Việt Văn Mới
Việt Văn Mới








ĐI ĐỂ NHỚ







gởi: Phan Như.

Những năm gần đây tôi lại thích đi thăm thú, nơi này nơi kia; người không hiểu ý cho rằng: -gã đi vì tuổi đời chẳng bao nhiêu lại mang trong người căn bệnh hiểm nghèo không biết trời kêu khi mô. Đi để ’trả thù đời’! Mặc người ta đàm tiếu. Đi là vì ao ước đi mà chưa được đi. Một số văn nhân, thi sĩ lại có cái nhìn khác:’Đi để viết.Viết để lấy cái đi’ hoặc cao cả hơn ’Sống và Viết’. Nói chung lấy cái đi để đạt cái lý. Còn tôi; đi là để thấy mình đang sống. Nghĩa là được sống lại cái tuổi đời của mình hôm qua và hôm nay. Đi đứng trở thành cái thú tiêu dao, thời nào cũng vậy, tuổi nào cũng có cái thú riêng của nó... May ở thời văn minh hiện đại phương tiện di chuyển như món hàng tiêu dùng, có vô số phương cách ngàn kế để đi miễn sao đạt được mục đích. Thuở xưa nghe hai chữ đi du lịch lạ tai và như thể trò đùa, đi mà hứng đạn, sướng chi mà phải đi! Xã hội ngày nay đẩy con người tìm lạc thú, muốn có lạc thú thì phải nỗ lực. Hóa ra đi là nhu cầu cần thiết của con người.

Cái tình quê nó thiêng liêng diệu vợi, một thứ tình bao la lai láng. Những người bỏ xứ ra đi khi nào cũng có hoài vọng trở về để thấy con sông bến nước ngày cũ, đọt cây, ngọn cỏ của thuở thiếu thời và vô số kỷ niệm từ nhỏ cho đến lớn. Nhưng khổ nổi họ không thể nào tìm thấy cảnh xưa như họ mơ, vật đổi sao dời, tình người cũng phôi pha theo thời gian. Cảnh thanh bình thịnh trị của thời vua chúa cứ còn nhắc nhở như kỷ niệm dính liền trong đó, qua bao cuộc thăng trầm kỷ niệm lại thêm và không rời xa, cố tìm lại con đường quê khói lam chiều, xóm chợ cạn rộn tiếng bán bưng, quán nước chè bà lão dưới gốc cây đa, những buổi tan trường về, hành lang khu phố dập dìu ’áo luạ Hà đông’ nay không còn hiện thực mà trở thành huyền thoại; lắm khi hỏi đến người xưa họ cũng khó mường tượng. Bởi; cái từ đô thị hóa hình thành như hấp dẫn, như lôi cuốn (văn minh lên) đổi cũ thay mới cho nên đổ xô ra lập phố, lập phường để bon chen theo trào lưu, những con hẻm nhỏ ngày xưa ’ôm bóng tình nhân’ giờ là chợ nhỏ với thời trang; thậm chí họ quên mình đang sống của cái thời ’ngày xưa hoàng thị / con đường xưa em đi...’. Chị bán cá bảo: -ôi! đường xưa lối cũ, có làm sống lại hay chỉ là mơ ? Cũng nhờ câu nói vô tình đó mà cho tôi một ý niệm đi để nhớ. Nhớ mà đau như căn bệnh trầm thống. Mệ bán trầu: -rứa thì mi đi khi mô bữa ni mới về, tao chờ mòn con mắt; chừ mới thấy mặt, thấy mày.Ui chao ơi! Cái tình quê chan chứa ở chỗ đó. Đời người ưa tiến bộ cho nên trọng tân khinh cỗ, phá những cái gì còn tồn tại, cái giá trị để đời đã bị kết khối, cục bộ ’concrete’.Lòng họ chứa cái sự tự hào; đồ cỗ được trân qúy ngợi ca nhưng thực hiện thì không ca ngợi. Tôi mất cảnh cũ người xưa. Đêm ngồi ở Vỹ Dạ Xưa thực khách ăn uống đủ thứ Tây Tàu. Tôi gọi một ấm trà nóng, nước vàng óng của nhụy sen hồng còn phản mùi hương đầy đủ chất liệu mà hình như đặc sản đã hóa trị ’chemistry’ hay đã biến chất làm mất đi thi vị hóa của một bài thơ hay có phong vị thơ (!).

Người ta muốn làm sống lại cái quá khứ phong kiến của khăn áo, lọng mão nhưng thực chất chỉ là phù phiếm của cái gọi là phồn vinh giả tạo. Vì; cần hiện đại hóa đô thị. Cho nên chi đi là để nhớ sau để sống giữa thực và ảo, giữa tân và cỗ và thấy cái nào là cái đáng qúy.

Thế giới ngày nay coi chuyện du lịch là trọng. Bởi; hái ra tiền dễ hơn những dịch vụ khác với lại con người ưa khám phá cái hay cái lạ của mỗi dân tộc, đó là tâm lý quần chúng, có một thời cổ vũ nấu nướng nhưng không hấp dẫn bằng những kỳ quan thế kỷ. Nước ta có sẳn điều đó và vô số thứ đã có lại được thiên nhiên ưu đãi mưa thuận gió hòa, nhưng ác thay vẫn qui vào đô thị hóa mà quên đi cảnh cũ người xưa. Các nước có văn hóa cao thường có óc bảo tồn, chuộng nghệ thuật dù một thứ ngệ thuật ’ốc eo’ bị chôn vùi. Người phương Tây vẫn coi là trọng. Dân ta lại khác chuộng cái thứ ăn chắc mặt bền hơn là nghĩ đến văn hóa nghệ thuật. Vì vậy đi để nhớ và tìm thấy cái gì đã mất; thế mà cứ khăng khăng cho rằng vì; ’xa quê nhớ mẹ già’ kiểu anh lính chiến thời trước ’xâm’ trên tay như nhớ ơn sinh thành, dưỡng dục là phải trở về để khôi phục những gì đã hứa trước khi ra đi;nhưng có biết đó là lời ghi không thật và vô hình chung mất luôn tính triết lý lưu đày và quê nhà của kẻ tha phương cầu thực muốn tìm thấy một quê hương đích thực. Giờ chỉ còn lại giấc mơ.

Dẫu là gì tôi là người Việt; tiếng Việt còn nước ta còn. Đã đành; nhưng trên cương vị của kẻ đi tham quan, du lịch, thấy hay tôi ở, thấy dở tôi đi. Chả phải là gì của cái thời vong quốc. Đất lành chim đậu cho nên chi đi để nhớ: một thứ hoà âm điền dã, đồng thời tìm thấy cái dịu dàng rung động tình hoài hương là một ấp ủ, là hoài cố mà gần như người đi đều mang’tiếng sóng trong lòng’có một cái gì vừa hồi hộp vừa lo âu, và; người ở lại nhìn người đi như một kết tụ ’unity’ của hạnh phúc ’happyness’. Vì vậy cảm nhận giữa đi để nhớ và ở để mong là hai trạng huống nghịch lý, khó giải. Có nói cũng không cùng. Do đó phải chờ.

Mà lạ cứ mỗi khi về quê ăn Tết hay kỵ giỗ tôi cảm thấy áy náy lạ thường, cái chào đón ’welcome’ cũng khác thuở xưa nhiều lắm; ở Đàlạt, Sàigòn, Nhatrang hay nơi khác về quê ăn tết là một hăm hở, hỏi han chân tình, rộng rãi đãi đằng người phương xa tợ như con chiên lạc bầy trở về. Ngày nay lại khác, trở về không phải được tha. Trở về là để nhớ, để thương. Vì cái lý tưởng ấy mà bà con bè bạn cho tôi là kẻ bạc tình, ăn ở tệ.Hay vì định kiến giữa ở và đi, giữa sướng và khổ, giữa trắng da dài tóc với màu nắng hay màu mắt em...(?)

Hôm ngồi đông đám bạn văn nghệ sĩ ở thành phố, vào một buổi sáng trời trong, trong số đám văn nhân tôi đọc được trên mắt họ nhiều câu hỏi thắc mắc: -chắc mầy sướng lắm mà quên cái đất nước vốn sinh ra mầy, để rồi mầy hửng mặt khinh khi. Đến bây giờ mầy là khách tao là chủ. Mầy thâm nhập mấy cái từ dân làm chủ...rồi mầy trở nên lãnh cảm; ba cái thứ đó vất đi, cũng chưa xứng để vất vào bị rách. Nhưng mầy hãy nhớ: chúng tao đây, con phố nầy, những mái nhà kia trước sau vẫn thủy chung với mầy. Bọn chúng tao cần mầy hòa đồng để thấy niềm đau của chúng tao và chúng tao cảm thông nỗi đau của mầy ở xứ lạ quê người, tao biết mầy hét vì quá nhớ...Con người mầy mỗi lúc mỗi xuống sắc, hãy bỏ cái bản mặt đó đi, dù chi xung quanh mầy còn có bọn tao. Mầy là Kinh Kha một đi không trở lại. Bọn chúng tao biết điều nầy. Mầy về quê như thể mầy về thăm người mẹ già xưa một nắng hai sương, hy sinh cả đời để rồi mầy ngơ ngáo như nai tơ lạc rừng. Một thứ nai tơ lạc bầy mất nhân tính. Mầy không như những thằng điếu đóm khác, cuối cùng rồi cũng nằm xuống trong tay mẹ. Đất mẹ khoan dung và độ lượng. Tôi bàng hoàng trong đôi mắt người bạn văn đối diện với tôi đang dùng ’chiêu’ diện-lộ-thần của Đặng Thị Huệ (vương phi của Trịnh Sâm).Thành ra đi để nhớ là điều tất yếu trong tôi, dẫu cho bản chất có xiêu vẹo, cái đó vẫn có những cảm nhận sâu sắc của lý sống còn trong đám bạn tôi. Đúng!

Nhớ hôm về Huế, mấy mươi năm không gặp bạn cũ khi hay tin tôi về y vồn vã; cả hai chúng tôi tưởng như chết đi sống lại. Quả vậy; y không tin ở chính mình: một thằng lãng tử như tôi sống ẩu, sống đả mà còn ngao du sơn thủy, rày đây mai đó hay đây là phiếm du của bước giang hồ còn lại . Bọn chúng tôi nhâm nhi dưới trăng đêm hôm đó, hút hết bầu khí quyển bên chân hồ ’cấm tử thành’, đánh thức đám văn nhân kinh kỳ một thời trôi nổi, bềnh bồng. Cái thú đi để nhớ là ở chỗ đó. Nhớ thuộc về mộng, thực thuộc về giả hợp, nhưng nếu được cấu kết lại thì thành thực. Đêm kinh thành có cái mơ hồ huyền ảo khác những nơi khác, cái đó thuộc về thời gian tồn tại, nếu có một tri giác bén nhạy mới thấy đi để nhớ là đúng chỗ. Bạn cũng như tôi đang đứng trước mặt với người tình muôn thuở...

Huế về khoa ẩm thực của quân thần, bần dân lắm thứ, cái ngon thì tiển, cái dở thì hưởng, nhưng trong cái ngon, cái dở thời gian không thể xóa Huế mà ra đi, từ thượng du sơn cước đến tận cùng đất nước; đụng đến ăn là bún-bò-huế, nhúng đũa thử thì rõ mất chất. Chả phải ai chấp trách chính gốc hay giả gốc, giả cầy hay giả nạt cứ lấy cái nhản hiệu(cầu chứng) đó mà liệng vô trong rừng Phi châu ắt cũng biết món ta – như phở chẳng hạn. Nhưng đã đi để nhớ thì phải tìm cho ra bánh bèo đò Cạn ở Huế. -Thì bánh bèo ở đâu không có tìm làm chi cho hoài công, nói ra thêm buồn cười, cơ hồ như đây là món tiển nhà vua(!)

Ngay cả bạn tôi cũng ú ớ nửa nhớ, nửa quên một món ăn quá tầm thường; mỗi khi về tôi thường hay đi tìm mà tìm không ra bánh-bèo-diã-bể ở chốn cố đô ngày này. Đành ăn bánh bèo sạch. Dĩa bể ngon đáo để! Người ăn đang thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật ăn uống, một chất liệu đơn sơ, kiểu cách của ’nghệ thuật tạo hình nhân gian’, bột gạo tẻ, chà xát, khuấy, trộn, ngâm, ủ, lượt. Sáng dậy đem ra chế biến. O Gái khoan thai lấy cái vá dừa lên nước nâu sậm ’umber’ rót vô từng cái dĩa bể, mỗi dĩa bể có góc cạnh khác nhau, dĩa không to mà phải nhỏ hoặc vừa như gương mặt gái nhà quê cười lộ chiếc răng khểnh, có cái còn dính mò-hóng hay khói dầu như cô bé lọ lem; sắp đều lên cái trẹt sưa, đứng chào cờ như lính bộ binh ở đồn Mang Cá nghiêm chỉnh mỗi sáng thứ hai. Đồn O Gái ngày nào cũng có lính mõ bể chào cờ. O lấy từng dĩa đầy nước bột nơi cái trẹt sắp vào xửng hấp, phủ vải chế, không lâu khói hơi xông lên nghi ngút làm mù ngập cái chái tranh làm quán ’ăn chơi’. Dượng Gái và Lụt (con gái đầu của O, Dượng). Cha con lầm lì làm việc. Dượng Gái giã ớt mọi , pha chút đường đen, Lụt chấy tôm, đưa tay chà, bóp từng miếng tôm luộc thành từng mảng vụn. Thế là món chủ lực đã xong. Dượng Gái vót vài ba cái chià cọng lá chuối độ 15 phân dùng để quét nuớc ’bóng’ tóp mở mỗi khi rắc mặt tôm lên từng dĩa bánh. Chừng 3 giờ chiều thì khách đã vào kéo đòn ngồi chờ O Gái nhắp nháy đôi mắt cay ớt, khói và những mùi vị xung quanh. O nhẹ nhàng gắp từng dĩa bánh trắng trong sắp lên cái rá, đậy ngọn lá chuối xanh.Tôi có mặt ở những buổi đó. Cái thứ nước mắm chế đường đen, lềnh bềnh ít miếng ớt xé như còn dính nơi môi tôi mỗi lần về. Cứ sợ con ruồi xanh hạ cánh bất tử lên nhụy tôm. Nhớ quá về lại chốn xưa may ra tìm thấy cảnh cũ để hoài niệm. Nhớ cái tuổi mớí hú hai trái tràm mà đã biết ngọt, biết mặn. Để rồi từ đó lần mò đi vào đời qua những ngõ nghách của đất nước. Giờ đây tất cả đã xóa mờ trong dư ảnh hay sổ đỏ đã xóa tên vì: ’nhà cửa giao canh nợ phải bồi’(*). Không còn thấy cảnh nhà O Gái ngày xưa mà hú lên đó một khách sạn nhỏ. Nhưng ít ra cũng để lại cho tôi một chuyến đi để nhớ, để sống lại với thời gian, tợ như xem một cuốn phim cũ nhưng thấy như mới xem.

Trong những lần đi tôi tìm thấy được những gì qúy báu mà tôi đã trải mình lên những luống đất đi qua và nhận ra đó một bản ngã sáng suốt ở nơi con người tôi, nơi quê hương tôi mà đã bao lần va chạm đắng, cay, chua, ngọt mà ở mỗi thứ đều có một kỷ niệm để đời. Tôi không ngã lòng trước một đối tượng nào, một tình huống nào hay một động lực nào làm mất thú tiêu dao điền dã trong tôi.Và; tạ ơn ông Tạo bỏ vào trong tôi một ý thức thức tỉnh ’mơ về’ để không còn là kẻ mạt lưu giữa một xã hội u minh đầy rẫy lố nhố lăng nhăng.

Đi để nhớ là niềm vui cuối đời dành cho những kẻ tha phương suốt đời Do Thái như tôi ./.


(*) Thơ: Trần Tế Xương.
_______________________________
(ca.ab. canada-day 1/7/2013)