Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




CÓ NHỮNG MÁI TRƯỜNG...








- nhớ về và ngẫm,
một số trường đã qua hoặc đã biết -

3. “ĐẦU LÒNG”


Lứa học trò như tôi, trước năm 1945, phần nhiều cố để đỗ được cái bằng ri-me (primaire, -đúng ra là primaire complémentaire = sơ học kiêm bị), sau này người ta gọi là bằng tiểu học, đã là “danh giá” lắm(!), rồi thôi. Học lên nữa là cấp Sơ học cao đẳng (primaire supérieure), -thường được gọi là ban Thành chung, nay là cấp Trung học cơ sở-, tại trường côn-le (collège) rất tốn kém, phải con nhà thật khá giả mới kham nổi. Tôi phải nhường anh tôi. Thế mà rồi tôi cũng học lên được.

Ấy là vào những ngày sau Cách mạng tháng Tám ít lâu. Có thông báo mở trường Trung học ở huyện Đức Thọ. Trường trung học ngày ấy, -mấy năm sau gọi là trường Trung học phổ thông để tách biệt với trường Trung học chuyên khoa (tức trường của ban tú tài)- ngày nay tương đương với trường trung học cơ sở, chính là trường côn-le hồi Pháp thuộc mà cả hai tỉnh lớn Nghệ Tĩnh chỉ có một trường ở Vinh. Nay có một trường ngay ở huyện kế cận huyện tôi, cách nhà tôi chừng 16 cây số. Điều kiện ăn học không “qui cách” như thời trước, -cách mạng rồi mà! Tôi bỏ học đã hơn một năm; vả lại, trong không khí bấy giờ chuyện học hành chẳng còn mấy hấp dẫn. Tuy vậy, tôi cũng thử hỏi mẹ tôi xem sao. Bà không sốt sắng lắm nhưng rồi cũng cho tôi ít tiền để tôi đi nộp đơn. Tôi chẳng còn thì giờ mà cũng chẳng có bụng dạ nào học ôn. Không ngờ thi lại đạt kết quả cao, tôi chẳng phân vân đi học lại nữa, và mẹ tôi cũng vui lòng.

Thấm thoắt đã đến ngày khai trường, -ngày khai trường đầu tiên trên đất nước Việt Nam không bị ám bởi bóng dáng kẻ đô hộ ngoại bang. Trường đặt tại trường tiểu học cũ nơi huyện lị Đức Thọ, một ngôi nhà bảy phòng, phòng chính giữa có gác cao vượt lên nên nom có dáng hơn cái trường huyện tôi học những năm trước. Lễ chào cờ cử hành đơn giản và gọn. Ôi! Lễ chào cờ khác xưa biết mấy! Không còn nỗi ngậm ngùi, tủi cực xưa kia khi tôi lần đầu tiên biết thế nào là chào cờ, ở trường sơ học. Bây giờ chào cờ của ta, lá cờ đỏ sao vàng, không phải lá cờ tam tài; hát quốc ta của ta, bài Tiến quân ca, không phải bài La Marseillaise. Sau lễ chào cờ, một người bước ra. Đó là một ông nhỏ người, da sạm đen, mặt có vẻ khắc khổ, gần giữa môi trên có một cái sẹo như một vết nứt khiến tiếng nói hơi cứng. Người đó mặc áo cộc tay, quần soóc, đi đôi dép crếp. Tóm lại bề ngoài của ông khá xoàng xĩnh. Ông nói với chúng tôi mấy câu, bây giờ tôi không còn nhớ, rồi hướng về lá cờ giơ nắm tay phải lên gần sát đầu dõng dạc nói: “Chúng tôi, Nghiêm Trúc,...”, lần lượt những người khác đứng hai bên, mà chúng tôi đoán là các thầy giáo; cũng giơ cao nắm tay và xưng tên: Hoàng Nguyên Cát, Hoàng Vị, Nguyễn Tuỳ, Hà Huy Kham (đó là những thầy đầu tiên, những thanh niên đã đỗ tú tài hoặc đang học đại học, trừ thầy Cát vốn là giáo viên; về sau ba thầy trong số này ra đi, một số thầy khác thay); rồi người đứng đầu lại nói tiếp lời tuyên thệ làm tròn phận sự. Hồi đó, hình như chưa có từ “nhiệm vụ”. Bấy giờ, đám học trò mới nhận ra thầy hiệu trưởng của mình. Nhớ đến những mẩu chuyện về trường côn-le trước kia mà hiệu trưởng là người Pháp, tôi thấy các thầy, nhất là thầy hiệu trưởng, giản dị quá, lễ khai trường đơn sơ quá (!). Tôi đang chờ đợi một cái gì khác kia, đại khái làm cho mình lác mắt dè chừng.

Thầy hiệu trưởng trông có vẻ xuê xoa, chúng tôi đã tưởng bở. Một lần, vào chiều thứ bảy, chúng tôi lên gặp xin được nghỉ nửa giờ tập thể dục để về nhà lấy gạo. Thầy chẹp miệng: “Tập xong, về cũng còn kịp chán”. Chúng tôi cố nài: nào là phải đi xa gần hai mươi cây số, nào là phải qua đò Tam Soa rất rộng mà thường phải chờ lâu, ... Thầy vẫn không nao núng: “Sợ về nhà tối thì về trứơc nửa giờ vẫn tối. Còn chỗ qua đò thì cách đây năm cây số chứ mấy”. Chúng tôi đành lặng lẽ rút lui. Hôm sau, trống báo tập thể dục vừa điểm là chúng tôi cắp sách vở ù té chạy qua sân vận động về nhà trọ. Ba đứa đã sẵn sàng “lên đường” chỉ còn một đứa mãi chẳng thấy đâu cả. Đang sốt ruột thì nó hớt hải đi vào lên giọng bảo: “Bọn bay thì chết! Thầy hiệu trường nhìn theo chúng mày chạy rồi vào lấy sổ ra điểm danh. Tao phải nép sau hàng rào đi vòng đấy”. À, thì ra vì thế mà chúng tôi phải sốt ruột chờ nó. Nó “cáo” thật, nhưng chẳng nhẽ lúc nó đang lò dò sau hàng rào thì thầy bỏ qua tên nó. Sáng thứ hai, chúng tôi được mời lên bàn giầy nhà trường, tất nhiên có cả cu cậu láu cá kia. Thầy hiệu trưởng, mặt vẫn thản nhiên như thường ngày, hơi cao giọng hỏi:

-Tại sao các trò bỏ giờ thể dục chiều thứ bảy?

-Thưa thầy, chúng em hết gạo phải về lấy ạ. –Chúng tôi lại ca điệu cũ.

-Hừm! -Thầy lại chép miệng như hôm trước- Tôi đã nói rồi, tập xong hãy về.

-Chúng em ở xa sợ không kịp ạ.

-Chà! Có thật là nếu nán lại nửa giờ thì không thể nào về được không?

Thầy nói thủng thẳng, vết sẹo nơi môi trên hơi nhấp nháy nom như thầy đang cố nhịn cười. Nhưng chúng tôi thì nhìn nhau bối rối. Quả thật, chậm nửa giờ thì cũng chả có trở ngại gì ghê gớm. Thầy nhìn chúng tôi một giây rồi thở ra một hơi dài: “Thôi, các trò về lớp đi. Nhớ lấy nhé!”

Học lên thì tất là mới lạ rồi, nhưng thích thú trước hết là hoàn toàn bằng tiêng Việt, trừ các giờ ngoại ngữ, Pháp văn, Anh văn, Hán tự, và phong cách giảng và học thoải mái. Nói cho đúng thì chưa ra cái phong cách gì cả. Rời bỏ cái cũ mà chưa rứt được; cái mới thì chưa hình thành hoặc đang hình thành. Có lúc tuỳ tiện hoặc tuỳ hứng. Giờ quốc văn, thầy Vị thường cho đọc các truyện ngắn, các đoạn văn hay rồi gợi ý cho học sinh bàn luận. Giờ tiếng Pháp có lúc thầy kể lại kịch Lơ Xít (Le Cid) đọc vài đoạn rồi hỏi Rôđrigơ (Rodrigue) có anh hùng không? Có vì hiếu không? [Tôi phát biểu: “Anh ta suy tính rằng: không dám đấu với cha người yêu để trả thù cho cha mình thì rồi cũng sẽ mất Simen (Chimène) vì bị nàng khinh. Rút lại, chẳng qua là vì tình”, thầy khen phải]. Không có sách giáo khoa. Các thầy tự tìm tài liệu, chủ yếu là từ sách tiếng Pháp, tự dịch và soạn bài giảng. Chúng tôi học chay các môn khoa học thực nghiệm, có nghĩa rằng chỉ “thí nghiệm” bằng hình vẽ trên bảng và trong vở. Thầy Trúc dạy môn thực vật (lúc đó gọi là môn tự nhiên) cho chúng tôi sưu tầm cây cỏ làm “Tập bách thảo”, tôi đã cho là “thực nghiệm”. Cuối năm, thầy chấm lấy điểm thực hành cùng với điểm kiểm tra lí thuyết. Đề lí thuyết như sau: “Trong môn tự nhiên đã học, trò thích vấn đề gì nhất, hãy nói rõ ra”. Đề ra có vẻ dễ dãi vì rộng rãi và không gò bó. Từ bấy đến nay, lúc còn đi học cũng như lúc đã đi dạy, tôi chẳng bao giờ còn được thấy một đề kiểu như vậy. Có những lần tôi đã định ra những đề tương tự nhưng chẳng được ai thông cảm, đồng nghiệp cũng như những cấp có thẩm quyền. Đề ra thì “dễ” vậy nhưng “ngợp” ở chỗ không biết nên chọn vấn đề gì và sao cho kịp làm trọn trong 50 phút. Có cậu đã chọn “sự lục hoá” và liên hệ với sự tuần hoàn trong cơ thể người. Có cậu trình bày về tế bào và các mô thực vật. V.v... Tôi lấy đề tài “hoa và sự kết quả”. Để kết luận, có câu rằng: “Có những thi nhân ngồi khóc hoa tàn, đâu biết chính lúc đó một mầm sống mới đang bắt đầu nẩy nở”. Đến nay tôi vẫn tự lấy làm lạ sao thằng bé choai choai là tôi ấy lại có thể nghĩ ra câu văn “cụ non” vậy! (Có thể do đó một phần mà bài làm được điểm cao nhất lớp).

* * *

Trường mang tên Trần Phú, tôi chỉ biết đó là một chiến sĩ cách mạng đã hi sinh trong nhà tù của thực dân Pháp. Đến khi dảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán, tôi nghe có người nói e phải đổi tên trường, tôi mới biết đó là Tổng bí thư đầu tiên của ĐCSĐD, nhưng cũng chẳng biết gì hơn về ông cũng như về đảng CS.

Tên tuổi được quan tâm nhiều lúc bấy giờ là Hồ Chí Minh, chủ tịch chính phủ lâm thời của nước Việt Nam độc lập; người ta gọi một cách trân trọng mà không xa cách: “Hồ chủ tịch” (về sau mới “Cụ Hồ” và sau nữa, “Bác Hồ”). Một lần, có cuộc bán đấu giá một bó hoa tươi để lấy tiền góp vào quĩ kháng chiến Nam bộ. Cuộc đấu giá diễn ra sôi nổi. Một chủ hiệu ở thị trấn thắng với giá cuối cùng là 400 đồng (một bát phở chỉ 5 hào) và được tặng một bức chân dung Hồ chủ tịch in khắc gỗ. Giá trị của cuộc đấu giá chính là bức chân dung này nhưng không thể đưa ra bán đấu giá nên đem làm tặng phẩm danh dự. Bức chân dung được trưng trang trọng trong tủ kính của cửa hiệu. Đây là bức chân dung cụ Hồ đầu tiên ở thị trấn Đức Thọ. Người ta bàn nhiều về cái trán, nhất là đôi mắt: “Mắt ông cụ có hai con ngươi!” Tôi cũng thấy như thế. Song chẳng phải người hoạ sĩ cố tình tạo ra dấu hiệu siêu phàm. Sau này tôi hiểu đó chẳng qua là hiệu ứng nghệ thuật. Người hay nói với chúng tôi về thời sự là thầy Nguyễn Tuỳ, dạy toán, một người mặt xương xương, từng là sinh viến đại học khoa học ở Hà Nội. Chúng tôi hỏi thầy về cụ Hồ, thầy không trả lời thẳng (hẳn lúc bấy giờ thầy cũng không biết rõ) mà nói về cụ Nguyễn Ái Quốc. Thầy kể: NAQ đang học ban thành chung tại trường Quốc học Huế, một hôm một giáo sư người Pháp mắng một học sinh là “đồ Annam bẩn thỉu” (sale annamite), ông đã đứng lên cự lại rồi bỏ học (hoặc bị đuổi học). Thầy Tuỳ từng học ở trường quốc học Huế cho đến khi đỗ tú tài, chắc là thầy đã được nghe kể nhiều chuyện.

Ngày ấy, phần lớn người dân hồn nhiên ngưỡng mộ Việt Minh, ngưỡng mộ cụ Hồ, ngưỡng mộ và tin tưởng; sẵn sàng và dễ dàng hưởng ứng các cuộc vận động chính trị. Tin về bầu cử quốc hội lan truyền nhanh chóng, lạ tai mà hồ hởi. Lần đầu tiên trong lịch sử mấy ngàn năm, nước Việt Nam mới có cuộc bầu cử quốc hội “phổ thông, trực tiếp, bỏ phiếu kín”. Lũ nhóc chúng tôi có khi còn háo hức hơn người lớn. Sau này, trải qua nhiều cuộc bầu cử quốc hội, tôi chẳng bao giờ còn thấy lại cái không khí chuẩn bị và vận động bầu cử ngày ấy, phấn chấn thực sự. Ứng cử cũng tự do thực sự. Ngoài những người do Việt Minh cử, có những cá nhân tự ứng cử không cần phải “thông qua hiệp thương đoàn thể” và họ được tự do vận động dồn phiếu cho mình. Rất nhiều “áp phích”, biểu ngữ, truyền đơn, lời kêu gọi, ... Của ban tuyên truyền, của cá nhân người ứng cử hoặc bà con, bạn bè của họ, … Trên băng vải căng ngang đường, trên bìa màu to tướng treo cây, trên nền tường vôi trắng, trên giấy học sinh dán hoặc rải đây đó. Diễn đạt thành “thơ”, vè, khẩu hiệu, văn xuôi. Ấn tượng hơn cả là bốn câu của ban tuyên truyền tỉnh:

Bình, Nhạ, Ninh, Lộc, Duyệt, Bửu, Lương.

Đồng bào ta hãy nhớ cho tường

Xứng danh quốc hội không ngần ngại

Bỏ phiếu ai ơi phải rõ ràng.

Bảy người, đúng số đại biểu mà Hà Tĩnh được bầu. Trong đó, năm người là những nhà cách mạng từng bị tù đầy. Người thứ sáu là nhà trí thức Tạ Quang Bửu, gốc xứ Nghệ, nổi tiếng nhiều về hoạt động hướng đạo sinh. Người thứ bảy, tự ứng cử, là một “tú tài Tây” theo đạo Gia tô đang là hiệu trưởng trường trung học tư thục duy nhất trong tỉnh. Sáu người trước, cử tri dễ chấp nhận. Người sau cùng, kí ức về những người “theo đạo” từng “giúp Tây chiếm nước ta” và từng được “Tây ưu đãi” thời Pháp thuộc, khiến khó được chấp nhận. Tuy nhiên, được Việt Minh ủng hộ ông này vẫn trúng cử cùng sáu người kia (với số phiếu thấp nhât). Ông vẫn là đại biểu quốc hội cho đến năm 1960, sau khi bầu quốc hội khoá hai. Ông là đại biểu duy nhất bỏ phiếu chống luật hôn nhân và gia đình khi đó vì trong luật có điều khoản cho phép li hôn trái với giáo luật đạo Cơ đốc.

Đi bầu cũng nô nức thực sự. Tuy rằng đa số cử tri đang học Bình-dân-học-vụ để xoá mù chữ, nhiều người còn phải nhờ “tổ viết hộ”. Thật ra, họ chỉ biết lơ mơ về các ứng cử viên qua bản giới thiệu tiểu sử vắn tắt (sau này cũng vậy thôi, chẳng mấy ai cố tìm hiểu mà cũng chẳng có điều kiện lẫn phương tiện). Nói chung, họ nghe theo lời gà của cán bộ hoặc của người thân, người quen. Cũng có người cẩn thận hỏi dò trước khi đi bỏ phiếu. Một ông đứng tuổi, áo quần nâu, chân đất, nhờ người viết hộ xong cầm tờ phiếu bầu lên, đáng lẽ đi tới thùng phiếu, lại chăm chú lẩm nhẩm, rồi quay lại cười: “Cậu viết đúng lời tôi đấy. Tôi thử cậu vậy thôi. Bây giờ nhờ cậu ghi đúng danh sách kia cho tôi”, ông chỉ vào câu đầu của bài thơ vận động nói trên. Thì ra ông này “làm một phép thử”, -chẳng mấy người nghĩ được/(tới) “trò” này. Có một chuyện, ngày nay thì quá là động trời, ngày ấy chỉ khuấy lên chút đỉnh. Khi kiểm phiếu, một phiếu bầu trong hòm phiếu ở xã H.B., thay vì tên những người ứng cử được chọn, lại ghi mấy câu: “Bầu bầu cử cử khéo lôi thôi / Ai được, ai không đã biết rồi / Cho dân học thuộc rồi đem viết / Hành động đê hèn mấy chú ơi!” Người ta tìm ngay ra “tác giả”. Đó là con trai bang T., viên bang tá đã bị mấy người “nổi loạn” xử hồi thuộc Pháp. Anh ta hồi bé học giỏi nhưng đỗ Sơ học yếu lược rồi thì thôi học. Anh ta vào loại cử tri trẻ nhất. Anh ta chỉ bị “hỏi han” tí chút. (Ba năm sau, anh ta được tuyển vào trường lục quân đào tạo sĩ quan. Ra trường, anh ta thuộc số ít chỉ được phong hàm “thượng sĩ”, trong khi số đông được phong “chuẩn uý”. Công tác chừng một năm, anh ta “dinh tê”, -tiếng lóng chỉ việc bỏ vùng kháng chiến vào vùng do quân Pháp chiếm đóng. Sau này, được biết anh ta từng là đại tá trong quân đội Cao Đài, và từng ứng cử tổng thống miền Nam).

Ngày ấy, bọn thiếu niên chúng tôi cũng hay tò mò chuyện thời sự, chính trị. Những từ ngữ lạ lẫm khó hiểu được nghe nói đến luôn cũng quen tai dần: cách mạng, giác ngộ, chính thể, chế độ, lập hiến, cộng hoà, dân chủ, quân chủ,...Thậm chí tôi cũng đã biết phân biệt chính thể với chế độ, biết qua thế nào là dân chủ đại nghị, quân chủ lập hiến, v.v... Xem ra có vẻ “già dặn”; dẫu vậy, thực tình vẫn thua xa bọn trẻ cùng độ tuổi ngày nay trong việc nắm bắt cái mới mọi mặt, cả hay lẫn dở.

Sau bầu cử quốc hội, bọn nhóc chúng tôi nghe nói đến “hiến pháp”. Cũng lại thầy Tuỳ cho chúng tôi biết về bản dự thảo hiến pháp. Thầy nói: “Dự thảo này gần với hiến pháp của Nga, nhưng ở đây quyền của chủ tịch nước khá rộng”. Thầy tưởng chúng tôi là những “cụ non chính trị gia” chắc! (Sau này, ai cũng biết hiến pháp Việt Nam năm 1946 còn xa mới là hiến pháp kiểu Liên-xô thuở ấy).

* * *

Thị trấn Đức Thọ (thường được gọi gọn là “Phủ Đức” vì là phủ lị thời trước) bé tẹo nhưng vì gần một ga xe lửa chính nên hay có khách ghé lại, và dường như nhạy tin hơn cả thị xã tỉnh lị Hà Tĩnh.

Một lần, có hai “nhà văn nghệ” nhân đi qua dừng chân và nói chuyện, trong đó có Lưu Trọng Lư. Tôi thích thi sĩ này qua bài văn “dạo đầu” cuốn tiểu thuyết “Huế, một buổi chiều” và một số bài thơ nên đến dự thính. Ý tứ ông nói hôm đó khác hẳn những gì tôi đọc được của ông từ trước. Tất nhiên. Nhưng ông vốn thuộc dòng văn lãng mạn; nên ngôn phong có lẽ còn hơi hướng xưa. Tôi thú câu này của ông: “Tập thể là tất cả mà cá nhân không là gì hết”, nhớ lại câu trong bài văn nói trên: “Nàng là tất cả mà tôi không là gì hết. Tôi là quản bút không ngừng, nàng là nguồn cảm hứng bất tuyệt”.

Lần khác là đoàn ca nhạc Nam tiến của nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Chỉ ghé lại, song đoàn diễn mấy tối liền ở thị trấn và ở xã Châu Phong, một làng quê “văn hiến”, quê hương của hai thái cực: anh hùng chông Pháp Phan Đình Phùng và đại việt gian theo Pháp Hoàng Cao Khải. Đoàn diễn hăng say, không nề hà; trước hàng trăm người cũng vậy mà chỉ dăm chục người cũng vậy. Chủ yếu là hát các ca khúc của Đỗ Nhuận, nhất là bài “Nhớ chiến khu” rất nổi tiếng lúc bấy giờ, đang vào cao trào được hâm mộ. (Sau đó ít lâu, Lưu Hữu Phước trong bài điểm “Nhạc Việt 1946” đăng trên báo Tiền Phong đã rất đề cao và cho in chữ hoa riêng tên bài hát này. Ngày nay, hầu như chẳng ai biết đến bài đó nữa). Bài Nhớ chiến khu có vị trí riêng trong các buổi diễn và thường là đích thân tác giả hát. Xen vào có màn kịch hát “Hận Nam quan” do Đỗ Nhuận đóng vai Nguyễn Phi Khanh, -“Hề! Non sông, con ơi, thề non sông! Uất hận sao, kìa dấu xưa anh hùng! Đi đi thôi, lời cha khuiyên nhớ nhé! ... ” .

Có lần, lớp chúng tôi được đưa đến hát chào một trung đội quân người thượng Tây nguyên, không biết đang trên đường đưa ra bắc hay đang trên đường trở vô nam. Họ cũng hát đáp lại, nghe không rõ lời. Họ đến và đi cũng lặng lẽ.

Thị trấn rộn hẳn lên khi một đoàn quân Giải phóng nam tiến (tiếp viện miền Nam đang chống quân Pháp trở lại xâm lăng) ghé lại mấy ngày để chờ tàu. Một bộ phận nghỉ trong trường chúng tôi. Tôi cứ đinh ninh đây là đoàn quân ở chiến khu về. Ôi! Hai tiếng “chiến khu” huyền bí mà thơ mộng từng mê hoặc trí tưởng trẻ thơ của tôi những ngày tiền khởi nghĩa. Nghe và hát bài “Nhớ chiến khu” mê li, hai tiếng đó càng hấp dẫn. Đã ở chiến khu về thì chắc là người Việt bắc rồi. Có một anh hiền hiền, người cao, nói giọng hơi “đớt”; tôi hỏi: “Anh là người Thổ (sau này gọi là Tày) hay Nùng?” Anh lắc đầu: “Không, người Kinh chứ”. Đúng là anh ấy không muốn lộ rồi. Tôi nghĩ vơ vào theo ý mình. Anh có một con dao găm khá đẹp. Tôi mượn xem, mân mê một lúc rồi trịnh trọng nói: “Chúc cho lưỡi dao này vào Nam sẽ tắm nhiều máu quân thù” (Câu chúc vừa huênh hoang, vừa cụ non này bây giờ nghĩ thấy hơi “lố”, ngày ấy cũng tự nhiên, như câu “Thề phanh thây, uống máu quân thù” trong bài Tiến quân ca). Anh giải phóng quân điềm nhiên nói: “Nó đã tắm nhiều máu quân thù rồi”. Lúc đó, tôi nghe rất hứng khởi; nay nhớ lại, nghĩ: có thể anh cũng “bốc” tí chút chăng? Đánh giặc ít khi dùng đến dao găm. Trong đoàn có hai chị còn trẻ có dáng dân thị thành. Một chị khá xinh nhưng có một cái sẹo dài dọc một bên má, sẹo của một vết thương. Không hiểu hai chị làm về thông tin, y tế hay văn thư. Cả hai đều tươi tỉnh và hát hay. Nhưng một lần tôi bắt gặp chị sẹo má ngồi thần ra rồi gục mặt vào hai bàn tay; tôi nghĩ chị nhớ nhà (!) và đoán chị là người thủ đô. Thầy Vị, một cựu sinh viên luật từng sống ở Hà Nội, thường đến chuyện trò vui vẻ với chị. Tôi lại đoán thầy hiểu tâm trạng của chị. Ngày các anh chị lên tàu đi tiếp vào Nam, cả trường chúng tôi ra ga tiễn đưa. Chẳng biết có những ai trong đoàn quân năm ấy còn trở về? Và, có những ai còn có cơ đọc những dòng này của người từng là thằng bé ái mộ các anh chị?

Có đoàn quân khác chẳng ai mong cũng đến Phủ Đức. Đó là quân của Trung Hoa dân quốc được các nước Đồng minh giao vào bắc Đông Dương giải giáp quân Nhật bại trận. Bổng dưng, cái thị trấn thanh bình mà có lúc náo nhiệt chứng kiến một đám quân mặc áo vàng, phần lớn bủng beo, lử khử, thất thểu đi qua cầu sắt đến đóng ở cái miếu giữa đồng bên kia thị trấn. Bọn này mò ra chợ cái gì cũng muốn vơ, mặc cả rất riết róng. Một thằng mua một con gà, vừa ra hiệu tay trả giá, vừa nhét gà vào bọc, bị người bán giằng lại liền phát ra một tiếng chửi tục rất “an nam”. Thì ra lâ một thằng Tàu giả, vốn làm phiên dịch. Một buổi chiều, một số đông thanh niên thị trấn đổ xô ra đầu cầu sắt nhìn sang bên kia chỗ quân Tàu Tưởng đóng, người cầm gậy, người cầm xà beng, có người thủ một khẩu súng săn. Bọn quân “đồng minh” đã dụ một người bán thịt lợn mang vào miếu, nơi chúng trú quân. Chúng trả giá rẻ không được bén đâm anh thủng bụng. Cả thị trấn náo động. Suýt nữa thì lôi thôi to. Viên đại tá Trần Túng Tài, mà người ta gọi chệch là Trần Túng Tiền, cầm đầu quân “Tàu vàng” vùng Nghệ Tĩnh, đích thân đến dàn xếp. Viên quan năm này từng cho xuất bản tại Vinh cuốn sách mỏng do y viết có cái tên hợm hĩnh “Vận mệnh nước Việt Nam” rặt giọng nước lớn dạy đời.

Được ít lâu, bọn Tàu vàng cút đi đâu mất; sau mấy bữa lại đến bọn “Tàu xanh”. Bọn này đông hơn nhiều, khắp thị trấn đâu đâu cũng thấy chúng. Nhà trường phải dành cho chúng ở. Bọn chúng đứa nào cũng mặc cái áo bông to sụ, chân quấn xà cạp, nom như cái cột rơm bị vặt hổng phía dưới. Chúng đỡ thảm hại hơn bọn trước và có vẻ qui củ hơn. Tuy nhiên chẳng văn minh hơn. Một viên sĩ quan được bố trí ở trong một phòng có cái quạt trần, y sai tên lính hầu dùng cái gậy dài đẩy mạnh cho cánh quạt quay... Một bữa, bà bán cháo rong đỗ lại trước bệnh xá thị trấn. Bọn Tàu xanh bâu đến, giành nhau. Thiếu bát, chúng đi lùng bất cứ thứ gì có thể đựng cháo. Một thằng vớ được cái bô để không hăm hở chìa ra cho bà bán cháo mặc bà xua tay lia lịa. Không như trước cách mạng nói đến “lính” là người dân sợ, hay ít ra cũng dè chừng; dân thị trấn bây giờ chẳng ngán cái trò hạch sách của bọn “quân đồng minh” này, cả trong mua bán. Bữa ấy, chúng chuyển nơi ở đến một nơi xa chừng một cây số. Mấy thằng đang thất thểu dưới bọc ba lô to sù trên lưng, thấy một anh đang kéo cái xe ba gác, chúng xúm lại giành. Anh kia bèn quay xe lại hẩy một cái, hai thằng ngả lăn chiêng. Anh ung dung kéo xe đi.

Bọn Tàu xanh cũng tập tành, ra vẻ cũng có thể thống. Nhưng sự thật thì khá bệ rạc. Hôm đó, mấy đứa nhỏ đang tò mò nhìn mấy thằng phơi nắng và bắt rận bổng nghe tiếng “huỵch” phía sau; ngoảnh lại thấy một cái xác gần như trần truồng nằm còng queo. Một tên lính chết trên gác, đồng bọn ngại khiêng theo lối cầu thang nên ném qua cửa sổ cho gọn. Còn “oai phong” thì... Người ta kể: Lần ấy quân Nhật hàng ngũ chỉnh tề cùng vũ khí kèm theo tập hợp trước hàng quân “đại diện Đồng minh”. Viên chỉ huy bên thua trận hô quân mình nâng súng để sẵn sàng “bị tước khí giới” theo đúng nghi thức. Nhưng quân “thắng trận” hoảng kinh chạy túa đi tìm chỗ nấp. Binh lính Nhật bèn dồn đống khí giới lại rồi bỏ đi.

Tôi không biết đám quân này rút đi hồi nào. Dấu tích chúng để lại là những bãi rác và những nấm mả thấp tè tản mác đây đó.

* * *

Trong đời học sinh của tôi, đây là năm học cuối cùng tôi được học trọn năm trong một trường lớp ra trường lớp, có mái ngói, có cửa gương. Năm học sau, tôi xin chuyển về trường Trung học phổ thông Nguyễn Công Trứ ở Vinh, trường duy nhất của tỉnh Nghệ An, hậu thân của trương côn-le Vinh trước đây. Hôm tôi tới trường xin giấy tờ, thầy hiệu trưởng chép miệng: “Chậc! Chuyển trường à?” Câu ấy có thể ngụ ý: “Ừ, chuyển cũng được”, mà cũng có thể muốn bảo: “Đáng tiếc, sao lại chuyển?”. Rồi thầy lặng lẽ viết giấy giới thiệu cho tôi. Rời trường, tôi không nghĩ trường cũng chỉ tồn tại thêm một năm học nữa. Trường đã tan đi trong không gian và thời gian, nhưng bóng của nó còn đọng lâu.

Mười bốn năm sau, hè 1960, tôi có dịp qua thị trấn Đức Thọ. Thị trấn đang được xây dựng lại. Dang dở, lam nham. Còn đâu con đường đất pha cát mịn rợp bóng cây cạnh trường xưa! Giờ là con đường đá lổn nhổn. lầm bụi, loằn ngoằn dưới nắng gắt. Còn đâu cái sân vận động phẳng phiu mát cỏ trước trường! Giờ là đám bãi mía còi cọc, vạt cao, vạt thấp. Ngôi trường đã bị phá trụi theo chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”. Nền của nó như biến dạng đi. Đứng trước nó, những hình ảnh thời thơ trẻ hằng sống trong kí ức tôi lẩn dâu mất. Nhà cửa nhiều hơn trước, không sít nhau lắm, nhưng sao như đang vật lộn với nhau. Người cũng nhiều hơn, ồn ào hơn, bon chen hơn. Không còn cái “Phủ Đức” thanh bình, dễ thương trong con mắt cậu học trò nhà quê ngày nọ. Đường đê ngang qua thị trấn được tôn cao lên nhiều. Đứng trên đó như tách biệt ra, nhìn xuống không sao hình dung được những nơi từng in dấu chân mình. Như bị lạc bước. Con sông La vẫn yên bình trôi ngoài kia dường như hẹp đi và không còn gợi mát. Cầu sắt Thọ Tường dã được làm lại, nhưng không có bốn nhịp vòm thành cầu cong soi bóng xuống mặt nước. Tôi chẳng gặp ai quen, mà cảnh cũ hẳn là chẳng nhận ra tôi nếu, giả sử, vẫn còn cảnh cũ. Những học sinh đầu lòng của chế độ dân chủ cộng hoà, những chú thiếu niên năm ấy, giờ tản mát những nơi đâu?

* * *

Năm 2000, theo yêu cầu của ban liên lạc đồng môn tôi đã viết tản bút “Hơn năm mươi năm ấy...”:

...

Ngôi trường chúng ta từng học không còn nữa. Những ngôi trường tôi từng học đều không còn. Nhớ hồi học lớp ba, tôi đọc ở đâu đó một bài văn của ai đó về thăm trường cũ. Có những câu mà nay, quá nửa thế kỉ rồi, tôi vẫn còn nhớ: “Trong sân trường, những cây xưa còn bé thì nay đã lớn, những cây lớn thì nay đã già. Ngôi trường trải mấy nắng mưa, tường rêu, ngói mốc”. Những câu văn xoàng xĩnh thôi mà sao có sức gợi đến thế! Người ta nói những kẻ bất hạnh trên đường đời hay nhớ tuổi thơ nhiều kì vọng để mà tiếc nuối. Còn những kẻ thành đạt thì nhớ để hãnh diện. Tôi thuộc loại làng nhàng vậy mà hay nhớ những tháng ngày qua, chẳng để làm gì, có chăng chỉ là một thứ hoài niệm dở hơi. Nhưng thiếu đi thứ hoài niệm đó, cuộc sống hẳn sẽ nhạt đi nhiều. Đôi khi chút kí ức khơi dậy cả tâm linh.

Lần đầu từ Hải Phòng lên thủ đô họp đồng môn Trần Phú, tôi vừa vui, vừa ngại. Gần nửa thế kỉ quả là một thời gian không ngắn với một đời ngưòi. Bạn học cũ có dễ dàng nhận ra nhau? Nghe nói nhiều người “làm nên”, chẳng biết có thêm cái rào vô hình của “đẳng cấp”? Hôm ấy, tôi tới trễ vì nhỡ xe. Phòng họp đã đầy ắp người. Tôi đang ngập ngừng như cậu học trò muộn giờ ngại phơi mặt ra trước hàng chục cặp mắt của thày và bạn thì nghe gọi: “A! Người giỏi nhất lớp tôi đây. Vào đi!”. Tôi nhận ra Nguyễn Xuân Phán, đến ngồi cạnh anh. Từ giờ phút đó, tôi thấy mình đã hoà nhập vào “không khí đồng môn Trần Phú”. Các bạn cũ ngồi vòng quanh nhìn mặt nhau, thoạt đầu ngỡ ngàng, tháng năm đã phủ lên màu xa cách, dần dần hiện lại những nét quen thân ngày xưa thơ trẻ. Và các thầy ...

Dạy suốt cả năm học đầu của trường là thầy Tố, thầy Trúc, thầy Niêm, thầy Cát. Nay chỉ còn mỗi thầy Cát. Thầy ngồi đó khiêm nhường mà vẫn toát ra vẻ khoẻ khoắn, tinh anh và chân tình. Thầy có một trí nhớ đáng ao ước. Ngày nọ, tình cờ gặp lại thầy sau gần hai chục năm tại câu lạc bộ Đoàn Kết, Hà Nội, tôi chào và hỏi thầy có nhớ ra tôi không, thầy vui vẻ nói ngay: “Anh Kh. major Trần Phú”. Thường thì trò nhớ được thầy, chứ thầy khó nhận ra trò. Hàng ngàn người qua tay nhớ sao cho xuể. Cũng từng làm thầy, tôi rất áy náy, và ngượng ngùng nữa, khi có ai chào và hỏi: “Thầy còn nhận ra em không ạ?”, mình không nhớ ra, mà thời gian xa cách có khi chỉ mới dăm ba năm.

Thầy Trúc mất sớm nhất, mãi sau này tôi mới biết. Thầy mất chỉ vì một sự rủi ro tệ hại, lúc mới 37 tuổi.

Thầy Niêm có bộ râu quai nón rất dữ tướng, nhưng thầy lại rất hiền, hiền đến mức không thể hiền hơn được nữa. Đức hiền của người làm chủ được mình. Trong một buổi dạy “võ tự vệ” cho một số học trò khoẻ và to con, sau khi giảng một miếng đánh, thầy bảo một cậu đấm thẳng vào mặt thầy (để thầy ra mẫu cách phá) nhưng cậu ta lại đấm ngay vào bụng thầy. Thầy không đổi sắc mặt, chỉ nói: “Anh không học võ được”. Thi tập làm văn cuối năm, có hai bài được điểm cao nhất: 7 điểm (7/10) của tôi, và 6,5 điểm của Lân. Thầy đọc hai bài cho cả lớp nghe. Có ý kiến nói bài của Lân cũng nên cho 7 điểm. Thầy đắn đo một lúc rồi chấp nhận. Tôi thấy như vậy cũng phải, tự tôi cũng thấy bài của Lân mượt mà. Trong đời, tôi chưa thấy ai tôn trọng ý kiến học trò mình cách ấy.

Thầy Tố là một cụ đồ nho, đã già. Thầy như lạc vào các thầy toàn là thanh niên tây học. Môn chữ Hán chỉ một tiết mỗi tuần, học sinh ít để tâm, nhưng thầy giảng kĩ, chấm bài chu tất. Chấm bài “viết chữ” thầy bảo con trải bài của cả lớp ra cạnh nhau để đối chiếu, so sánh cặn kẽ. Có một chuỵện vui vui dính dáng đến Phán, con thầy, cậu bạn học đã nói tới trên kia, nay đang là đại tá giảng viên học viện quân sự. Phán là học sinh có nề nếp, vui tính và tốt bụng. Lần ấy, Phán và tôi đọc trộm truyện trong lớp bị thầy Cát đang dạy lớp bên cạnh nhìn sang bắt được. Thầy tịch thu sách và phạt consigne. Chủ nhật ấy, hai đứa đên lớp để “thi hành án phạt”, có nghĩa là suốt buổi phải ngồi tại lớp, học và làm bài dưới sự giám sát của một thầy giáo. Mấy hôm sau, giờ Hán tự thầy Tố hào hứng bảo cả lớp tôi: “Chủ nhật vừa rồi thằng Phán nhà tôi được cử đi học bồi dưỡng thêm, nó bảo thích lắm”. Tôi cười thầm: chẳng biết cu cậu còn “khoe” ở nhà những gì nữa.

Những thầy chỉ dạy chúng tôi chừng một học kì rồi chuyển đi làm việc khác cũng lưu lại những nét đậm trong kí ức tôi.

Cùng đến họp mặt với chúng tôi, thầy Tuỳ, thầy Nhu cũng giống thầy Cát, nét mặt chẳng đổi khác mấy, các thầy vẫn còn phong độ.

Hai thầy mất quá sớm là thầy Kham và thầy Vị. Thầy Kham dạy khoa học tự nhiên, còn rất trẻ mà chững chạc. Thầy là con một nhưng đã xung phong vào bộ đội. Đời quân ngũ bận rộn, thầy vẫn học tiếng Đức qua một hàng binh Pháp người Đức. Vậy là thầy đã biết ba ngoại ngữ Pháp, Anh, Đức và dự tính học thêm tiếng Nga, muốn “phấn đấu theo gương Tạ Quang Bửu 27 tuổi mà đã biết sáu ngoại ngữ” (theo thư thầy viết cho người vợ trẻ). Trong một lần chống địch càn ở Thừa Thiên năm 1952, thầy đã hi sinh trên phá Tam Giang ở tuổi 27.

Thầy Vị vốn là sinh viên trường luật. Thầy có lọn tóc cuộn tròn mé bên phải trán như một bông hoa; nom thầy duyên dáng, bay bướm, và có lẽ là đa tình. Dạy văn, thầy khuyến khích đọc thêm và bình luận. Rời trường Trần Phú, thầy ra Hà Nội học tiếp rồi vào bộ đội và tham gia kháng chiến chống Pháp ở nam Trung bộ rồi sang Nam Lào. Thầy hi sinh trên dòng Mê Công, cũng năm 1952. Thầy Tuỳ kể lại: Đồng đội của thầy tìm thấy thi thể của thầy trên một tảng đá giữa sông. Tay thầy cầm chặt khẩu súng ngắn đã hết đạn, bên cạnh là hai kẹp đạn (chargeur) rỗng, -vậy là thầy đã bắn đến viên đạn cuối cùng. Thầy “ra đi” lúc mới 29 tuổi, chưa lập gia đình. Không biết khi trút hơi thở cuối cùng trên dòng sông xứ lạ, trong trái tim người chiến binh vốn là một chàng trai hào hoa có vương, có nuối bóng dáng yêu kiều nào không?

Lần họp đồng môn đầu tiên này, ngồi giữa các thầy và các bạn, tôi quên đi mình đã quá là “lão”. Sực nghĩ ra: trên đường đời, lúc đã trưởng thành mình vẫn mang theo hành trang ít nhiều dại khờ con trẻ. Và kia các bạn, trên những gương mặt mà hơn nửa thế kỉ đã đi qua như vẫn còn bóng dáng những chú bé con, kể cả những gương mặt đang mang “gánh nặng” của sự thành đạt.

Bữa kia, một ông bạn của chúng ta đi họp đồng môn Trần Phú về nhà, người con nhìn tập tài liệu trên tay cha kêu lên: “Cha lại kỉ yếu Trần Phú!”. Vậy thôi, chuyện của mấy ông già! Hội đồng môn các trường khác có thể được bổ sung không ngừng với các lớp kế tiếp nhau, còn đồng môn trường trung học Trần Phú - Đức Thọ - Hà Tĩnh (1945 – 1947) chỉ họp được một số lần có hạn nữa mà thôi, cho đến giỏi lắm là khi còn hai người cuối cùng trong chúng ta trên đờì. Có lần nào trưởng ban liên lạc báo tin ai đó không còn dịp tới dự nữa thì cũng là sự tất nhiên. Chỉ mong chuyện như vậy hãy thư thả.”


_____________________________

[Rút từ các tập kỉ yếu hội đồng môn trường Trung học Trần Phú (1945-1947) -Đức Thọ, Hà Tĩnh-, tập Một –năm 1991; tập Hai –năm 2001. Có bổ sung]

... CÒN TIẾP ...



Trang Trước
Trang Tiếp Theo