Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



ĐỐI THOẠI VĂN CHƯƠNG





Chương Một
ĐỐI THOẠI THÁNG GIÊNG


Thư gửi độc giả

Cuốn sách mà bạn có trên tay là kết quả của nhiều tháng trò chuyện trực tiếp và trao đổi thư từ giữa nhà thơ Trần Nhuận Minh và người viết những dòng này.
Tác giả xin gởi lời cảm ơn đến các nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình văn học mà chúng tôi có vinh dự được nói đến trong cuốn sách, cảm ơn quý bạn đọc, cảm ơn Nhà xuất bản Tri thức đã quan tâm đến cuốn sách của chúng tôi.
Như bạn thấy, đây là cuộc trò chuyện giữa hai chúng tôi, bắt đầu từ tháng Giêng và kết thúc vào cuối tháng Chín năm 2011, về những vấn đề rất khác nhau của thơ và thơ Việt Nam. Tôi mời các bạn cùng lắng nghe nhà thơ Trần Nhuận Minh, nhân vật trung tâm, cùng với thơ của anh, thơ của những người khác, và tất cả những suy nghĩ, hồi ức, trăn trở của anh, “vì văn chương và xoay quanh văn chương”, như anh đã nói.
Tôi hy vọng rằng cuộc trò chuyện qua nhiều chủ đề văn học, đã diễn ra một cách hào hứng sôi nổi trong gần một năm, không phải là không có lúc gay cấn, nhưng lý thú, giữa hai chúng tôi, nay được ghi lại, sẽ trở thành cuộc trò chuyện giữa chính bạn đọc và nhà thơ Trần Nhuận Minh. Tức là giữa hai phía và nhiều phía, giữa tất cả chúng ta, bao gồm người đọc trong nước và hải ngoại, những người bất chấp một thời kỳ đầy khó khăn của thơ ca, vẫn không ngừng yêu mến nó và ủng hộ một nền thơ Việt Nam đang đi tới, trong sáng, khỏe mạnh, hướng về tương lai.
Vì thơ, dù được viết ở đâu, lúc nào, về bất cứ chuyện gì, bởi bất cứ người nào, nếu là thơ thật sự, bao giờ cũng là tiếng nói của tâm hồn dân tộc và của tương lai chúng ta. Với lòng trân trọng biết ơn,

Nguyễn Đức Tùng
Vancouver, ngày 25 tháng 9 năm 2011

1. Nguyễn Đức Tùng:

Xin chào nhà thơ Trần Nhuận Minh.

Cám ơn anh đã nhận lời tham dự cuộc trò chuyện văn chương lâu dài của chúng ta, bắt đầu từ tháng Giêng này.

Trần Nhuận Minh:

Vâng, xin chào anh Nguyễn Đức Tùng, nhà thơ, nhà phê bình văn học. Rất vui được trò chuyện với anh.

2. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi hy vọng rằng, chúng ta sẽ có những trao đổi thẳng thắn, cởi mở và thân thiện, thuận theo tự nhiên, nhưng cũng sẽ cố gắng tập trung quanh các chủ đề: thơ Trần Nhuận Minh, thơ của các nhà thơ khác, những hồi ức và suy nghĩ của anh về năm tháng đã qua. Xin mời anh nêu những nhận xét của mình về các vấn đề sáng tác và phê bình trong thơ và trong văn chương đang được dư luận quan tâm.

Như thế, cùng với nhiều người, chúng ta thử đi tìm một phác thảo chân dung của con đường thơ Việt Nam hôm nay.

Trần Nhuận Minh:

Đúng vậy. Tôi cũng hy vọng như thế. Và tất nhiên, cùng với việc bàn về thơ, đôi khi về văn của những nhà thơ, nhà văn khác, tôi cũng sẽ xin bàn về thơ của anh. Bởi ngoài phê bình văn học, với những đóng góp ngày càng sắc sảo từ bàn viết hải ngoại, anh thực sự là một nhà thơ và theo cách hiểu của tôi, là một trong những nhà thơ Việt Nam đáng chú ý nhất ở hải ngoại hiện nay.

Đúng như anh nói, đây là một cuộc đối thoại thân thiện, và tôi muốn nói thêm: hoàn toàn bình đẳng và tự do. Đối với tôi, qua 50 năm cầm bút, biết bao điều cần được giãi bày, vì văn chương và xoay quanh văn chương.

3. Nguyễn Đức Tùng:

Đập giữa lồng ngực tôi như một trái tim

Hình như lửa âm thầm chứa trong vàng đen

Đốt cháy ruột gan tôi đến nỗi

Tôi ngồi đứng không yên

Đó là thơ anh viết về hòn than đá.

Sau mấy mươi năm, hôm nay nhìn lại, thơ đã làm thay đổi cuộc đời anh ra sao?

Trần Nhuận Minh:

Những người sinh cùng thời với tôi, ở xung quanh tôi, nhất là cùng học với tôi, có cuộc đời và số phận khác với tôi, có lẽ là bởi lý do này: tôi hướng đời mình vào thơ. Nỗi buồn, niềm vui, hy vọng, thành công hay thất bại, hay hay dở…đều từ cái gốc này mà ra.

Thuở bé học Kiều, tôi lơ mơ nhận ra có một thế giới khác, một cuộc sống khác đang tồn tại bên cạnh mình, ít đổi thay, cao quý và tốt đẹp hơn nhiều so với cái tôi hằng thấy, hằng nghe… Kiều đã thấm vào tôi như một thứ tôn giáo. Vì thế, tôi gọi quyển Kiều là thánh kinh của tâm hồn tôi. Tôi cứ nghĩ, nếu không có quyển Kiều với những câu thơ huyền diệu của nó, dù tôi không hiểu hết, âm thầm dạy bảo và hướng dẫn tôi từ thuở nhỏ, thì cuộc đời tôi không biết sẽ như thế nào.

Thông thường, tôi điềm đạm, nhún nhường và nếu có bất cứ ai tranh với tôi, hoặc tôi biết là sẽ tranh với tôi, thì tôi xin thua ngay từ trước; cho đến tận bây giờ, vẫn thế. Dù tôi biết chắc chắn là tôi đúng hơn, và có “cái đó” có lẽ là phải hơn.... Thuở bao cấp, tôi không biết “quyển sổ hai đầu” (quyển sổ phân hàng hoá) là cái gì. Khi cơ quan họp để bốc thăm được mua phân phối cái quần đùi hay cái áo may ô, hoặc bánh xà phòng, theo hướng dẫn của cơ quan thương nghiệp, tôi đều vui vẻ không tham gia. Tôi nghĩ: trong chiến tranh có thể chết vì nhau, nay chỉ vì mấy cái lặt vặt này mà phải nhờ đến sự may rủi, thì thực phiền lòng. Tôi làm Tổng biên tập báo, Chủ tịch hội, Bí thư đảng đoàn… với tư cách là trưởng ngành của tỉnh, thực tình tôi chưa được đào tạo một ngày nào. Chính thơ đã đào tạo tôi, đã thay đổi cuộc đời tôi. Vì vậy, tôi đã làm việc hết lòng, với cố gắng cao nhất. Còn có thể va vấp chỗ này, khiếm khuyết chỗ kia, trái ý người này, mất lòng người nọ, trong khi giải quyết một số việc cụ thể nào đó, là điều rất khó tránh khỏi. Tôi đã góp công quan trọng cùng nhiều người, đưa tổ chức do tôi phụ trách, được chọn là một trong năm đơn vị khá nhất nước, được tặng Huân chương Độc lập hạng ba đầu tiên của cả nước trong các tổ chức Hội cấp tỉnh thành, và tờ báo Hạ Long do tôi làm Tổng biên tập, cũng được ban Tư tưởng văn hóa Trung ương chọn là một trong năm tờ báo Hội cấp tỉnh có chất lượng khá nhất, được Thủ tưởng Chính phủ tặng Bằng khen đầu tiên, trong số các tờ báo Hội cấp tỉnh.

Dù bận thế nào, thơ vẫn là cái thường trực, day dứt, trăn trở khôn nguôi, làm tôi ăn ngủ không yên.

Được, cũng không vui, mà không được, cũng không buồn.

Đó là thiền, tập được cái đó, khó lắm. Tôi cũng cố gắng tập:

Hỡi Đấng Mê Tơi

Bây giờ tôi sạch nợ trần ai

Vâng, thưa Người

tôi sạch nợ trần ai

Những sung sướng

không còn làm tôi sung sướng

Những đau khổ

cũng không còn làm tôi đau khổ…

4. Nguyễn Đức Tùng:

Robin Skelton, nhà thơ Canada, có lần khuyên: nghệ thuật viết tức là nghệ thuật viết lại, viết đi viết lại (the art of writing is the art of rewriting).

Một số bài thơ của tôi, khi viết xong thấy ngon lành vừa ý, nhưng ngày hôm sau đọc lại bỗng thấy đắng cả miệng, ngượng muốn chui xuống đất; còn nếu trước đó chưa kịp gởi cho ai thì thật là một may mắn lớn.

Khi làm thơ, anh viết một lần là xong hay viết đi sửa lại nhiều lần?

Trần Nhuận Minh:

Tôi thường viết một lần. Một lần là xong. Tôi viết ở bất cứ đâu khi bài thơ chợt đến. Có khi tôi mượn người bên cạnh cái bút và đứng lên xé luôn tờ lịch trong phòng của bất cứ ai, và bài thơ lập tức hoàn thành. Cũng có bài thơ viết xong tôi quên, rồi vào một lúc nào đó, chợt nhớ lại hoặc chợt tìm thấy, có thể sửa một vài chữ, cũng có thể không, rồi gửi đăng báo hoặc đưa in luôn vào tập. Ví như bài Tuệ Tĩnh, tôi viết từ 10 năm trước, năm 2001, nên có câu: 600 năm / Mưa nắng Giang Nam không mòn được. Vì cụ Tuệ Tĩnh mất khoảng năm 1400.

Hay bài thơ bốn câu sau đây:

MẤT ĐIỆN

Ngày nóng nhất thị xã vẫn mất điện

Công dân cởi trần đổ ra đường

Nhìn nhau cười hê hê

Ngớ ngẩn như một bầy thú vật…

Tôi viết từ cuối năm 1985. Khi ấy, nơi tôi ở chưa là thành phố. Bây giờ thì thành phố cũng mất điện liên miên. Thấy hơi “nặng”, nên tôi chữa lại:

Mua sắm đã đành nhờ nuôi lợn

Văn chương nào có mấy ai hay

Trưa hè thị xã thường mất điện

Ngực phanh trần, đứng dưới cây…

Nghe “dễ chịu” hơn, phải không? Tôi rất thú câu Văn chương nào có mấy ai hay, nói được hai ý, một là về tác giả, thời gian này, nào có mấy ai viết được hay; hai là về người đọc, bây giờ văn chương nào có mấy ai biết, mấy ai quan tâm. Cái thú của thơ là ở sự đa nghĩa của nó. Tôi rất khâm phục một câu không rõ của ai: Vợ cả vợ hai, hai vợ đều là vợ cả. Chữ cả cuối câu rất tài. Tôi đưa đoạn thơ trên vào bài Bạn đến (1985), in trong tập Nhà thơ áp tải năm 1989, sau đưa in lại trong tập PHỤ LỤC THƠ 2005: Gửi lại dọc đường, vừa in lần thứ 6. Một ví dụ khác: tập Nhà thơ và hoa cỏ khi in lần thứ 19, cả tập chỉ chữa có hai chữ, trong bài Lời từ biệt, cuối tập:

Những câu thơ dằn vặt một đời người

Chả cần biết có ai còn nhớ nữa

Cuộc sống này với bao nhiêu trắc trở

Anh có thể đi mà chả kịp chào

Như vậy, tôi chữa thơ thường xuyên trong mỗi lần tái bản, lần nào cũng chữa, với hy vọng làm cho câu thơ có chất lượng cao hơn…

18 lần trước, đều in: Cuộc sống này với bao nhiêu dang dở… Có người bảo: chữa thế là làm hỏng thơ rồi, dang dở hay hơn, rộng lớn hơn. Nhưng tôi nghĩ trắc trở mới phù hợp hơn với chủ đề của cả tập thơ là số phận của con người, trong một xã hội đầy bất trắc. Nhà thơ Trần Đăng Khoa viết:

Cái chết vẫn rình ta ở khắp nơi, sau từng cánh cửa

Cua đường hẹp, chiều mưa, vài sải nước gần bờ…

Ta chả là gì giữa bốn bề bất trắc

Chỉ tích tắc khôn lường, ta đã hóa người xưa…

Nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn có một bài thơ rất hay viết về vợ, đại ý là, buổi sáng em xách cặp lồng cơm đi làm, cứ phấp phỏng lo sẽ xảy ra điều gì, bởi rất có thể: Là thôi… có thể mất em trong đời, chỉ đến chiều, thấy vợ về, mới biết là đã qua một ngày bình thường.

Cùng em buổi sáng chia tay

Thầm mong lương thiện một ngày đón em…

Bài thơ có dấu ấn hiện thực và tâm trạng của cả một thời kỳ rất dài, chả biết từ năm nảo năm nào, cho đến tận ngày hôm nay, vẫn thế thôi. Hãy chỉ nói riêng về tai nạn giao thông. Theo báo cáo của ban An toàn giao thông, trung bình một ngày đêm trong năm, chết khoảng 27 đến 30 người, có năm lên đến 33 người chết trong một ngày (tôi từng làm Tổng biên tập một tờ báo, có trang an toàn giao thông), chưa kể số người bị thương đến tàn phế. Ngay trong chiến tranh ác liệt, không phải ngày nào cũng có số người chết vì bom đạn nhiều đến như thế…

5. Nguyễn Đức Tùng:

Tại sao anh viết?

Trần Nhuận Minh:

Tôi viết vì không thể không viết. Đơn giản thì như thế, nhưng ngẫm lại thì thấy đó là một câu hỏi hệ trọng hơn nhiều. Nó nằm sâu ở tầng đáy của cảm xúc và dưới hình thức này hay trạng thái khác, nó buộc tôi phải hành động, tức là phải cầm bút. Nó góp phần quan trọng tạo dựng tác phẩm văn chương trong một ánh sáng nào đó của thẩm mỹ.

Và với tôi, có hai giai đoạn rõ rệt.

Giai đoạn một, từ khi viết bài thơ đầu tiên (1954) được đăng đầu tiên (1960) đến năm 1986, năm đất nước bước vào công cuộc đổi mới mà ngay từ năm đó, tôi đã nói rằng, đây là cuộc cách mạng tháng Tám thứ hai và với bản thân tôi, đây là năm sinh thứ hai. Giai đoạn này tôi viết để phục vụ nhiệm vụ chính trị trước mắt. Nghĩa là viết cái mà cuộc sống cần ở mình. Chủ đề tư tưởng là các nhiệm vụ chính trị cần phải đạt đến. Nội dung hiện thực là thực tế nó cần phải xảy ra, còn nó có xảy ra thật như thế hay không, điều ấy không quan trọng. Tôi nghĩ, cả một nền thơ của một giai đoạn lịch sử đã được viết trong quan điểm đó, rất trong sáng và chân thành. Chính nhờ thế, mà “Toàn đất nước có chung tâm hồn, có chung gương mặt” (Chế Lan Viên). Đến khi thống nhất được đất nước, nhiệm vụ chính trị hoàn thành rồi, thì thơ có hoàn thành được nhiệm vụ nghệ thuật, để tồn tại đến mai sau hay không, lại là vấn đề khác, và nói cho cùng, điều ấy không phải là cái quan trọng nhất. Nếu nó có “hi sinh” thì cũng hy sinh như mọi người lính trong trận mạc mà thôi.

Giai đoạn hai, từ năm 1986, tôi viết về cái mà mình cần phải có ở tác phẩm của mình, nỗi ám ảnh của cá nhân mình trước mọi cái mắt thấy tai nghe, cùng với những tổng kết, trải nghiệm của cả cuộc sống mà mình tích tụ được đến lúc đó, qua lăng kính của chủ nghĩa nhân văn. Không viết được như thế thì mình không sống được bình thường như mọi người.

Trong sách kỷ yếu Nhà văn Việt Nam hiện đại, Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản năm 2007, phần nghĩ về nghề, tôi viết: “Có một nỗi niềm nào đó thực sự ám ảnh anh, buộc anh phải viết ra, nếu không viết ra được với những đặc trưng như thế, như thế… anh hoàn toàn mất thăng bằng. Đối với anh, đó là sự giải tỏa, còn đối với bạn đọc, đó là sự khám phá mới về Cõi Người, với những khát vọng không bao giờ nguôi ngoai…”

6. Nguyễn Đức Tùng:

Khi đọc trường ca Bản Xônat hoang dã, ấn tượng đầu tiên của tôi là về nhịp độ, tốc độ, tiếng Anh gọi là pacing. Pacing là sự chuyển động của câu thơ và toàn bài thơ. Kinh nghiệm của tôi là khi được viết trong một thời gian ngắn, viết một lần là xong, bài thơ dài thường gây ấn tượng dồn nén, gấp gáp, hoang mang mà mãnh liệt. Bộc lộ hết cái tôi ra.

Trần Nhuận Minh:

Tôi cũng có những cảm giác như anh khi viết các tập khác, nhưng riêng tập thơ này thì lại không. Tôi viết rất nhẹ nhàng, thanh thoát và dường như chả bận tâm đến bất cứ cái gì, kể cả thơ, lòng hoàn toàn thanh thản, trong trẻo, có thể nói là tinh khiết. Cảm giác đó trong tôi chỉ duy nhất có trong quá trình viết tập thơ này. Cũng lạ. Anh sẽ nhận ra điều ấy khi đọc trực tiếp tập thơ. Bản Xônat hoang dã 36 bài (hoặc là 36 khúc thức), tôi vận dụng đặc trưng của thể loại sonata âm nhạc vào thơ, thử viết một bản sonata hoàn toàn bằng lời xem như thế nào. Không kể bài TựaBạt có từ trước, tôi đưa vào để mở và kết tập, còn 36 bài trong tập, tôi viết liên tục vào các buổi sáng, khoảng từ 3 giờ 30 đến 6 giờ 30, bởi sau đó, tôi còn phải đến cơ quan trước giờ làm việc. Hơn một tháng thì xong cả tập thơ. Sau này, khi tập thơ đã in ra và bán hết rồi, chả có việc gì phải dậy sớm, vậy mà cứ vào lúc 3 giờ 30 sáng là tự nhiên tôi lại thức dậy…

7. Nguyễn Đức Tùng:

Trong Bản Xônat hoang dã, khí hậu thơ bát ngát, vừa là chuyện thế gian, vừa không còn là thế gian nữa, trở nên ngày một tâm linh, vũ trụ hơn. Có phải đây là khuynh hướng của anh gần đây?

Từ tập Nhà thơ và hoa cỏ đến tập thơ này, có một bước chuyển biến về bút pháp. Anh cũng có nhắc đến một sự kiện trong đời sống riêng của anh, có thể đã ảnh hưởng đến sự chuyển biến ấy.

Trần Nhuận Minh:

Cái âm hưởng của Bản Xônat hoang dã tôi rất muốn ổn định và phát triển, để có thể hình thành một khuynh hướng nghệ thuật, như anh nói, nhưng sau đó, tôi không sao viết tiếp theo cách đó được nữa, dù tôi rất muốn. Nó chỉ xuất hiện trong sáng tác của tôi có một lần…

Thực tình là tôi cũng không biết có phải vì vậy hay không. Nhưng không phải một mà đến bốn nhà thơ đã phát biểu sự suy đoán đó trong hai cuộc tọa đàm về tập thơ này của tôi ở thành phố Hạ Long và thị xã Uông Bí, thuộc tỉnh Quảng Ninh. Và những ý kiến ấy, cùng với các nhận xét về học thuật, đã đăng lên báo, phát qua đài… Tôi có bài Vô thức, in ở cuối tập Nhà thơ và hoa cỏ, về thời gian sáng tác, là bài cuối cùng của tập thơ này, thuật lại điều đó, để rõ ở cuối bài: viết sau tai nạn giao thông trên đường 5 (Hải Dương), chết lâm sàng từ 22 giờ ngày 05/8 đến 2 giờ ngày 06/8/2001. Câu kết của bài thơ:

Xòe hết ngàn cánh tay, chẳng chạm vào bát ngát

Ta rùng mình rơi trong muôn thẳm Cô Đơn…

Sự cố như sau: tôi từ Đà Lạt về, họp hội nghị thường kỳ của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, do nhạc sĩ Trần Hoàn, chủ tịch ủy ban triệu tập và chủ trì. Lái xe đón tôi ở sân bay Nội Bài rồi về Quảng Ninh trong đêm, vì sáng sau, tôi phải làm việc với chủ tịch tỉnh. Đêm ấy trời trong, trăng sáng. Đến gần Ghẽ (huyện Cẩm Giàng, Hải Dương), lái xe cho xe dừng bên đường để ngoái tay về phía sau lấy chai nước lọc, thì “rầm” một tiếng, cái xe tải chở hàng từ Sài Gòn ra, lái xe hình như ngủ gật, đã chồm lên 2/3 xe tôi (xe gầm thấp, ở trạng thái không).

Theo biên bản do công an Cẩm Giàng lập, lúc 22 giờ 15 phút, ngày 05/8/2001, thì cái xe tải này di cái xe con của tôi trên mặt đường 55 mét, khi chợt nhận ra cái giải phân cách bằng kim loại phía trước, phân biệt luồng xe ô tô và chỗ dành cho người đi bộ, thì xe tải quặt trái và phanh độc. Xe tôi bay chéo trên không trung 57 mét, qua giải phân cách ở giữa đường, cắm đầu xe xuống ao nông thả muống ở ngoài bên kia đường, cách mép cuối cùng của vệ đường 2,3 mét (tôi ghi tròn số). Chính nhờ cái ao nông thả muống mà chúng tôi thoát chết. Vỏ cái xe con của tôi bị vò nát như cái vỏ trứng, toàn bộ 2/3 xe phía sau, bị cái ba đờ sốc của xe tải kéo giật ra, trống hoác, cái cặp số của tôi để ở cốp xe cũng bẹp rúm… Đầu tôi đập chúi về phía trước và cũng may là đã bị vướng vào đó, nếu không đã bị cái ba đờ sốc kia kéo ngang cổ mà lôi ra. Máu từ miệng và mũi tôi chảy ra đầm đìa… Tôi chết lâm sàng bốn tiếng đồng hồ liền, hoàn toàn không biết gì. Mới hay cái chết cũng nhẹ nhõm và dễ chịu thôi.

Sau khi chụp “cắt lớp” ở bệnh viện Việt Đức Hà Nội, xác định là sọ không bị tổn thương, chỉ rạn xương gò má trái, tôi về cơ quan và làm việc ngay, để giải quyết những công việc tồn đọng trong những ngày công tác xa, dù mặt mũi vẫn sưng tím. Xin nói thêm: Trong những năm công tác Hội, tôi không nghỉ phép hay nghỉ ốm một ngày nào. Khi làm cán bộ quản lý, tôi được chi theo chế độ đi công tác ở Hà Nội, được nghỉ tại khách sạn, tiền ngủ được thanh toán đến mức cao nhất là 250 nghìn đồng một đêm, nhưng tôi chỉ nghỉ ở văn phòng Hội Nhà văn Việt Nam, vì suốt ba khóa, 15 năm liền, khóa nào tôi cũng là ủy viên một ban công tác hay chuyên môn của Hội, với mức chi chỉ có từ 10 nghìn đến 20 nghìn tiền dọn phòng cho một ngày đêm, tiết kiệm cũng không ít tiền cho nhà nước.

Tôi viết văn bản yêu cầu công an không xử lý xe và lái xe tải, tôi cũng không yêu cầu nhà xe bồi thường tiền cho cá nhân mình. Còn cái xe hư nát thì đã có bảo hiểm lo. Nhà xe là phụ nữ, đi áp tải hàng, nói: cháu có phúc mới đâm vào chú (!). Cái xe của chú bay như một chiếc lá khô. Phim Hollywood còn phải gọi bằng cụ. Cháu nghĩ chuyến này cơ nghiệp nhà cháu thế là hết. Anh Phú, công an Cẩm Giàng, người lập biên bản tại hiện trường, nói với tôi: chú qua một tai nạn khủng khiếp như thế mà không chết hoặc không tàn phế, là điều cháu hoàn toàn không thể hiểu được. Chắc là chú phải có một vị nào đó rất thiêng phù hộ. Chú nên tìm mà lễ tạ...

8. Nguyễn Đức Tùng:

Chúc mừng anh. Một sự may mắn khó giải thích.

Một bài thơ đến với anh lần đầu tiên như thế nào?

Trần Nhuận Minh:

Lúc đầu là một ý tưởng bật lên từ cảm xúc, hoặc một cảm xúc bật lên từ ý tưởng, tùy theo cái tác động của đời sống vào mình theo con đường nào. Tôi không rõ ở các nhà thơ khác như thế nào, chứ ở tôi thì tôi thấy rõ hai điều. Một là bài thơ tự đến với tôi. Hai là cùng một lúc nó đến với toàn bộ hình hài mà nó cần được ra đời, bao gồm cả ý tưởng, kết cấu và giọng điệu, trong đó có độ dài ngắn, thể loại, có vần hay không có vần. Bài thơ có thể được làm xong ngay rồi về sau, tôi chỉ chữa các câu chữ.

Đấy là thơ tôi viết từ năm 1986, năm bắt đầu vào công cuộc đổi mới. Trước đó, tôi viết theo yêu cầu của nhiệm vụ chính trị. Và viết theo yêu cầu của chính trị, tôi viết cũng tận tâm và chân thành hết lòng mình. Chỉ có điều, những bài thơ đó, tôi gọi nó đến theo yêu cầu của tôi, có khi nó đến sớm, có khi nó đến muộn, thường thì nó không tìm tôi mà tôi phải tự đi tìm nó. Nhưng nó đã đến, đều đến trong một tư thế đã tương đối hoàn chỉnh. Như vậy trước và sau đổi mới 1986, trong lao động thơ của tôi, các thao tác nghệ thuật không có gì thay đổi. Chỉ thay đổi ở cách tiếp nhận, để bài thơ được sinh thành sẽ như thế nào. Có nhà phê bình đã nói là tôi lấy năm 1986 làm cái mốc để chia đôi sự nghiệp sáng tác của mình, là nói đúng đấy. Còn lý do thì tôi đã trình bày ở trên. Và hình như trong thế hệ cầm bút cùng thời với tôi, không có ai, sự phân chia đó lại rõ ràng như tôi. Và thái độ cũng quyết liệt như tôi trong việc tự làm lại mình từ đầu:

Ta học chim để sản xuất máy bay

Học cá để chế tạo tầu ngầm

Nhưng ta không biết học ai

Để làm lại bản thân mình…

Nỗi giày vò nghệ thuật ấy day dứt tôi không bao giờ nguôi. Vì thế sau đó, tôi quyết tâm tự đổi mới mình. Vẫn là mình thôi, với một nỗi ám ảnh xuyên suốt là số phận của nhân dân, cuộc thành bại của mỗi đời người, hình thành một hệ thống tư tưởng và thẩm mỹ khác hẳn trước, để sáng tác dài hơi, nhưng mỗi tập mỗi khác, khác về ý tưởng, kết cấu, giọng điệu… nếu không khác thì tôi không viết mà đã viết rồi thì không in ra… Anh có thể nhận ra rất dễ dàng điều đó qua bốn tập thơ cơ bản của tôi là Nhà thơ và hoa cỏ (1986 – 2001), Bản Xônat hoang dã (2003), 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh (2007) và Miền dân gian mây trắng (2008).

Ngoài công việc phê bình, Nguyễn Đức Tùng là một nhà thơ, vậy tôi xin hỏi ngược lại, thơ đến với anh ra sao?

9. Nguyễn Đức Tùng:

Thơ của mỗi người là một dòng sông riêng biệt, có nhiều nguồn. Có khi lộ ra như suối trên đá, có khi chảy ngầm dưới đất như mạch nước, khó nhận biết. Một trong những nguồn suối ấy là nỗi xúc động từ kinh nghiệm có thật trong đời.

Xúc động chứ không phải là ý tưởng, mặc dù nhiều người cho rằng thơ của tôi đầy ắp các ý tưởng.

Có những nguồn gốc rất kín đáo, rất xa xăm, ít người nhận ra. Có lẽ thơ của tôi cũng như thế.

Tôi xin phép được dùng câu chuyện của Kobayashi Issa, một trong những nhà thơ lớn của Nhật Bản, viết trong cuốn sách nổi tiếng của ông về thơ Haiku, để mô tả điều ấy.

Chú tiểu Takamaru, mới mười một tuổi, ra khỏi chùa một buổi sáng mùa xuân với vị sư huynh. Họ đi dọc bờ suối để hái hoa và lá cây. Chú tiểu trượt chân đột ngột té xuống khi đang leo lên cầu, ngã vào dòng sông băng tan, nước chảy xiết. Vị sư huynh hốt hoảng chạy lại nhưng không làm cách nào để cứu kịp, chú bé trồi lên nhiều lần đưa tay vùng vẫy nhưng rồi lại chìm xuống dưới làn sóng hung dữ. Mặc cho tiếng gào khóc của người trên bờ, dòng nước vẫn cuốn phăng chú mỗi lúc một ra xa.

Người trong chùa và thôn xóm đổ xô đi tìm, đốt đuốc suốt đêm dọc hai bờ sông. Cuối cùng người ta tìm thấy chú, đã chết, toàn thân lạnh giá vắt lên bờ đá. Có người tìm được trong túi áo của chú tiểu những thứ vật dụng lặt vặt, mà họ đoán là dành để làm quà cho cha mẹ chú. Họ mang Takamaru về nhà. Cha mẹ chú ngất đi. Không ai nhìn cảnh ấy mà không rơi lệ khóc than. Thế mà buổi sáng ấy chú bé ra khỏi chùa vẫn còn lành lặn, tươi cười.

Hai ngày sau, đứng trước ngôi mộ mới đắp, lạnh cóng trong buổi chiều sương xuống, Issa đã viết bài thơ tanka nổi tiếng được lưu truyền rộng rãi của ông:

Không một lần nào tôi nghĩ rằng

Một ngày kia tôi sẽ ném

Những bông hoa mùa xuân tươi thắm

Vào đám khói đen này

Và đứng lùi lại để nhìn nó bay lên

Biến mất trong bầu trời.

Trần Nhuận Minh:

Câu chuyện anh kể rất cảm động. Và bài thơ thật hay.

Có lẽ thơ đến với anh cũng tương tự như thế chăng?

10. Nguyễn Đức Tùng:

Anh nhớ nhất những bài thơ nào của mình?

Trần Nhuận Minh:

Câu hỏi của anh rất tinh, rất khéo, không thật chú ý sẽ không nhận ra, cũng là cách rất hợp lý để tác giả tự đánh giá những bài thơ có chất lượng cao hơn của mình mà không mang tiếng là thiếu khiêm nhường. Vì vậy, tôi chọn cách đánh giá thơ tôi của những người khác, những đơn vị văn hóa khác, rất có thể họ chuẩn xác và khách quan hơn chăng... Bởi người khác nhớ thơ mình thì vẫn hay hơn là mình nhớ thơ mình, đúng không?

Năm 1990, trong chuyến thăm Liên Xô, theo lời mời của Hội Nhà văn Liên Xô, một chiều cuối tháng 4, nhà thơ Trinh Đường ngồi bên tôi trên đồi Lênin, dưới bóng những cây thông lớn, cao vút, nhìn xuống dòng sông Matxcơva, ông nói một câu, tôi rất nhớ: bài “rất gớm” của cậu là Chiều Yên Tử. Mình không hiểu sao cậu viết được bài ấy. Sau đó ông chọn bài thơ ấy trong 99 bài Thơ Việt thế kỷ XX và trực tiếp viết lời bình. Trung tâm Văn hóa Doanh nhân chọn bài Dặn con, trong khi Công ty Văn hóa Trí tuệ Việt chọn bài Nguyễn Du, trong 100 bài thơ hay của thế kỷ XX (mỗi nhà thơ được chọn một bài). Công ty Văn hóa Trí tuệ Việt cùng nhà xuất bản Văn hóa thông tin, in tập Nhà thơ và tác phẩm tiêu biểu của thế kỷ XX, chọn tôi là một trong 40 nhà thơ “có nhiều cống hiến ở thế kỷ XX” như Lời thưa in ở đầu sách và chọn lại của tôi bài Chiều Yên Tử. Sau đó, hai đơn vị trên, hợp tác xuất bản Thơ hay thế kỷ XX và chọn của tôi hai bài khác: Đứng trên thành nhà Hồ ở Thanh Hóa, nhớ câu thơ Phúc chu thủy tín dân do thủy của Ức Trai Nguyễn Trãi và bài Phút lâm chung của cụ Hãn. Nhà xuất bản Giáo dục, xuất bản Sách tham khảo đặc biệt dùng trong nhà trường: Tuyển tập thơ Việt Nam thế kỷ XX (thơ trữ tình) do nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi chủ biên, với sự tham gia tuyển chọn của nhà thơ Vũ Quần Phương và Quang Huy, chọn của tôi ba bài: Chiều Yên Tử, Nguyễn Du Nhà thơ áp tải. Hội Nhà văn Việt Nam, qua Nhà xuất bản Hội Nhà văn, in Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX, tôi được chọn năm bài: Chiều Yên Tử, Chơi thuyền trên vịnh Hạ Long, Thím Hai Vui, Hà Giang Ông Hủi; trong Tinh tuyển Thơ Việt Nam thế kỷ XX do nhà thơ Bằng Việt chủ biên, tôi được chọn hai bài là Thím Hai Vui Vạn lý Trường thành ca (người được chọn nhiều nhất là ba bài), chưa kể Tinh hoa thơ Việt (tập I) chọn của tôi 30 bài. Còn thơ tình thì sao? Cũng có đấy. Có hai tập tuyển khác nhau đã được xuất bản, đều có tên là tuyển tập Thơ tình Việt Nam thế kỷ XX, tập này, tôi được chọn một bài Chiều xanh và tập kia, tôi được chọn hai bài Thơ tình ngày không em Chiêm bao.

Vân vân…

Xin cám ơn các nhà thơ, các nhà thơ nhà văn trong các nhóm tuyển chọn, cám ơn các đơn vị văn hóa và các nhà xuất bản.

11. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi xin nêu nhận xét riêng của mình, có thể khác ý kiến những người đã đọc thơ anh trước tôi: muốn nhìn thấy Trần Nhuận Minh thì phải đi tìm anh trong những bài thơ dài, các trường ca.

Ở thể loại này, tôi nhận ra Trần Nhuận Minh rõ hơn.

Tiếng hạc kêu ngang trời

Thảng thốt

Màu thu rối bời hoa tóc tiên

Lẳng lặng Em. Lẳng lặng Em

Đấng Mê Tơi đang nói

Trong im lặng khôn cùng

Trong sắc chiều bâng khuâng tận đáy

Trút bỏ tư duy nhuốm bụi

Trần gian

Tinh khiết như thuở mẹ sinh ra

Ta dang hai cánh tay

Xao xác gió…

Tiếng gầm của Hư Vô

Lửa đốt trong xương sống…

Thật lạ so với thơ đương đại Việt Nam ở trong nước.

Tôi nói như thế là trong mối quan hệ so sánh với các bài thơ ngắn hoặc rất ngắn khác của anh. Có một điều gì đó rất khác nhau giữa hai thứ đó, dĩ nhiên không phải chỉ vì chuyện dài ngắn. Anh nghĩ sao?

Trần Nhuận Minh:

Đúng là chưa có ai nhận xét về tôi như anh. Tôi coi đó cũng là một phát hiện. Tôi cũng hơi “bị giật mình” đấy. Một nhận xét “dễ sợ”.

Có lẽ là thế này chăng: thơ ngắn của tôi là thơ thế sự, tôi hướng đến số phận của những người khác (điều đó sẽ được nói kỹ hơn ở các phần sau), nên một thời, có nhà phê bình đã xếp thơ tôi vào xu hướng thơ “hướng ngoại”. Chỉ có ở những bài thơ dài, hay trường ca (như trường ca Đá cháy chẳng hạn), tôi mới bộc lộ trực tiếp và đầy đủ về mình, tư tưởng, quan điểm học thuật, các chặng đường đời với những vui buồn cá nhân như người ta thường thấy trong các hồi ký…

Ngẫm ra, anh nói thế là đúng đấy. Trước anh chưa có ai…

12. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi chú ý đến câu nói của anh “lúc đầu là một ý tưởng bật lên từ cảm xúc, hoặc một cảm xúc bật lên từ ý tưởng”. Điều này có đồng nhất với khái niệm “cảm hứng” (inspiration) thường được nhắc đến không?

Các nhà thơ đều quan tâm đến cảm hứng, theo đuổi cảm hứng suốt đời. Có người cho rằng làm thơ “coi bộ dễ hơn” viết văn, có người thì ngược lại; theo tôi cả hai đều đúng cả. Làm thơ có vẻ nhanh hơn, thậm chí có người một lúc viết được nhiều bài, còn viết truyện ngắn hay tiểu thuyết là một thứ lao động miệt mài ngày này qua ngày khác, mất nhiều công sức, nhưng ngược lại một số nhà văn nổi tiếng tâm sự rằng, họ ngồi vào bàn làm việc mỗi ngày và ngày nào cũng có thể, bắt buộc phải viết được vài trang. Các nhà thơ thì khổ sở hơn: cảm hứng không phải khi nào cũng đến với họ. Nhà thơ Wislawa Szymborska từng dí dỏm: “… nhưng các nhà thơ là tệ hại hơn cả, công việc của họ không sáng sủa tí nào. Một người ngồi ở bàn giấy hay nằm dài trên ghế sofa nhìn trừng trừng lên trần nhà hay bức tường trắng xóa. Thỉnh thoảng anh ta lại viết xuống năm bảy dòng, để rồi chỉ mười lăm phút sau đã gạch phắt chúng đi, và rồi vài giờ khác nữa trôi qua, trong vài giờ ấy tuyệt nhiên chẳng có gì xảy ra cả… ai nhìn thấy cảnh này mà chịu nổi cơ chứ?”.

Làm sao để có cảm hứng? Câu nói của Hoàng Cầm (trong Thơ đến từ đâu), (để sáng tạo) “nhà thơ phải sống rất thơ cuộc đời mình”, theo anh, đúng đến đâu?

Trần Nhuận Minh:

Trước đây tôi cũng nghĩ như Hoàng Cầm. Hiện giờ thì về sáng tác của tôi, tôi vẫn như thế, nghĩa là thơ tôi chính là con người tôi. Tôi cũng nhận ra nhiều nhà thơ như vậy, nhưng không chỉ như vậy. Bởi tôi đã thấy có người, thơ thì rất hiền mà sống rất ác. Chẳng “thơ” một chút nào. Hình như ngày xưa cũng như thế thôi, chỉ có điều mình không biết. Chả biết anh thế nào, chứ tôi, rỗi lúc nào là đọc Nguyễn Du, Nguyễn Trãi lúc ấy. Tôi thấy Nguyễn Du thơ hiền mà người cũng hiền, còn Nguyễn Trãi thì không hẳn thế. Đấy là cái để tôi phân biệt hai cụ. Một Nguyễn Trãi “không hiền một chút nào”, hiện lên rất rõ trong sự hình dung của tôi, khi đọc những câu thơ:

Tuổi cao tóc bạc, cái râu bạc

Nhà ngặt đèn xanh, con mắt xanh

Hoặc:

Ngoài cửa chim phàm chớ tới kêu…

Vân vân…

Còn Nguyễn Du:

Sống đã chịu nhiều bề phiền não

Chết lại nhờ hớp cháo lá đa

Đau đớn thay, phận đàn bà

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu…

Vân vân…

Về chủ nghĩa nhân văn, cái mà tôi cho là quan trọng nhất của văn chương, tôi đánh giá Nguyễn Du cao hơn nhiều so với Nguyễn Trãi.

Lại nhớ Nguyễn Khải từng nói rằng, tác phẩm của nhà văn là tinh hoa, còn con người của nhà văn là cái thứ cặn bã, có khi tởm lắm. Có lẽ đúng chăng? Tất nhiên là với một số người.

Còn cảm hứng là vô cùng quan trọng. Trong quá trình sáng tạo, bài thơ sống trong cảm hứng của nhà thơ như cá sống trong nước. Nước cạn là cá chết.

Thời gian tôi soạn Bản Xônat hoang dã, cả ngày làm việc, nhiều hôm, bận đến đêm, chả nghĩ gì đến thơ phú. Chẳng cần để chuông đồng hồ, cứ khoảng 3 giờ rưỡi sáng là tự nhiên thức giấc, ngồi vào bàn, lòng trống rỗng. Lúc đó hoàn toàn không biết sẽ viết gì. Tôi đọc đi đọc lại tất cả các bài (hay khúc thức) đã viết trước, sửa chữa câu chữ, nếu có thể. Có bài tôi xóa bỏ luôn. Chỉ 20 hay 25 phút sau, cảm hứng xâm chiếm tôi dần dần và một cái gì đó trong tâm thức của tôi xuất hiện. Và tôi viết về cái đó được ngay, có buổi viết được đến hai bài.

13. Nguyễn Đức Tùng:

Trên đây, anh đã nói rằng: “lấy năm 1986 làm cái mốc để chia đôi sự nghiệp sáng tác của tôi”, như một nhà phê bình đã nhận xét, “là nói đúng đấy. Và hình như trong thế hệ cầm bút cùng thời với tôi, không có ai, sự phân chia đó lại rõ ràng như tôi. Và thái độ cũng quyết liệt như tôi trong việc tự làm lại mình từ đầu”.

Tôi hiểu rằng năm 1986 là thời kỳ đổi mới ở Việt Nam. Việc thay đổi nhận thức của nhà thơ, và do đó, hoặc ít nhất là cùng lúc, sự chuyển hướng sáng tác, trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử, là chuyện đã từng xảy ra. Tôi lấy ví dụ sau năm 1945, một số nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên đều có thái độ từ bỏ con đường sáng tác cũ và quyết tâm tự đổi mới mình. Sau năm 1954, một số nhà thơ ở miền Nam, như Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, có nhiều thay đổi. Đầu những năm sáu mươi ở miền Bắc, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm chuyển hướng. Sau này ở hải ngoại, các nhà thơ từ Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, Viên Linh, Cao Tần, Thi Vũ, Nguyễn Tất Nhiên đến Cao Đông Khánh, Khế Iêm, Lê Thị Huệ, Đỗ Kh, Trân Sa, Thường Quán, Đỗ Quyên, Nguyễn Hoàng Nam… cũng bắt đầu viết khác. Trong khi đó, trong nước, từ giữa những năm tám mươi và chín mươi, thơ Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Trần Mạnh Hảo, Trần Đăng Khoa, Vũ Quần Phương, Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Hoàng Vũ Thuật, Inrasara, Nguyễn Quốc Chánh, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Quang Thiều, Lâm Thị Mỹ Dạ, Vân Long, Y Phương, Thi Hoàng, Mai Văn Phấn… cũng khác. Như vậy cần hiểu như thế nào về việc trong thế hệ của anh, “không có ai, sự phân chia đó lại rõ ràng” và thái độ “quyết liệt” trong thơ như Trần Nhuận Minh?

Trần Nhuận Minh:

Các nhà thơ miền Nam và hải ngoại mà anh kể trên, có người tôi không rõ lắm, nhưng các nhà thơ miền Bắc thì tôi rất quen thuộc, họ đã từng bước chuyển hướng và phát triển đúng như anh nói. Nhưng “chia đôi sự nghiệp, trước và sau 1986” thì không ai “rõ ràng” và “quyết liệt” như tôi trong việc làm lại mình từ đầu. Bởi vì chỉ có tôi mới nói trên báo và viết vào sách rằng: xin tự loại bỏ toàn bộ sáng tác 25 năm bao cấp (1960 – 1985) của thơ tôi, với 166 bài thơ và 2 trường ca trong 4 tập thơ. Có tập đến 50 bài đã được tặng giải thưởng văn học về đề tài công nhân của Tổng Công đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam, cùng một tập thơ, một tập trường ca đã được tặng hai giải nhất mỗi giải cách nhau 5 năm (1980 và 1985) của Ủy

ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Tôi cũng đã làm đúng như mình nói và viết. Và tôi làm lại từ đầu, tự khai sinh lần thứ 2 cùng với công cuộc đổi mới đất nước. Và kết quả của nó như thế nào, anh và các bạn đồng nghiệp của tôi đều đã biết. Sở dĩ 20 năm sau, từ năm 2005, tôi mới chọn lại 28 rồi 29 bài trong 25 năm đó in thành PHỤ LỤC để tham khảo ở cuối sách, chính là vì các cháu sinh viên, nghiên cứu sinh làm luận văn cử nhân và thạc sĩ khoa học về thơ tôi, cần hiểu thơ tôi trong một quá trình, nên tôi chọn lại, để các cháu khỏi phải mất công tìm kiếm trong thư viện, và trích ra những bài thơ mà có bài, đọc lại, tôi rất xấu hổ. Bởi trước đây, thơ tôi đăng nhiều báo, in khá nhiều sách, cả riêng và chung. Hầu hết đều là thơ tuyên truyền minh họa, mà ngay năm 1986, với ánh sáng tươi mới của công cuộc đổi mới, tôi mới nhận ra là không phải sở trường của mình. Nhận xét về việc làm này, năm 2006, nhà phê bình văn học, giáo sư Phong Lê đã viết: “Sự loại bỏ quyết liệt để chỉ lấy 28 bài cho 25 năm làm thơ khi soạn Trần Nhuận Minh - Tuyển tập tác phẩm thơ (2005); và chỉ đưa 28 bài này vào Phụ lục thơ của Tuyển, với Lời tác giả: Nếu có sử dụng thơ đã in trước 1986 thì chỉ xin được dẫn từ 28 bài này (P.L. nhấn mạnh), có là cực đoan không, bởi mỗi bài, mỗi quyển ra đời đều được đọc, vừa trong tâm trạng và cảm xúc của hôm nay, lại vừa trong tương ứng với cái thời ra đời của nó.

Dẫu sao thì đó là việc anh đã làm, với một tâm thế dứt khoát, và một ý nguyện đáng quý.”

Tôi rất cảm ơn sự chỉ dẫn của nhà văn – giáo sư Phong Lê. Nhưng ý tôi đã quyết như thế và điều đó đã diễn ra suốt 20 năm nay rồi. Chính nhờ thái độ “quyết liệt” đó, tôi mới có đủ sức để làm lại mình từ đầu.

Các nhà thơ khác cùng thế hệ với tôi, không ai làm như thế. Và tôi tôn trọng họ.

14. Nguyễn Đức Tùng:

Anh kể đã viết Bản Xônat hoang dã ở nhà. Nhưng hình như anh cũng làm nhiều thơ trong các chuyến đi xa, trong nước và hải ngoại? Nhiều người cho rằng đi và viết là hai công việc sóng đôi cần thiết.

Trần Nhuận Minh:

Tôi coi bất cứ đi đâu, làm việc gì, cũng là đi sáng tác, phải viết được một hay hai cái gì cho kha khá một chút. Không ít bài thơ của tôi được viết trong các chuyến đi. Và chỉ đi lần đầu mới viết được, lần sau, vẫn cảnh ấy người ấy, nhưng tôi thấy nó rất nhạt, mất hết cảm xúc. Từ đó, tôi không đi đâu lần thứ hai, vì tôi thấy như thế là lãng phí sức của, sức người, chả để làm gì. Cho đến bây giờ, tôi vẫn cho rằng: chùm thơ tôi viết ở Trung Hoa năm 1999, khi lần đầu tiên tôi đặt chân lên các ngả đường của thủ đô đất nước này, làm tôi vui lòng hơn cả. Trong khi các bạn tôi, lúc rỗi rãi, sau giờ làm việc, thì hớn hở rủ nhau tìm mua hàng, tìm quán rượu: Tá vấn tửu gia hà xứ hữu (Ướm hỏi nơi nào có quán rượu? – thơ Đỗ Mục, đời Đường), thậm chí tìm thăm các a múi leng leng (em gái xinh đẹp)… Với tôi, hai cái đó không bao giờ làm tôi quan tâm. Thậm chí còn rất dị ứng. Chả phải tôi kiêng kỵ gì, vì nếu chiều theo cái ham muốn nhất thời đó của lòng mình thì không thể có thơ, nói chi đến thơ hay. Tất nhiên, người khác có thể bắt được cá ở cả hai tay, còn tôi, trời không cho cái năng lực ấy. Hầu hết các bạn tôi cũng vậy. Bằng chứng là các bạn tôi, đâu có thiếu tài, nhưng kết thúc chuyến đi, chỉ có valy hàng nặng và có thể, có cảm giác “lạ” để mỉm cười một mình, còn thơ thì hầu như trắng tay… Xưa nay vẫn thế, trời đã cho anh cái này, sẽ lấy đi của anh cái khác

Có đâu thiên vị người nào

Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai?

(Nguyễn Du)

Có khi cái bị lấy đi lại cao quý hơn, có ý nghĩa sinh tử hơn. Tôi cũng chỉ mong Trời cho tôi thơ, và thơ tôi làm sao có thể thấm được vào lòng nhiều người, còn ngài có lấy đi bất cứ cái gì của tôi, kể cả bản thân tôi, tôi cũng ưng ngay.

Tôi đã đánh “cược” cả cuộc đời mình vào đấy mất rồi:

Tôi đã tự đánh mất mình

Tất cả

Trong một câu thơ

hờ hững bạn cầm…

15. Nguyễn Đức Tùng:

Tại sao anh lại “rất dị ứng” với rượu và các cô gái Trung Hoa? Tôi tưởng chỉ các chính khách mới phải kiêng cữ các chuyện này?

Khi tôi về nước thăm các bạn tôi, có người thầy thuốc, giáo sư, có người nhà thơ, nhà văn, tôi chẳng thấy ai tỏ ra ngứa ngáy khó chịu khi phải ngồi gần một trong hai thứ này cả.

Trần Nhuận Minh:

Tôi nghĩ: đời của một người, nếu có một chút tài và khá nhiều may mắn, mới may ra làm được một việc có ích cho đời. Biết mình không được thế, nên càng phải cố gắng, cẩn thận như húp canh, thổi lửa. Mọi nhu cầu cá nhân, cố thu lại cho thật nhỏ, để chỉ còn có văn chương có thể gây ra lôi thôi cho mình mà thôi. Tôi ăn thế nào cũng xong, cơm nguội hay nóng, khô hay nát, đều được. Thức ăn ư? Mặn chua đĩa mắm quả cà cũng ngon… Về áo quần, trừ bộ do bà vợ sắm cho để thỉnh thoảng đi đây đi đó, còn thì con đưa cho cái gì cũng mặc, kể cả “bộ diện”, hiện tôi đang dùng, con trai tôi đã dùng rồi, chỉ cần gọn và sạch. Chưa ai thấy tôi phàn nàn về việc ăn mặc bao giờ. Rượu chè, thuốc lá, cà phê… đều không. Cũng chưa ai thấy tôi ở quán xá bao giờ, trừ khi vui tiếp bạn xa về chơi. Hơn 40 năm nay, chưa hề ra chợ. Chưa từng biết karaoke hay massage, tẩm quất là gì? Anh cười ư? Để hiểu tôi và thơ tôi, anh cũng nên biết cả những điều đó nữa. Tôi chả “xấu hổ” hay “tự hào” gì về những thứ đó.

16. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi cũng không biết massage như anh, nhưng thích đi chợ. Thật ra là vợ tôi thích tôi đi chợ thì đúng hơn. Đàn ông hải ngoại không ai không biết vụ này. Anh có nói rằng chùm thơ anh viết ở Trung Quốc năm 1999 làm anh vui lòng hơn cả. Có phải vì chúng hay hơn bài khác, hay vì những lý do riêng như đánh dấu một biến đổi nhận thức? Trong chuyến đi đó anh đã viết ra sao?

Trần Nhuận Minh:

Để chuẩn bị cho chuyến đi, từ trong nước, tôi đã đổi nhiều tiền lẻ rồi nhờ người viết chữ Hán ra giấy cho thật chuẩn những địa điểm tôi cần đến, rồi cứ thế tắc xi đưa tôi đi… Thú thật với anh, trước khi bước lên tắc xi, tôi không hình dung chỉ mươi phút nữa bài thơ ở xứ người sẽ đến với tôi như thế nào… Tôi đã đến phòng trà Lão Xá (ngoài cửa đề “Lão Xá trà quán”), ngồi trên cái ghế xưa ông từng ngồi, uống cái chén trà xưa ông từng uống, với giá tiền rất cao. Sát đó, cạnh cầu thang là sân khấu, đang diễn kịch Lão Xá. Tôi không vào xem, theo tôi thì kịch Lão Xá không hay lắm. Văn của Lão Xá chỉ có cuốn Tường lạc đà (nguyên văn Lạc đà Tường tử) là khá hơn cả, nhưng cũng không thật nổi trội so với mặt bằng của tiểu thuyết Trung Hoa thời ấy, ví như cuốn Gia (Gia đình) của Ba Kim. Tôi cũng ngồi hàng giờ bên bờ hồ Thái Bình, nơi Lão Xá đã tự tử, cái hồ này ở đường Tân Nhai, ngoại ô phía Bắc thủ đô Bắc Kinh… Thông qua cái chết của ông, tôi bộc lộ được những mối quan tâm của tôi về số phận con người trong một thời kỳ lịch sử khủng khiếp nhất và cũng đen tối nhất của nước Trung Hoa vĩ đại.

Văn chương lỗi lạc một thời

Bể dâu đến thế thì thôi, còn gì…

Cũng chỉ ở đây, nơi các cuộc chiến tranh diễn ra tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại, tôi mới bộc lộ được một quan điểm của mình:

Có lắm anh hùng,

đất nước bình yên là một điều vĩ đại

Không cần có lắm anh hùng,

đất nước vẫn bình yên, còn vĩ đại hơn nhiều…

Cũng chỉ ở đây, bên bờ sông Trường Giang, mây nước mênh mông, tôi mới có đủ can đảm để nói một câu, có lẽ là ưng ý nhất trong cả cuộc đời tôi:

Trường Giang hỡi!

Ta mong mọi quốc gia bước lên những đỉnh cao mới

Bằng những bậc thang không có máu người!...

17. Nguyễn Đức Tùng:

Theo anh, kịch Lão Xá không hay lắm. Văn của Lão Xá chỉ có cuốn Tường lạc đà, là khá hơn cả, nhưng cũng không thật nổi trội so với…”, như thế thành công của Lão Xá tập trung ở các tác phẩm nào? Xin cho ví dụ rõ hơn.

Tuy nhiên, trong câu chuyện của chúng ta ở đây, điều tôi quan tâm hơn cả là cái chết do tự tử của Lão Xá trong thời gian cách mạng văn hóa. Nó làm tôi phần nào liên tưởng đến cái chết của Mayakovsky trước đây. Hình như chúng có cùng một nguồn gốc sâu xa là sự cùng quẫn, cuối đường, bi phẫn của số phận những người trí thức mà lòng tin của họ bị phản bội?

Ngồi bên bờ hồ Thái Bình, anh có nhận được một thông điệp nào từ cái chết dành cho các nhà văn?

Trần Nhuận Minh:

Tôi có một kỷ niệm thật đặc biệt với một tác phẩm của nhà văn Lão Xá. Văn học Trung Quốc, giai đoạn 1930 – 1935 có tứ kiệt (Trung Quốc thường xếp “bộ tứ”) là văn bản kịch nói Lôi Vũ của Tào Ngu và ba tiểu thuyết: Ông giáo Chi của Diệp Thánh Đào, 1930, Gia đình của Ba Kim, 1933 (hai tiểu thuyết này đều viết về Thượng Hải) và Tường lạc đà (viết về số phận của anh Tường kéo xe ở Bắc Kinh) 1935 của Lão Xá. Tôi đã đặt mua tại nhà xuất bản được ba tập trên, còn tiểu thuyết Tường lạc đà thì nhà xuất bản cho biết là đã hết sách, chỉ còn sách lưu không bán được. Tìm các hiệu sách đều không có. Tôi “hận” lắm. Tìm đến phòng mượn của một thư viện khoa học, mà tôi không tiện nói tên, rất may thấy danh mục có sách đó. Vì là khách vãng lai, tôi đặt 10 đồng tiền “cược”để mượn Tường lạc đà trong năm ngày. Lương tôi lúc đó là 45 đồng / tháng, và cuối cùng, tôi bằng lòng để lại non 1/4 tháng lương của tôi tại thư viện ấy và ra đi với cuốn sách 296 trang, giá chỉ có 1 đồng 8 hào 8 xu. Giá gạo lúc đó 0 đồng 3 hào / 1 kg. Đó là mùa xuân năm 1964 (sách xuất bản 1963). Quyển sách này hiện vẫn được đặt trước bàn phím của tôi.

Cứ như tôi đọc thì Tường lạc đà không trội hơn Ông giáo Chi, và kém Gia đình, tác phẩm có tính tự thuật của Ba Kim, về đời sống và những nỗi éo le trong một gia đình đại phong kiến (gần với lối viết của cuốn Hồng lâu mộng) đọc không sao rời sách được. Ba Kim viết cuốn này năm ông 27 tuổi và cho đến cuối đời (ông sống 101 tuổi) vẫn là cuốn hay nhất của ông. Nhưng cái đặc sắc mà Lão Xá có, là các tác phẩm của ông “vô cùng Bắc Kinh”, từ cảnh sắc, nhân vật, tính cách, phong tục, mùi vị đất đai cây cỏ, đến các món ăn, ông mô tả rất chi tiết: “hạt dẻ tròn mẩy ngâm với đường cát, xào lên, đến mức cái khói ở đáy nồi cũng ngon”. Viết thế cũng là tài lắm chứ. Đấy là một món ăn Bắc Kinh. Ông còn hai tiểu thuyết tiêu biểu nữa, là Tứ đại đồng đườngMiêu thành ký, nhưng không nổi tiếng lắm, tôi chưa đọc. Còn kịch, tôi đã đọc hai vở nổi tiếng nhất của ông là Trà quánCống Long Tu. Trà quán thì không so với Lôi vũ được (dù mọi so sánh đều khập khiễng – nhưng vẫn cần so sánh và so sánh được), còn Cống Long Tu ca ngợi cuộc sống mới, rất bình thường. Tôi nghĩ: ông được đánh giá cao ở nước ngoài, có lẽ là ở cái chất Bắc Kinh đặc sệt đó. Nó có trong mọi tác phẩm lớn nhỏ của ông, dù là kịch hay văn xuôi, nó nói với thế giới về một Trung Hoa, mà Bắc Kinh là rất tiêu biểu. Chưa kể ông là một trí thức, trước khi về nước, đã dạy đại học ở các nước tư bản là Anh và Singapore, ông cũng ít nhiều thổi được cái hơi “tây” ấy vào tác phẩm. Lại nữa, ông đã bị hành hạ rất khủng khiếp trong cách mạng văn hóa…

Khi ngồi im lặng tưởng nhớ ông bên bờ hồ Thái Bình, tôi nghĩ: làm một trí thức, một nhà văn nổi tiếng ở một nước văn hóa vĩ đại, sao mà khốn khổ, cùng quẫn đến thế. Tôi nhớ đến một câu nói rất nổi tiếng của chủ tịch Mao Trạch Đông: Trí thức là cục cứt mà thấy xót xa.

Lão Xá đã chọn cái chết vì không chịu được nỗi đau từ trong đáy lòng, khi đám hồng vệ binh:

Lũ trẻ con lấy thắt lưng da có móc sắt quất vào mặt ông…

Và sau khi ông chết:

Giờ lôi xác ông lên phơi nắng…

Nhưng tác phẩm của ông và lòng tin vào tương lai trong ông không chết.

Ấy là ngày Cái Thiện lên ngôi

Bạo lực và cường quyền

Tất cả

Thành vô nghĩa…

Cái ác, dù xuất hiện ở bất cứ đâu, đều không thể tồn tại lâu dài. Có lẽ đấy là bức thông điệp mà Lão Xá muốn nói với đám chúng ta chăng?

Cầu mong cho ông:

May sao còn có những ngày

Nắm xương mỏng, dưới đất dày, bình yên…

18. Nguyễn Đức Tùng:

Bài thơ của anh viết về Lão Xá đọc cảm động.

Có lẽ đó là một trong những tác phẩm được viết ở giai đoạn chín nhất của anh.

Còn bài thơ đầu tiên của anh?

Trần Nhuận Minh:

Tôi sinh ngày 20 tháng 8 năm Giáp Thân (1944).

Nếu có thể gọi là “làm thơ”, thì những “bài thơ đầu tiên”, tôi làm từ cuối năm 1954, năm tôi 10 tuổi, đúng tuổi lên 10 sau này, Trần Đăng Khoa trở nên nổi tiếng (1968). Chỉ có điều, thơ Khoa năm lên 10, ở những bài thành công, đã thấy rõ bút pháp của một nhà thơ chuyên nghiệp. Đó quả thực là một điều lạ. Còn thơ tôi, chả kể năm lên 10 làm gì, ngay cả thơ đã đăng báo, đã in sách khi đã lớn, đã nhận được giải thưởng văn học của cấp Trung ương, vẫn có nhiều yếu tố nghiệp dư. Có thể nói, toàn bộ cố gắng của thơ tôi thời gian từ 1960, tức là từ khi đã chính thức đăng báo, được giải thưởng thơ ở cơ sở, tạm gọi là “thành danh” như người ta thường nói, đến năm 1985, vẫn là một quá trình mới vào nghề, với sự vùng thoát ra khỏi phong trào thơ nghiệp dư.

Anh không thể hình dung làng quê tôi vui mừng như thế nào sau ngày hòa bình lập lại (1954). Cả làng, trưa ăn cháo, tối ăn khoai luộc, mà suốt đêm tụ tập uống nước chè tươi á lơ hò lờ… Tôi phải sáng tác những câu hò ấy cho cả làng. Sau này, Khoa không phải làm những việc ấy như tôi. Rất có thể, vì phải sáng tác những câu hò ấy mà tôi trở thành nhà thơ và vô hình trung, mở đường thơ cho chú Khoa sau này.

Thơ tôi phản ánh trình độ “dân trí” của làng tôi ở thời ấy, cái thời một đi không trở lại, đồng thời cũng bộc lộ những nét riêng, không khí xã hội của những năm đầu hòa bình ở vùng đồng bằng Bắc bộ, rất chân thành và cũng rất ấu trĩ.

Tháng 10 âm lịch năm 1954, anh Chiến, bộ đội đánh Điện Biên Phủ, về làng cưới vợ là chị Dự. Hai người ở hai làng khác nhau, đám cưới lại làm mẫu về tổ chức theo lối “đời sống mới”, nên có quy mô toàn xã, với hàng trăm người dự. Từ chiều, người các thôn đã về tụ tập rất đông ở sân nhà bà Bầu, cái sân gạch rộng nhất làng. Chỉ có ăn trầu và uống nước chè tươi. Nước chè tươi nấu từ bảy tám cái nồi mười, rồi để hàng mấy chục cái bát con bên cạnh, ai khát thì cứ ra vục bát vào nồi, múc lấy mà uống. Cuối sân, chỗ trang trọng nhất, có dán lên các tấm cót căng ngang trên các cây cọc tre, rất cao, ảnh cỡ rất lớn của Hồ Chủ tịch, Mao Chủ tịch và ông Malencốp (Liên Xô), cờ Tổ quốc với ngôi sao vàng mập mạp chứ không thanh thoát như bây giờ. Hai anh chị ngồi trên ghế cưới, oai vệ như chủ tịch đoàn cuộc mit tinh. Anh Chiến mặc áo lính trấn thủ, đội mũ lưới có ngụy trang từng mảnh vải dù xanh màu lá cây, hông đeo trễ khẩu súng lục, làm nhiều cô gái lác mắt; chị Dự quần phíp, áo nâu, đội khăn đen mỏ quạ, môi đỏ quết trầu. Trên đầu hai người là cờ Tổ quốc và ba vị lãnh tụ. Trên cờ là băng vải đỏ cắt chữ vàng: Tổ quốc trên hết, dưới ảnh là tấm băng đỏ thứ hai Vui duyên mới không quên nhiệm vụ Tôi, một thằng lỏi, nhóc con, áo nâu, quần giải rút, chân đất, đầu cắt bốc, đến trước mặt hai anh chị, đọc ứng khẩu bài thơ chúc mừng, được vỗ tay hoan hô nồng nhiệt. Rồi tôi quay lại trước đám đông, điều hành cho hàng trăm người của cả xã, vì đây là đám cưới thí điểm, cùng á lơ hò lờ, theo từng câu của bài đó, có thể nói là “vang dội”. Tôi nói điều này không ngoa đâu, bởi cứ sau mỗi ngắt câu, dàn trống cà rùng của đội thiếu nhi (do tôi làm đội trưởng) lại đánh ầm ĩ: tùng tùng tùng, tùng tùng tùng… Anh đừng cười…, kể ra thì cũng đáng cười thật – đúng là như thế đấy. Bài thơ hơn chục câu, mở đầu như sau:

Hòa bình lập lại Đông Dương (tùng tùng tùng / á lơ hò lờ)

Anh Chiến chị Dự (tùng tùng tùng / á lơ hò lờ) kết duyên Châu Trần... (bốn tiếng cuối câu bát, đọc chậm hơn, nhấn từng tiếng, trang trọng hơn, sau đó là tiếng trống và tiếng hò tiếp theo: tùng tùng tùng – tùng tùng tùng / hò lơ, hó lơ, hò lơ hó lơ, lắng tai nghe tiếng ai hó lơ, ta đi hò lờ...)

Rồi tiếp:

Em là thiếu nhi tuổi xanh

Chúc cho đất nước hòa bình ấm no…

Cứ thế đến hết bài. Bây giờ, không chỉ anh và các bạn phía Nam, mà ngay cả ở miền Bắc, các bạn từ 45 tuổi trở xuống, sẽ không biết cái thời á lơ hò lờ ấy, nó như thế nào, và vì sao, với cái bụng đói, người ta vẫn có thể ngồi suốt đêm mà á lơ hò lờ được. Câu hò ấy là cái hồn vía của làng và là cái xung động của cả một thời xa xưa thật khó quên. Còn chữ Châu Trần tôi lấy ở trong Truyện Kiều. Anh Chiến chị Dự giờ vẫn còn sống, đều hơn 80 tuổi, cả nhà ba đời con cháu vẫn nhớ bài thơ “con cóc” này của tôi… Rồi tôi làm thơ để tổ tuyên truyền á lơ hò lờ ở trạm nghỉ chân đóng thuế nông nghiệp của các xã vùng dưới huyện Nam Sách. Nhân dân gánh thóc thuế lên kho, qua cái trạm ở xã tôi, nghỉ ngơi, uống nước chè tươi, nhân viên kho xem thóc ở đây, ai đạt được tiêu chuẩn mới cho gánh tiếp xuống huyện… Lúc ấy không có chữ “thần đồng”. Ngay Khoa, lúc nổi tiếng, người ta gọi là “Nhà thơ tí hon”. Báo Ảnh Việt Nam đăng hai trang về Khoa, dùng chữ “Nhà thơ 10 tuổi”. Chữ “thần đồng” mãi sau này mới gán vào…

19. Nguyễn Đức Tùng:

Vậy bài Kết duyên Châu Trần là bài thơ đầu tiên của anh?

Trần Nhuận Minh:

Không. Không phải. Bài thơ đầu tiên có lẽ là bài sau, vì nó “có vẻ” sáng tác hơn.

Một hôm, tôi đang quét sân, vì lá cây nhãn bên sân rụng xuống nhiều quá, thì ông Trần Hòa gọi tôi đến nhà ông. Ông Hòa là thầy pháp, từng đi cúng, yểm bùa bắt quyết, đuổi tà ma, nay làm thợ may, đời sống gia đình, do đó, có khá giả hơn, một người rất tốt và tôi rất kính trọng. Đến nhà ông, mới thấy có khá đông người, đều là các vị cao tuổi và có thế lực trong dòng họ. Các vị đang uống nước chè tươi và ăn khoai lang luộc. Ông Hòa nói rất thẳng thắn: “Tôi nói thật với bác, (tôi mới 10 tuổi, nhưng ở ngành trên, vì chi tôi đẻ rất thưa) ai cũng bảo bác giỏi thơ, nhưng chúng tôi không tin. Tôi có nghe bác á lơ hò lờ, nhưng không biết là thơ của bác hay bác thuổng của ai. Hôm nay, chúng tôi mời bác đến đây, nhờ bác làm giúp cho chúng tôi một bài thơ để đọc vào dịp tết này (mùng 1 tháng Giêng năm Ất Mùi, 1955). Bác làm bao giờ xong cũng được, nhưng xong rồi mới được về. Trưa nay, tôi nấu cơm cho bác và các vị ngồi đây cùng ăn. Rồi ông ra đề: bác làm bài thơ 12 câu. Đọc chữ đầu câu từ trên xuống dưới là: “Việt Nam dân chủ cộng hòa – Độc lập tự do hạnh phúc.” Rồi ông đưa tờ giấy kẻ học trò và cái bút chì ông vẫn dùng để ghi tên những người may quần áo hay còn nợ tiền ông vào sổ, cho tôi. Rồi ông nhẩn nha nói thêm: ông cụ nhà bác, chúng tôi chả lạ gì, chỉ được cái chân thành, vui vẻ, phúc hậu, chứ nói thật bác đừng giận, ông cụ học không hay, cày chả giỏi, dù vẫn đi cày thuê, nhưng đường cày thì lỏi, có ra cái gì, nông choèn choèn… Ai dạy bác học và làm thơ mới được chứ?

Tôi thấy đề ra rất bình thường, không lo lắng gì, bình thản viết luôn:

VIỆT cường nổi tiếng Á Đông

NAM bang trấn cõi anh hùng bao phen

DÂN mình lớp lớp đứng lên

CHỦ quyền dành lại, còn truyền sử xanh…

CỘNG thêm những bậc tài danh

HÒA trong bão táp mà thành thép gang

ĐỘC ác thay lũ hung tàn

LẬP nền thống trị Việt Nam bao đời

TỰ nhiên bao cuộc đổi dời

DO dân đứng dậy, rạch đôi ngai vàng

HẠNH Nguyên máu giặc còn loang

PHÚC Yên, Vạn Kiếp tiếng vang còn truyền…

Bốn chữ còn truyền sử xanh là tôi lấy từ trong Truyện Kiều. Thực ra thì đó là một bài vè, chắp vá, đầu Ngô mình Sở, dù nó ngợi ca đất nước và có “yếu tố sử thi”.

20. Nguyễn Đức Tùng:

Còn các vị cao niên thân tộc ngồi nghe thơ anh thì sao?

Trần Nhuận Minh:

Sau khi nghe tôi đọc, các vị ngồi yên khá lâu. Tôi đưa mắt nhìn khắp lượt và tỏ ý hài lòng. Cái cảm giác ấy, tôi nhớ đến tận bây giờ và lấy làm xấu hổ cho sự hiếu thắng trẻ con của mình. Không khí trang trọng và căng thẳng. Lên tiếng đầu tiên là ông khóa Túy (Trần Tuý), một người có tiếng là rất khinh bạc, với cái nhếch mép nhiều khi rất khó chịu và cũng là người “văn hay chữ tốt” có tiếng trong mấy làng xã lân cận. Ông vê vê chòm râu cong vắt như cái sừng trâu, khẽ nói, nhưng ai cũng nghe thấy: “Thằng này giỏi. Thằng này giỏi. Nếu thời trước đi thi, nhất định nó sẽ đỗ trạng.” Ông là bậc trên, tôi gọi bằng anh. Ông Hòa bảo: “Này bác, Phúc Yên với Vạn Kiếp thì chúng tôi biết, nhưng Hạnh Nguyên mà “máu giặc còn loang” là ở chỗ nào? ” Tôi chợt nghĩ: ông này mới là người giỏi. Thực ra thì không có chữ Hạnh nào hợp với yêu cầu của bài, nên tôi bịa ra là Hạnh Nguyên. Tôi nói luôn: “Hạnh Nguyên ở Thái Nguyên, chiến khu cách mạng các bác ạ. Cháu nghe nói bên bờ sông Lô, ta đánh đắm tầu chiến Pháp năm 47 hay 48 gì đó mà...” Ông Hòa bảo: “Ừ phải rồi, đâu như ở Thái Nguyên…”.

Cho đến bây giờ, bài thơ, nếu cứ “lạm gọi” như thế, vẫn “nguyên xi” như thế, không sửa chữa thêm bớt gì. Mà sửa chữa với thêm bớt để làm cái gì mới được chứ? Đọc cũng hơi bị… buồn cười, phải không? Nếu anh không hỏi, tôi có “động rồ” mới kể ra…, biết đâu lại chả có người cười mình là thế này, thế nọ… Họ tôi, làng tôi, nhiều người vẫn nhớ, vẫn thuộc và vẫn truyền tụng. Chú Khoa cũng đã đôi lần giễu tôi về bài thơ này, dù chú ấy cho rằng “sát hạch tại chỗ” mà viết được như thế đã là kha khá… Từ cuộc “sát hạch” loáng thoáng đó, đã dẫn đến một quyết định của dòng họ mà nhà tôi cũng không ngờ: Nhà thờ họ có hơn một sào đất vườn làm hương hỏa. Dòng họ liền giao cho bố mẹ tôi cấy trồng, để có thêm tiền cho tôi ăn học, mỗi năm, vào ngày tế Tổ, 13 tháng Giêng âm lịch, thì cung tiến vào nhà thờ một mâm xôi trắng, một con gà giò luộc và một chai rượu ngang. Chỉ có thế thôi, không phải nộp thuế hay khoản tiền dầu đèn trong nhà thờ. Nhà tôi vẫn trồng mía trên sào đất ấy, từ đầu năm 1955 cho đến hết năm 1962, năm tôi thành ông giáo trẻ, xung phong đi dạy học ở mãi khu mỏ Hồng Quảng xa xôi, thì dòng họ mới thu hồi để giao cho người khác…

Nếu có thể coi là bài thơ chính thức viết đầu tiên thì là bài đó, làm vào cuối tháng 11, hoặc đầu tháng 12 là cùng, năm Giáp Ngọ (1954), năm tôi 10 tuổi, vì nó xảy ra sau đám cưới: Anh Chiến chị Dự kết duyên Châu Trần… cuối tháng 10 âm lịch, sau Hòa bình lập lại (ở) Đông Dương, khi các nhà vừa gặt vụ mùa xong. Lúc ấy sau chiến tranh, ruộng cấy lưa thưa, một sào chỉ thu được khoảng hai thúng thóc, đói lắm… Còn bài thơ được đăng báo đầu tiên là bài Chiếc đòn gánh cong (1960); và bài thơ được in vào tập tuyển thơ đầu tiên là bài Thư mẹ nuôi, viết về tình quân dân, ký bút danh Trần Bình Minh… trong Sức mới, 2 tập 1966 – 1967, Nhà xuất bản Văn học, do nhà thơ Chế Lan Viên tuyển chọn và viết Lời giới thiệu, tuyển thơ của các nhà thơ trẻ lúc đó, như Giang Nam, Thanh Hải, Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương, Phạm Ngọc Cảnh, Ngô Văn Phú…vân vân…, thơ tôi được in trong tập II. Bài thơ ấy bây giờ tôi cũng bỏ, đến PHỤ LỤC THƠ Gửi lại dọc đường, tôi cũng không đưa vào.

Tôi rất thích câu hỏi của anh, vì bài thơ đầu tiên của mỗi người thường mang theo biết bao hồi ức, gợi lại cho ta biết bao vui buồn của một thời…. Còn tác phẩm đầu tiên của anh Nguyễn Đức Tùng, tôi có thể biết được chăng?

21. Nguyễn Đức Tùng:

Nhân anh hỏi, tôi xin kể chuyện vui. “Tác phẩm” đầu tiên của tôi năm mười tuổi, cuối năm học lớp nhì, tức là lớn bốn bây giờ, không phải là thơ mà là một cuốn tiểu thuyết dày cỡ một cuốn vở học trò, loại cyclo trăm trang, tôi nổi hứng viết sau khi đọc xong hai cuốn tiểu thuyết. Một cuốn là Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, được dạy chính thức trong nhà trường lớp đệ thất của anh tôi, hai là cuốn Bên dòng sông Trẹm của Dương Hà (?) mà chị tôi thuê về đọc. Có lẽ tôi định tạo ra một tác phẩm hỗn hợp gì đó giữa hai câu chuyện tình rất khác nhau. Tác phẩm này tôi giấu kỹ dưới chiếc chiếu hoa dưới bàn thờ, không may bị mấy bà chị đem chiếu đi giặt phát hiện được, đem ra trêu chọc, khiến cho giấc mơ làm nhà văn của tôi tan thành mây khói.

Tôi đến với thơ trễ hơn nhiều. Một trong những bài thơ đầu tiên của tôi là bài lục bát, lúc mười lăm tuổi, tôi còn nhớ là vì được giải thưởng văn chương trường trung học Nguyễn Hoàng.

Tôi mở đầu như sau:

Quên rồi màu lá cây xưa
Chút thương nhớ đó vàng chưa khi về

Chép lại đây để nhớ một không khí văn chương trong lành đã mất, một xã hội lãng mạn vĩnh viễn không còn nữa. Thật ra, tôi cũng tin rằng tuổi thơ người ta không bao giờ chết.

Như trong câu của Edna Vincent Millay:

Tuổi thơ là vương quốc ở đó không ai phải chết đi.

(Childhood is the kingdom where nobody dies)

Thế hệ học trò lớn lên bằng:

Quên rồi màu lá cây xưa

Thì không thể nào mạnh bằng thế hệ học trò lớn lên bằng:

Việt cường nổi tiếng Á Đông.

Tôi chắc rằng mỗi người trong chúng ta đều có những kỷ niệm đáng nhớ đối với những tác phẩm văn chương vào đời của mình. Có người vừa xuất hiện đã thành danh ngay nhưng một thời gian sau không viết được nữa, có người đi vòng nhiều lần nhưng càng về sau càng để lộ sức đi lên, đi xa. Có lẽ những người trong nhóm thứ hai thường bị ám ảnh bởi một thứ gì như tâm sự nỗi niềm. Tôi nhớ đến hai câu của Trần Nhuận Minh, rất hay:

Mỗi người một câu hỏi

Đi mang mang trong đời

Câu thơ có sức liên tưởng. Nhưng câu hỏi của anh là câu hỏi nào?

Trần Nhuận Minh:

Trở lại một chút với hai câu thơ đầu tiên ở tuổi học trò của hai chúng ta. Anh có thấy điều này không? Nó thấp thoáng hé ra một cái gì đó mà sau này chúng ta sẽ phải đi tiếp đến hết cả một đời người. Câu thơ của anh chỉ là một nét thoáng qua, nhưng rất thanh tao, tinh tế. Còn câu của tôi thì mạnh bạo, có hơi hướng sử thi…

Còn về câu thơ Mỗi người một câu hỏi…

Năm 2010, anh có tập sách Thơ đến từ đâu. Không có dấu chấm hỏi, nhưng theo tôi, đó là một câu hỏi thú vị anh đặt ra cho các nhà thơ. Đến nay, tôi chưa thấy ai trả lời thẳng vào câu hỏi này. Vì vậy tôi muốn thử tìm cách trả lời trong một câu giản dị và thẳng thắn: thơ đến từ nhà thơ.

Tôi tin cũng có người trả lời như tôi. Nhưng tôi cũng tin sẽ có nhiều người khác trả lời không giống tôi. Họ sẽ nói rằng: thơ đến từ cuộc sống, từ nhân dân, từ tình yêu con người, từ vũ trụ… hoặc có thể chẳng từ đâu cả…, vân vân và vân vân… Như thế, một câu hỏi sẽ có nhiều câu trả lời khác nhau và có thể hoàn toàn khác nhau. Đó là những câu trả lời, không chỉ về thơ, về nghệ thuật, mà còn về những lẽ đời, về nhiều việc người. Cũng như anh sẽ hỏi tôi nhiều câu hỏi khác nữa tiếp theo, về văn chương và mối liên hệ của nó, tôi sẽ lần lượt trả lời đến hết cả cuốn sách này. Nhưng đấy không phải là nội dung hàm chứa trong câu thơ của tôi mà anh vừa dẫn ra.

Có một chi tiết trùng hợp bất ngờ, vì vậy xin nói thêm. Trong chín lần tổ chức Ngày thơ Việt Nam, từ năm 2003 đến nay (2011), năm nào thơ tôi cũng được ban tổ chức chọn là một trong 50 câu thơ Việt Nam, từ xưa đến nay, trân trọng thả lên trời tại sân Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội. Các câu thơ đó được đọc trong nghi lễ thả thơ và ngay sau đó đăng trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam số ra về Ngày thơ Việt Nam.

Năm nay, câu anh vừa dẫn ra:

Mỗi người một câu hỏi

Đi mang mang trong đời

nằm trong số đó đấy.

Đó là câu hỏi của số phận. Người đặt ra câu hỏi ấy, không biết là ai, vậy thì cứ tạm cho là ÔNG GIỜI và bất cứ người nào sống trên trái đất này, cũng phải chấp nhận câu hỏi mơ hồ và khắc nghiệt ấy, khi người đó cất tiếng khóc đầu tiên. Câu hỏi ấy, với ma lực sáng láng và tối tăm, rõ ràng và huyền bí, sẽ dẫn anh đi suốt một cuộc đời mà anh không hề biết, cho đến khi anh nằm dưới đáy huyệt, mà trước đó khoảng vài chục giờ, anh chỉ mơ hồ nhận ra khi chợt nhìn thấy cái lưỡi hái của thần Chết…

Tôi có bài thơ về câu hỏi ấy đấy, đã đăng báo vài ba lần, dự định sẽ in trong tập thơ văn xuôi có tên là Hoàn nguyên. Anh đọc nhé!

CÂU HỎI ẤY

Mỗi người đều phải trả lời

một câu hỏi trong suốt cuộc đời mình

Câu hỏi ấy cùng với mình sinh ra,

có thân thì cũng có câu hỏi ấy

Ai đặt ra câu hỏi ấy

Suốt đời mình không biết

Câu hỏi ấy là gì

Mình chỉ có thể mơ hồ nhận ra khi tự tổng kết cuộc đời

Và chiếc búa biết câu trả lời

khi đóng đinh vào nắp quan tài

để chấm dứt một kiếp sống

Câu hỏi ấy như có lại như không

Áp vào cuộc đời mình

Lỏng lẻo như chiếc mũ đội đầu

Gió bay

Chặt cứng như cái xích sắt còng chân

Lửa hàn không thể cắt…

Bạn ơi, bạn có thấy chăng

Câu hỏi ấy điều hành hơi thở

Đập trong tim mình thành nhịp

Nó đẩy bạn quặt về bên này hay lao tới phía bên kia

Giữa dòng xoáy chóng mặt của thời cuộc

Mình đã tự trả lời câu hỏi ấy mà mình cũng không hay

Chỉ có lưỡi biết vì sao

giọt nước mưa chảy xuống môi mình có vị mặn…

Hình như có

Hình như không

Nó tồn tại đâu đây

Trong tâm tưởng và ngoài tâm tưởng

Dằng dặc gập ghềnh con đường số phận

Những khoảng khắc khôn lường

Nó thay mình mà quyết định

Mình không phải là mình mà vẫn là mình

Bạn ơi

Nó dẫn chúng mình tự tìm đến với nhau

Rồi lại khiến chúng mình giã biệt…

22. Nguyễn Đức Tùng:

Bài thơ có vẻ “bất khả tri”. Nhà Phật gọi là bất khả tư nghị.

Trần Nhuận Minh:

“Có vẻ”… thì đúng rồi. Đã có một thời ta phê phán rất gay gắt quan điểm này, vì cho rằng, cái gì chúng ta cũng hiểu được, cái gì chúng ta cũng cải tạo được theo ý mình. Không đơn giản thế đâu. Trong đời mỗi người, vẫn có một cái gì đó không hiểu nổi, không tự giải thích được và cái đó chi phối ít hay nhiều số phận của mỗi chúng ta. Thơ cũng thế thôi. Nhiều khi ta sáng tạo ra nó theo linh tính chứ không phải theo lý luận và chỉ khi mình “vô ngã” thì nó mới tự nhiên ra đời. Vì vậy, càng học thơ, làm thơ, càng thấy thơ có một cái gì đó rất khó nắm bắt, rất khó chinh phục. Nó rất mơ hồ nhưng lại mơ hồ tới mức chính xác. Hình như thơ phát triển được, để mỗi người mỗi khác, ngay trong một người cũng mỗi giai đoạn mỗi khác, là nhờ ở cái mơ hồ rất chính xác này. Thậm chí trong một số trường hợp, bài thơ như ra đời trong vô thức. Vì thế mà những đỉnh cao mới, mới có cơ hội xuất hiện và những lý luận về thơ mới căn cứ vào đó mà luôn luôn được bổ sung. Cũng bởi thế, mà anh với tôi mới có cuộc trò chuyện văn chương với nhau và tập sách này mới được ra đời. Không bao giờ có chỗ tận cùng. Ngay nhà thơ Bùi Giáng, được coi là người: “ Ngủ ra thơ. Thở ra thơ. Đi ra thơ. Đứng ra thơ.” Vậy mà Bùi Giáng còn viết: Nhưng thơ là gì? / Thì đó là điều / Ta không biết. Do vậy, nếu ai nói rằng, mình đã hiểu hết thơ, thì tôi nói ngay rằng, người đó là một kẻ dối trá.

Về nghệ thuật, phạm vi hẹp hơn và mình có thể làm chủ được, tôi hiểu câu hỏi mà tôi phải tự trả lời trong suốt cuộc đời mình. Đó là số phận của nhân dân trong những va đập của thời cuộc. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc và nhân loại, có những cú va đập kinh hoàng như thế kỷ XX mà chúng ta vừa trải qua…

Đề từ tập Nhà thơ và hoa cỏ, tôi trích một đoạn bốn câu trong tập:

Câu thơ như gan ruột

Phơi ra giữa trời mây

Mỗi người một số phận

Ngang qua thế kỷ này…

Tất nhiên là chỉ đạt đến một mức độ nào đó, nhưng tôi hy vọng, qua thơ của tôi, tôi đã trả lời được câu hỏi mà tôi đã tự mang vác để Đi mang mang trong đời, trong chính cuộc đời của mình.

23. Nguyễn Đức Tùng:

Anh là người làm thơ có suy tưởng triết học, có lẽ vì thế mà khi đọc thơ anh, những bài thơ dài, và khi trò chuyện, riêng tôi cảm thấy gần gũi hơn so với một số nhà thơ khác, cùng tuổi tác và hoàn cảnh ra đời như anh.

Thế gian lộng lẫy vàng

Ta cởi trói các giác quan

Theo tôi, thơ ca là người chị em của triết học. Thanh niên chúng tôi lớn lên trong một nền giáo dục tự do, đứa nào cũng phảng phất một chút tư tưởng triết học, thậm chí một chút chán đời hay phi lý mơ mộng. Ngày nay nhìn lại, nhiều người tự đấm ngực cho rằng đó là sự bắt chước máy móc, kiểu làm dáng rẻ tiền có tính phong trào, như mốt áo quần phụ nữ. Tôi nghĩ khác. Tôi cho rằng bấp chấp tất cả những khuyết điểm của nó, các phong trào thời thượng trí thức, đặc biệt mang tính triết học, cũng dạy cho những người trẻ tuổi khả năng mơ mộng và phương pháp tiếp cận chân lý từ các phía khác nhau, dạy cho họ biết rằng không bao giờ có một sự thật duy nhất, một lịch sử bất biến, một sự tồn tại duy nhất. Tôi cũng tin rằng một nền thơ xa rời triết học là một nền thơ không có tương lai.

Nhưng mặt khác, triết học không phải là các bài giảng đạo lý, và thơ không phải là sự mô tả các ý tưởng. Khi đọc, tôi thích nhất là những câu thơ, bài thơ có giọng hồn nhiên, ít dùng đến nghệ thuật tu từ, mà vẫn có tác động thẩm mỹ, như đoạn thơ dưới đây:

Tôi sinh ra trong mưa bão Kinh Thầy

Tháng Tám nước dâng

Trũng gương mặt đói…

Mẹ tôi hai mươi bốn tuổi

Đôi mắt lặng thầm buồn mênh mông…

Bà đỡ đặt tôi vào giữa nong

Mong tôi lắm thóc nhiều tiền

Không phải ăn mày ở đợ

Bà quấn cho tôi vạt áo cũ

Ngai ngái mồ hôi

Tôi khóc chào đời

Tiếng nghẹn trong cổ

Bà đỡ khẽ kêu: Thằng này rồi sẽ khổ...

Người đọc có thể không chú ý lắm đến nội dung, nhiều khi không kịp hiểu tác giả định nói gì. Chuyện đó về sau. Cái họ bắt gặp đầu tiên là sự thu hút của nó, sự hấp dẫn của cái đẹp, của vần điệu và hình ảnh, của tiếng nói đang vang lên. Nhưng phân tích cho cùng mỗi bài thơ, hay mỗi đoạn thơ có sức hấp dẫn riêng, thường là do nhạc điệu, trước hết là nhạc điệu. Và sau đó là giọng điệu.

Tôi sinh ra trong mưa bão Kinh Thầy

Đây là một câu thơ khó, chỉ người làm thơ mới biết là khó, vì nó có tính khởi động cho một đoạn thơ, một dòng chảy. Như ca sĩ đang lắng nghe dàn nhạc chơi những nốt đầu tiên để bắt vào bài hát. Câu thơ ấy, mới đọc thì giản dị, nhưng thật ra công phu. Nó thiết lập một giọng điệu.

Đó là giọng thân mật, có tính tự truyện, rất cá nhân, vì vậy mà có tính chân thành.

Mẹ tôi hai mươi bốn tuổi

là mới. Ít nhất là trong dòng chảy chung mà tôi tạm gọi là văn học chính thống xã hội chủ nghĩa trong khoảng thời gian 1954 đến 1975 và kéo dài sau đó nhiều năm. Mặc dù nhiều người sẽ không để ý. Không phải là anh không có chút “làm dáng” khi hạ giọng khiêm tốn, nhưng đó là sự làm dáng đáng yêu, phải để ý lắm mới nhận ra, mà người đọc chấp nhận được.

Tôi khóc chào đời

Tiếng nghẹn trong cổ…

Thơ thu hút người ta ở chỗ này: nói không thật mà vẫn là sự thật, nói thật mà vẫn không cần đến hiện thực.

Nhưng anh có khổ không?

Trần Nhuận Minh:

Khổ hay không là một khái niệm rất tương đối và còn tùy cách cảm nhận của từng người. Trong Bản Xônat hoang dã, tôi có viết:

Đức Vua rất khổ

Vì bị cầm tù trên ngai vàng

Và ngày nào cũng ghê sợ rượu thịt…

Tôi tin là mình đã nói rất đúng nỗi khổ của nhiều ông vua. Nhưng với biết bao người, thì đó là mơ ước ngàn đời đấy chứ. Thậm chí không ít trường hợp là mục đích của các cuộc chiến tranh dìm chết nhiều chục triệu người trong biển máu, để có ngai vàng cho một mình mình ngồi và có rượu thịt, trước hết cũng là cho một mình mình “chén” cái đã… Rồi vợ đẹp. Có vợ đẹp sướng lắm chứ. Nhưng không ít anh khốn khổ chẳng ra người chỉ vì có cô vợ đẹp. Cũng đã có những cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia “giết mấy chục vạn người”, nói cho cùng, chỉ vì giành nhau một người đàn bà đẹp, mặc dù cuộc chiến tranh đó được tuyên bố bởi những lý do cao cả khác…Trong Đốm lửa (tập thơ chưa xuất bản) tôi viết:

Tôi chưa thấy một người đàn bà đẹp nào

Mang đến cho chồng mình niềm hạnh phúc…

Hạnh phúc là sự hài hòa của mọi cái sướng. Nghĩa là có vợ đẹp rất khổ, có khi toi đời vì một chuyện không đâu… Anh cần lấy ví dụ không? Nhiều lắm… Nói chung là như thế.

Còn với cá nhân tôi, nỗi ám ảnh đáng sợ nhất của tuổi thơ tôi là đói. Đói là cái tận cùng của cái khổ, cái thấp nhất của cái khổ và cũng là cái quan trọng nhất để làm thành cái khổ. Không phải ngẫu nhiên mà nói đến cái khổ, cha ông ta thường nói đến đói rét, đói trước, rét sau. Rét thì còn có mùa, trong mùa còn có ngày, chứ đói thì quanh năm, suốt tháng. Tôi đã chịu những cơn đói ghê gớm, những cơn đói mà ranh giới giữa con vật và con người trở nên rất mong manh. Đó là thời kỳ cả làng tôi cấy lúa 5 x 5 hoặc 5 x 10, kết quả biến ruộng lúa thành bãi cỏ. Dạo ấy, 13 tuổi, tôi đã làm thơ cho tổ tuyên truyền của huyện và thơ tôi đã được duyệt, rồi cho kẻ vẽ lên nhiều tường vách nhà trong huyện, để động viên toàn dân cấy lúa theo kỹ thuật mới ấy đấy. Anh nghe không?

Ai ơi, cấy lúa năm, năm (5 x 5)

Tháng ba ngày tám cứ nằm cũng no

Đến khi mà lúa chín vàng

Trải chiếu bốn chàng ngồi cũng không xiêu…

Tôi viết ý ấy, vì người ta đưa cho tôi tờ báo ảnh Trung Quốc, chụp bốn chàng thanh niên lực lưỡng ngồi trên bốn góc chiếu trải trên những cây lúa vàng rực.

24. Nguyễn Đức Tùng:

Đó là năm nào? Những điều gì đáng nhớ nhất trong ký ức tuổi thơ của anh?

Trần Nhuận Minh:

Đó là năm 1959, tôi 15 tuổi.

Gia đình tôi là một trong những gia đình đầu tiên vào hợp tác xã nông nghiệp, từ đầu năm 1958. Năm 1959 thì có chuyện “cải tiến kỹ thuật” chết người đó, học của Trung Quốc. Cùng với cấy lúa 5 x 5 đã nói ở trên, là cho lợn ăn phân trâu. Lợn chảy bụng ra lõng bõng như cái túi lủng lẳng, mắt toét nhoèn. Phân lợn cũng không có tác dụng để bón cho lúa. Rồi trồng khoai ụ, chẻ tre đan những cái sọt to như cái bồ, có bao nhiêu phân và đất màu mỡ thì hót lên, đổ vào trong cái bồ đó, làm thành cái ụ, cao ngang đầu người, dây khoai lang đặt vào xung quanh… cuối cùng, khoai chết, ụ đất thành một cái lô cốt rắn như đá, tôi phải dùng xà beng mới bẩy ra được, mà ruộng thì bạc hết màu… Xóm tôi đã có người chết đói vào năm đó. Chính tôi đã xem anh Luận, nhà liền nhà tôi, bó người chết trong cái chiếu đem chôn, mồm người chết cứ mở to ra như mồm con cá ngão. Lúc ấy tôi mới biết rằng, không ai khép cái mồm người chết đói vào được. Sở dĩ có người chết đói vì không ai dám báo cáo lên cấp trên là hợp tác xã có người đói để cứu đói. Và khi chết đều chết vì tả. Nên có báo cáo thì báo cáo là chết bệnh, không phải chết đói. Đói quá cái gì cũng ăn. Ví như lá sắn, lá sung, đều đem luộc, ăn được tất. Làng cứ nháo nhác cả lên. Lúc ấy, tôi mới thấy giá trị của cây đu đủ, ăn hết quả rồi ăn thân cây, bỏ cái vỏ ngoài và cạo sạch cái lòng trắng bên trong, luộc đổ nước đầu đi, rồi nấu là ăn được, rồi ăn lá, nấu như nấu canh, rồi đào ăn cả rễ. Lần đầu ăn nôn nao như say, sau chỉ cồn ruột thôi, nhưng chịu được. Tôi đã làm và ăn những thứ ấy. Nhà tôi có cái ao thả bè muống, nên khá hơn, còn gốc rau muống già, ăn xen vào. Gốc muống thái nhỏ phơi khô, thổi lên như thổi xôi, vật ra giá, trông đen như phân trâu. Tôi đã ăn vã món này đến bốn, năm bát một bữa. Vì gặp cái gì cũng ăn, rồi uống nước lã, nên cả làng đi tả, tức là chết vì bệnh tả, chứ không phải vì đói, nhưng thực ra là chết đói… Vì chết do tả, nên người ta chôn vội chôn vàng, sợ lây nhiễm. Có một trường hợp rất đau lòng, khi sang cát (cát táng) mở quan tài của một bà, là mẹ cô em họ tôi, thấy con dao thường bổ cau (bà ăn trầu), rất sắc nhọn, buộc cái quai vào giải rút quần, cắm chặt vào mép tấm ván thiên ngang ngực người chết. Quan tài lúc ấy, đóng vội bằng gỗ tạp nên gỗ rất mềm. Mọi người bật khóc, vì nghĩ rằng, sau khi chôn, bà đã sống lại và bằng cách đó, báo cho con cháu sau này biết…

Năm ấy, chú Khoa một tuổi, cũng bị đói rồi đi tả, tôi lay mãi vẫn bất động. Tôi kêu lên. Mẹ tôi vừa đi làm đồng về, òa khóc. Anh Luận, người liền nhà, tôi đã nói trên, khoảng bốn mươi tuổi, sau khi dứt một sợi tóc của Khoa đặt ngang lỗ mũi không thấy sợi tóc lay động, bèn kêu to lên là thằng cu đã chết rồi. Anh lấy cái chiếu võng, bó Khoa tròn lại, rồi buộc rất chặt ba nút lạt, pha ra từ một cây tre non, chuẩn bị đem chôn vội, vì sợ lây, nhưng mẹ tôi bảo chờ chút đã… Tôi hớt hải chạy nhanh đến nhà cậu ruột tôi, ông Trần Quang Tính, một thầy lang rất giỏi nghề, lúc ấy may sao lại có nhà. Cậu tôi đến kịp thời, sau khi cởi nút lạt, phanh hết áo ra, người Khoa đã tái nhợt… Ông rắc cái gì vào rốn Khoa (hình như là đất vách – tôi không dám chắc), cho Khoa ngậm một cái gì đó, rồi bảo tôi chạy đi tìm gấp ông Nguyễn Văn Thảo ở làng bên. May sao ông Thảo cũng lại có nhà. Ông Thảo làm y tá quân đội vừa về phục viên. Ông tiêm cho Khoa một mũi thuốc cấp cứu rồi rút 5 đồng tiền trong túi cho tôi vay, bảo tôi chạy nhanh đi mua thuốc.Ông ghi tên một cửa hàng thuốc ở mãi thị xã Hải Dương, cách làng tôi 10 km và một con đò rộng, nước ngập mênh mông (đò Hàn). Tôi đội nón, khoác áo tơi, vừa chạy gằn vừa thở, sao cho thật nhanh. Lại may nữa (số chú Khoa không chết được): lúc đi và lúc về, đều có đò đợi sẵn, không phải chở. Mà chờ một chuyến đò thì rất lâu. Tôi mệt tưởng đứt hơi. Sau này, tôi mới biết, thứ thuốc ông Thảo sai mua là sâm, năm đồng được một mẩu bằng hai đốt ngón tay út. Mẩu sâm này đã cứu sống chú bé.

Bố mẹ tôi coi ông Thảo là người cha tinh thần của chú Khoa. Tết năm nào, bố mẹ tôi cũng sắm một túi quả nhỏ biếu ông, để tạ ơn, cho đến khi ông qua đời… Cách đây mấy năm, tôi phải đáp máy bay vào Sài Gòn, rồi thuê tắc xi đến một thị trấn nhỏ ở tỉnh Bình Dương, để viếng một bà hàng xóm, chỉ vì năm đó, khoảng 10, 11 giờ đêm khuya khoắt, bà ấy thường gọi một tiếng rất nhỏ ở bờ tre, đôi khi tiếng gọi đã nhỏ lại thều thào, vậy mà tôi vẫn nghe thấy ngay, để tôi ra nhận một bát cơm bà xới bớt lại, giấu không cho chồng con biết, bà gọi cho tôi, gói trong lá khoai nước. Tôi phải san cho mẹ và cho em, nhưng mẹ tôi thường không ăn, rồi tôi mới ăn mấy miếng phần của mình. Hương vị của những miếng cơm ấy thì suốt đời tôi không sao quên được…

Ngày 3/9/1960, tôi rời làng đi học sư phạm. Mẹ tôi vay bá Ban 5 đồng, mua một mét rưỡi vải diềm bâu trắng, tôi mang xuống nhờ ông Hòa may cho cái áo cổ bẻ, ông không lấy tiền công. Sau này tôi phải tiết kiệm tiền ăn sáng và tiêu vặt để trả bá Ban, chứ mẹ tôi cũng không trả nổi (mỗi tháng tôi được cấp 22 đồng, đóng tiền ăn 15 đồng cho cả 30 ngày, bữa nào không ăn thì được trả lại tiền). Bà ngoại tôi ăn trầu thuốc, mỗi tuần về, tôi mua biếu bà 5 xu thuốc lào, bà tôi mừng đến phát khóc. Lại còn mua giáo trình để học và mua sách đọc. Cho nên, tôi cứ nhịn đói suốt, nếu còn có thể… Đó là ký ức thuở đầu đời của tôi... Có lẽ vì thế, những câu thơ của Tố Hữu, viết ở thời điểm đó, làm tôi phấn chấn vô cùng:

Đã nghe nước chảy lên non

Đã nghe đất chuyển thành con sông dài

Đã nghe gió ngày mai thổi lại

Đã nghe hồn thời đại bay cao…

25. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi nhớ một nhà văn nổi tiếng có nói: chỉ những người dũng cảm và trung thực mới có thể kể lại những chuyện đau buồn, phơi ra những vết thương kín hoặc là của cá nhân, của gia đình hay xứ sở mình.

Chuyện của anh xảy ra vào năm 1959 đến đầu năm 1960. Tôi hiểu rằng đó là anh chỉ mới nói về cái đói, rất cụ thể, và còn những điều khác nữa.

Ngày nay, nhìn lại những nỗi khổ vừa kể, anh cảm nhận về chúng như thế nào, và có thể giải thích nguyên nhân được không?

Trần Nhuận Minh:

Lũ lụt là khổ lắm chứ! Hàng trăm người chết, hàng nghìn người màn trời chiếu đất. Anh chả lạ gì. Nhưng sau khi nước rút đi, ruộng đồng lại thêm một lần đắp bồi màu mỡ, do đó, ta thường được mùa lớn. Cái lẽ đời là thế đó. Anh hãy cạn đến tận cùng cái chén cay đắng của cuộc đời, ở đáy cốc nhất định sẽ có vị ngọt, nhưng vấn đề là anh có uống cạn cái cốc đời ấy không và anh có khả năng nhận ra cái vị ngọt ấy không? Sau những rủi ro, vận may thế nào cũng rụt rè gõ cửa, cái chính là tai ta phải tinh để nhận ra cái tiếng gõ cửa nhẹ nhàng đó. Cũng như sau bão, thường có mưa đền cây. Tôi cũng muốn sung sướng lắm chứ, nhưng đâu có được. Nỗi khổ cứ ập đến ngoài sự lựa chọn của tôi:

Không phải niềm vui mà chính là nỗi khổ

Đã dạy tôi thành Người…

Tôi đã viết thế. Bây giờ nghĩ lại, nói rằng, cảm ơn nỗi khổ thì thực buồn cười, và biết đâu, có người sẽ nghĩ là mình giả dối. Nhưng không có nỗi khổ đó, chắc gì tôi đã hiểu đời, tôi đã thương người như bây giờ. Anh biết không, chắc chắn đấy là một trong những lý do quan trọng nhất khiến tôi cầm bút. Nếu sung sướng, chắc gì tôi đã đến với văn chương.

Đúng như anh nói, chỉ có những người dũng cảm và trung thực mới dám phơi ra những vết thương kín của cá nhân mình, gia đình mình hay xứ sở mình. Nhưng người Việt Nam nói chung, không dễ chấp nhận tinh thần trung thực và dũng cảm theo cách đó. Bao giờ người ta cũng đặt nó trong đạo lý, để có một cách ứng xử cho phải đạo. Cho nên trong tư duy của người Việt Nam, bên cạnh cái đúng và cái sai, phân biệt nói chung là dễ dàng, còn có cái nên và cái không nên, cái phảicái không phải, rất khó phân biệt, nghĩa là đặt cái đúng và cái sai, trong sự kiểm soát của những quy phạm về đạo đức. Ở Việt Nam ta, những chuẩn mực của đạo đức đôi khi còn bắt cả “khoa học” cũng phải phục tùng, và vì thế, nói chung, chân lý với chủ nghĩa nhân văn không phải bao giờ cũng là một. Đây chính là cái hay của “khoa học” Việt Nam, và cũng là cái rắc rối đáng yêu của tư duy và tâm hồn người Việt Nam. Đặt cái cứng, cái rõ, trong sự kiểm soát của cái mềm và không phải bao giờ cũng rõ ràng, bởi có rất nhiều phụ thuộc. Anh có thấy số phận của một số cuốn hồi ký của một số tác giả, bị lên án nặng nề, cũng ở cái phần mềm này. Do đó, không ít trường hợp, nói đúng mà không được ủng hộ, thậm chí nguy to, không chỉ đến cơ nghiệp làm ăn, mà có thể nguy cho cả tính mạng mình và con cái trong gia đình. Vì thế, sự trung thực và dũng cảm ở Việt Nam rất được hoan nghênh, nhưng cũng có thể phải trả giá rất đắt. Thậm chí đắt hơn nhiều so với các nước khác.

26. Nguyễn Đức Tùng:

Sự trung thực của nhà thơ bao giờ cũng được lịch sử lâu dài ghi nhận, nhưng muốn được lịch sử ghi nhận, trước mắt phải trả giá đắt, vì vậy nhiều người không trả được. Mặt khác, người xưa cũng nói: bất bình tắc minh. Không có tâm sự khốc liệt thì không bật ra thành tiếng kêu, không thành văn chương hay được. Những câu thơ của Nguyễn Thụy Kha:

Em bỏ ta đi giữa đời buồn chật chội

Không thể sống hèn hơn không thể sống

tồi hơn bây giờ đã là tội lỗi

Lặng lẽ ngang tàng ta ngơ ngẩn cùng cây

bộc lộ một tâm trạng xúc động mạnh mẽ. Nhưng chính hình ảnh đẹp cuối cùng đã “cứu” cho ý tưởng mạnh của cả bài thơ. Tôi tin rằng hoàn cảnh cá nhân thường là cảm hứng trực tiếp của người viết.

Nhà lá ba gian

Kẽo kẹt tiếng võng

Ao hồ mờ mịt khói sương…

Mấy câu thơ của anh nhắc tôi đến sự trở về. Mỗi người đều có một nơi chốn để trở về.

Quê hương chẳng hạn. Cũng như:

Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

(Đỗ Trung Quân)

Quê hương của anh thời trước và bây giờ ra sao? Lai lịch gia đình anh, chẳng hạn?

Trần Nhuận Minh:

Tôi sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng, từ xa xưa, tại làng Điền Trì, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Trong lịch sử văn hóa xứ Đông (Hải Dương), dòng họ tôi được ghi là Trần Điền Trì, xếp sau họ Vũ Mộ Trạch, huyện Bình Giang, một dòng họ nhiều tiến sĩ nhất nước. Từ đường dòng họ tôi đã được xếp hạng Di tích lịch sử và văn hóa.

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn, Địa chí Hải Dương do Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương biên soạn xuất bản và Niên phả lục, do phó giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Đăng Na biên dịch, Nhà xuất bản Văn học ấn hành và nhiều thư tịch khác, thì cụ tổ chín đời của tôi là Trần Thọ, có sách ghi là Trần Đạo, (1639 – 1700), tự là Nhuận Phủ, đỗ tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670), làm quan đến chức Bồi tụng, rồi Tham tụng, Hình bộ thượng thư. Đọc Khâm định Việt sử thông giám cương mục tôi mới biết: cụ xử sai một vụ án mà bị bãi chức Tham tụng (tể tướng) và Thượng thư (bộ trưởng). Khi là Tả thị lang bộ Hộ, tước Hầu (Phương Trì hầu), Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Trụ quốc, cụ là phó sứ đi Trung Hoa, tháng 4 năm Canh Ngọ (1690), với nhiệm vụ đòi lại đất bốn châu biên giới đã bị nhà Thanh lấn chiếm: Bảo Lạc, Vị Xuyên, Thủy Vĩ và Quỳnh Nhai, trong đó Vị Xuyên nay vẫn mang tên cũ, thuộc tỉnh Hà Giang. Chánh sứ là Thượng Bảo khanh Nguyễn Danh Nho, lo việc triều cống. Cụ có Nhuận Phủ thi tập, hiện còn ba bài thơ trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn.

Cụ tổ tám đời là Trần Cảnh (1684 – 1758), đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1718), làm quan Tế tửu Quốc Tử Giám, hiệu trưởng trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Trong 18 năm cuối đời, từ 1740 – 1758, cụ được phong tước Công (Diệu Quận công), lần lượt giữ chức Thượng thư bốn bộ: bộ Công, bộ Hình, bộ Binh, bộ Lễ, hai lần giữ chức Tham tụng, tước Thái bảo (một trong ba tước cao nhất của triều đình), Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Thượng trụ quốc. Đương chức Tể tướng đứng đầu triều, cụ vẫn khẩn thiết xin vua cho về hưu, rồi nhờ một số bạn thân tín tấu trình để nhà vua cho mình về hưu bằng được. Trong thời gian hưu, cụ đã chiêu mộ dân ly tán ở các huyện, khai hoang lập ấp ở một số làng xã dọc triền sông Kinh Thầy, từ Nam Sách, Chí Linh, Kinh Môn (Hải Dương) đến Đông Triều (Quảng Ninh) và Thuỷ Nguyên (Hải Phòng) hiện nay, thời ấy đều thuộc đạo Hải Dương, được vua Lê phong chức Hải Dương khuyến nông sứ. Trên cơ sở hướng dẫn dân trồng cấy, cụ đã soạn bộ sách Minh nông chiêm phả, dâng vua Lê Hiển Tông năm Kỷ Tị (1749), được coi là bộ sách khoa học nông nghiệp đầu tiên của nước ta. Tôi đọc Khâm định Việt sử thông giám cương mục mới biết điều đó. Trong ghi chép của con cụ, tiến sĩ - thượng thư, phó đô Ngự sử Trần Tiến (tập ký sự Niên phả lục - 1764), có những dòng làm tôi giật mình: đi đến làng xã nào, cụ cũng thấy dân đói, dân bị bọn quan lại bóc lột đến tận cùng. Vì vậy, họ phải làm “càn”, phải nổi lên chống lại triều đình, chứ họ đều là con dân cả. Đem sức ấy mà cày ruộng, để có cơm ăn, áo mặc (chứ không phải đi làm “loạn”, tức khởi nghĩa - hoặc đi đánh nhau - kể cả đánh giặc) thì hay biết bao nhiêu. Khi làm Điền Chánh sứ, cụ quyết định thu bớt ruộng đất của người giầu chia cho người nghèo, còn bản thân mình thì trả lại cho dân làng toàn bộ số ruộng đã mua từ lúc ra làm quan mà không lấy lại một đồng tiền chuộc. Vì tiền lương đã là tiền của dân rồi. Thời ấy đã nghĩ được như vậy, làm được như vậy, anh có thấy lạ không? Khi sống, cụ đã được thờ ở chùa Khương (Bắc Ninh) khi chết (nhà nước tổ chức quốc tang, triều đình nghỉ việc ba ngày, vua viết điếu văn) được tạc tượng thờ tại Văn chỉ Linh Khê cùng Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và Hưng Nhượng đại vương Trần Quốc Tảng, con trai Quốc công Tiết chế, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Cả hai nơi đó, hiện vẫn còn bia thờ và tượng thờ.

Nguyễn Nghiễm, thân phụ đại thi hào Nguyễn Du, năm đó (1748) là quan cấp dưới của Trần Cảnh, chức tước đầy đủ của cụ là Nhập thị bồi tụng, Công bộ hữu thị lang, hành Binh bộ hữu thị lang, tước Hầu (Xuân Lĩnh hầu). Ở phủ chúa Trịnh, cụ là phó tể tướng và trong triều vua Lê, chức cụ là thứ trưởng thứ hai bộ Công, quyền thứ trưởng thứ hai bộ Binh. Như vậy là vẫn còn thấp. Cụ có thơ họa, tặng vị tham tụng – thượng thư của mình. Nguyên văn chữ Hán, Nguyễn Đăng Na phiên âm như sau:

Gia đình giảng quán tố nguyên lưu

Hoạn đạt thanh vân vị quốc mưu

Ngọc trướng quân trù cung kiển kiển

Hòe hiên tấn hốt lượng chi chi

Tạ giai quyết đổ lan nhi kế

Đào kính liêu tầm cúc bạn du

Vinh khánh nhất môn vô hạn nghiệp

Thung niên ưng bất ký xuân thu…

Bài thơ được chú thích như sau: chữ tố với ý là truy tìm nguồn gốc, chữ Ngọc trướng chỉ nơi chủ soái, chủ tướng đang ở, chữ Hòe, vốn là cây hòe, sau dùng để chỉ cương vị tam công, gồm Thái bảo, Thái phó và Đồng bình chương sự - ba người quan trọng dưới vua, chữ tấn hốt: ngày xưa những vị quan lớn khi vào triều kiến phải cầm cái hốt để ghi công việc, sau chữ tấn hốt dùng để chỉ các quan lớn trong triều, còn Đào là Đào Tiềm, sau dùng để chỉ những người đi ẩn dật.

Nguyễn Đăng Na dịch nghĩa như sau:

Nếp nhà quen ngược dòng tìm đến tận nguồn

Đường làm quan thì đạt, có lòng lo việc nước

Nơi trướng ngọc thì lo toan tính tất bật

Chốn hòe hiên khi cầm hốt thì lượng sức mình

Bệ ngọc vui thấy con kế được nghiệp nhà

Dưới dậu của Đào Tiềm, tìm cúc làm bạn

Vinh hiển, phúc lộc, một nhà vui vô hạn

Thung già đâu kể đến xuân thu…

Niên phả lục, Nxb Văn học, H. 2003

Nhân đây xin nói thêm. Trong quyển Lê Quý Đôn, nhà văn Bùi Hạnh Cẩn viết về việc Lê Trọng Thứ (đỗ tiến sĩ năm 1724), thân phụ nhà bác học Lê Quý Đôn bị huyền chức do Trần Cảnh “ganh ghét đố kỵ” là không phải. Vì Trần Cảnh lúc ấy ở ngôi tể tướng mà Lê Trọng Thứ còn ở cương vị rất thấp, lại bị đồng liêu hặc, vì sai phạm trong khi thực thi công vụ của triều đình. Trần Cảnh, theo phép nước, buộc phải cách chức ông và sau sáu tháng, lại khôi phục cho ông ở cương vị cũ, là “Thiêm sai Đông các hiệu thư” của bộ Lễ. Một vị tể tướng đầu triều của phủ chúa, không có lẽ gì lại “đố kỵ” với một vị thiêm sai của một bộ trong triều đình vua Lê. Khi Trần Cảnh về hưu, Lê Trọng Thứ đưa tiễn với bài thơ tặng, trong đó có bốn câu như sau:

Đông châu kiệt xuất thế danh lưu

Vũ vĩ văn kinh phú thạc mưu

Xuất đổng nhung tinh uy kiểu kiểu

Nhập tham quĩ tịch lượng hưu hưu…

Nguyễn Đăng Na dịch nghĩa:

Ngài là người kiệt xuất danh thế ở châu Đông (Hải Dương)

Văn dọc, võ ngang nhiều mưu lớn

Nắm binh nhung thì oai phong lừng lẫy

Làm chính sự thì có lượng phúc hậu…

Niên phả lục, Nxb Văn học, H. 2003

Nếu Lê Trọng Thứ bị Trần Cảnh “ganh ghét đố kỵ” mà bãi chức mình thì sao Lê Trọng Thứ có thơ tặng, lại có câu: “Làm chính sự thì có lượng phúc hậu…” chân thành đến như vậy được.

Viết về Trần Cảnh, Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) ghi rằng, làm quan đến chức công khanh mà vẫn ở trong nhà tranh vách đất như ông, thì tôi chưa thấy có ai. Niên phả lục (1764) cho biết, khi cụ về triều nhận chức Tể tướng lần thứ hai, cả nhà chỉ có 30 quan tiền lẻ, và khi theo vua đi công cán, vợ con đói đến mức, Trần Tiến, là con trưởng, phải đến bộ Lại nhờ cấp tiền gạo cứu đói. Cụ đưa các quan đi làm việc ở đâu, đều lệnh trước cho nơi đó, không được tiếp đón bằng rượu thịt, cấm giết gà lợn để thết đãi.

Cụ tổ bảy đời là Trần Tiến (1709 – 1770), hiệu là Cát Xuyên, Khiêm Đường, đỗ tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1748) làm quan Phó đô Ngự sử, tước Bá (Sách Huân bá), Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, truy thăng Lễ bộ thượng thư, tác giả các bộ sách: Đăng khoa lục sưu giảng, Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Cát Xuyên thi tập, Cát Xuyên tiệp bút, Niên phả lục… Sách giáo khoa phổ thông Ngữ văn lớp 10 nâng cao, vinh danh cụ là một trong 5 nhà viết ký xuất sắc nhất của nền văn học trung đại Việt Nam: Vũ Phương Đề, Trần Tiến, Lê Hữu Trác, Phạm Đình Hổ, Lý Văn Phức. Cụ được coi là người khai sinh ra thể ký tự thuật trong văn xuôi Việt Nam, từ năm 1764 - 1765, với tập ký sự tự thuật Trần Khiêm Đường niên phả lục.

Trần Tiến sinh ra Trần Trợ (1745 - ?) và Trần Khuê… Trần Trợ, tên khai sinh là Trần Quý, lịch sử văn học ghi là Trần Quý Nha, làm quan Trợ giáo quý ngọc tử (dạy con vua Lê, chúa Trịnh học, nên gọi là cụ Trợ) sau làm Tri phủ huyện Đoan Hùng, Hoài Đức, tác giả tập ký Tục Công dư tiệp ký (viết tiếp Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề).

Cụ tổ sáu đời là Trần Khuê. Cụ đã cùng anh ruột là Phương Trì hầu Trần Lương (có sách ghi là Trần Lang), Sùng Lĩnh hầu Trần Thai (sách Đại Nam nhất thống chí ghi là Trần Đăng), cùng em con chú ruột là Côn Lĩnh bá Trần Đĩnh, Hàn lâm viện hiệu thảo, Viên ngoại lang bộ Công, Thủ lệnh trấn Hải Dương - Hải Dương đạo triệu thảo sứ - và Tổng trấn Kinh Bắc Trần Quang Châu, hộ giá Lê Chiêu Thống, khi vị vua này bôn ba ở các tỉnh phía Bắc, đến năm Tự Đức thứ 14 nhà Nguyễn (1862), các vị trên được thờ ở đền Trung Liệt, Hà Nội, cùng với ba con của Trần Đĩnh là Trần Dần (Trần Du), Trần Hạc (Trần Hưng) và Vũ Trọng Dật (con rể) ở nhà phía tây...

Cụ tổ năm đời là Trần Ích, tri phủ huyện Phú Xuyên và Đồng Sơn.

Cụ tổ bốn đời là Trần Tấn (1863 – 1887), tham gia phong trào Cần Vương của vua Hàm Nghi, là tiểu tướng của Nguyễn Thiện Thuật, 24 tuổi, đã hy sinh trong một trận chỉ huy chống càn, khi quân Pháp đánh vào căn cứ Bãi Sậy.

Ông nội là nhà nho nghèo, học giỏi nhưng người Pháp không cho làm việc gì. Ông dạy học tư ở xã xa, lấy con gái ông chủ nhà trọ, sau này là bà nội tôi, gia cảnh rất sa sút, đói kém. Bố tôi là người đi cày thuê, rất ít học, nhà có ba sào ruộng xấu, bạc điền, được chính quyền mới cấp cho năm 1946, sau cách mạng tháng Tám. Năm Cải cách ruộng đất, nhà tôi được quy thành phần là bần nông…

27. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi có một thắc mắc: trong Cải cách ruộng đất, những người được quy là thành phần bần nông, như trường hợp gia đình anh, có được chính quyền nâng đỡ đặc biệt gì không?

Trần Nhuận Minh:

Có chứ, được chia 3 sào 10 thước ruộng, 1/4 con trâu, 1 cái cối đá thủng và 1 cái nồi đồng bị bẹp lõm ở vai nồi (có lẽ do quăng quật, giằng co với địa chủ khi đến tịch thu) không có vung. Tất cả những cái đó gọi là “quả thực”. Cái nồi đồng bẹp thì mẹ tôi đem trả vì biết là của một bà địa chủ trong xóm, còn cái cối đá thủng thì chịu không biết của ai, để ở góc vườn, mỗi năm dùng vài ngày để đập lúa, hoặc cho hàng xóm mượn đập lúa, sau đó quên không biết cho ai mượn mà đòi và người mượn cũng không thấy vần trả. Còn hơn 3 sào ruộng và một góc con trâu, thì lại nộp trả cho làng, khi vào hợp tác xã.

Thắng lợi vĩ đại nhất của Cải cách ruộng đất là “người cày có ruộng”, như người ta thường nói, nhưng người dân cày chỉ được làm chủ phần ruộng của mình trong vòng hơn một năm, như ở làng tôi, là từ cuối năm 1956 đến đầu năm 1958. Tôi rất nhớ cái cảnh tưng bừng, cờ bay trống đánh tùng tùng, khi nhiều người, trong đó có tôi, cắm cái biển ghi tên bố mẹ mình viết bằng phấn trắng lên tấm bìa các tông, kẹp vào cái gậy, cắm xuống thửa ruộng được chia. Và sau đó một năm, cảnh cũng rất tưng bừng, khi cả làng mang cuốc đi phá bờ ruộng, san phẳng các gò đống, mở rộng diện tích cấy lúa cho hợp tác xã. Đầu lâu và xương người, từ những cái tiểu không có ai nhận, hoặc chưa biết, chưa kịp đến nhận, tụ thành từng đống, dùng xẻng xúc lên xe cút kít, đổ ào ào xuống chuôm, rồi lấp đất đi.

Khi trả ruộng cho làng (vào hợp tác xã nông nghiệp) người nông dân đi làm thuê cho hợp tác xã để lấy công điểm:

Xã viên làm việc bằng hai

Để ông chủ nhiệm mua đài mua xe…

Xã viên làm việc bằng ba

Để ông chủ nhiệm xây nhà xây sân…

Dân miền Bắc không ai không thuộc mấy câu ca dao rất phổ biến này, nó là thực tế rất rõ rệt của một thời…

Tất nhiên xã viên làm việc bằng hai, bằng ba, còn là để góp lương thực cho công cuộc bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, nhưng đó lại là một chủ đề khác, sẽ bàn vào dịp khác.

28. Nguyễn Đức Tùng:

Hạt gạo làng ta

Có bão tháng bảy

Có mưa tháng ba

Giọt mồ hôi sa

Giữa trưa tháng sáu

(Trần Đăng Khoa)

Lam lũ nhọc nhằn mới có hạt gạo, nhưng mà vẫn:

Tôi đi học

Những câu thơ sương khói một thời

Đồng cỏ xanh non

Run rẩy vài ba hoa lê trắng...

(Trần Nhuận Minh)

Tôi có cảm giác như bên dưới lớp vỏ cây xù xì hiện thực đầy gai nhọn là dòng nhựa non trong trẻo.

Trong thời buổi khó khăn ấy mà anh vẫn giữ được tâm hồn thơ mộng như thế là nhờ đâu?

Trần Nhuận Minh:

Nhờ thơ. Cụ thể là nhờ quyển Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du mà tôi đã nói ở trên. Nghe, có thể sẽ khó tin, vì tôi có vẻ “tuyệt đối hóa” Truyện Kiều, phải không? Nhưng trong tôi đúng là như thế đấy. Trong bốn câu thơ trên, thì hai câu cuối là tôi rút ý từ trong Truyện Kiều:

Cỏ non xanh dợn chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa…

Thủa bé, tôi ở nhà ngoại, vì bố mẹ tôi luôn cãi nhau. Hai vị cùng tuổi (sinh 1920) không hợp tính nhau, nhưng thành gia thất là do sự sắp đặt của ông đồ và ông thày lang, tức ông nội và ông ngoại tôi. Tôi đã ghi lại điều đó trong trường ca Đá cháy:

Mẹ tôi vào phường cấy thuê

Với câu hát buồn tứ xứ

Gặp cha là lại cãi nhau

Tôi không hiểu vì đâu

Đứng khóc một mình không ai dỗ…

Ở ngoại là ở với bà cô em ruột ông ngoại tôi, tên là Xuân, thường gọi là bà đồng Xuân, một người mù bẩm sinh, làm nghề bói toán, nuôi con thứ ông ngoại tôi làm con, là em ruột ông thày lang mà tôi vừa nói tên ở đoạn trước. Chính ông cậu này (Trần Quang Tuyên) bế tôi:

Cậu tôi bế vẹo xương sườn

À ơi con cò con vạc…

Tôi lê la vày đất nghịch cát

Chơi một mình, ngủ một mình…

Bà không biết đọc, dĩ nhiên, nhưng tôi không hiểu sao bà thuộc Kiều và dạy cho tôi từ rất nhỏ, hình như từ ba bốn tuổi. Nhiều đêm, tôi đã ngủ thiếp đi trong tiếng lẩm nhẩm đọc Kiều từ trong trí nhớ của bà.

Anh cứ hình dung, thuở ấy, ở một làng quê xa, đói nghèo và rất hẻo lánh, trong đêm đen thăm thẳm sâu và im lặng như tờ, trong một ngôi nhà tranh vách đất nhỏ bé, vắng lặng, chỉ có ba người, mà cậu tôi thì đã ngủ ngay từ chập tối, những câu Kiều vang động từ tâm thức của một người mù, mà người đó lại là nữ, rất giầu lòng trắc ẩn, sống đến già không chồng không con… thì nó dội vào tâm hồn thơ trẻ và vô cùng non nớt của tôi với sự “chiếm đoạt”, có thể nói là duy nhất và tuyệt đối… Có lẽ vì thế, mà tôi dám nói rằng: những câu Kiều thấm vào tâm hồn tôi sâu sắc hơn hẳn nhiều người khác, như nước thấm vào cát, như máu thấm vào da thịt người… Chính nó dần dần hình thành trong tôi một thái độ sống, là yêu thương tôn trọng con người, loại bỏ sự hận thù; biết tôn trọng sự thật, nhận ra mọi giá trị, nếu có được, là từ sự thật; là vươn tới cái đẹp, tin vào cuộc đời có nhân có quả. Cứ sống cho tốt, cho trong sáng, nhường nhịn, chịu thương chịu khó, ăn ở cho lương thiện… nhất định sẽ được hưởng phúc lành…

Tôi thoát ra khỏi cái hiện thực “xù xì đầy gai nhọn” như anh nói, để mà “mơ mộng”, mà tin vào tương lai… là nhờ đó… nhờ cái “vu vơ” trong cõi tinh thần xa xưa ấy đấy…

29. Nguyễn Đức Tùng:

Nếu đi xa hơn về mặt lý luận, cũng có những người sinh ra trong nhung lụa mà vẫn viết được những tác phẩm lớn, mới đi xa nhà vài hôm mà thơ văn đã phảng phất khí vị giang hồ, không cần đói khát cực khổ mà vẫn viết những dòng lay động lòng người. Anh có thấy vậy không?

Trần Nhuận Minh:

Xin thưa ngay là có. Đó là những nhà văn sinh ra trong nhung lụa, sống trong giầu sang, vẫn viết được những tác phẩm lớn, thậm chí rất lớn, nhất là những tác phẩm viết về chính đời sống trên nhung lụa của những người giầu sang phú quý. Họ cũng là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng, dù số lượng thường ít hơn, nhưng có người trong số họ vẫn đại diện cho tài năng, trí tuệ và tâm hồn của cả cộng đồng dân tộc hoặc quốc gia, thậm chí cả nhân loại.

Một ví dụ. Tôi đọc Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần, suốt 80 hồi đầu ( trong bản thảo ban đầu của Tào Tuyết Cần có tên là Thạch đầu kí ), chỉ tả ăn chơi hưởng lạc, những chuyện thường ngày, có vẻ lặt vặt của đám đàn bà và mấy cô chiêu cậu ấm, cùng lũ con hầu choai choai ở hai phủ liền nhau, phủ Ninh, phủ Vinh, nhưng cùng một gia đình, thi thoảng mới có các vị vương hầu và phu nhân, hoặc các quan lại của triều đình ghé qua, mà hay vô cùng. Đọc mãi vẫn không chán. Không có những trang văn như thế, ngày nay chúng ta làm sao hình dung nổi giới quý tộc Trung Hoa xưa đã sống và chết, với những thăng trầm như thế nào. Cao Ngạc viết tiếp 40 hồi sau, dù câu văn đã mất đi khá nhiều cái bóng bẩy lung linh, hào hoa phong nhã của Tào Tuyết Cần, nhưng các vấn đề xã hội mới gay gắt hơn; hiện thực của đời sống mới gấp gáp hơn, có khi nhiều sự cố nghiệt ngã đến cùng một lúc; tốc độ chuyện mới nhanh hơn; các tình huống mới sâu sắc hơn và có đoạn kết; tầm tư tưởng của tác phẩm mới được đẩy lên cao hơn. Nếu văn của Tào Tuyết Cần là hoa, một thứ hoa ngọt, thì văn của Cao Ngạc là quả, một loại quả đắng, chúng bổ sung cho nhau và hài hoà trong nhau, để Hồng lâu mộng trở thành đỉnh cao nhất của tiểu thuyết Trung Hoa mọi thời đại. Cái công hoàn chỉnh và nâng cao ấy của Cao Ngạc lớn lắm. Vậy mà các lần in ở Việt Nam, không đề tên Cao Ngạc ở bìa sách, cũng là không công bằng.

Tôi rất phục tác giả đã sáng tạo nhân vật Phượng Thư, mà tôi cho là thành công nhất trong tác phẩm. Một nhà quản lý vô cùng tài giỏi lại hay sơ hở, đầu óc cực kỳ thông minh, thỉnh thoảng lại làm những việc rất ngu đần, bụng dạ hiểm độc khôn lường, nhưng lại được mọi người cho là nhân ái, bao dung… Chỉ riêng cái ghen của Phượng Thư, khi chồng là Giả Liễn cưới vụng dì Hai, cũng là chị em họ gần gũi hằng ngày, sống còn phải lễ tết, chết còn phải để tang, lại ở trong phủ, Phượng Thư dò biết, vui vẻ đón về ở với mình, thuyết phục mọi người đồng tình, yêu mến, rồi làm cho truỵ thai, đầy ải đến tuyệt vọng, khiến dì phải lặng lẽ uống vàng tự vẫn, mà dì và tất cả mọi người, đều không ai biết là mưu kế của Phượng Thư, vẫn cho là Phượng Thư vô cùng thương người, cứu người, thì cái ghen của Hoạn Thư trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân và Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, không sao sánh được. Tất cả đều nhất quán và hài hoà, tự nhiên, mà vẫn kín nhẹm, trong các mối quan hệ nhiều chiều, nhiều hạng người, trên dưới, ngang dọc của tác phẩm.

Khi Hồng lâu mộng được đưa lên phim, những người làm phim theo tinh thần nghệ thuật của Cao Ngạc, đã đẩy tác phẩm lên đỉnh điểm, cao hơn cả nguyên tác, khi mô tả cái chết của Phượng Thư, trong phim gọi là Phượng Ớt. Một người quản lý rất giỏi một gia đình đồ sộ, xung quanh lúc nào cũng ồn ã kẻ ra người vào, phục dịch và nịnh bợ, mà lúc chết không có một ai ở bên cạnh; một người vô cùng giầu sang, hằng ngày ban phát từng chiếc áo mới, từng suất ăn ngon cho hàng trăm người, lúc chết, không có cái gì cho vào miệng, xác thân phải bó bằng quần áo cũ, mà Phượng Thư đã loại bỏ cho Già Lưu, một bà già nhà quê, nay bà mang lên cho Phượng Thư dùng lại; không sắm nổi một cái áo quan, không người đưa đám, phải dùng một con ngựa kéo xác lê trên đất rừng để đi chôn… Một thời quyền quý ngang trời, vàng son rực đất, mà tàn lụi thảm hại và rất nhanh chóng đến mức như thế, thì tôi chưa thấy được mô tả đầy đủ và sinh động hơn trong bất cứ tác phẩm nào…

Theo tôi, cho đến tận bây giờ, khi nền văn học Trung Hoa đồ sộ đã có những tác phẩm kiệt xuất của Lỗ Tấn, Kim Dung, Cao Hành Kiện, Hồng lâu mộng vẫn là cuốn tiểu thuyết vô địch, lớn nhất, hay nhất, vĩ đại nhất Trung Hoa.

Tào Tuyết Cần xuất thân trong một gia đình đại quý tộc lâu đời, thời trẻ từng sống trong “nhung lụa” vô cùng hào hoa phong nhã, tương tự như gia đình Giả Bảo Ngọc mà ông miêu tả trong Hồng lâu mộng. Chỉ riêng việc vua Khang hy nhà Thanh, năm lần đi tuần phương Nam, thì bốn lần ở hẳn nhà ông, đủ thấy nhà ông phải giầu sang phú quý và được bảo vệ cẩn mật đến mức nào. Như vậy, xuất thân giầu hay nghèo có quan trọng gì, cái quan trọng là khả năng “chiết xuất cuộc sống” giầu hay nghèo đó, mà tạo dựng thành tác phẩm nghệ thuật, và qua tác phẩm đó, phản ảnh được những hưng vong của một xã hội, thậm chí của cả một thời đại.

30. Nguyễn Đức Tùng:

Đồng ý với anh. Nhưng mặt khác tuổi thơ của một nhà văn thường để lại dấu ấn sâu trong tác phẩm; đó là lý do khiến các nhà nghiên cứu văn học tìm cách lý giải ý nghĩa và các yếu tố khác của một tác phẩm, dựa vào tiểu sử cá nhân. Khuynh hướng ấy đã được cực đoan hóa trong các trường phái phê bình xã hội như phê bình marxist, thậm chí hoàn toàn thay thế cho sự phân tích văn bản; tuy vậy, trong một mức độ nhất định, chúng vẫn còn có cơ sở khoa học.

Tôi cho rằng dấu ấn của hoàn cảnh cá nhân trong tác phẩm được thể hiện rõ nhất trong đề tài và sự lựa chọn đề tài của một người viết. Các nhà văn tiếng Anh cũng thường nhắc đến câu nói có tính phương ngôn:

Write what you know

(Hãy viết về điều mà bạn biết)

Sự chọn lựa đề tài là một thao tác nghệ thuật có tính căn bản. Cách chọn đề tài của Trần Nhuận Minh trong thơ thường xuất phát từ những kinh nghiệm trực tiếp của cá nhân, từ các cuộc gặp gỡ, các chuyến đi xa, có khuynh hướng dẫn về một câu chuyện kể hay một giai thoại. Yếu tố tự sự và giai thoại là điểm mạnh bậc nhất nhưng cũng là điểm yếu trong thơ trữ tình của Trần Nhuận Minh.

Hình như bao giờ người đọc cũng rút ra được một bài học nào đó từ các câu chuyện mà anh kể.

Ngoài nỗi đói khổ, tuổi thơ của anh có những niềm vui nào khác?

Trần Nhuận Minh:

Trong nghệ thuật, tôi hoan nghênh cái cá nhân. Chỉ có đến đó, tự do mới xuất hiện và nhà văn, nhà thơ mới tạo ra được cái bản sắc. Trong thi ca cũng như trong các loại hình nghệ thuật khác, không có bản sắc nghĩa là không có cái gì. Những sáng tác dân gian là của cộng đồng tác giả, vẫn có thể tạo được bản sắc, nhất là qua nhuận sắc của nhiều người có tài, theo một xu hướng tư tưởng hay nghệ thuật nhất định. Người sau kế thừa người trước, đẩy cái bản sắc của người trước lên cao hơn. Điều đó càng rõ trong điện ảnh như các cảnh về nhân vật Phượng Thư trong phim Hồng lâu mộng mà tôi vừa nói ở trên. Xin nói về sân khấu: ý tưởng của nhà văn trong kịch bản văn học, nếu được đạo diễn tiếp thu, có thể đẩy lên đến cao trào, ngoài tầm với của nhà soạn kịch. Thử nêu một ví dụ: thiên tài như W. Shakespeare, viết lời thoại cho nhân vật Hăm lét trong vở kịch vĩ đại Hăm lét (tôi chép lại theo trí nhớ):

Hăm lét: Vô lý! vô lý! vô lý!

Chỉ có thế. Anh thử hình dung: trên sàn diễn, nếu diễn viên nói cái vô lý thứ nhất chỉ đám đông khán giả, ý nói tất cả mọi người, cái vô lý thứ hai chỉ các giá sách, ám chỉ trí tuệ nhân loại mà đạo diễn đã cho bày tượng trưng trên sân khấu, và cái vô lý thứ ba, chỉ vào chính trái tim mình. Với ba cái chỉ tay, không có trong kịch bản của W. Shakespeare, sự phủ nhận của tác phẩm đã mang tính triệt để… Ấy là tôi ví dụ thế.

Còn tuổi thơ của tôi ư? Cũng có những niềm vui, nhưng rất hiếm hoi. Còn sung sướng thì dĩ nhiên là không rồi. Như nhiều người thuộc thế hệ tôi. Suốt những năm thơ bé, nhà tôi chỉ có chạy loạn. Tôi 9 tuổi, cõng cô Bình, em gái ruột tôi 1 tuổi, chạy lúp xúp trên bờ ruộng suốt mấy cánh đồng làng, từ An Bình sang Kim Bịch xa đến 7 - 8 km, đạn bay vèo vèo. Có khi phải cõng em lội nước ngang bụng, có lần suýt chết đuối cả hai anh em, vì sa chân xuống chỗ sâu hơn. Thời ấy, dân làng vùng tôi chỉ cấy giống lúa “tám đen”, chịu được lũ lụt và hạn hán, thân cây lúa khá cao. Pháp càn, bắn đại bác, trong nhà cha mẹ tôi đang ở, các anh chị con bác ruột tôi đã chết vì đại bác.

Tôi học chữ A từ một anh giáo là du kích (lúc ấy gọi thầy giáo là anh, học trò xưng tôi), học lớp vỡ lòng và lớp một khoảng hai, ba tháng, bài học chỉ có ca dao vận động người Việt đi theo Pháp ra hàng. Biết đọc biết viết lại chạy loạn. Năm 1955, tôi vào học ngay lớp ba ở xã Hợp Tiến, cách làng tôi một cánh đồng, dài đến hơn 3 km. Nước ngập mênh mang. Ra khỏi làng, mấy đứa chúng tôi cởi quần áo vấn lên đầu, lội nước đến ngực. Rét quá thì lên đống “đấu đùi”, nghĩa là dùng đầu gối chọi nhau cho người nóng lên rồi lại lội ruộng đi tiếp. Như vậy là tôi bỏ qua lớp hai không học. Khi học Sư phạm trung cấp (nay gọi là Cao đẳng sư phạm) ở Kẻ Sặt, cách nhà 30 km, đi tắt qua các cánh đồng cũng phải 26 km, tôi vẫn đi bộ, (đi và về đều từ chiều tối, nửa đêm mới đến nơi), vẫn mặc quần áo nâu, đi guốc mộc hoặc đi chân đất. Hai năm tại trường, tôi nhịn ăn tất cả các buổi sáng, riêng ngày chủ nhật thì nhịn thêm bữa trưa, để lấy tiền mua sách. Tôi có thể đọc sách đến sáng. Còn thường thì không có tiền mua sách. Bà Sáu, chủ hiệu sách Kẻ Sặt, nơi tôi học sư phạm, rất thương tôi, cho tôi mượn sách, nằm đọc tại chỗ. Tôi vẫn nhớ những bữa trưa, nhà bà ăn cơm, tôi nói ăn rồi, nằm úp mặt vào tường, thèm đến chảy nước miếng khi nhà bà động mâm động bát… Những năm ra dạy học, tôi đặt mua sách ở tận các nhà xuất bản. Tổng cộng tôi đã có đến hơn 5000 cuốn sách, đóng dấu THƯ VIỆN TRẦN NHUẬN MINH. Tôi đã tặng thư viện trường Trung học phổ thông ở thành phố Hạ Long và trường Trung học cơ sở ở xã tôi, khoảng hơn 3000 cuốn, cùng với 50% đến 75%, có khi cả 100% số tiền tôi lĩnh các loại giải thưởng văn học, từ năm 1986, trong đó có giải thưởng Nhà nước đợt 2 (50% là 30 triệu đồng). Tổng cộng đến nay là 135 triệu đồng. Tôi cũng xin nói thêm, trong mấy năm tôi làm ông giáo dạy văn cấp 2 ở vùng mỏ, các cháu con liệt sĩ, nhà rất nghèo, học ở lớp do tôi làm chủ nhiệm, mỗi tháng tôi đều mua tặng mỗi cháu 3 tập giấy học trò và giữ nguyên mức đó cho đến khi hết khóa học. Có cháu đi học còn mặc quần hoặc áo rách, tội quá, tôi còn may cho cả quần hay áo. Có cháu bây giờ đã là bà ngoại, ông nội rồi, gặp tôi vẫn coi tôi như cha… Vì lương tôi lúc mới ra trường đã là 45 đồng / tháng. Tôi giữ mức lương này trong suốt 10 năm, không được tăng, dù tôi là giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, sau về Hội Văn nghệ Quảng Ninh là trưởng bộ môn của Hội. Số tiền ấy, lúc đó mua được 10 thúng thóc đấy. Nhuận bút một bài thơ đăng báo lúc đó cũng từ 5 đến 7 đồng, thậm chí 10 đồng, tùy từng số, tùy từng báo. Tôi mua giấy cho các cháu học sinh nghèo của tôi từ nguồn tiền nhuận bút hằng tháng này. Giá giấy 3 hào 1 tập, phân cho giáo viên, bằng giá tiền 1 kg gạo mua của nhà nước. Mỗi tháng lương của tôi mua được 150 kg gạo, ấy là nói thế chứ không có gạo bán tự do. Lúc ấy, ngoài các cửa hàng nhà nước, không có chợ, sau này mới có và gọi là “chợ đen”. Cán bộ, nhân viên làm việc và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, mà có “hàng tuồn ra chợ đen”, bị bắt quả tang, có thể bị “trả về địa phương” (chữ “buộc thôi việc” mãi sau này mới dùng). Dường như tất cả các bài thơ và ca dao, hoặc các tin dài ngắn, tôi gửi đều được đăng báo hết, nhất là báo Đảng, báo Vùng mỏ, và tạp chí Văn nghệ ở Quảng Ninh. Chỉ in có bốn bài thơ ở Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1973, trong tập thơ chung Ca bình minh, mà sắm được cả một bộ com lê. Nhuận bút tập thơ đầu tay Đấy là tình yêu 27 bài, năm 1971, tôi mua được hai sào đất ở, trên đó có ngôi nhà ba gian, tường xây gạch, mái lợp tranh nứa. Tôi có hai câu thơ:

Biết bao giờ mới đến ngày xưa

Cờ rợp đất, tháng lương mười thúng thóc…

đăng báo từ tháng 3 năm 1983, trong chùm thơ năm bài kỷ niệm 30 năm ngành chiếu bóng Việt Nam (1953 – 1983).

31. Nguyễn Đức Tùng:

Anh hay nhắc đến cờ (cờ rợp đất); tôi cũng thấy đó là đặc điểm của thơ ca cách mạng.

Nhưng mười thúng thóc có lẽ là cái mà anh muốn nói hơn.

Cũng như:

Anh hôn em mới đẹp làm sao, miệng như cái giỏ

Ngọn lưỡi là con cá nhảy ở bên trong

Thật là mạnh mẽ mà vẫn ý nhị. Vì đằng sau cái hôn, hình như anh muốn nói một điều gì khác nữa?

Trần Nhuận Minh:

Để trả lời anh, tôi kể lại chuyện vui, cũng có thể là hy hữu, trong tuổi trẻ của tôi, khi tôi mới bước vào đời, nhưng nó nói về tôi có lẽ đầy đủ hơn cả, để anh dễ hình dung cái mạnh và cái yếu của thơ tôi sau này.

Một nhà thơ người Hải Phòng, tên là Hà Giao, sang tôi chơi và cho tôi biết đang tìm cách cứu một cô gái 18 tuổi có khả năng bị đuổi khỏi trường Sư phạm cấp I Kiến An, vì chửa hoang, mà không có cách nào. Anh bảo nó đẹp và ngoan lắm. Thế là tôi viết thư cho cô và hẹn sẽ đến thăm để cứu cô. Tên cô là Nguyễn Thị H, người làng C, huyện Vĩnh Bảo.

Tôi đạp xe đến nhà, xa đến 75 km, thấy một ngôi nhà, tường xây, nhưng mái lợp rạ, cái sân rộng đã bóc gạch ra. Bằng kinh nghiệm cá nhân, tôi đoán đây là nhà một địa chủ đã xuống thành phần. Vào nhà, thấy ông bố đang ngồi trên cái sập gỗ, dáng rất quý phái, hút thuốc lào, cái điếu cổ rất sang với cái ống xe rất dài hình con rắn, rất trang nhã, bà mẹ ngồi nhặt rau muống dưới nền nhà, nền đất, vẻ mặt kiên nhẫn, mệt mỏi và âm thầm. Tôi thưa: Cháu đến xin lỗi hai bác là đã có “quan hệ” với em H, để xảy ra cái việc làm hai bác phiền lòng. Em H chắc cũng đã thưa với hai bác rồi. Giờ cháu xin chịu trách nhiệm và sẽ lo một phần cho em. Ông bố ngẩng lên, nhìn xói vào mặt tôi, hỏi: Thế ra là anh à? Lạ nhỉ? Có thật thế không? Thật ạ. Tôi thưa. Thế thì em nó ở dưới bếp. Ông vút cái xe điếu làm tôi hơi hoảng, tưởng ông vụt mình. Tôi xuống, thấy H đang nấu cơm. Trời nóng, bếp nóng. Cô ngồi, hai đầu gối ngang tai, bụng đã hơi to, liếc ngang thấy cô mặt gầy, cằm hơi nhọn, vêu vao, gò má hơi cao, nhiều nốt tàn hương. Tôi chợt nghĩ: Thế này mà Hà Giao bảo là đẹp. Nếu mình lấy H thì cũng chán. Nhưng rồi lòng thương đã choán hết tâm hồn tôi. Tôi bảo: chiều nay, anh sẽ nhận trách nhiệm và làm các thủ tục để em không phải bị đuổi học. Sau này, em sinh con, nếu chúng ta thông cảm và thương yêu nhau, em có thể là vợ anh. H khóc. Em không biết phải cảm ơn anh như thế nào và hoàn toàn không hiểu tại sao, anh lại tự nhiên mà nhảy vào cuộc. Thôi, em xin anh, anh hãy cứu giúp em cái đận này… Còn anh lấy em làm gì. Anh còn trẻ, lại trai tơ, việc gì mà phải khổ thế… H khóc thành tiếng, đôi vai rung lên bần bật. Tôi rất thương, nhưng cũng không dám vuốt tóc hay xoa vai cô để an ủi… Tôi đến thăm cô lần thứ hai, cô đã xin nghỉ học một tháng để sinh con. Lần này tôi thấy cô dễ coi hơn. Tôi bảo có cần anh ra nói trước với trạm xá xã không? Cô bảo không cần. Tôi tặng cô một tháng lương 45 đồng và hai mét vải lụa trắng…

Khoảng hơn một tháng sau, tôi nhận được thư cô, báo tin, em đã sinh cháu gái, lấy tên anh làm đệm và đặt tên cho cháu là Minh T. Em cũng lấy tên anh đệm cho mình là Minh H. Em xin lạy anh một lạy và nói dứt khoát với anh rằng, em cấm anh, từ nay, không được đến với em nữa. Em không tiếp.

Tôi kể lại chuyện và đưa thư cho bạn bè xem. Chả có ai khen tôi cả. Họ bảo tôi: Mày có máu “Đông Ki sốt” và “hấp mẹ nó rồi”.

Sau này, nằm một mình trong đêm, ngẫm nghĩ lại, tôi biết H có chửa với ai. Vì tôi thường chậm hiểu, cái gì phải xảy ra rồi, tôi mới biết rõ sự tình…

35 năm sau, năm 1998, nhân có việc qua Vĩnh Bảo, tôi đã lên xe đò đi C, định tìm đến ngôi nhà cũ của cô xem bây giờ mọi sự thế nào. Cũng thấy hay hay. Nhưng đến nửa đường, tự nhiên thấy mình vớ vẩn, vô duyên… biết đâu lại gây phiền toái nghi ngờ cho vợ chồng nhà người ta, nên tôi lại xuống xe và đi ngược để trở về Hải Phòng….

32. Nguyễn Đức Tùng:

Ngày xưa người ta hay gọi đùa những tính cách như thế là “quê mùa”. Chữ đó không nhất thiết là chê hay khen, vì còn tùy theo trường hợp.

Nhưng các nhà thơ hiện nay hình như ít người có tính cách ấy? Mới đây, nhà thơ trẻ Nguyễn Hữu Hồng Minh có nhận xét về các nhà thơ trẻ, đại ý là họ trở nên rất hung dữ như những con chó sói đi kiếm ăn (?).

Trần Nhuận Minh:

Đối với cá nhân tôi, cứ coi là “chê” cũng vẫn đúng. Tôi vốn “quê mùa một cục” mà. Xin kể tiếp chuyện thứ hai. Đây là một kỷ niệm mà trung tá Nguyễn Văn Hiệp, nguyên chỉ huy phó về chính trị huyện đội Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, đã hơn một lần nói với tôi rằng, suốt đời không bao giờ em quên được. Khi học lớp 7, Hiệp chỉ kém tôi có 1 tuổi. Và vài ngày sau khi chuyện xảy ra, Hiệp đến trường cảm ơn tôi và nói rằng, “việc làm” của thầy là một bài học mà thầy không giảng ở trên lớp. Sau này, tôi có bài thơ Lời Di chúc của Bác Hồ, viết ngày Quốc tang 9/9/1969, in lại trong tập Gửi lại dọc đường, có câu kết:

Em ơi, đừng quên

Đấy cũng là lời Di chúc của Bác Hồ

Mà người không viết trong Di chúc…

chính là từ gợi ý của người học trò tôi.

Ấy là sau khi tốt nghiệp lớp 7, lớp cuối cấp 2 thời đó, mẹ Hiệp bảo con mời tôi bằng được đến ăn một bữa cơm với mẹ con bà. Khi dọn cơm ra trên cái dần sàng gạo (nhà không có mâm), trên dần, chỉ có một đĩa tép riu (tép rất nhỏ) rang và một bát canh rau cải, cũng nấu với tép. Tôi ngồi đầu nồi, bên kia nồi là Hiệp và trực tiếp so đũa, xới cơm, như một người con cả của gia đình. Đúng lúc ấy, một con nhái, chả biết thế nào, nhảy tõm ngay vào bát canh cải duy nhất có trên “mâm”. Mẹ Hiệp có thể nói là hoảng hốt, còn Hiệp thì ngồi đực ra không biết sẽ xử lý như thế nào. Tôi lấy muôi múc canh chan luôn vào bát cơm của mình, ăn rất ngon lành, như không có điều gì xẩy ra, giải toả cho cả mẹ con Hiệp khỏi nỗi khó xử, rồi sau đó, cả mẹ và Hiệp đều chan chung bát canh…

Tôi kể hai chuyện trên, không lạc đề đâu, vì với tôi, thơ đến từ đó đấy.

33. Nguyễn Đức Tùng:

Chuyện “con nhái” của anh làm tôi ngạc nhiên cảm động, mặc dù tôi sẽ không làm thế.

Tôi nghĩ rằng anh nhắc đến những kỷ niệm xưa để khẳng định văn chương phải bắt đầu từ cuộc đời, từ nỗi khổ đau và hạnh phúc có thật của mỗi con người, bé nhỏ nhưng cụ thể, từ cái ăn cái mặc trở đi.

Mặt khác, gia đình anh có truyền thống văn hóa lâu dài, bền vững, đáng kính. Có lẽ đó là mảnh đất văn hóa mà trên ấy, hai nhà thơ Trần Nhuận Minh và Trần Đăng Khoa đã gieo cấy và gặt hái tài năng của mình. Theo tôi nhận xét, trong đời sống, anh tỏ ra bình dị, gần gũi với mọi người. Tôi nghĩ, tuổi trẻ ngày nay cần được nghe nhiều câu chuyện như thế, từ những phía khác nhau, thậm chí ngược nhau, để hiểu thêm lịch sử của dân tộc.

Trần Nhuận Minh:

Cám ơn anh. Còn tuổi thơ của anh thì sao?

34. Nguyễn Đức Tùng:

Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Nam, sau hiệp định chia cắt đất nước, cách cầu Hiền Lương và sông Bến Hải không xa lắm, trong khung cảnh vừa có chiến tranh vừa có hòa bình. Vùng quê của tôi là chốn bom đạn ác liệt, nhưng kỳ lạ thay, bây giờ kể lại nhiều người không hiểu hoặc thấy khó tin, ngay trong thời buổi chiến tranh ấy vẫn có không khí thanh bình.

Tuổi hoa hồng kiêu hãnh của ta ơi

Tình đã hẹn ở trên đường nắng mới

(Đinh Hùng)

Sở dĩ như thế là vì một số lý do mà gần đây tôi mới thấu hiểu, và khi có dịp tôi sẽ trình bày kỹ hơn, vì tôi tin rằng việc giải thích ấy có nhiều ý nghĩa cho dân tộc chúng ta trong tương lai. Một không khí thanh bình, một sinh hoạt văn hóa truyền thống vừa khôi phục lại sau chín năm kháng chiến chống Pháp, một đạo lý vững bền lặng lẽ sau lũy tre xanh, một nền văn học tươi trẻ, có phần quá sức vô tư. Một buổi bình minh. Bây giờ mỗi khi có ai nhắc đến, tôi vừa lâng lâng hạnh phúc vừa nhớ tiếc đau buồn, nhưng tâm hồn tràn ngập biết ơn. Xin hiểu rằng: đó không phải là sự hoài niệm cũ kỹ như ánh nắng chiều tàn không có ích cho ai, ngoại trừ những người già sắp chết, mà đó là sự tiên cảm xán lạn về tương lai. Là buổi bình minh mà dân tộc chúng ta xứng đáng được hưởng. Trong tương lai. Tôi muốn nói là toàn dân tộc chúng ta từ Bắc đến Nam.

Tôi vẫn nhớ thời tôi còn bé, đêm đêm ba tôi thức khuya vặn nhỏ chiếc radio mở đài BBC, đài tiếng Pháp, nghe tin chiến sự, rồi đài Sài Gòn chương trình Tao đàn của Đinh Hùng, với tiếng ngâm thơ vang động của Hồ Điệp, đến đài Hà Nội chương trình Tiếng thơ với giọng ngâm ngọt ngào của Trần Thị Tuyết.

Nhưng tôi xin quay lại với nơi chốn riêng tư của anh trước đã. Nhà phê bình người Pháp Bachelard từng cho rằng căn nhà, mảnh vườn nơi anh lớn lên, ngôi trường mà anh đi học, chỗ làm việc trong nhiều năm tháng tạo nên một thứ không gian của các quá trình sáng tạo thơ ca.

Vùng mỏ bây giờ thành nơi tôi sinh

Với tiếng xoáy chân vịt tàu, tiếng than cuộn đổ…

Những nơi chốn sống và làm việc của anh đã ảnh hưởng đến thơ anh ra sao?

Trần Nhuận Minh:

Trong bài thơ Trình bày (1970) tôi có viết:

Bạn ơi, tôi có hai lá phổi

Một là làng Điền Trì, mùa thu nước nổi

Một nữa là phố mỏ Hòn Gai quanh năm rừng rực nắng trời

Giữa hai lá phổi lành, đây trái tim tôi...

Tim tôi nối hai miền quê đó

Tiếng giục trâu cày, tiếng xe lên mỏ

Tiếng lúa rì rào và tiếng than rơi

Đều chạm vào nơi sâu thẳm hồn tôi…

Trong suốt 25 năm bao cấp (1960 – 1985) với bốn tập thơ riêng, trong đó ba tập đã được xuất bản, có tập đến 50 bài, ở thời đó, điều ấy không phải là dễ dàng, tôi chỉ làm thơ về mối quan hệ này, nông thôn và vùng công nghiệp mỏ than, mà có nhà phê bình gọi là mối liên minh công nông và xếp tôi là một trong những đại diện xuất sắc nhất của thơ Việt Nam viết về giai cấp công nhân.

35. Nguyễn Đức Tùng:

Quê anh, Hải Dương, hình như là cội nguồn của dòng họ các nhà văn “Nguyễn Tường”, những người sáng lập Tự lực văn đoàn?

Ngày trước anh có biết gì về Tự lực văn đoàn không? Tình cảm của anh với họ như thế nào?

Trần Nhuận Minh:

Quê tôi ở huyện Nam Sách, quê dòng họ Nguyễn Tường ở huyện Cẩm Giàng, hai huyện chỉ cách nhau có một con sông và cùng tỉnh Hải Dương. Tuy thế từ làng Điền Trì tôi ở, đến thị trấn Cẩm Giàng, nơi ở của gia đình Nguyễn Tường xưa, cách nhau khoảng 20 km, theo đường chim bay. Những năm học sư phạm trung cấp của Bộ Giáo dục ở Kẻ Sặt, tuần nào tôi cũng đi bộ qua thị trấn Cẩm Giàng rồi tắt đồng mà về nhà và ngược lại để đến trường. Hiện nay, ở Cẩm Giàng, dòng họ Nguyễn Tường không còn một người nào, nghĩa là ở đây, nơi phát tích của ba anh em ruột là ba nhà văn lỗi lạc, trụ cột của dòng văn Tự lực văn đoàn rất nổi tiếng ở Việt Nam từ những năm ba mươi của thế kỷ trước, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, đã hoàn toàn bị xoá sổ.

Thực ra thì cội nguồn như anh nói, của dòng họ Nguyễn Tường, không phải ở Hải Dương, mà ở xã Phước Điền, phủ Hà Trung, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ông Nguyễn Hữu Vận (1774 – 1822) chuyển gia đình về Hội An, tỉnh Quảng Nam. Ông giúp việc thân cận, cai quản gia đình cho Nguyễn Ánh, rồi lập công to. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua thì ông được cử đi sứ, làm phó sứ, gặp vua nhà Thanh xin phong vương cho Gia Long. Năm 1813 được phong Hữu Tham tri bộ Hộ. Năm 1822 thăng Binh bộ thượng thư. Bà vợ thứ hai của Nguyễn Hữu Vận sinh ra Nguyễn Tường Phố (1807 – 1856). Nguyễn Tường Phố đỗ tiến sĩ năm 1842, làm quan ở Quảng Nam. Khoảng sau năm 1853 – chưa rõ vào năm nào – Nguyễn Tường Phố được bổ làm tri phủ Cẩm Giàng, đã đưa gia đình từ Hội An, tỉnh Quảng Nam về ở hẳn Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, mở ra dòng họ Nguyễn Tường ở đây. Ba anh em nhà văn nói trên là con thứ ba, thứ tư và thứ sáu của ông Nguyễn Tường Nhu, thông phán toà Khâm sứ Bắc Kỳ của người Pháp, gọi tri huyện Cẩm Giàng Nguyễn Tường Trấp là ông nội, gọi tiến sĩ – tri phủ Cẩm Giàng Nguyễn Tường Phố là cụ nội.

Cũng xin nói thêm. Trừ Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân) trước sau chỉ làm văn chương, hai người anh là Nhất Linh (Nguyễn Trường Tam) và Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long) còn hoạt động chính trị. Cả hai ông đều tham gia chính phủ Cụ Hồ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đều là đại biểu Quốc hội khoá I và đều làm bộ trưởng. Nhất Linh, đại biểu Quốc hội đặc cách, nhận chức Bộ trưởng Ngoại giao, ngày 02/3/1946, thì ba ngày sau, ngày 05/3 đã viết thư xin từ chức gửi Cụ Hồ, trong thư, ông viết, mình “ bất tài, bất lực” và đây chỉ là “việc làm cá nhân”. Cuối thư, ông viết: “Kính chúc Cụ và nội các thành công trong việc đưa nước ta đến chỗ hoàn toàn độc lập”. Tuy vậy, Cụ Hồ vẫn giữ ông ở chức vụ ấy, đến ngày 03/11/1946, ông mới bỏ chức mà đi hẳn.

Hoàng Đạo được bổ sung vào Quốc hội khoá I và làm bộ trưởng Kinh tế, một thời gian ngắn, đến ngày 02/3/1946 thì ông thôi chức và ông Chu Bá Phượng thay. Ông được cử lên Vĩnh Yên để giải quyết việc lộn xộn ở đây do nhóm Việt Quốc gây ra, nhân đó ông trốn sang Trung Quốc…

Như vậy, dòng họ Nguyễn Tường ở Cẩm Giàng vừa trọn bốn đời, có thể nói là đều phú quý, đến đời thứ tư thì vinh hoa, thậm chí vinh hoa hiếm có, rồi đứt hẳn, đứt đến mức tuyệt không còn gì. Có lẽ đó cũng là điều cần quan tâm về mặt phong thuỷ.

Thời tôi đi học, kể cả khi đã là giáo sinh (bây giờ gọi là sinh viên cao đẳng) giỏi của trường trung cấp sư phạm thuộc Bộ Giáo dục, đã hai lần đoạt giải nhất hai kỳ thi thơ của trường (mỗi năm tổ chức một lần thi thơ), vậy mà tôi hoàn toàn không biết có cái gì gọi là Tự lực văn đoàn, dù từ Kẻ Sặt đến Cẩm Giàng chỉ cách nhau khoảng non 10 km. Gần đây, tôi mới đọc được một số tác phẩm của ba nhà văn này, như Đoạn tuyệt, tiểu thuyết của Nhất Linh, Con đường sáng, tiểu thuyết của Hoàng Đạo (viết chung với Nhất Linh) và Tuyển tập truyện ngắn Thạch Lam. Truyện ngắn Thạch Lam là một trong những mẫu mực của truyện ngắn Việt Nam, viết rất trong sáng, nhẹ nhõm, được đưa vào sách giáo khoa phổ thông. Hiện nay ở thị trấn Cẩm Giàng có một phố khá đẹp mang tên Thạch Lam. Ông Ngô Quang Trưởng, viên trung tướng rất nổi tiếng của quân đội Sài Gòn là con rể của nhà văn Thạch Lam.

Tự lực văn đoàn chỉ có tám người. Ngoài ba anh em ruột Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, còn năm vị nữa là Khái Hưng, Thế Lữ, Xuân Diệu, Tú Mỡ và Trần Tiêu. Với tinh thần hoàn toàn Tự lực, văn đoàn hoạt động chủ yếu có hiệu quả trong vòng 10 năm (1932 – 1942) đã làm nên một vầng sáng văn học rực rỡ. Tất nhiên, thời gian đã vượt qua các tác phẩm của họ, nhưng không có những cố gắng của họ, chắc gì chúng ta đã có khuôn mặt văn chương như ngày hôm nay, trong đó, Thế Lữ, Xuân Diệu, Tú Mỡ còn tiếp tục đóng góp cho nền văn học mới nhiều năm sau. Tôi đọc văn chương Tự lực văn đoàn với lòng trân trọng, tuy không được nhiều, nhưng ở những tác phẩm đã đọc, hấp dẫn tôi, chỉ có thơ Xuân Diệu và thơ Thế Lữ.




Quay Lên Đầu Trang