân bàn về thơ tình, xin mở ngoặc nói thêm cho vui, về mặt “trai gái” thì hình như thế hệ các anh ngây thơ hơn so với thế hệ chúng tôi sau này. Càng về sau tuổi trẻ càng thực tế hơn và lém lỉnh hơn chăng? Nếu anh đọc thơ tình của các bạn trẻ bây giờ sẽ thấy như thế.

Trần Nhuận Minh:

Tôi cho rằng, thơ tình của các bạn trẻ bây giờ, nông hơn thế hệ chúng tôi và thế hệ chúng tôi, đến lượt mình, cũng nông hơn nhiều so với các cụ ta xưa, chính vì sự tốt đẹp của đời sống xã hội và sự tự do yêu đương của các bạn trẻ bây giờ. Ngày xưa các cụ yêu nhau thường không lấy được nhau, do cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy. Vì thế thường yêu một người lấy một người. Nếu có dan díu với nhau, thường phải trả giá rất đắt do những quy chế phong kiến vô cùng nghiêm ngặt và tàn tệ, nhất là đối với phụ nữ, như gọt tóc bôi vôi, đeo mo vào mặt rong đi khắp làng, thỉnh thoảng đánh một tiếng thanh la để chế giễu, cảnh cáo; có nơi còn buộc người phụ nữ vào bè chuối thả cho trôi sông. Thời tôi chỉ bị đuổi việc, đánh công văn về địa phương, xấu hổ lắm, nhưng cũng chịu được. Tôi sang Nga, nghe bạn đọc một bài ca dài rất vui, về cái sự tình tang, có hai câu:

Thôi thì cứ thử xem xem

Nếu sứ nó đuổi thì em xin chuồn

Sứ ở đây là sứ quán. Đi học nước ngoài, “hủ hoá” là bị đuổi về nước. Còn các bạn trẻ bây giờ (và cả không còn trẻ) thì tha hồ, chỉ coi là sinh hoạt, lại có khách sạn, sáng trưa chiều tối đều có thể thoả mãn nhu cầu… Cho nên nhiều bài thơ tình là thơ tán gái, rủ em vào khách sạn. Có bạn trẻ nói vui với tôi rằng: trước đây Xuân Diệu làm nhiều thơ tình, vì ông ấy Chỉ biết yêu thôi chả biết gì… Bây giờ chúng em biết tất, có tất, nếu chúng em muốn… Vậy thì thơ mới phú để làm cái gì…

Thơ không có cái thôi thúc từ bên trong thì làm sao mà sâu sắc được, làm sao mà hay được.

Tất nhiên, chả ai lại muốn quay về cái thời cắt tóc bôi vôi, để làm thơ về tình yêu cho nó đủ độ sâu sắc, xót xa… Người giầu thì chả ai đi khoe của. Nơi người ta nói quá to, quá nhiều về một cái gì, cái ấy thường không có. Nhiệm vụ của thơ là phục vụ con người. Mai sau khi con người toàn thiện, toàn mỹ, toàn sung sướng… thì giả sử là không cần thơ nữa, không có thơ nữa, cũng có sao đâu…

Không phải ngẫu nhiên mà những câu thơ hay nhất viết về tự do là của các chiến sĩ trong tù, vì họ viết bằng máu.

53. Nguyễn Đức Tùng:

Anh có dự các cuộc học tập hay tập huấn về sáng tác không? Ấn tượng còn lại đến ngày nay của những cuộc học tập ấy là gì?

Trần Nhuận Minh:

Tôi có dự vài cuộc tập huấn những năm còn chiến tranh và các hội nghị hội thảo về văn học sau này, nhưng ấn tượng sâu sắc còn lại đến ngày hôm nay thì không được bao nhiêu.

Không biết có ai còn nhớ không, nhưng tôi thì không bao giờ quên được. Một người làm thơ công nhân ở vùng mỏ, xa xôi, hẻo lánh, có chỗ như còn mông muội, mới vào nghề, được may mắn tiếp xúc với các vị mình ái mộ, lòng như tờ giấy thấm, thấm hết những lời dạy bảo, thấm cả những nỗi vui buồn của ngàn xưa, thấp thoáng ở phía đằng sau của các sự tình ấy nữa, cả những câu bông đùa có ẩn ý hay không có ẩn ý của các bậc thượng thặng, lão làng; nhớ đến từng nét mặt, giọng điệu cùng âm sắc trong cách phát ngôn, hay cách xõa tóc hất tay đầy uy lực, cao sang và quyền quý của các bậc thầy, tất cả đều học lấy làm lòng, nhớ như in, và không bao giờ dám phai nhạt hay nguôi ngoai sự thành kính. Chả biết cô Kiều học nghề vành ngoài bảy chữ… khi bước chân vào lầu Ngưng Bích thế nào, chứ tôi thì tôi học vô cùng chu tất, với học phí mà tôi đã nộp, là đánh cược cả cuộc đời của mình cho trang viết, khi tôi đặt chân vào Hội Nhà văn Việt Nam, để hy vọng ở đây, ngoài những trang viết thực sự có ích cho thế hệ tôi, tôi gặp được Thúc Sinh và Từ Hải của cuộc đời mình, một người cứu mình ra khỏi vòng trầm luân của tâm hồn và cõi thế; một người đưa mình đến với cái khát vọng tự do muôn thuở của Cánh hồng bay bổng tuyệt vời… trong sáng tạo nghệ thuật…

Năm 1971, về dự lớp tập huấn ở trụ sở Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội, ông Hà Huy Giáp, Thứ trưởng Bộ Văn hóa đến giảng bài. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Đảng đoàn Văn hóa – Văn nghệ, vì Bộ trưởng Văn hóa lúc đó là ông Hoàng Minh Giám, người ngoài Đảng Cộng sản. Ông Hà nói rất sâu sắc: Cuộc đời bây giờ đẹp đến mức văn chương không cần sự hư cấu. Hư cấu là bịa đặt, là xuyên tạc hiện thực. Xã hội không còn bi kịch nữa. Nói bi kịch là “bôi đen” cuộc sống, có hàm ý xấu về chính trị. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng để thể hiện rõ vấn đề “ai thắng ai” hiện nay, ta phải cảnh giác với ba cái nguy hiểm của các ý đồ xấu, thậm chí của kẻ địch. Một là lấy cái bên ngoài để kích động cái bên trong. Hai là lấy cái ngày xưa để đả kích cái ngày hôm nay. Ba là lấy con vật để ám chỉ con người.

Dĩ nhiên, cảnh giác thế là cần thiết, nhưng tôi hơi ngại ngần khi ông nói các hoạt động sáng tác và xuất bản như thế là cách làm “thậm chí của kẻ địch”. Bởi có thời, cần diệt ai, chúng ta cứ đẩy họ sang phía địch là xong và các “thao tác” của ta sau đó rất nhẹ nhõm mà trong lương tâm không hề áy náy gì. Chính tôi đã mắt thấy tai nghe nhiều chuyện vô cùng oan khuất và đau lòng… mà tôi không thuật lại ở đây.

Ông Hà nói một câu rất gây ấn tượng: Các đồng chí hãy chú ý, trong chuyện đồng thoại, tất cả các con vật mào đỏ, đều có thể là sự ám chỉ những người cộng sản. Thế thì kinh quá. Nhà văn Xuân Trình, tác giả vở kịch Cây bạch đàn liễu bị dị nghị là có vấn đề tư tưởng…, ngồi bên tôi mỉm cười bảo: Thế thì bố ai dám mô tả con gà trống đi đạp mái…

Ít lâu sau, về Hà Nội, nhà văn Xuân Trình kể một giai thoại mà tôi cho là do các nhà văn Hà Nội bịa ra, cũng có thể là sáng tác của chính nhà văn Xuân Trình, rồi gán cho nhà văn Nguyễn Tuân. Tôi thường thấy thế, bởi cụ Nguyễn như là một biểu tượng cao đẹp cho khí khái sĩ phu Bắc Hà vẫn còn rất đậm trong lòng các nhà văn. Các nhà văn thường mượn cốt cách và trí tuệ của cụ (vì với cụ thì vô can) mà bộc lộ tư tưởng của mình, chứ nhiều câu chuyện về cụ không hẳn đã có thật. Xuân Trình kể: Cụ Nguyễn đến nhà ông Hà Huy Giáp, thấy ông Hà đang cắt tiết con gà trống có mào đỏ để đãi khách, cụ Nguyễn kêu to lên rằng: Ới ông Hà ơi, thế ra hôm nay, ông đang tâm cắt tiết đảng viên cộng sản của tôi đấy à…

Có nhà văn cho rằng, hàng chục năm, ta đã mất mùa chuyện đồng thoại là do ý kiến chỉ đạo này của ông Hà Huy Giáp. Còn nhớ Văn Ngan tướng công của nhà văn Vũ Tú Nam đã bị phê phán nặng nề như thế nào. Các nhà văn do đó đều ngại viết chuyện đồng thoại. Có người cho rằng, đấy cũng là một trong những lý do để Dế Mèn phiêu lưu ký cứ ở chót vót trên cao cho đến tận ngày hôm nay… Không biết ý kiến ấy có đúng không?

Lại nhớ trước năm 1945, có cuộc tranh luận nổi tiếng giữa phái “nghệ thuật vị nghệ thuật” của nhóm Hoài Thanh và phái “nghệ thuật vị nhân sinh” của nhóm Hải Triều. Ai cũng cho rằng: quan điểm của hai nhóm này loại trừ lẫn nhau. Thực ra thì quan điểm của Hoài Thanh cũng không hoàn toàn, không thuần túy là “vị nghệ thuật” và chỉ có “vị nghệ thuật” như ông Hải Triều và các nhà phê bình sau đó đã bàn. Sau 1945, hàng mấy thập kỷ tiếp theo, ta ca ngợi những ý kiến của nhóm Hải Triều và phê phán những ý kiến của nhóm Hoài Thanh. Còn Hoài Thanh thì lại tự phê phán mình còn nặng nề hơn cả các vị kia. Thực ra thì cả hai nhóm đều nhầm và người khen nhóm này hay chê nhóm kia cũng đều nhầm cả, bởi nghệ thuật cùng một lúc “vị” cả hai cái đó. Và chỉ có hai cái đó trong cùng một tác phẩm thì tác phẩm mới tồn tại lâu dài được.

54. Nguyễn Đức Tùng:

Nhà thơ nữ Hoa Kỳ lừng danh đương thời Dorianne Laux từng tâm sự: “Tôi mang món nợ tinh thần sâu sắc đối với nhà thơ Steve Kowit, người đã truyền tình yêu chữ nghĩa của ông cho một cô gái trẻ làm nghề hầu bàn với một ít tiền thưởng của khách hàng trong túi áo đồng phục và nhiều bài thơ trong trái tim. Tôi thật là may mắn.”

Các nhà thơ mới của chúng ta tìm đâu ra một tình “thầy trò” như vậy? Họ có đủ khiêm tốn và thông minh để đi tìm thầy không, mà tìm ở đâu?

Tôi cũng tự hỏi: một nhà thơ mới viết, hay người ta thường gọi, một nhà thơ trẻ, làm thế nào để biết thơ mình hay hoặc dở, cũ hay mới.

Trần Nhuận Minh:

Tôi quan niệm có khác hơn một chút về một nhà thơ gọi là trẻ. Với tôi, thời gian cầm bút và tuổi nghề trong sáng tác thực ra không quan trọng về mặt đánh giá trẻ hay không trẻ trong văn chương.

Là một nghề, nhưng lại là nghề rất cô đơn, rất mong manh, có thể suốt đời không làm được cái điều mình muốn, nên tôi nghĩ, không ở nghề nào cần sự động viên an ủi của người đời như là nghề văn, và vì thế, cũng ít nghề nào, người đời thông cảm và thậm chí chấp nhận ở người làm nghề, sự tự tin quá đáng mà bao giờ cũng cao hơn cái năng lực thực có của anh ta. Bởi vậy, sự hiếu thắng dường như được tự nuông chiều. Anh phải có niềm tin rất ghê gớm mới đủ can đảm bước qua cái sa mạc mênh mông của trang đời, để “dấn thân” vào cái lĩnh vực mà anh mơ hồ cảm thấy là anh sẽ thất bại. Lại thêm cái đáng được đồng cảm ấy cộng vào nữa. Cho nên, người mới viết thường không tự nhận ra thơ mình dở ở chỗ nào, cũ ở chỗ nào. Các cụ bảo “vợ người thì đẹp, văn mình thì hay” là chí lý lắm, trong cách cảm nhận đầy chủ quan của người sáng tác, nhất là người được gọi là trẻ. Bằng sự học hỏi và khả năng tự kiểm soát, cùng với độ chín dần về nghề, anh sẽ tự thấy thơ anh dở ở chỗ nào, cũ ở chỗ nào. Lúc tự nhận ra cái dở, cái đó, là anh không còn trẻ nữa. Còn ở người đọc thì khác. Họ có thể nhận ra, anh không còn trẻ khi viết câu thơ đầu tiên và anh vẫn rất trẻ khi đưa in tập thơ cuối cùng. Trẻ hay không trẻ, căn cứ vào tính chuyên nghiệp của ngòi bút, chứ không phải ở màu tóc hay thâm niên trong nghề.

Tôi muốn nói thêm ở khía cạnh khác của vấn đề này là cảm xúc trẻ. Khái niệm cảm xúc trẻ khác hẳn với khái niệm trẻ hay không trẻ, tính theo tuổi nghề hay sự chuyên nghiệp của ngòi bút. Cảm xúc trẻ thường là đặc sắc của những cây bút có tài, lại bước vào nghề khi tuổi còn rất trẻ và chỉ có rất ít người trong số đó giữ được nó lâu hơn trong quá trình sáng tác của mình. Đó là cái cảm thấy rất rõ nhưng không dễ diễn đạt, nó ở trong hồn vía của câu chữ, ấy là cái mơn mởn lênh loang như ánh trăng non, thoáng nhẹ và bâng khuâng như ngọn gió thu đầu mùa, như tuyết bay những sợi mỏng đầu tiên, hoặc thảng thốt đến ngẩn ngơ như lần đầu mắt ta chạm vào da thịt người con gái ta say đắm… Nó… nó… như thế. Càng lão luyện hơn trong nghề, nó càng mất đi, và thay dần vào đó là sự chững chạc đến xơ cứng, mặc dù ý tứ có thâm hậu hơn…

Thêm một điều này nữa, thơ trẻ thường đi từ bên ngoài vào. Thơ không trẻ thường đi từ bên trong ra. Khi anh biết bắt đầu phải đi từ bên trong ra, là lúc anh không còn trẻ nữa, dù anh vẫn còn rất trẻ… tuổi.

55. Nguyễn Đức Tùng:

Mỗi nhà thơ thường có một thần tượng của mình. Thần tượng của anh là ai?

Trần Nhuận Minh:

Tôi xin thưa ngay: Nguyễn Du. Năm 1990, tôi sang thăm Liên Xô trong đoàn của Hội Nhà văn Việt Nam, ba người, rồi tôi ở lại, đi sáng tác, hai tháng sau mới về nước. Trong dịp đó, Tạp chí Người bạn đường, in một tập thơ mỏng của tôi: Trong hy vọng khôn cùng, có lời tựa của nhà thơ Nga, Iuri Konhetxki, nguyên văn như sau (Tạ Thị Loan dịch):

Tôi đã dịch thơ Trần Nhuận Minh trước khi nhà thơ đến Matxcơva, theo lời mời của Hội Nhà văn Liên Xô. Điều cảm nhận của tôi quả là không sai. Trong tâm hồn đẫm hương sắc phương Đông của nhà thơ, có sự giao lưu giữa vốn văn hóa lâu đời của nhân dân Việt Nam với nền văn hóa nhân loại, trong đó có truyền thống thơ ca Nga. Tài năng của nhà thơ đang ở độ chín. Câu thơ vừa mực thước, cổ điển, vừa phóng túng, hiện đại, yên tĩnh ở bên ngoài mà xao động ở bên trong, bình dị đấy mà cũng sâu sắc thăm thẳm đấy. Anh chạm vào nhiều điều gay cấn của cuộc sống, của thời đại, mà vẫn nhẹ nhàng thoải mái như không. Thơ anh đòi hỏi ta phải suy ngẫm, chiêm nghiệm - lối thơ này từng có truyền thống ở Đỗ Phủ và một số nhà thơ lớn phương Đông khác - về những vấn đề muôn thuở của kiếp người.

Nhà thơ Tố Hữu có lần nói với nhà thơ Phạm Tiến Duật và nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, sau đó cũng nói với nhà thơ Trần Đăng Khoa, rằng, cái ông Nga viết về Trần Nhuận Minh rất đúng và viết đến như thế là cũng hết rồi. Sau này, Phạm Tiến Duật có viết lại một phần ý kiến đó (so với thông báo đầy đủ của ông cho tôi biết, cũng giống như Nguyễn Bùi Vợi và Trần Đăng Khoa đã tin cho tôi hay) đăng trên tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam trong mục Nhìn lại tác giả văn học thế kỷ XX, số 3 năm 2005. Từ đó, một số nhà phê bình nói tôi ảnh hưởng thơ Đỗ Phủ. Điều ấy, chắc chắn không sai, nhưng tôi biết, tôi chịu ảnh hưởng sâu sắc hơn cả, là thơ Nguyễn Du, nhất là trong Truyện Kiều. Sau này, khi đã thôi nghề dạy học, ngoài 30 tuổi, tôi mới hiểu Văn tế thập loại chúng sinh và khoảng ngoài 40 tuổi, tôi mới thấm được cái sâu sắc của Bắc hành tạp lục. Một bài thơ như Bạn chơi từ thủa quàng khăn đỏ, tôi viết về mười loại chúng bạn, học mười loại chúng sinh của cụ Nguyễn, nhưng hình như không ai nhận ra, trong đó, ông giáo và người nghệ sĩ, tôi thương cảm hơn cả, vì sao, cũng rất dễ hiểu. Tôi vô cùng ngưỡng mộ cụ Nguyễn Du. Đó là nhà thơ duy nhất, càng đọc, càng ngẫm, càng thấy hay (cái hay sau lại khác hơn, mới hơn cái hay trước – nghĩa là tác phẩm hoàn toàn mở, nếu ta còn muốn khám phá tác phẩm. Trường hợp thứ hai như thế, nếu có, có lẽ chỉ có Don Quichotte của Miguel de Cervantes trong văn xuôi). Không phải ngẫu nhiên mà từ 50 năm nay, hoặc lâu hơn thế, người ta đã dùng Kiều làm một quyển sách bói. Trong số tất cả các nhà thơ cổ kim đông tây mà tôi đọc, tôi học, tôi chỉ thấy có Nguyễn Du là như vậy. Sự hay, không bị thời gian pha loãng, là phẩm chất thiên tài chỉ có trong số rất ít các thiên tài.

Tôi có bài thơ Nguyễn Du, viết khi sang thăm Trung Hoa, được in trong Tuyển tập 100 bài thơ hay thế kỷ XX của thơ Việt Nam, do Trung tâm Văn hóa Trí tuệ Việt, chọn in, tôi gửi tặng bảo tàng Nguyễn Du ở Tiên Điền, kèm theo thư riêng, có câu: “Quê hương của cụ, là mảnh đất duy nhất mà khi đi qua, không bao giờ tôi dám đội mũ”.

NGUYỄN DU

Đến đâu con cũng gặp Người

Xin dâng chén rượu giữa trời Trung Hoa

Hạc vàng một bóng Lầu xa

Hồ Nam úa ráng chiều tà hanh heo

Tiệc to thường ở nơi nghèo

Đồng ngô khô xác, mái lều gió lay

Người xưa đi sứ qua đây (1)

Bùn lưng bụng ngựa, sông đầy thuyền trôi

Cỏ cây, thành lũy khác rồi

Hoàng Hà đã cạn, thơ Người vẫn sâu

Thời nào thì cũng như nhau

Nỗi buồn ly biệt, nỗi đau dối lừa

Tiền Đường sầm sập đêm mưa

Nước âm u chảy như chưa vớt Kiều (2)2

Nghiệp Thành còn tiếng quạ kêu (3)

Lâm Tri bến cũ, cầu treo rực đèn

Sắc tài chi để trời ghen

Người đâu phải nước đánh phèn cho trong

Cõi đời đâu cũng long đong

Văn chương bạc phận, má hồng vô duyên

Bời bời những cuộc đỏ đen

Chính trường sấp mặt, đồng tiền xoay ngang…

Đặt chân lên đỉnh Thiên Đàn

Bốn bề mây trắng thu vàng lá rơi

Bâng khuâng con lại thấy Người

Vái Người, con đứng ngang trời Trung Hoa...

Cố Cung 21.9.1999

Nghiệp Thành là nơi đóng đô của Tào Tháo (155 – 220), mà đến ngày hôm nay, sau non hai nghìn năm, tiếng quạ vẫn còn kêu. Quạ chỉ kêu khi có xác người chết, chứng tỏ tính hiếu sát của Tào Tháo vẫn còn ám ảnh trong tâm hồn những người dân Trung Hoa và khách bốn phương đến thăm Trung Quốc. Nhà phê bình văn học Hữu Tuân, căn cứ vào câu thơ này mà khen tôi viết rất hàm súc, tinh lọc, điêu luyện.

Nhân đây, tôi xin mời anh và bạn đọc, đọc thêm bài thơ Dặn con của tôi. Bài thơ này được Trung tâm Văn hóa doanh nhân chọn là một trong 100 bài thơ hay thế kỷ XX. Bài thơ được biết đến rộng rãi hơn bài Nguyễn Du, vì nó được công bố trong chương trình truyền hình trực tiếp của đài Truyền hình Việt Nam tại sân Văn Miếu - Quốc Tử Giám - Hà Nội, trong Ngày thơ Việt Nam.

DẶN CON

Chẳng ai muốn làm hành khất

Tội trời đày ở nhân gian

Con không được cười giễu họ

Dù họ hôi hám úa tàn…

Nhà mình sát đường, họ đến

Có cho thì có là bao

Con không bao giờ được hỏi

Quê hương họ ở nơi nào…

Con chó nhà mình rất hư

Cứ thấy ăn mày là cắn

Con phải răn dạy nó đi

Nếu không thì con đem bán

Mình tạm gọi là no ấm

Ai biết cơ trời vần xoay

Lòng tốt gửi vào thiên hạ

Biết đâu nuôi bố sau này...

Cửa Lục Thủy 13-11-1991

56. Nguyễn Đức Tùng:

Anh có nói với tôi rằng anh rất cám ơn công cuộc đổi mới từ những năm 80. Nhờ sự đổi mới ấy mà anh hoàn toàn thay đổi. Anh còn đi xa hơn bằng cách đoạn tuyệt hẳn với dòng thơ cũ của mình, và sau này khi làm tuyển tập, anh cũng bỏ hẳn các bài thơ viết trước đó (ngoài các bài tiêu biểu làm tài liệu tham khảo).

Về mặt công khai: không kể một số nhà thơ tiền chiến thời kỳ đi theo Đảng Cộng sản đã phủ nhận, thậm chí đốt tác phẩm của mình, theo nghĩa bóng nhưng cũng có thể theo nghĩa đen, như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, thì sau này Trần Nhuận Minh có lẽ là trường hợp duy nhất, trong đó, nhà thơ đoạn tuyệt với quá khứ của mình quyết liệt như thế.

Thưa anh, đó là quá khứ nào?

Trần Nhuận Minh:

Trong số các nhà thơ tiền chiến, tôi được gần gũi nhất với Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh, sau nữa là Yến Lan, Văn Cao, Nguyễn Xuân Sanh và Lưu Trọng Lư. Nhà thơ Tế Hanh (và nhà thơ Bằng Việt) giới thiệu tôi gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam (kết nạp ngày 19/02/1982). Nhà thơ Yến Lan đã biên tập thơ cho tôi in ở Nhà xuất bản Văn học. Ông cho tôi xem bản thảo tập thơ của T.A. mà ông vừa biên tập xong, chuẩn bị giao cho thư ký đánh máy của nhà xuất bản. Tôi rất cảm phục sự tận tâm của ông, vì nhìn vào tập bản thảo, nét chữ đỏ của ông chằng chịt qua các câu thơ của nhà thơ trẻ này. Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh là hiệu trưởng trường Viết văn trẻ Quảng Bá, tôi là học trò ông, đồng thời là cán sự thơ của lớp, phó thư ký công đoàn trường, mà thư ký là nhà thơ Huỳnh Huy Phượng, thư ký công đoàn cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1970, ông bà Lưu Trọng Lư và một con trai còn nhỏ tuổi, có lẽ là nhà thơ Lưu Trọng Văn bây giờ, đã về ở cơ quan tôi một tháng. Khi ấy, cơ quan Hội Văn nghệ Quảng Ninh tiếp thu cái nhà của chuyên gia lâm nghiệp Đức (Đông Đức) rất đẹp ở trên núi cao Bãi Cháy, nhìn xuống vịnh Hạ Long. Phòng ông bà cách phòng tôi chỉ có một bức tường. Chiều, tối và các ngày chủ nhật, chỉ có phòng ông và phòng tôi có người. Bài thơ Thu Hạ Long ông viết ở đây, tôi là người đầu tiên ông đọc cho nghe khi bài thơ vừa mới viết xong. Ngôn ngữ thơ hơi cũ, với những ”Đôi hài nhè nhẹ...”, “mặt hoa rạng dần”, ”Kê trên gối đẹp tuyệt vời...”. Có đoạn thơ rất hay, tôi thuộc lòng từ dạo đó đến tận bây giờ:

Buồm bay hay cánh hải âu?

Nắng vàng thu hay nắng đầu xuân tươi?

Biển trời, em chị sinh đôi?

Thuyền trôi hay chính núi trôi bập bềnh?

Bà Lư rất chịu khó đi chợ và nấu ăn rất ngon, đặc biệt là món canh chua rất Huế, bà thường nấu dôi ra, và trước khi ăn, múc trước ra cho tôi một bát. Tôi cũng quen biết nhưng không gần gũi lắm với Hằng Phương, Hồ Dzếnh. Nhưng ảnh hưởng sâu sắc đến tôi chỉ có Chế Lan Viên, Xuân Diệu và một phần Huy Cận. Tôi cũng là người chịu ảnh hưởng rất sâu sắc của thơ Tố Hữu, nhất là ở giai đoạn đầu, trước 1986. Nhưng thông thường, khi nói về các nhà thơ tiền chiến, người ta chỉ tính các tác giả của phong trào Thơ Mới. Tôi rất kính trọng Chế Lan Viên và rất kính yêu Xuân Diệu. Chế Lan Viên rất dễ gần, nhưng gần ông mới thấy ông rất xa. Xuân Diệu cảm thấy rất xa, nhưng gần ông mới thấy ông vô cùng gần. Chế Lan Viên thông tuệ, quyền biến, thậm chí quan phương, dù tác phong rất giản dị, ông là bậc thầy mình, khoảng cách thầy trò bao giờ cũng rất rõ ràng. Tất nhiên, được là học trò của ông cũng rất vinh dự. Xuân Diệu chân thành, bộc tuệch, có gì nói ngay, xong thôi, không có cơ mưu chính trị, gần ông chỉ thấy ông là anh mình, là cha chú mình, nhưng ông có khi tự hạ xuống chỉ làm bạn mình.... Xuân Diệu, Chế Lan Viên, cùng các nhà thơ khác như Huy Cận, Tế Hanh,... đã viết khá nhiều thư cho Khoa và cho tôi. Hiện tôi còn giữ được hầu như nguyên vẹn, hy vọng dịp nào đó sẽ xuất bản thành tập, cùng với thư của giáo sư Nguyễn Lân, Nguyễn Khánh Toàn, nhà văn Tô Hoài, các nhạc sĩ Văn Cao, Phạm Tuyên, Đỗ Nhuận, các nhà thơ Pháp như Ghêra Guyôm, Clốt Pari... v.v…

Theo tôi được biết, thì Xuân Diệu và Chế Lan Viên chưa hề đốt tác phẩm của mình, dù là nói hay làm, nghĩa đen thì hoàn toàn không, mà nghĩa bóng thì hình như… cũng không. Chỉ có một người duy nhất tuyên bố rất kiên quyết và kêu gọi mọi người hãy đốt hết tác phẩm của mình để đến với cách mạng. Đó là ai, anh có hình dung được không? Tôi chắc là không. Đó chính là nhà văn... Nguyễn Tuân. Điều ấy không nhiều người biết, mà có biết cũng có người khó tin vì nó... có vẻ rất ít Nguyễn Tuân, một Nguyễn Tuân như ta vẫn hình dung. Tức là đốt Vang bóng một thời, tác phẩm làm nên tên tuổi Nguyễn Tuân cho đến bây giờ. Cũng như Hoài Thanh của Thi nhân Việt Nam. Nếu Nguyễn Tuân chỉ có Vang bóng một thời mà không có các tác phẩm khác, Nguyễn Tuân vẫn cứ là Nguyễn Tuân. Có tất cả các tác phẩm khác mà không có Vang bóng một thời thì có Nguyễn Tuân mà không có Nguyễn Tuân vậy. Đó là cảm nhận rất chân thực của tôi về tác phẩm, hoàn toàn không có vấn đề chính trị ở trong này. Bởi nói cho cùng, nhà văn nào cuối cùng cũng chỉ là tác giả của một tác phẩm mà thôi. Dĩ nhiên cũng có nhà văn in hàng chục tác phẩm, mà sau khi chết, không có một tác phẩm nào khả dĩ làm thành cái bát hương, để các thế hệ con cháu thắp vào đó một nén hương tưởng niệm. Nhưng đó lại là vấn đề khác, xin không bàn ở đây.

Năm 1972, khi Nguyễn Tuân đến giảng ở trường Quảng Bá mà tôi theo học, tôi cũng có nghe láng máng điều đó, nhưng tôi không tin lắm. Gần đây, đọc Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi của Hà Minh Đức, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội vừa ấn hành xong, quý I/2011, thì tôi tin ngay, điều đó là có thực. Tôi có độ tin cậy rất cao khi đọc những ghi chép về một số nhà văn lớn của Hà Minh Đức. Sách trên, trang 268, Hà Minh Đức ghi lời kể của Nguyễn Đình Thi, rằng, trong cuộc chỉnh huấn khóa I năm 1948, chống tư tưởng tiểu tư sản, Nguyễn Tuân bước lên bục trong hội trường mà nói rằng: “Đốt hết sách của tôi đi! Tôi không những là tiểu tư sản mà là phong kiến”. Về thời gian, cả Nguyễn Đình Thi và Hà Minh Đức đều không ghi năm nào, nhưng tôi nhớ là chính Nguyễn Đình Thi khi giảng bài cho lớp chúng tôi tại trường Viết văn Quảng bá, thì là cuối năm 1950, khi ta đã thông được biên giới với Trung Quốc sau chiến thắng Đông Khê.

Trong cuộc chỉnh huấn ấy, Xuân Diệu có tự phê phán thơ mình, cũng khá nặng nề, nhưng thái độ không quyết liệt như Hoài Thanh đối với Thi nhân Việt Nam, hay như Nguyễn Tuân với Vang bóng một thời. Nhưng Xuân Diệu cũng giống Hoài Thanh là làm mới mình hoàn toàn sau cách mạng tháng Tám. Còn Nguyễn Tuân thì không hẳn như thế.

Nhân đây, tôi xin nói thêm: Tôi rất biết ơn giai đoạn văn học 1930–1945, đã để lại cho nền văn chương dân tộc, những áng thơ hay, nếu không nói là hay nhất của các nhà Thơ Mới, với những Tiếng thu, Mấy vần thơ, Thơ thơ, Gửi hương cho gió, Lửa thiêng, Điêu tàn, Gái quê, Tinh huyết, Chân quê, Lỡ bước sang ngang... và các tác phẩm văn xuôi kiệt xuất, những Chí Phèo, Lão Hạc, Tắt đèn, Bước đường cùng, Số đỏ, Giông tố, Bỉ vỏ... rồi Vang bóng một thời Thi nhân Việt Nam. Chưa kể những Đoạn tuyệt, Đời mưa gió, Nửa chừng xuân, Anh phải sống... Có lúc, tôi chợt nghĩ: nếu không có giai đoạn văn học đó, với những tác phẩm thực sự xuất sắc như vậy, mà chúng ta bước ngay vào năm 1945; hoặc cuộc cách mạng của chúng ta thành công ngay sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, năm 1930, thì nền văn học của chúng ta sẽ như thế nào...

Tôi qua nhà Xuân Diệu nhiều lần, nhất là năm 1972 – 1973 học viết văn ở Hà Nội. Đêm 30 tháng 4 năm 1973, tôi thức qua đêm tại nhà Xuân Diệu, để sáng sớm hôm sau, 1/5, tập trung ở Ba Đình, dự mít tinh lớn, mừng Quốc tế Lao động và thắng lợi của Hiệp định Paris về Việt Nam, trong đoàn nhà văn trẻ của Hội Nhà văn. Tôi cũng đã hai hay ba lần ăn ở nhà Xuân Diệu, mà suất ăn là phở với một cái đùi gà nhỏ, để nguyên, cho vào trong cái liễn khá to, rồi cầm tay mà ăn thịt, dùng thìa múc ra mà ăn phở luôn ở trong liễn, không sẻ ra bát. Lúc đầu, tôi ngượng lắm, không dám ăn. Xuân Diệu cũng đã ăn một bữa cơm quê với bố mẹ tôi ở Nam Sách, bữa ăn, ông chỉ yêu cầu có bát riêu cá thòng đong (cá rất nhỏ, lớn hơn cái tăm tre, thường tát ra từ các vũng nước mà quê tôi gọi là vũng chân trâu), nấu với khế, “nếu chị làm thịt cá là tôi bỏ về không ăn đâu”, Xuân Diệu bảo mẹ tôi thế. Thực ra, kiếm được một bát cá riêu thòng đong con cấn vất vả hơn rất nhiều so với giết một con gà. Lại nhớ, năm 1973, học trường Viết văn Quảng Bá cùng Chử Văn Long, tôi đến nhà Long chơi. Long là bạn thơ của tôi từ thời ở Quảng Ninh. Xuân Diệu nhận Long làm em nuôi và xin cho Long được chuyển về Hà Nội. Thời đó làm được việc đó, khó lắm lắm. Lúc về, tôi qua nhà Xuân Diệu. Xuân Diệu hỏi: nó đãi em cái gì? Tôi thật thà: một con gà anh ạ. Xuân Diệu trợn mắt lên: Em là gì mà dám ăn cả một con gà của nhà nó. Đến anh còn chưa bao giờ dám thế. Em biết không, vợ nó đãi em một con gà thì sau đó, nó sẽ phải nhịn đói cả một tuần đấy. Sau này, tôi kể cho Long nghe. Long cười: Anh Diệu thường đến đưa tiền cho vợ mình, bảo là thằng Long từ Quảng Ninh gửi về, nhờ chuyển giùm. Thực ra thì đó là tiền túi của anh ấy. Long lại nói thêm: Lần ấy, Minh tặng vợ chồng mình 5 kg tem gạo, nhớ mãi đến giờ... Tôi ớ ra, thế à, mình cũng không nhớ nữa... Gần đây, đọc thư Xuân Diệu, tôi mới biết là ông đã đưa cho cô Trần Thị Duyên, cán bộ tỉnh đoàn Hải Dương, 20 đồng, người được báo chí thuở ấy gọi là “người chị tinh thần của bé Khoa” để mua cho Khoa những thứ Khoa cần thiết. 20 đồng ở năm 1969 to lắm, gần nửa tháng lương của tôi. Đọc nhật ký của cô Duyên, mới biết, cô cũng đã để cả tháng lương 47 đồng để chi cho chuyến về Hà Nội của 25 em thiếu nhi Nam Sách, trong đó có Khoa. Tôi rất cảm động.

Khác với Chế Lan Viên, Xuân Diệu rất quan tâm đến Trần Đăng Khoa, thường hỏi tôi rất tỉ mỉ về Khoa, rồi sau đó, chỉ nói về thơ mình, chỉ đọc thơ mình, rất say sưa... nhất là thơ tiền chiến trong Thơ thơGửi hương cho gió.

Tôi đến nhà Chế Lan Viên cũng nhiều lần, nhưng nhiều hơn thì vẫn là đến nhà Xuân Diệu. Có lần, rất nóng nực, Chế Lan Viên bảo tôi cứ cởi quần áo ngoài ra, cùng ông mặc quần đùi nằm trên nền nhà đã lau sạch mà nói chuyện. Đấy là lần đầu tiên trong đời, tôi nằm trần trên nền nhà lát gạch hoa. Cả Xuân Diệu và Chế Lan Viên (cùng nhiều nhà thơ, nhà văn khác) đều đã ăn cơm ở nhà tôi tại Hòn Gai do vợ tôi nấu. Lý do có lẽ là, tôi là nhà thơ nổi trội ở vùng mỏ, lại trực tiếp tham gia thành lập Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh từ năm 1967 đến 1969, rồi làm trưởng ban Thơ của Hội ngay từ khi mới thành lập (1969). Tất cả các văn nghệ sĩ bậc thầy đều có thời gian dài về Quảng Ninh, đi thực tế sáng tác ở vùng mỏ. Đó là mốt thời thượng, đi vô sản hoá, đến nơi tiên tiến, sống với người tiên tiến, mà công nhân mỏ được coi là người tiên tiến nhất lúc bấy giờ, theo chủ trương của cấp trên. Mà đã về vùng mỏ thì các vị đều qua Hội. Mà người chờ đón và tiếp các vị ở Hội là người ít nhiều các vị có biết tới, chức không cao lắm, cũng không thấp lắm, không ngại việc, tuổi cũng còn trẻ, dễ sai vặt, chưa kể tính cũng hăng hái và không lèm nhèm, ứng vào tôi là phải quá rồi. Tất nhiên, trong một số lần tiếp đón và lo toan ‘‘hậu cần’’, còn có 1 - 2 người khác nữa... Tôi phải nói kỹ đến thế, để bạn đọc thấy: cái việc tôi được làm, hay buộc phải làm, là dĩ nhiên, chứ không phải kể ra đây là để khoe khoang (có hay hớm hoặc vinh dự gì đâu) hay ‘‘đánh bóng tên tuổi’’, như người ta thường nói. Tôi báo suất cơm, chỉ thu 225 gam tem gạo mà không thu tiền, vị nào sơ ý mang thiếu tem, hoặc không có tem lẻ, thì tôi bù cho luôn, rồi trực tiếp dẫn các vị đến chỗ ngủ (trước nữa đã xảy ra sự cố: có ông cứ lẵng nhẵng theo chân, đòi bằng được tem gạo của nhà văn Nguyễn Công Hoan và nhà thơ Tú Mỡ, bị hai cụ ‘‘văng các thứ’’ ra, rồi cụ Tú liền ứng khẩu thơ ‘‘tặng’’, nghe ‘‘hãi’’ lắm...). Rồi chiều hoặc tối, các vị qua nhà tôi chơi. Có thể là xã giao. Đơn giản vậy thôi mà. Chỉ có Tố Hữu là không. Trước thì ông to quá, chỉ kính chào ông thôi cũng không đến lượt mình. Khi ông bị thất sủng, đã hai lần qua cửa nhà tôi, nhờ Doãn Đạo, một cán bộ an ninh mà tôi rất tin yêu, thông báo trước ‘‘này nọ’’, nên tôi không dám mời, nhưng tôi biết nếu mời thì lúc đó, chắc ông sẽ vào...

Cuộc đời thăm thẳm xa và thực khó lường, là nẻo đường gập ghềnh của các số phận, chả từ một ai...

57. Nguyễn Đức Tùng:

Được gần gũi các nhà thơ tài năng ngay từ thuở ban đầu, như anh và anh Trần Đăng Khoa, là một may mắn lớn. Mặc dù không phải ai cũng đồng ý thế, thậm chí có người còn nghĩ ngược lại. Tôi hiểu vì sao anh học và hiểu được nhiều, so với một số người khác thuộc thế hệ của anh. Anh có kỷ niệm gì với các nhà thơ lớp trước không?

Trần Nhuận Minh:

Đúng thế. Mình học được nhiều. Ngồi cùng xe, đi hằng ngày, ăn cùng mâm, biết bao điều được nghe, được học, được hỏi. Bình thường, điều đó đâu có dễ...

Tôi vốn là giáo viên văn sử địa, nhưng chỉ dạy văn, đôi khi dạy sử, và khi đã thôi nghề, trở thành một nhà thơ công nhân, tôi vẫn có quan hệ rất thân thuộc với ngành giáo dục. Vợ và con tôi vẫn là giáo viên. Tôi từng tổ chức hoặc người khác tổ chức, thì tôi đưa đi những nơi trong kế hoạch, để các nhà thơ nhà văn tiếp xúc với cán bộ, công nhân mỏ, hoặc nói chuyện với giáo viên sinh viên học sinh các trường cao đẳng, cấp 3 ở Quảng Ninh. Riêng nhà thơ Xuân Diệu, nhà văn Nguyên Hồng, tôi ngồi dưới nghe đi nghe lại bài nói chuyện đến mức thuộc lòng.

Có một kỷ niệm thực khó quên: tôi đưa giáo sư Lê Đình Kỵ đến nói chuyện thơ Tố Hữu với cán bộ và công nhân ngành than, tại xí nghiệp Xây lắp mỏ Hồng Gai. Người đến nghe, đứng kín cả hành lang, vì trong phòng không còn chỗ đứng, sau khi đã hết chỗ ngồi. Tôi sướng quá. Nhưng chỉ được khoảng 15 phút sau, là họ lục tục kéo nhau ra về, lại còn gọi nhau í ới về nữa chứ, mới thật tệ hại. Tôi hãi quá, lo thắt ruột. Nguy quá rồi. Trong khi giáo sư vẫn nói bình thản, đều đều, như không có điều gì xảy ra. Tôi yêu cầu giám đốc Tổng Công ti và bí thư đảng ủy than can thiệp ngay. Cuối cùng hai ông cùng tôi ra chặn lối ra, hai vị lãnh đạo than yêu cầu: tất cả cán bộ từ phó quản đốc trở lên và toàn bộ đảng viên phải vào hội trường nghe đến hết buổi. Vì đây là thơ của ‘‘lãnh tụ’’. Ai về sẽ bị kỷ luật. Tôi nói điều này hoàn toàn chính xác. Lý do là giáo sư Lê Đình Kỵ nói chán quá, cách nói hoàn toàn không phù hợp với người lao động. Chỉ có Xuân Diệu là tài, giữ người nghe đông nghịt đến tận phút cuối cùng. Sau Xuân Diệu, có lẽ là Nguyễn Bùi Vợi...

Dạo ấy, có người ở hẳn vùng mỏ đến 3 năm, như nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ, nhà thơ Nguyễn Hải Trừng. Có người ở hẳn đến 5 năm, như nhà thơ Trinh Đường. Huy Cận đã về đào than ở Cẩm Phả đến sáu tháng. Tôi cũng đã từng đưa Nguyễn Tuân, Văn Cao, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Tế Hanh, Nguyễn Thành Long… (và hầu hết các văn nghệ sĩ bậc thầy) đi thăm các mỏ than, hầm lò và lộ thiên, đi thăm vịnh Hạ Long không chỉ một, hai lần. Có một chuyện vừa vui vừa buồn nữa: tôi đưa nhà văn Nguyên Hồng xuống mỏ Cọc Sáu, Cẩm Phả, mỏ nổi tiếng nhất thời ấy, vì được Chủ tịch Hồ Chí Minh biểu dương ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba. Ông chủ tịch công đoàn mỏ, một người rất tốt và vô cùng chân thành, hồ hởi ra đón. Ông ôm lấy Nguyên Hồng mà kêu to lên rằng: ới giời ơi, đến bây giờ tôi mới được gặp anh, nhà văn thân yêu của tôi. Tôi đọc Đất nước đứng lên của anh mãi... Tôi ngượng quá, vì đó là tiểu thuyết của Nguyên Ngọc. Còn Nguyên Hồng thì im lặng mỉm cười, nụ cười chỉ riêng Nguyên Hồng có, nó heo héo thế nào ấy, không giải thích được.

Trước khi mất, nhà văn Nguyễn Đình Thi có về Quảng Ninh và tôi đưa ông đi một vài nơi, theo yêu cầu của ông, ngồi cùng xe, dọc đường hỏi được ông rất nhiều chuyện… trong đó có những chuyện rất khó được biết, về một số nhà văn, mà tôi hy vọng sẽ được thưa lại ở một dịp khác. Trừ Nguyên Hồng, tôi có viết một bài dài, gồm nhiều mẩu chuyện về ông, và văn bản đã in đi in lại nhiều lần. Còn tôi vẫn giữ đó, các tư liệu mà tôi có may mắn ghi được...

Tôi thấy Chế Lan Viên tuyệt đối không bao giờ hỏi hoặc nói với tôi về Trần Đăng Khoa. Ông cũng không bao giờ nói về thơ mình, dù chỉ một câu. Ông rất tận tình khuyên tôi gắn bó với giai cấp công nhân để sáng tác và nhất thiết phải tinh thông ít nhất một ngoại ngữ và ông bảo nên là tiếng Pháp. Lần nào gặp tôi, ông cũng chỉ hỏi có một câu là đã học ngoại ngữ chưa, và khi tôi thưa là chưa, thì ông tỏ rõ sự thất vọng…

58. Nguyễn Đức Tùng:

Chế Lan Viên nhận xét như thế nào về thơ Trần Nhuận Minh?

Trần Nhuận Minh:

Duy nhất một lần. Cuối năm 1970, tôi được cơ quan cử đi làm thủy lợi 45 ngày. Đi đào sông vác đất thật sự ấy, với mức khoán hẳn hoi, chứ không phải đi thực tế sáng tác. Mới thấy vất vả vô cùng. Ban chỉ huy công trường thương tôi chân yếu tay mềm, mới nảy ra một ý là giao cho tôi, vẫn vác đất, nhưng làm thêm thơ, vào lúc nào cũng được, thơ chỉ về thủy lợi thôi và đọc trên loa ở công trường. Mỗi bài thơ được trừ một ngày công là 1 mét 68 khối đất. Tổng cộng tôi làm được đến 10 bài, bớt được 16, 80 mét khối đất, phải đào và vác từ đáy sông lên, đắp vào bờ đê:

Làm thủy lợi là việc làm vất vả

Hòn đất nặng chẳng khác gì hòn đá

Không đùa đâu, hòn đất nặng vác vai

Chạy xuống, chạy lên, quãng ngắn, quãng dài

Đất chẳng thiếu vỏ hà và gốc sú

Sâu bốn thép mai chưa gặp lần đất củ

Ngổn ngang sỏi, cát, rễ cây

Nước váng cua, vọt những tia dài...

Đấy, đại loại là như thế, không ngồi mà bịa ra được. Số lượng đất được miễn trừ không hề ít. Đến bây giờ, tôi vẫn không hiểu vì sao mình lại gọi là “hòn đất”, thực ra là những tảng đất sét, do dây kéo, một công cụ chuyên dùng để làm thủy lợi, xắn cắt ra, mỗi tảng nặng từ 20 đến 25 kg để vác trên vai, khi đã xuống sâu. Còn ở phần trên, thì dùng mai, xẻ đất, mỗi “hòn” nặng từ 5 đến 7 kg để chuyền tay nhau:

Những hòn đất kềnh càng sáu cạnh

Những hòn đất vuông hòm sớ

Cả những hòn đất vỡ

Tới tấp lao qua tay chúng tôi

Mười đầu ngón tay xây sát vết hà

Ngực nhói đau gốc sú

Càng về trưa, càng rét dữ…

Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, cũng có cái hay của nó. Nó đẩy con người ta đến với tương lai, dù tương lai đó có thể không hẳn đã như vậy.

Làm thuỷ lợi là việc làm vất vả

Nhưng chúng tôi biết ngày mai

Nơi này chẳng còn chua mặn

Đất sẽ lên dần vị ngọt

Và một phần Hạ Long sẽ hoá thành đồng

Màu đẹp nhất vẫn là màu lúa chín

Có đảo xa sắc chiều buông tím

Có cánh buồm hồng mặt trời lên

Có trăng vàng anh đứng bên em

Trên bờ vịnh nồng nàn vị muối...

Tôi chọn lại không biết 4 hay 5 bài gửi cho tạp chí Tác phẩm mới. Nhà thơ Bằng Việt, biên tập viên phần thơ, gửi thư khen, cái thư ấy, tôi cũng vẫn còn giữ. Kết quả, tạp chí in 3 bài chữ đậm, như một điểm nhấn của số đó. Tôi mừng lắm, gửi thư cảm ơn rồi hẹn lên Hà Nội. Vừa bước đến cửa tạp chí 65 Nguyễn Du, thì nhà thơ Tế Hanh cũng vừa bước ở trong ra. Trông thấy tôi, ông như kêu lên: anh Chế ơi, Minh nó đến đây này. Tôi đoán là hai ông vừa nhận được thư tôi và có thể vừa bàn về tôi. Nhìn vào, tôi thấy Chế Lan Viên đang lên gác, ông vội xuống cầu thang gặp tôi. Ông bảo chùm thơ của Minh rất hay. Sao không gửi dự thi báo Văn nghệ. Em không dám, tôi nói. Sao lại không dám? Thơ hay lắm. Giải nhất thì còn phải cân nhắc thêm, chứ giải nhì thì ăn chắc. Mình chấm thi mà. Trung ương vừa có nghị quyết về nông nghiệp, mà thủy lợi là hàng đầu. Thơ Minh trúng lắm. Ở bên đó, tìm mãi không ra một bài thủy lợi nào. Thơ về nông nghiệp cũng kém. Cuối cùng phải đưa bài của Nguyễn Hữu Phách ở Hải Dương từ khuyến khích lên giải ba. Không có thơ về nông nghiệp vào giải thì không biết ăn nói với trung ương như thế nào.

Tôi rất hồ hởi thuật lại điều đó cho nhà thơ Trinh Đường nghe. Trinh Đường chính là người phát hiện ra tôi từ cuối năm 1962, khi ông đăng cho tôi bài thơ đầu tiên ở Sở Văn hoá khu Hồng Quảng, rồi sau đó, viết nhiều thư, giới thiệu tôi với nhiều đồng nghiệp của ông và của tôi. Công của Trinh Đường đối với tôi, cũng như công của Hồ Thiện Ngôn đối với Trần Đăng Khoa vậy. Nghe xong một lúc, Trinh Đường bảo: Chế Lan Viên là một tay đại tài nhưng vía rất độc. Ông ta khen thằng nào thì thằng ấy sẽ chết. Cậu làm thơ kiểu ấy là chui vào sừng trâu, không có lối ra. Chớ!

Hai mươi năm sau, tôi mới thấy là Trinh Đường đã nói đúng.

Bài thơ Làm thủy lợi ở Giáp Khẩu trong chùm 3 bài mà Chế Lan Viên khen, được in trong Tuyển tập thơ Chủ nghĩa xã hội, dùng trong nhà trường, được đưa vào sách giáo khoa lớp 8 tập II nhiều năm cho học sinh học, sau rồi họ cũng bỏ. Nay tôi chỉ lưu lại bài đó trong Phụ lục thơ Gửi lại dọc đường...

Lại nhớ, năm 1967, Trinh Đường làm số báo Văn nghệ đặc biệt thơ, tổng kết 3 năm thơ chống Mỹ cứu nước, có bài giới thiệu của Chế Lan Viên. Ông in cho tôi bài Tiếng kẻng vỏ bom của ông tôi và in cho Khoa bài Khi mẹ vắng nhà, hai anh em cùng một số. Biết tin, tôi mừng quá, đạp xe thẳng một lèo từ Quảng Ninh, chập tối mới về đến nhà ở Nam Sách, ngủ một giấc, sáng sớm sau đạp đi Hà Nội ngay, tổng cộng đến non 200 km. Cầm hai tờ từ tòa soạn báo Văn nghệ, tôi đạp xe về ngay, ý tôi là về qua nhà, đưa cho Khoa một số cho y sướng. Thấy cách Hải Dương chỉ còn khoảng 10 km, tôi rẽ vào một cửa hàng ăn. Tôi dựa xe vào gốc cây trước cửa nhà hàng. Vì có giao thông hào, nên tôi không dựa xe được về hướng Hải Dương, mà phải quay ngược về phía Hà Nội. Tôi tự thưởng cho mình một bát phở ‘‘có người lái’’ (có vài miếng thịt lợn) và một chai bia. Xong, người lâng lâng, tôi ra xe, cứ thế cắm đầu đạp vù vù. Tôi thấy trước, gió thổi từ phiá trước mặt, bây giờ, gió lại thổi từ phía sau lưng. Một câu thơ nảy ra và tôi rất thú: Uống một chai bia gió đổi chiều... Tôi thấy các cột cây số chỉ đường về Hải Dương mà đề Hà Nội, với số km ít dần. Tôi nghĩ: các bố an ninh nhà mình giỏi thật. Trên cả tuyệt vời. Cái gì các bố cũng làm được. Đến cái cột cây số đường cũng ghi ngược, thế này thì tụi gián điệp Mỹ cũng chịu cứng, có lần mò đến đây cũng chả biết đằng nào mà chỉ điểm hay liên lạc với đồng bọn... Rất sướng vì ý nghĩ ấy. Trước mắt tôi đã là cái cầu Chui. Tôi nghĩ lạ, không biết Hải Dương xây cái cầu này lúc nào. Thấy có anh công an đứng bên đường, tôi hỏi: Thưa đồng chí, lối nào thì về Nam Sách ạ? Nam Sách nào? Ở Hải Dương mà đồng chí không biết Nam Sách nào à? Anh công an nhìn tôi một lúc, rồi bảo: đây là cầu Chui Hà Nội. Tôi kêu lên: sao lại thế được. Tôi vừa từ cầu Chui Hà Nội đạp xe về Hải Dương mà. Sao lại là cầu Chui Hà Nội được. Anh công an bỏ đi. Tôi thấy kỳ cục quá. Và mệt. Để cái xe nằm bên cạnh, tôi ngồi bệt luôn xuống vệ đường xem sao. Rồi một lúc nữa, tôi mới nhận ra: đúng là cầu Chui Hà Nội thật. Và hoàng hôn đã ập xuống từ lúc nào...

Lần khác, tôi đến nhà Trinh Đường thì gặp Bằng Việt lần đầu tiên ở đó. Trinh Đường hỏi tôi: Cậu có đọc được hết thơ thằng Khoa không? Có nhiều bài như Khi mẹ vắng nhà không? Tôi thưa: Em không biết. Hơn nữa em lại ở rất xa. Thỉnh thoảng mới về, cũng đọc được ít bài trong bản thảo của nó, nhưng em không chú ý đến điều ấy. Nhiều bài, em đọc lần đầu tiên là trên báo Văn nghệ và báo Thiếu niên tiền phong. Trinh Đường bảo: Khoa nó đang làm thơ bằng cái vốn trời cho, như bài Trăng sáng sân nhà em.... Vốn ấy rồi sẽ hết. Mà không hết thì trời sẽ lấy lại. Chỉ khi nào nó làm thơ bằng cái vốn của nó, chắt lọc từ cuộc sống của chính nó, thì nó mới thực sự là một nhà thơ. Cái Khi mẹ vắng nhà rất gớm, rất dễ sợ. Mình đọc mà mất ngủ... (Xin nói thêm: ông Tố Hữu có nói với nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi là ông rất thích bài thơ Trăng sáng sân nhà em của Khoa).

59. Nguyễn Đức Tùng:

Ông Trinh Đường của anh thú vị lắm. Hình như tôi chưa đọc ông ấy bao giờ. Anh nên dẫn bài thơ mà Trinh Đường khen của Trần Đăng Khoa ra xem sao?

Trần Nhuận Minh:

Vâng, có ngay.

KHI MẸ VẮNG NHÀ

Kính tặng mẹ em

Khi mẹ vắng nhà, em luộc khoai

Khi mẹ vắng nhà, em cùng chị giã gạo

Khi mẹ vắng nhà, em thổi cơm

Khi mẹ vắng nhà, em nhổ cỏ vườn

Khi mẹ vắng nhà, em quét sân và quét cổng…

Sớm mẹ về, thấy khoai đã chín

Buổi mẹ về, gạo đã trắng tinh

Trưa mẹ về, cơm dẻo và ngon

Chiều mẹ về, cỏ đã quang vườn

Tối mẹ về, cổng nhà sạch sẽ…

Mẹ bảo em: dạo này ngoan thế!

Không, mẹ ơi, con chửa ngoan đâu

Áo mẹ mưa bạc màu

Đầu mẹ nắng cháy tóc

Mẹ ngày đêm khó nhọc

Con chưa ngoan, chưa ngoan…

1967

Nhà thơ Trinh Đường hơn tôi đến 25 tuổi, người tỉnh Quảng Nam, ra Bắc tập kết năm 1954. Ông có hiểu biết rất sâu về thơ Tàu, nhưng viết lại rất Tây, tức là rất mới. Ông sống rất chân tình, thẳng thắn và vô cùng tử tế, đặc biệt có công dìu dắt nhiều nhà thơ trẻ, nhưng cuộc đời ông đầy bi kịch, có nhiều nỗi buồn, có cả nỗi đau, nhưng chịu đựng được đến mức như nó không hề có, thì tôi mới chỉ thấy có ông và một người nữa là nhà thơ Như Mai, tác giả Thi sĩ máy, rất nổi tiếng trong vụ Nhân văn giai phẩm. Ông Mai cũng ở chỗ tôi và tôi đã hợp đồng để ông làm việc trong cơ quan do tôi phụ trách, đến năm tròn 80 tuổi, ông mới viết đơn xin thôi việc. Mặc dù các cơ quan chức năng khuyên tôi để ông nghỉ từ nhiều năm trước, vì ông đã già. Thực ra thì còn có lý do khác nữa. Khi ông ở cơ quan khác, được biết ngay trong cuộc họp để xóa tên ông trong danh sách đảng viên, lúc cấp trên hội ý, anh em giải lao, ông vẫn ngủ được 15 phút ngay trong phòng họp. Ông có được sự điềm tĩnh đó, có lẽ là nhờ tính hài hước. Ông khoe: mụ vợ mình rất đảm, nuôi đến 6 con lợn to. Khách đếm trong chuồng chỉ có 5 con, bèn hỏi con thứ 6 ở đâu. Ông bảo: nó đang hút thuốc lào. Khi đến cơ quan làm việc hay đi gặp các cộng tác viên, trong túi xách đã sờn, cùng với các trang bản thảo mà ông đọc giùm tôi để loại bỏ trước những tác phẩm yếu kém, bao giờ cũng có cái điếu cày. Chả biết ai đã làm thơ tặng ông và ông rất khoái khi ai đó đọc trước đông người để cùng vui cười:

Ông Mai ơi hỡi ông Mai

Cớ sao ông lại có hai điếu cày

Một điếu ông cầm ở tay

Còn một điếu nữa dắt ngay cạp quần...

Tôi có nhiều kỷ niệm rất đẹp về nhà thơ Trinh Đường, cũng biết và chứng kiến một số chuyện không vui xảy ra trong đời ông, có chuyện thật đau lòng, nhưng tôi chỉ kể một chuyện tình rất vui, cũng rất văn chương của ông mà tôi có biết cụ thể. Ông đã ở Quảng Ninh 5 năm, thơ ông được nhiều người mến mộ, nhưng không ai lại ‘‘nồng nàn’’ như cô giáo bạn tôi mà tôi không tiện ghi tên ra đây. Cô thường xuyên gửi thư cho ông. Cô đã có thơ đăng báo tỉnh. Hình như ông cũng đăng trên báo Văn nghệ cho cô một hai bài. Nhưng từ khi yêu cô ‘‘qua những bức thư’’ thì ông giữ ý, không đăng thơ cho cô nữa. Thư ông cũng rất say mê đằm thắm và cô giáo bạn tôi thường đem ra đọc cho các giáo viên trong trường, thậm chí trong huyện cùng nghe, nhân những ngày hội họp, làm họ lăn ra mà cười, chảy cả nước mắt, còn tôi thì ngượng lắm. Tôi khuyên ông ‘‘nên hạ thấp nhiệt độ’’. Ông hỏi vì sao? Tôi thưa: cô ấy rất tốt, dạy văn rất hay, nhưng người chỉ cao khoảng 1 mét 45 mà nặng đến non 80 kg. Chả biết ai đã làm thơ tặng cô, nhưng nhiều người thuộc lòng như thuộc lòng thơ Tố Hữu vậy (nhại thơ Tố Hữu):

Em là ai? Cô gái hay thùng phuy

Em có cổ hay không có cổ...

Ông nói: Thảo nào mình bảo cô ấy gửi cho mình một cái ảnh, mà chờ mãi không thấy.

Rồi một lần cô lên tìm ông ở Hà Nội. Cô vào đến cổng báo Văn nghệ thì ông cũng vừa dắt cái xe đạp đuy - ra màu trắng ở trong ra. Cô hỏi: anh Trinh Đường có trên nhà không ạ. Em lên thăm anh ấy. Ông biết là cô rồi, nhưng vẫn hỏi thêm cho chắc: Cô ở đâu lên? Em ở Quảng Ninh, cộng tác viên của báo, người thân của anh Trinh Đường mà. Ông nói ngay: Thật tiếc cho cô, ông ta đi vắng rồi. Đi đâu ạ? Đi Vĩnh Linh chứ còn đi đâu. Bom đạn rất gớm, chắc gì có trở về... Cô bực quá, nói to: Cái nhà ông này, sao độc mồm độc miệng thế, hả? Trinh Đường hoảng quá, lên xe chạy mất... Tôi biết điều ấy, do chính ông vui vẻ kể lại. Tôi hỏi: Bây giờ thế nào, anh? Cô ấy rất gớm. Thôi rồi.

60. Nguyễn Đức Tùng:

Chuyện anh vui thật. Xin tiếp việc khác. Tôi quan tâm đến ảnh hưởng của Tố Hữu đối với thơ Trần Nhuận Minh, nhất là giai đoạn đầu. Tố Hữu có giảng bài ở trường viết văn khi anh học không?

Trần Nhuận Minh:

Có chứ. Phần giảng của ông rất quan trọng, lời lẽ nhuần nhị chân tình, thoải mái, như những lời tâm sự vậy, không căng cứng quan phương như Hà Huy Giáp, cũng không lý sự gay gắt như Hà Xuân Trường. Ông Lê Văn Lương, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư, cũng đến nói chuyện với chúng tôi. Tôi học khoá V (1972 – 1973), trường bồi dưỡng Những người viết văn trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam, tại Quảng Bá, cạnh Hồ Tây, Hà Nội, nay là Bảo tàng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam, thời gian tập trung 9 tháng, hiệu trưởng là thầy Nguyễn Xuân Sanh (trước đó là thầy Nguyên Hồng). Chúng tôi gọi khoá học này là ‘‘khoá B - 52’’, vì đến tháng 12/1972 thì Mỹ ném bom B – 52 rải thảm thủ đô Hà Nội.

Trong bài giảng, khi nói về ảnh hưởng còn rất hạn chế của thơ Việt Nam ra thế giới, Tố Hữu có nói rằng, khi ông đến Matxcơva, lần đầu tiên gặp C. Simonov, Simonov hoàn toàn không biết ông là ai, đến mức ông phải tự giới thiệu mình là người đã dịch bài thơ Đợi anh về của Simonov ra tiếng Việt và đọc cho Simonov nghe âm hưởng bài thơ của Simonov trong tiếng Việt như thế nào. Đến lúc đó, Simonov mới cảm động mà ôm lấy Tố Hữu. Tôi nhớ hoàn toàn chính xác và đưa ý kiến đó của nhà thơ vào một tham luận. Sau khi đọc tại một hội thảo văn học và được báo Văn nghệ Công an đăng, vài tuần sau, có một người viết bài phản hồi, cho rằng Tố Hữu nổi tiếng đến như thế thì tại sao Simonov lại không biết. Vô lý quá. Rồi dẫn ra mối quan hệ thân thiết của hai ông, mà quên rằng, mối quan hệ ấy đã có được, là từ sau cuộc gặp gỡ đã thuật lại ở trên.

61. Nguyễn Đức Tùng:

Anh nhận xét ra sao về Tố Hữu, ở ngoài đời và ở trong thơ?

Trần Nhuận Minh:

Đó là vấn đề rất lớn và có người đã viết thành sách rồi. Tôi chỉ xin nói dưới góc độ của sự tiếp nhận, qua thực tế mà tôi biết.

Là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, hoặc Phó Thủ tướng thường trực, ông về Quảng Ninh nhiều lần và lần nào cũng là một sự kiện chính trị quan trọng của địa phương.

Tôi chỉ được gặp ông khi ông đã rời các chức vụ lớn đó, chỉ còn là một nhà thơ.

Tôi có một lần đến thăm Tố Hữu, khi ông về nghỉ ở nhà nghỉ Công đoàn Bãi Cháy (Quảng Ninh), rồi tham gia mời ông nói chuyện. Một lần ở ngay nhà nghỉ nơi ông nghỉ, danh sách mời 25 người, đến được chỉ có 11 người, còn 8 người là chủ nhà và ban tổ chức. Mới nói được khoảng 25 phút, anh Đoàn Duyệt, phó văn phòng tỉnh ủy đã bảo tôi nên thôi, để ông được nghỉ, e ông không được khỏe lắm. Ông bảo: tôi vẫn khỏe đấy chứ, để cho tôi nói tiếp. Trước đây, nếu được gặp ông thì đi đâu cũng khoe, coi đó là một vinh dự lớn, bây giờ mời đến gặp ông thì họ lại ngại ngùng. Cuộc đời lạ lắm và thay đổi cũng nhanh lắm. Lần khác tại trụ sở Hội văn nghệ tỉnh, có khoảng 30 người dự, đều là cán bộ, hội viên nòng cốt và giáo viên cấp 3 loại giỏi của tỉnh. Ông xa xả lên án Xuân Sách đã đá vào khoeo ông trong Chân dung nhà văn, lời lẽ rất gay gắt, chứ có đâu ”rất vui vẻ” như một tờ báo đã thuật lại. Chính tôi đã điện lên Hà Nội hỏi, thì được trả lời: ô, ông cũng là dân làm báo, sao còn hỏi vậy?

Tố Hữu nói: Một người như tôi, không nên viết Một tiếng đờn. Mà đã viết ra rồi thì không nên in ra. Viết và cho in Một tiếng đờn là một sai lầm của tôi. Nhưng ông không giải thích vì sao. Tôi nghĩ: ai đọc thơ Tố Hữu đến Một tiếng đờn, cũng hiểu cái ý mà ông không nói ra ấy. Xét thấy ý này là rất cần thiết để tìm hiểu thơ Tố Hữu chặng cuối đời của ông, nên tôi xin công bố và chịu trách nhiệm về sự chính xác hoàn toàn của ý đã dẫn này.

Một tiếng đờn là tập thơ được giải ASEAN của ông.

62. Nguyễn Đức Tùng:

Người ta có thể học được những gì trong một trường dạy viết văn?

Trần Nhuận Minh:

Khoá học có nhiều nội dung, đặc biệt về các kinh nghiệm sáng tác của các nhà văn lớn, dù ý kiến đôi khi khác biệt hoặc trái ngược nhau. Buổi sáng, nhà lý luận marxist Hà Xuân Trường giảng về tính Đảng. Ông cho rằng, đó là linh hồn của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa và chỉ có tính Đảng Cộng sản mới biến các tác phẩm thành nghệ thuật có sức sống vĩnh cửu trong lòng người... Buổi chiều, nhà văn Nguyễn Công Hoan lên lớp. Ông nói rất thẳng thắn: tôi chỉ coi trọng duy nhất có mỗi một cái tính thôi, đó là tính tiền. Nhà văn phải sống bằng nhuận bút của tác phẩm, tác phẩm không đáng được trả nhuận bút cao thì là tác phẩm cần phải vứt mẹ nó đi. Sáng hôm sau, nhà văn Anh Đức giảng về ghi chép. Ông nói đi đâu ông cũng chú ý quan sát và ghi chép rất tỉ mỉ vào sổ tay. Khi vào Nam, ghi trên những tờ giấy nhỏ, bằng tiếng Pháp, để nếu có rơi vào tay địch, chúng cũng không đọc được. Ông cho tài liệu vào cái ống nhựa, bọc ngoài bằng nilon, vùi xuống đất hay xuống bờ ao, rồi đánh dấu chỗ giấu tài liệu lên thân cây gần đó, để có lúc tìm lại... Buổi chiều, nhà văn Nguyễn Quang Sáng giảng ngược lại. Ông nói rất tục, rất thoải mái: tôi đ... có ghi cái gì sất à... làm các nhà văn, nhà thơ nữ như Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ... đỏ mặt, bỏ ra ngoài, còn lũ chúng tôi thì sướng lắm, tung hô theo thầy Sáng rất ầm ĩ...

Nội dung dạy và phương pháp học ở trường Quảng Bá thoáng như thế, tạo cho các nhà văn khả năng chủ động trong tư duy và tự do phát huy sáng tạo. Sau này sang Liên Xô, tôi biết trường viết văn Gorki cũng dạy các nhà văn như thế...

63. Nguyễn Đức Tùng:

Trò chuyện, tôi biết anh có trí nhớ rất tốt. Điều đó có ích cho sáng tác hay nghiên cứu của anh ra sao?

Trần Nhuận Minh:

Có trí nhớ tốt, rất có lợi cho sáng tác và nghiên cứu. Vâng, dĩ nhiên rồi. Tuy thế, khi viết các bài có tính nghiên cứu, tôi không dám ỷ vào trí nhớ, dù trí nhớ của tôi thường không phản lại tôi. Anh nghe một chuyện vui: khi chiếc xe 14 chỗ ngồi do Hội Nhà văn Việt Nam thuê chở đoàn nhà văn chúng tôi đi Việt Bắc, trong đoàn có các nhà văn nhà thơ Đức Hậu, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, Ngọc Bái, Trần Anh Trang..., nhà văn Hoàng Minh Tường, tác giả Thời của thánh thần khoe rằng, ông mới phô tô được quyển Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, vô cùng hay, do Thông tấn xã Việt Nam dịch của Trung Quốc và ấn hành, hiện chỉ được đọc tham khảo nội bộ (giờ thì sách đó đã bán đầy ở vỉa hè phố Nguyễn Xí, Hà Nội, mua hàng chục cuốn một lúc cũng có). Tường đưa văn bản ra, mọi người xem thì thấy mất hẳn một trang, đúng vào trang tôi tâm đắc nhất. Mọi người rất lấy làm tiếc. Tôi bảo: để tôi chép tay lại, rồi vi tính dán vào đó, mỗi người trong đoàn một quyển, nếu về kiểm tra sai đến 10 chữ, thì hãy đến nhà tôi, ở thành phố Hạ Long, tôi mặc quần đùi áo may ô, dắt vợ con ra khỏi nhà, rồi trả toàn bộ cái ngôi nhà tôi đang ở bên bờ vịnh Hạ Long cho các bạn. Tất nhiên là mọi người cười vui vì biết tôi thích đùa.

Khi về nhà, khoảng dăm ngày sau, nhà văn Đức Hậu điện cho tôi, nói rằng, ông đã đối chiếu với bản gốc, mà ông vừa mượn được, trang chép tay của tôi chỉ sai có 6 chữ. Hậu khen tôi thông minh, có trí nhớ phi thường. Tôi nói vui: Ông lại đùa rồi. Trí nhớ tốt là đặc sắc của cái máy tính. Người thông minh thì làm ra cái cho mọi người nhớ, còn mình thì chả cần nhớ cái gì. Tôi không phải là người thông minh, mà chỉ là người chăm học hỏi mà thôi.

64. Nguyễn Đức Tùng:

Xin nhắc lại câu hỏi ở phần trước: Anh đã đoạn tuyệt với quá khứ của mình một cách quyết liệt. Đó là quá khứ nào?

Trần Nhuận Minh:

Đây không phải là đoạn tuyệt với quá khứ, mà là đoạn tuyệt với một kiểu tư duy của tôi trong quá khứ. Đó là lối thơ minh họa, tuyên truyền, mà tôi viết rất say mê và chân thành, nhưng phải đến thời đổi mới, tôi mới nhận ra đó không phải là sở trường của mình. Thời ấy, tôi viết về công nhân, về nhân dân, nhưng viết theo cái khung đã có sẵn từ sách vở mà tôi tự quy định trước cho mình, tôi chỉ ném cảm xúc và câu chữ của mình vào đó cho thành bài. Rất được khen, tôi cứ thế mà đi tiếp, đầy tự tin và hào hứng.

65. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi tin rằng ngôn ngữ thơ không có biên giới. Hoặc là biên giới của chúng chỉ ở trong chúng ta. Nhiệm vụ của nhà thơ có tài là mở rộng các biên giới ấy. Như một thành phố, càng ở về trung tâm càng có nhiều tiện nghi, điện nước, văn minh, càng ở xa trung tâm, ra đến ngoại ô, tiện nghi càng giảm, bờ bụi gai góc thì nhiều, rắn rết cũng nhiều, có đường đúng hướng có đường đi lạc, tranh tối tranh sáng. Nhưng không mở rộng các đường biên thì thành phố thơ ca mãi mãi không phát triển được.

Về lý luận văn học, có một khái niệm cần làm rõ hơn nữa, đó là khái niệm văn chương thể nghiệm. Thể nghiệm văn học thời nào cũng cần thiết, có thể tạm chia làm hai loại là các thể nghiệm về hình thức và các thể nghiệm về nội dung. Văn chương thể nghiệm giúp cho các nhà thơ, nhà văn tiến sâu hơn, thăm dò xa hơn nữa khả năng của ngôn ngữ trong việc biểu đạt tâm hồn, trong việc sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện thể hiện và như một đối tượng thẩm mỹ, chất liệu thẩm mỹ. Văn chương thể nghiệm có nhiều khác biệt so với nền văn học chính lưu - ở đây tôi không dùng chữ chính thống vì chữ này có nhiều ý nghĩa khác nhau - mang trong nó tất cả những ưu điểm mà nền văn học chính lưu không thể có được và những khuyết điểm của những trang viết mới chưa chinh phục được độc giả. Từ kinh nghiệm cá nhân, tôi cho rằng việc tiếp cận văn chương thể nghiệm bao giờ cũng hết sức khó khăn, nhưng nếu ta vượt qua được giai đoạn ban đầu, như trong một số trường hợp tác giả có tài năng, sự tương tác giữa người đọc và người viết là hết sức lý thú, vì nó mở rộng các chân trời.

Những chân trời không có người bay (Trần Dần)

Ở Việt Nam, hình như công việc thể nghiệm được dành cho các nhà thơ trẻ và các nhà thơ mới viết mặc dù điều đó không đúng với các nền thơ khác. Ở Mỹ chẳng hạn, vẫn có một số các nhà thơ đã có sự nghiệp vững vàng, có tên tuổi, tham gia vào thứ “trò chơi” văn học này, mặc dù họ vẫn còn là thiểu số, vì nhiều lý do. Các ví dụ theo tôi có thể kể như Robert Hass, John Ashbery, Richard Wilbur, James Merrill, Rae Armantrout của Mỹ; Simon Armitage, Michael Donaghy, James Fenton, Carol Ann Duffy của Anh; Margret Avison, Phyllis Webb, Irving Layton, P.K. Page của Canada.

Trần Nhuận Minh:

Tôi nghĩ không hẳn thế. Ngôn ngữ thơ có biên giới đấy và biên giới đó ở ngay chính ngôn ngữ. Vừa qua, tôi may mắn được một nhà thơ Ấn Độ dịch thơ mình ra tiếng Hindi. Cầm quyển sách bạn tặng trên tay, trong đó có thơ mình, hỏi ngay một nhà thơ nói tiếng Anh như gió, chuyên công tác ở Ấn Độ, mà cũng chịu, không biết đường nào mà mò.

Đấy mới chỉ nói về ngôn ngữ đơn thuần, về hình thức. Về nội dung, biên giới thứ hai là tính dân tộc. Thơ anh càng dân tộc (ví như thơ Nguyễn Bính) thì càng khó dịch và dịch cũng khó hay, do đó khả năng vượt biên để đi xa hơn, lại càng khó khăn hơn.

Tôi đồng ý với anh là thơ cũng cần có thể nghiệm cả về hình thức lẫn nội dung trước khi nó chính thức ra đời. Chúng ta cần khuyến khích mọi thể nghiệm lành mạnh, dù ít dù nhiều, qua bất cứ dạng thức biểu hiện nào. Chỉ có điều, sự công bố những thể nghiệm đó cần phải được soát xét kỹ hơn, vì công bố tức là quảng bá trong công chúng rồi. Nếu ta quá dễ dãi thì ta sẽ làm hại chính ta. Người đọc chán cái ta thể nghiệm (công bố vội vàng) đến lúc sẽ chán cả cái ta thành công. Ví như một ái phi của hoàng đế Trung Hoa, rất thích vua đốt lửa đài, báo hiệu cấp cứu để các nước chư hầu mang quân đến cứu mình, cho mình cười. Kết quả là lần sau, khi có giặc đến thật, trông thấy khói bay xám một góc trời (vì có phân chó sói), các nước chư hầu tưởng đế chủ lại đùa, nên không ai động binh…

66. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi nhớ Robert Frost từng nói đại ý: làm thơ tự do cũng như chơi quần vợt trên sân đã hạ lưới xuống.

Anh làm thơ có vần và cũng làm thơ tự do. Sự quan hệ giữa hai thể loại này như thế nào trong thơ Trần Nhuận Minh?

Trần Nhuận Minh:

Khi tôi làm một bài thơ, ý tưởng và kết cấu hội tụ ngay cùng một lúc với thể loại, nên tôi viết bài thơ nào thì bài ấy, viết theo thể gì, có vần hay không vần, được xác định rất tự nhiên như nó không thể khác, ngay từ khi tôi viết chữ đầu tiên. Trong 50 năm làm thơ của tôi, chưa bao giờ tôi có một bài thơ nào chuyển từ thể loại này sang thể loại khác, ví dụ như đang làm thơ lục bát hay thơ năm chữ chẳng hạn, chuyển sang thơ tự do hoặc ngược lại, hoặc nữa, đang từ thơ có vần rồi chuyển sang thơ không vần và ngược lại. Tôi nghĩ thể loại cũng như vần điệu là một phần của nội dung, với nội dung này, nó buộc phải có hình thức này (tức là thể loại và vần điệu) tương ứng để nó được xuất hiện. Nếu hình thức khác với hình thức ấy, dứt khoát nó sẽ bị thất thoát hoặc bị xuyên tạc một phần. Đấy là tôi làm thơ.

Còn dịch thơ thì lại khác hẳn. Tôi đã dịch một số bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát, Lê Thánh Tông, Trịnh Cương… in trong các công trình khoa học có đẳng cấp cao, tôi hoàn toàn chủ động cách chọn lựa lại. Đầu tiên tôi chọn “phương pháp Khương Hữu Dụng”, nghĩa là nguyên tác mấy chữ thì dịch mấy chữ, chữ cuối bằng thì dịch bằng, chữ cuối trắc thì dịch trắc (có làm thế mới thấy cụ Khương là bậc đại gia trong làng dịch), sau, nếu thấy không sát với nguyên tác và không bộc lộ được cái thoải mái tự nhiên nhi nhiên của câu chữ, thì tôi chuyển thể loại khác ngay. Tôi giữ nguyên đặc điểm thể loại của nguyên tác nhưng dịch thoáng hơn, cuối cùng thấy không hài lòng, thì tôi chuyển thể loại luôn và vần điệu cũng theo đó mà thay đổi hẳn. Tôi chưa bao giờ tự giải thích được tại sao lại có hai cách khác nhau ấy, dù thơ dịch, nói cho cùng cũng là thơ của mình, chỉ có điều, về cơ bản, không theo ý của mình mà thôi…

67. Nguyễn Đức Tùng:

Xin phép hiếu kỳ: anh đang đọc những cuốn sách gì? Ở xa, thỉnh thoảng tôi lại tự hỏi: người trí thức trong nước đang đọc những gì, họ cảm thụ văn học và suy tư về thời đại của mình ra sao?

Mới đây tôi đến chơi nhà riêng của hai người bạn, một người là giáo sư y khoa ở Mỹ, một người cũng là giáo sư nhưng ở Việt Nam. Tôi ngạc nhiên thấy họ không đọc sách gì cả, ngoại trừ sách chuyên môn.

Ngoài văn chương, anh còn có mối quan tâm gì không?

Trần Nhuận Minh:

Thế là vẫn rất khá đấy, vì các vị ấy là trí thức thật. Tôi cũng dăm ba lần đến chơi với những thạc sĩ khoa học hẳn hoi nhưng đã làm cán bộ. Tôi rất ngạc nhiên vì không thấy trong nhà các vị ấy có cuốn sách gì, kể cả những cuốn sách cần có, liên quan đến cái bằng thạc sĩ, hay tham khảo chuyên môn cho công việc đang làm. Chỉ thấy các đồ biếu tặng đủ các loại vàng choé trong tủ kính. Cô văn phòng một cơ quan tỉnh nói với tôi, hầu hết các cuốn sách thủ trưởng của cô được tặng, cô đều thấy vẫn còn nguyên bao bọc trong thùng rác, cô phải dọn sau giờ hành chính, trong đó có cả những cuốn sách của các nhà rất danh tiếng gửi về hoặc trao tận tay. Cô nhập nhoạng nêu một vài tên sách, chữ nọ lẫn với chữ kia, nhưng tôi vẫn nhận ra: có cuốn mình rất thèm có, mà không sao mua được. Thế thì đã sao? Chả sao cả. Lại nhớ, cách đây đã lâu, một vị báo cáo trong cuộc họp bàn về công tác xây dựng đơn vị điển hình, rằng: ông mới học lớp 3, được cử đi học 9 tháng thì hết lớp 7, về làm thủ trưởng một đơn vị, 5 năm liền dẫn đầu tỉnh, quả có như thế thật, mà toàn bộ kiến thức đã học, ông cho rằng chả dùng được vào một việc gì. Cho nên, đặt ra vấn đề đọc sách, học ở sách thế nào cho phải đây, cũng là điều rất lý thú.

Trở lại với điều anh hỏi. Tôi đang đọc hai cuốn tiểu thuyết dày cộp: Dưới bóng các cô gái tuổi hoa, trong bộ Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust, nhà văn Pháp (bản dịch của Nguyễn Trọng Định) và Nghệ nhân và Margarita của Mikhail Bulgacov, nhà văn Nga (bản dịch của Đoàn Tử Huyến). Biết tiếng hai danh tác này đã lâu, nhưng bây giờ tôi mới tìm đọc được.

Nói thực với anh, tôi đọc văn xuôi nhiều hơn thơ, vì văn xuôi, chẳng may đọc phải tập dở, cũng còn có chút gì có ích, còn thơ, đọc tập từ trung bình trở xuống là mình “lỗ vốn” hoàn toàn. “Vốn” ở đây là thời gian. Mà thời gian chính là sự sống. Văn xuôi hiện nay làm tôi thích thú hơn, vì nó có ích hơn.

Ngoài văn chương, tôi không quan tâm đến bất cứ cái gì khác. Nói chung, tôi ít dành thì giờ xem ti vi và đã hơn 40 năm nay, tuyệt đối không ra chợ. Tôi đọc báo trên mạng và viết luôn trên máy vi tính. Không viết được cái mình muốn, hoặc như mình muốn, tôi cảm thấy mình chông chênh, mất thăng bằng. Tôi tuyệt đối không có em út, bồ bịch… Tôi cũng không biết đi xe máy. Tôi dị ứng với các cuộc chuyện trò vô bổ. Là một nhà báo 50 năm trong nghề, nhiều năm trực tiếp làm tổng biên tập; lại 15 năm làm đại diện báo Tiền phong, một tờ báo rất nhiều bạn đọc và có ảnh hưởng rất lớn đối với công chúng, tại một tỉnh giầu có nhất nước, việc nhỏ là Sở Thể dục thể thao tỉnh cấp cho tôi phiếu xem thường xuyên bóng đá Việt Nam và quốc tế ở ghế hạng A, tôi gửi lại để sở trao cho người khác, vì tôi hoàn toàn mù tịt về bóng đá; việc lớn là có công ti xây dựng gợi ý bán cho tôi vài xuất đất, tôi chỉ đăng ký mua trên danh nghĩa, để đất bán cho là có rất nhiều tiền… Nhưng tôi từ chối. Hiện tôi đang ở trên một ô đất được mua năm 1991 khi nhà phải di chuyển để xây dựng công trình công cộng. Có bạn đã xếp tôi vào danh sách “cần phải nhảy cầu Bãi Cháy tự tử khẩn cấp” (cầu cao 50 mét trên mặt nước biển), vì tôi là kẻ vô tích sự mà…

Bây giờ nhận ra được các giá trị đó thì mình đã già, đã quá muộn rồi. Nhưng tôi không hề nuối tiếc.

Anh có biết, trước khi về hưu, là cán bộ đầu ngành của tỉnh, tôi phải kiểm điểm với các nội dung quy định từng điểm một. Tôi đã báo cáo với Thường vụ tỉnh ủy Quảng Ninh một câu mà bây giờ, nhiều người còn nhớ và đôi khi, vừa nhắc lại vừa cười, cho rằng, ngoài tôi ra, chả ai nói năng như vậy cả. Anh nghe lại cho vui nhé. Tôi nói rằng: Trong cuộc sống, ai cũng có khuyết điểm, nhưng chỉ căn cứ vào nội dung hướng dẫn này, thì tôi rất buồn mà thưa với các đồng chí rằng, tôi chỉ có mỗi một khuyết điểm, là không có bất cứ một khuyết điểm nào cả. Điều đó không phải tôi là người tốt, mà vì các anh không để tôi làm việc ở chỗ có những cái cho tôi được hư hỏng…

68. Nguyễn Đức Tùng:

Cám ơn anh, một người kể chuyện thú vị.

Xin hỏi thêm: Anh có bỏ đi nhiều bài thơ của mình không? Xin cho một ví dụ về bản thảo mà anh đã ném vào “sọt rác”. Tại sao?

Trần Nhuận Minh:

Tôi viết bài thơ nào cũng hầu như được đăng báo hết. Thời bao cấp, tôi không có thơ “ngoài luồng”, không có thơ chỉ để trong sổ tay, rồi vài người tâm đắc đọc nhỏ cho nhau nghe. Chỉ có một số ít bài không được duyệt in, hoặc in thì biên tập sửa chữa cho phù hợp với tình hình thời sự hay chính trị gì đó mà tôi là “người trần mắt thịt” không thấu hiểu hết được. Ngay bài thơ Chiều Yên Tử, tôi viết năm 1983, hai đoạn thơ tôi thích nhất, đều được biên tập chữa lại. Trong bài thơ này, viết về Yên Tử mà tôi không dùng bất cứ một cảnh tượng nào quen thuộc của Yên Tử, như rừng trúc hoặc hàng tùng 700 tuổi, không đưa bất cứ một địa danh nào của Yên Tử vào bài, như chùa Đồng, chùa Hoa Yên…, tất cả đều rất nổi tiếng và trở thành biểu tượng quen thuộc về Yên Tử. Tôi chỉ mô tả tiếng chuông chiều, mà tiếng chuông chùa buổi chiều thì ở đâu mà chả giống nhau. Nhưng bằng cảm quan về vũ trụ và kiếp người, làm sao chỉ tả tiếng chuông mà người đọc nhận ra được Yên Tử, kinh đô tư tưởng và Phật giáo ở Việt Nam từ thời Trần.

Có hai đoạn tôi rất tâm đắc, nhưng khi đưa in lần đầu, biên tập đều sửa lại giùm cho và tôi đã đồng ý, vì không đồng ý thì bài thơ không được in.

Đoạn trước:

Tiếng chuông đến tìm tôi

Tỏa từng vòng tím tái

Bông lau như mất hồn

Trắng mờ chiều hoang dại…

Biên tập chữa:

Bông lau như được hồn

Sáng bừng chiều hoang dại.

Đoạn sau:

Mỗi người một câu hỏi

Đi mang mang trong đời

Nổi chìm bao ghềnh thác

Tôi chưa tìm thấy tôi…

Biên tập chữa câu cuối:

Tôi đã tìm thấy tôi.

Lý do chữa là để tránh bi quan, giảm sút “lòng tin”, thế thì kinh quá, nên tôi đồng ý ngay. Vì thế số bài đã in, nay tôi “ném vào sọt rác” hơi bị nhiều. Trong Lời tác giả, in ở đầu tập Gửi lại dọc đường, xuất bản lần đầu năm 2005 và giữ nguyên đến lần in thứ 6 vừa rồi, tôi viết, toàn văn như sau:

Tập thơ Gửi lại dọc đường (2005) được hình thành từ 4 tập thơ của tôi ở thời bao cấp (1960-1985): Đấy là tình yêu (1971) Âm điệu một vùng đất (1980) Thành phố bên này sông (1982) và Những vòm cây bên đường... gồm 166 bài thơ và 2 trường ca, mà tôi đã dứt khoát tự loại bỏ hoàn toàn, khi đất nước bước vào công cuộc Đổi mới năm 1986. Tập thơ thứ tư đã được duyệt in, nhưng sách không ra được. Một số bài thơ viết trước năm 1986, được in lại trong tập Nhà thơ và hoa cỏ (1993) và bổ sung dần thêm, thành 105 bài ở lần tái bản thứ 11 năm 2004, cũng là những bài thơ, đương thời không in được.

Nay tôi chọn lại, chỉ có 28 bài, xếp theo thứ tự thời gian sáng tác, chủ yếu ở trong 3 tập thơ đã in (trong đó nhiều bài từ tập Âm điệu một vùng đất) mà bạn đọc cùng thời ít nhiều còn nhớ, lưu lại trong phần PHỤ LỤC THƠ ở cuối tập, để bạn đọc tham khảo và có cơ sở hình dung một chặng đường thơ dài đến 25 năm, 1/4 thế kỷ của tôi.

Đến lần tái bản thứ tư này (2009), tôi bổ sung thêm một bài nữa là 29 bài. Đó là bài Thành phố bên này sông, viết ngày 26 - 8 - 1978, trước cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc (17 - 2 - 1979). Bài đã đăng Văn nghệ Quân đội năm 1979 và được Tạp chí Văn nghệ Quân đội tặng thưởng thơ hay năm 1979, rồi thành tên tập thơ xuất bản năm 1982. Bổ sung bài thơ này, tôi muốn lưu lại một kỷ niệm khó quên của một thời cầm bút và hy vọng những sai lầm đáng tiếc của lịch sử, sẽ không bao giờ lặp lại.

Tôi rất biết ơn công cuộc Đổi Mới (từ 1986), bởi dưới ánh sáng của nó, tôi đã được sinh ra lần thứ hai.

Sở dĩ đến năm 2005, sau 20 năm, tôi phải chọn in lại thành tập Gửi lại dọc đường, rồi in thành PHỤ LỤC ở cuối tập tuyển, chỉ có 28 bài, đến lần in thứ năm là 29 bài, vì có một số cháu làm luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn về thơ tôi, các cháu phải vào thư viện tìm kiếm những tập thơ cũ, những tờ báo cũ, và khảo sát những bài thơ có trong tay, để nhận biết thơ tôi trong một quá trình. Nhiều bài trong số đó, bây giờ đọc lại, tôi rất lấy làm xấu hổ. Tôi chọn in lại 28 – 29 bài ấy, là gom giùm tài liệu cho các cháu. Bây giờ, nếu anh chỉ đọc 29 bài chọn lại của tôi, một cách nghiêm túc, anh không chỉ nhận ra thơ tôi, mà nhận ra cả một thời, chúng tôi đã sống và viết như thế, rất mực chân thành, trong trẻo, cả tin…

Ví như câu thơ của một nhà thơ khác, đã có tên tuổi:

Anh bộ đội đến nhà

Cho em lòng dũng cảm…

Sao sự dũng cảm lại “cho” đơn giản thế. Bài thơ được phổ nhạc, rất nổi tiếng, vì đài Truyền hình Việt Nam và đài Tiếng nói Việt Nam cho hát suốt ngày. Bây giờ vẫn còn hát…

Bây giờ thì Nhà thơ và hoa cỏ đã có 113 bài, nếu kể cả các bài ngắn trong hai chùm, thì là 127 bài. Tập Gửi lại dọc đường chỉ lấy lại 29 bài trong số 166 bài đã in sách, chưa kể hàng loạt bài đăng báo khác không đưa vào sách, đủ thấy “gia tài trong sọt rác” của tôi, do chính tôi tự đào thải, không ít chút nào. Tôi sẽ không dẫn một bài nào trong số ấy ra đây, dù anh có yêu cầu dẫn ra làm ví dụ, vì nó sẽ có mặt, khi tôi trả lời câu hỏi ở các phần sau. Ngay cả 29 bài này, nếu không có việc các nghiên cứu sinh làm luận văn khoa học ngữ văn về thơ tôi, có yêu cầu nghiên cứu thơ tôi trong một quá trình, chắc tôi chả chọn ra làm gì. Dù anh cứ bình tĩnh đọc lại mà xem, nó cũng chẳng đến nỗi nào đâu... Gần đây, một nghiên cứu sinh tìm thấy trong thư viện một tập thơ in xưa cũ của tôi, để khảo sát, tôi nói, xin làm ơn vứt đi ngay giúp tôi. Những gì có thể hiểu về tôi trong 166 bài ấy, chỉ đọc trong 29 bài này là đủ. Những bài còn lại, xin được coi không phải là thơ của tôi. Còn tại sao tôi lại có thái độ dứt khoát như vậy ư? Xin thưa: Rất đơn giản, đó là trách nhiệm cuối cùng của tôi trước bạn đọc.

69. Nguyễn Đức Tùng:

Nhân anh nhắc đến Hồ Dzếnh, tôi nhớ ra một chuyện. Một nhà văn mà tôi biết, cách đây nhiều năm, có tâm sự rằng, anh là cháu họ của nhà thơ Hồ Dzếnh, lớn lên ở Hà Nội, thời nhỏ thường đến nhà ông chơi. Trước khi anh rời Việt Nam, hình như khoảng 1980, tuyệt nhiên anh không hề biết rằng người bác của mình là một nhà thơ nổi tiếng tiền chiến. Ông cũng không bao giờ nhắc với anh về văn chương của ông thời trước.

Kinh nghiệm của anh như thế nào khi tiếp xúc với các nhà thơ nhà văn tiền chiến như Hồ Dzếnh và những người khác trong hoàn cảnh tương tự, vào thời ấy?

Trần Nhuận Minh:

Khái niệm “nhà văn tiền chiến”, có lẽ là từ miền Nam đưa ra sau này, chắc bởi đã từng tạo thành một nét khu biệt nào đó trong đời sống văn học hay trong văn học sử ở các đô thị miền Nam những năm trước đây chăng? Còn ở miền Bắc, khái niệm này không có, hoặc có thì cũng không đủ để tạo thành một nét phân biệt về các tác giả trước năm 1945, kể cả trong phong trào Thơ Mới, khi đã hòa nhập hoàn toàn với cách mạng và bản thân các vị, đã trở thành các tác giả, thậm chí các tác giả lỗi lạc nhất của văn học cách mạng miền Bắc, chỉ sau có một người là nhà thơ Tố Hữu.

Tôi có quan hệ khá gần gũi và cũng khá lâu dài với nhiều trong số các vị, và chưa bao giờ thấy ai gọi các vị là “nhà văn tiền chiến” và các vị cũng không gọi mình và gọi nhau bằng bốn chữ ấy bao giờ. Vì thế, trong tiếp xúc, tôi gặp Xuân Diệu - Huy Cận, cũng chẳng khác gì với gặp Nguyễn Đình Thi - Hoàng Trung Thông. Ngay Văn Cao tôi cũng không thấy có gì khác lạ khi gặp ông ở Hà Nội hay ở vùng mỏ - vịnh Hạ Long.

Còn Hồ Dzếnh, một người rất lặng lẽ và khiêm nhường, đã thế, ông lại là người Hoa, nên càng lặng lẽ khiêm nhường hơn, khi có cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 mà sự căng thẳng của nó kéo dài mãi, đến sau 1988, tiếng súng cuối cùng ở biên giới Hà Giang mới tắt hẳn.

Tôi nhớ lần cuối cùng được ngồi với ông ở Nhà xuất bản Văn học, ông đến xin tạm ứng tiền nhuận bút khi tập thơ vừa được duyệt in mà chưa có cơ sở nào nhận phát hành, khiến giám đốc Lữ Huy Nguyên vô cùng băn khoăn. Tôi có nói với anh Nguyên là cố lo tiền cho ông, vì trông ông tồi tội thế nào ấy, rất khó cầm lòng. Và ngay sau đó, ông Nguyên đã bấm điện thoại cho kế toán của nhà xuất bản…

70. Nguyễn Đức Tùng:

Khái niệm văn học tiền chiến là một khái niệm quan trọng, có tính bản lề. Chữ tiền chiến ở đây dĩ nhiên là quy ước, nói về trước năm 1945. Thật ra tôi không chú ý về các biểu hiện sinh hoạt ngoài đời như anh đề cập. Cái quan trọng hơn nhiều, nằm trong mối quan tâm văn học chung của chúng ta, là ở chỗ các nhà văn tiền chiến khi đi theo cách mạng, trong giai đoạn sau 1945, nhất là sau 1954, đã hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn tự nguyện xóa bỏ quá khứ văn học của mình. Do đó câu hỏi đặt ra đối với chúng ta là về số phận của một nền văn học trước đó và giá trị thực sự của một nền văn học sau đó.

Trần Nhuận Minh:

Tôi hiểu. Trước năm 1945, các nhà Thơ Mới đã tạo ra được “một thời đại trong thi ca” (Hoài Thanh). Đi theo cách mạng, suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, Huy Cận không viết được. Từ sau năm 1958, Huy Cận có một số bài hay, đáng chú ý nhất là các chùm thơ ông viết ở vùng mỏ và về công nhân mỏ. Nhưng vẫn không so được với Lửa thiêng (1940) mà trong đó bài thơ Tràng giang được xem như một kiệt tác. Xuân Diệu, đã nói ở trên. Phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, Chế Lan Viên viết hết lòng, cũng viết hết cái tài của mình. Thơ ông như một dàn hợp xướng lớn với rất nhiều giọng điệu, nhưng chỉ đến Di cảo, xuất bản sau khi ông chết, thơ ông mới thật hay, mà Di cảo thì ông không phục vụ cái gì. Thế Lữ chuyển sang kịch. Phạm Huy Thông gác bút thơ. Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Yến Lan viết vẫn còn hay vì giữ được cái hơi cũ, nhưng không nổi trội. Anh Thơ viết khác hơn nhưng không gây được ấn tượng. Chỉ có Tế Hanh là viết hay hơn.

Hồ Dzếnh không có tên trong Thi nhân Việt Nam.

71. Nguyễn Đức Tùng:

Hai câu thơ trong bài Tự thuật của anh:

Viết được một câu thơ trung thực với Nhân Dân

Tôi đã đi qua bốn mươi năm bão táp

Đẹp và sáng sủa như một tuyên ngôn.

Bốn mươi năm nào, thưa anh? Có thể cho ví dụ, được chăng?

Và điều gì làm anh “bức xúc” đến như thế, về sự “trung thực” của người cầm bút?

Trần Nhuận Minh:

Bài Tự thuật, tôi viết tháng 8 năm 2000. Và như thế, 40 năm là tính từ năm 1960, khi tôi đăng báo bài thơ đầu tiên, được coi là một tác giả. Như vậy đến nay, tôi đã có 50 năm cầm bút.

Viết được một câu thơ trung thực với Nhân Dân… Đó là cố gắng của tôi và có lẽ cũng không phải chỉ của riêng tôi. Quả thật đã đến lúc phải trung thực, tức là nói thật, viết thật. Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, là khẩu hiệu của Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam và cũng là phương châm hành động của những người cộng sản chân chính Việt Nam. Chính tôi đã trực tiếp nghe từ Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đến Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu khuyến khích các nhà văn nói thật, viết thật, và yêu cầu các nhà văn lấy đó làm tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của mình.

Có một thời kỳ khá dài, chúng ta nghĩ rằng: cái gì có lợi cho cách mạng, dù cái đó không diễn ra, vẫn là sự thật. Còn cái gì không có lợi cho cách mạng, dù cái đó có diễn ra ngay trước mắt, cũng không phải là sự thật. Quan niệm này, theo tôi, xuất phát từ câu nói nổi tiếng của Mao Trạch Đông: “Cái gì có lợi cho cách mạng thì cái đó là chân lý”, mà Nguyễn Đình Thi thuật lại, trong ghi chép của Hà Minh Đức. Cũng theo Nguyễn Đình Thi, trong bài nói chuyện về văn nghệ ở Diên An năm 1942, “Mao Trạch Đông phủ nhận tính người, đề cao tính giai cấp và thực dụng của văn học”. (Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi, của Hà Minh Đức, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011).

Chúng ta đã có không ít sự nhầm lẫn thật giả, sự gán ghép không biết có phải là do tuỳ tiện hay không, nhưng đã làm sai lệch cả lịch sử.

Ví như bài thơ Phóng cuồng ca rất nổi tiếng của Trần Tung (1230 – 1291), Bồi tụng Bùi Huy Bích (1744 – 1818) thời Lê ghi là của Trần Quốc Tảng (1252 - 1313), hơn 200 năm sau, cho đến tận bây giờ, sai lầm này của ông Bùi vẫn không sửa hết được. Đến một nhà sử học đầu ngành, đã thế lại được coi là đứng đầu “tứ trụ”: Lâm (Đinh Xuân Lâm), Lê (Phan Huy Lê), Tấn (Hà Văn Tấn), Vượng (Trần Quốc Vượng), như người ta thường nói, là Đinh Xuân Lâm, trong một cuốn sách khoa học nghiêm ngặt dùng trong nhà trường, đòi hỏi phải vô cùng cẩn trọng, chính xác: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (Đinh Xuân Lâm – Trương Hữu Quýnh), Nhà xuất bản Giáo dục, 2005, tái bản gần đây, trang 437, vẫn còn ghi bài thơ Phóng cuồng ca của Trần Tung là của Trần Quốc Tảng. Đọc đến đây, tôi phiền lòng vô cùng, tự nhiên thấy xót xa...

Và bài thơ Nam quốc sơn hà… không phải của Lý Thường Kiệt (1019 – 1105). Giáo sư Bùi Duy Tân, người thầy dạy tôi ở trường đại học Tổng hợp Hà Nội, đang điều trị ung thư giai đoạn cuối ở bệnh viện Hữu Nghị, nhờ con chở đến và xin đăng ký phát biểu trong hội thảo thơ tại nhà Thái Miếu trong Ngày thơ Việt Nam, chiều Rằm tháng Giêng năm Kỷ Sửu (2009), do nhà thơ Vũ Quần Phương, chủ tịch hội đồng Thơ chủ trì và tôi là ủy viên hội đồng, được phân công cùng với nhà thơ Vũ Quần Phương, thực hiện cuộc hội thảo này. Bài thơ Nam quốc sơn hà thường được biểu diễn trong màn múa hát dàn dựng theo phong cách sử thi rất hoàng tráng với giáo mác oai hùng tại sân khấu chính của Ngày thơ Việt Nam. Giáo sư nói với chúng tôi rằng: đây là lời phát biểu cuối cùng của ông, vì ông không biết sẽ “đi” ngày nào. Nhà thơ Vũ Quần Phương đã dành cho ông đến 45 phút, trong khi những người khác, chỉ có khoảng 15 - 20 phút. Tại đây, giáo sư đã chính thức báo cáo rằng, bài thơ ấy khuyết danh (có từ thời Tiền Lê), giáo sư là người gán cho Lý Thường Kiệt (ở thời Lý) và sau đó, ông cùng những cộng sự của ông và những học trò của ông nữa, đã viết vào tất cả các loại sách giáo khoa, từ cấp tiểu học đến trên đại học. Và bây giờ, trong hương khói linh thiêng của Thái Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long - Hà Nội 1000 năm văn hiến, ông xin lỗi các thế hệ thầy giáo và các thế hệ học trò…

Nghĩ cũng tiếc, bởi bài thơ mấy chục năm nay, đã được coi là Bản tuyên ngôn độc lập thứ nhất của dân tộc do Lý Thường Kiệt soạn thảo. Tên ông sánh ngang và đứng trước Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh. Bây giờ không phải của Lý Thường Kiệt thì ứng xử ra sao… Thực ra, không có ý kiến chính thức của giáo sư, bất cứ ai có chút am hiểu về lịch sử và thơ văn thời Lý, cũng đều biết bài thơ ấy khuyết danh, chỉ là tục truyền, mà ngay tục truyền cũng không ghi: “tục truyền rằng bài thơ ấy là của Lý Thường Kiệt”, như sau này ghi tục truyền rằng: những bài thơ Nôm ấy (ám chỉ cái ấychuyện ấy) là của Hồ Xuân Hương (mà không phải của Hồ Xuân Hương). Tôi tra trong Đại Việt sử ký toàn thư tập I, chương Nhân Tông hoàng đế nhà Lý, năm Bính Thân (1076), vua sai Lý Thường Kiệt đánh Tống trên sông Như Nguyệt. Sau khi ghi xong cuộc chiến, với thắng lợi lớn rồi, sử gia mới ghi thêm trong ngoặc đơn (…), nguyên văn như sau. (“Tục truyền rằng, Thường Kiệt đắp luỹ làm rào ở dọc sông để cố giữ. Một đêm các quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân, có tiếng ngâm to rằng: Nam quốc sơn hà Nam đế cư…) Sử gia ghi hết bài thơ bốn câu rồi viết sang việc khác ngay, không ghi bài thơ đó tục truyền là của ai, không ghi Lý Thường Kiệt sai người đọc, cũng không ghi kết quả bài thơ ấy trong trận đánh là như thế nào.

Sách Lĩnh Nam chích quái: “Lựa chọn những chuyện quái dị ở Lĩnh Nam. Tác phẩm sưu tầm văn học dân gian Việt Nam, xuất hiện từ cuối thời Trần.” (Từ điển văn học, bộ mới, trang 860, Nhà xuất bản Thế giới, in tháng 10/2004). Tác giả là Trần Thế Pháp đời Trần, được Vũ Quỳnh (1453 – 1516) và Kiều Phú (1447 - ?), nhuận sắc vào năm 1493, thời Lê, sau đó còn được nhiều nhà nho khác tiếp tục bổ sung sửa chữa… Nhưng về cốt lõi, vẫn là một tác phẩm văn học dân gian của thời Trần.

Theo sách trên, Trần Thế Pháp từ thời Trần đã chép bài thơ Nam quốc sơn hà… có từ thời Tiền Lê, trong Truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt. Trong truyện, hồn Trương Hống, Trương Hát đã đọc “bài thơ thần” trên sông Như Nguyệt: Nam quốc sơn hà Nam đế cưtrong trận tự cầm quân đánh thắng giặc Tống, khi Lê Hoàn mới lên ngôi vua (Đại Hành hoàng đế), năm 981, trên sông Như Nguyệt, trước trận cũng đánh giặc Tống trên sông Như Nguyệt, năm 1076, của Lý Thường Kiệt ở thời Lý, đến 95 năm.

Bài thơ ấy khuyết danh ở thời Tiền Lê, do Trần Thế Pháp chép lại ở thời Trần, như sau:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư

Như hà Bắc Lỗ lai xâm lược

Bạch nhận phiên thành phá trúc dư

Ý câu cuối là:

Chúng bay sẽ bị lưỡi gươm sắc chém tan như chẻ tre.

Câu kết, cũng có bản chép ở thời Trần, như hiện nay ta biết:

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

(Chúng bay tất sẽ thất bại)

Thêm một chứng cứ không có gì phải tranh cãi về việc bài thơ ấy là thơ khuyết danh, thơ dân gian của thời Tiền Lê, chép lại ở thời Trần như Từ điển trên đã ghi, không phải là thơ của Lý Thường Kiệt, do Lý Thường Kiệt sáng tác ở thời Lý.

Ví như Thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, một Hồ Xuân Hương dân gian, cũng như một Đoàn Thị Điểm dân gian Da trắng vỗ bì bạch... trong Truyện Trạng Quỳnh mà tôi đã trình bày lại khá cặn kẽ ở phần trên… Tôi nhớ giáo sư Hoàng Xuân Hãn hoặc giáo sư Trần Thanh Mại, một trong hai ông, đã kêu to lên rằng: “mồ cha không khóc đi khóc đám mối”. “Mồ cha” là Lưu Hương ký, tác phẩm do Hồ Xuân Hương thật sáng tác. “Đám mối” là Thơ truyền tụng…, sáng tác dân gian gán cho Hồ Xuân Hương. Nó vẫn nguyên giá trị nếu xét trong phạm trù văn học dân gian, chứ không phải văn chương thành văn, văn chương bác học của một tác giả có thật. Vậy mà “đám mối” ấy, có trong tất cả các sách giáo khoa, dạy sự trung thực để làm người công dân tốt sau này, cho học trò ở mọi cấp học trong nước, chưa kể ở nước ngoài… Được biết, có thời kỳ, chúng ta còn định làm hồ sơ để UNESCO công nhận Hồ Xuân Hương (nhân vật dân gian) là thi hào dân tộc như Hội đồng hòa bình thế giới đã từng công nhận thi hào dân tộc Nguyễn Du. Xuân Diệu đã có tập sách Ba thi hào dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương… Hãy chỉ nói hai vấn đề rất lớn và rất nhỡn tiền trong văn chương, chưa kể trong các loại khoa học đòi hỏi sự chính xác khác.

Ví như nguyên nhân cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan, sách giáo khoa sử học, ở tất cả các cấp, vài chục năm nay, đã viết, do Mai Thúc Loan cùng nông dân Nghệ Tĩnh phải gánh vải cống sang Trung Hoa cho Dương Quý Phi ăn… mà nổi dậy chống lại nhà Đường năm 713 (theo kết quả của một hội thảo khoa học do giáo sư Phan Huy Lê chủ trì). Mới đây thôi, một nhà sử học nổi tiếng cũng viết như thế thành một tập sách riêng, vẽ tranh minh họa cho trẻ con đọc. Khi tra vào tiểu sử Dương Quý Phi, thì năm ấy, bố mẹ Dương Quý Phi còn chưa lấy nhau. Năm 719, nghĩa là 6 năm sau, Dương Ngọc Hoàn mới sinh ra, năm 736 mới vào cung, năm 739, nghĩa là 26 năm sau, mới làm phi cho vua Đường Minh Hoàng và được gọi là Dương Quý Phi… Chưa kể việc gánh vải xếp lên xe trạm, cho ngựa “truy phong”, chạy nhanh về kinh đô nhà Đường, vài chục năm sau ấy, diễn ra ở Quảng Châu, Trung Hoa, chứ không phải ở Nghệ Tĩnh, Việt Nam.

Rồi em bé Đuốc sống Lê Văn Tám. Tôi đã có 7 năm dạy học (1962 – 1969) và 12 năm làm bí thư chi đoàn và bí thư đoàn Thanh niên Lao động (1962 – 1974), thường nêu cao tấm gương anh hùng hiếm có của anh. Nhưng chỉ một lần, đến thăm kho xăng ở Hà Khẩu, thị xã Hồng Gai, một kho xăng loại nhỏ, sau khi nghe thuyết trình về hệ thống cấu trúc, bảo ôn, và nguyên tắc bảo vệ của các kho xăng, tôi đã nghi ngờ chuyện Lê Văn Tám là bịa rồi… Biết bao trường học, con đường, công viên… hiện vẫn còn mang tên Lê Văn Tám… Gần đây, giáo sư Phan Huy Lê, một nhà sử học đầu ngành và là Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã công bố công khai trên báo chí và trên Đài Truyền hình Việt Nam, ý kiến của giáo sư Trần Huy Liệu, trước khi mất (cũng giống như giáo sư Bùi Duy Tân) về việc ông, khi làm Bộ trưởng Tuyên truyền, đã tạo ra hình tượng anh hùng này, chỉ để tuyên truyền trong kháng chiến chống Pháp, thì tôi tin ngay.

Rồi cành đào Thăng Long mà vua Quang Trung, cho người phi ngựa vào Phú Xuân (Huế) mang tặng Ngọc Hân công chúa là do một nhà viết chèo bịa ra, sau này được sử dụng trong nhiều cuốn sách như một tư liệu chính thức về mối tình cao đẹp của vị anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Gần đây, tại nhà thờ danh nhân văn hóa Chu Văn An (Chu An) tại Chí Linh, Hải Dương, có dòng chữ lớn màu vàng trên nền đỏ để thờ: “Ta chưa từng thấy nước nào coi nhẹ sự học mà khá lên được”, dưới đề CHU VĂN AN, như một câu danh ngôn “Hiền tài là nguyên khí quốc gia…” của Thân Nhân Trung vậy. Ai cũng ngạc nhiên vì chưa từng thấy Chu An nói thế, viết thế bao giờ. Sau hỏi ra mới biết đó là lời thoại trên sân khấu của nhân vật Chu An trong một vở kịch chèo. Vậy đó là lời của nhà viết chèo hôm nay đấy chứ. Sao lại gán cho Chu An, nhà giáo dục rất lớn và vô cùng nghiêm khắc ở thời Trần, để mà thờ được?

Ấy là chưa kể “phát minh khoa học” lạ lùng: “ăn ngô bổ hơn ăn gạo”. Tôi vẫn nhớ dạo đó đói lắm, đến được ăn ngô cũng là may mắn lắm rồi. Tôi sợ nhất là ngô răng ngựa, nhà tôi có bếp than, ninh suốt đêm, sáng và trưa hôm sau nhai mỏi cả răng, sái cả quai hàm, vẫn không thấy béo bổ gì, cảm giác như nhai mùn cưa, nghĩ lại mà rùng mình. Nhà thơ Chế Lan Viên viết:“Ăn bát cơm ngô sáng ngời chân lý”, cũng là ở giai đoạn này.

Tôi có câu thơ:

Ngày vĩ đại là ngày không nói dối

Và ngừng bắt chim khi nó ấp con...

Bởi tôi biết “không nói dối” là một điều rất khó tránh và không ít trường hợp, ta dùng nó như một phương tiện hành xử, dù chúng ta đâu có muốn nói dối. Vì những lời nói dối dễ được nghe hơn những lời nói thật, cũng dễ được việc hơn. Chỉ có vậy thôi.

Bây giờ nhiều sự thật đã được khôi phục, theo tinh thần Đại hội VI vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Và tôi rất mừng.

72. Nguyễn Đức Tùng:

Ta lại vấp lại rồi ơi mô đất cũ

Đứa con hoang của mọi tín điều

(Nguyễn Khắc Thạch)

Cám ơn anh. Hy vọng những câu chuyện của anh giúp làm sáng tỏ nhiều điều, mặc dù có những vấn đề cần bàn bạc hơn nữa. Nhiều người sẽ đồng ý với thái độ thẳng thắn với lịch sử của anh. Có lẽ vì những thao thức tương tự mà Trần Nhuận Minh là một nhà thơ hiếm hoi của đề tài thế sự.

Trần Nhuận Minh:

Vâng, có lẽ thế. Tôi cũng không dám chắc.

Tôi nhớ năm 1973, chính Xuân Diệu đã nói với tôi một điều rất sâu sắc rằng: Ở ta có những cái trớ trêu, khi nước dâng lên lưng chừng núi, con thuyền cũng được nâng cao theo, rồi mắc cạn luôn ở trên đó. Đến khi nước đã rút rất xa chân núi rồi, thậm chí người ta đã quên là có một thời, nước ở đây đã dâng cao, vậy mà mọi người nhìn lên trên núi, vẫn thấy con thuyền “đậu” ở trên lưng núi cao ấy, là cớ làm sao? Ai hạ nó xuống đây? Rồi Xuân Diệu đặt một ngón tay trỏ trước trán, chỉ lên mái nhà và nói một câu rất hàm súc: không có ai dám làm việc đó cả.

Thưa nhà thơ Xuân Diệu rất kính yêu, đã có rồi chứ ạ. Và mọi giá trị văn chương, văn hóa và lịch sử, sẽ từng bước được định đoạt sòng phẳng, minh bạch.

Tôi tin vào điều đó.

_______________________

(1) Năm 1813-1814, Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc.
(2) Thúy Kiều (trong Truyện Kiều) trẫm mình ở sông Tiền Đường.
(3) Nghiệp Thành: nơi đóng đô của Tào Tháo, thời Tam Quốc.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 23.8.2013.