TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ĐỖ TIẾN THỤY



Sinh ngày 12.10.1970.
Tại Tốt Động, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.

. Sĩ quan quân đội.

. Giải thưởng truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội.













Ngõ Quê Tranh của hoạ sĩ Trần Nhương







NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐỢI MƯA

N ửa đêm về sáng, trời chuyển mình bức bối. Chị thức giấc vì cảm thấy ngực mình căng tức, rạo rực đến khó thở. Sợ con giật mình, chị rón rén bước ra mở cửa sổ. Đêm cao nguyên vật vã. Bầu trời loang lổ mây, khoảng đen khoảng sáng. Thoảng như có hơi nước? Mưa, mưa đi! Trong đời mình, chưa bao giờ chị khát mưa như lúc này. Chị khát cho mình, khát cho vườn cây với ngàn vạn nụ hoa căng nhức đang héo úa. Chỉ cần một trận mưa thôi là ngày mai những nụ hoa kia sẽ đồng loạt tung cánh trắng, hương thơm bị nén chặt lâu ngày sẽ bung ra ngào ngạt.

Cả huyện Đăk Hà này đang nghĩ chị điên. Cà phê hai năm liền rớt giá, người ta đã hè nhau chặt hạ, hoặc bỏ mặc những vườn cà phê vật vờ, thì chị lại cố công chăm bón. Mặc ai muốn nói gì thì nói. Vì sao thì chỉ một mình chị hiểu.

Ngày chị mới tới đây, vùng đất này còn hoang hoá. Hoang hoá như chính nỗi lòng của chị. Dưới con mắt của những hộ kinh tế mới quanh đó, chị là một con đàn bà chửa hoang. Chị lao vào làm hùng hục như trâu. Làm để nguôi đi nỗi nhớ nhà. Làm để quên đi nỗi tủi nhục bị bỏ rơi. Đất ở đây tốt quá, đỏ sậm như được ngào bằng mật, cắm cây gì xuống cũng lên vùn vụt. Thấy người ta trồng cà phê chị cũng trồng theo, đâu có biết nó có giá trị cao.

“Cái số chị giàu!”, nhiều người bảo thế khi bé Thương vừa năm tuổi. Vườn cà phê nhà chị quả sai chi chít, thương lái ở đâu kéo đến ngìn ngịt. Nghe đâu bên châu Âu châu Mĩ người ta chặt hạ cà phê giống cũ thay giống mới nên thị trường cà phê khan hiếm. Một cân cà phê bằng mười cân lúa. Chị trở thành triệu phú mà ngỡ trong mơ. Chị chưa biết dùng số tiền ấy vào việc gì. Có người khuyên chị nên mở rộng diện tích cà phê, chị nghe theo và lại trúng lớn.

Đúng lúc ấy thì hắn trở về. Gần chục năm trời hắn không thèm ngó ngàng đến mẹ con chị, bây giờ hắn trở về ngang nhiên tuyên bố nhận con. Hắn đã bị cách chức vì tội ra lệnh cho chặt cao su để trồng cà phê. Chị biết thế nhưng vẫn mủi lòng trước lời lẽ của hắn: “Bây giờ không vướng bận công tác, anh sẽ hết lòng chăm sóc mẹ con em.”. Vì con, chị đã xiêu lòng.

Những tháng đầu về với chị hắn “hết lòng” thật. Cũng xăm xắn bón phân làm cỏ. Có tiền, có chồng, chị trẻ lại thời con gái. Giữa vườn cà phê bạt ngàn hoa trắng, chị nâng một cành lên ngửi, bảo hắn: “Anh xem này, hoa cà phê rất giống mùi hoa bưởi!”. Hắn dí mũi vào cành hoa, cười hềnh hệch: “Giống mùi tiền thì có!”, rồi ôm thốc, dúi đầu vào ngực chị, y như những lần trong rừng cao su rợp lá mười năm về trước. Xung quanh hai người, từng đàn bướm bay lơi lả rập rờn, có con lao cả vào mặt chị. Bây giờ chị mới để ý, cứ đến mùa hoa nở vườn nhà chị lại có rất nhiều bướm. Những con bướm xanh đỏ tím vàng đủ loại bay như dệt, rối cả mắt khắp vườn. Khi hết mùa hoa chúng lại biến đi đâu mất tiêu. Oằn mình trong vòng tay hắn, chị đem điều thắc mắc này ra hỏi. Là kĩ sư nông nghiệp, hắn quá rành. Hắn chỉ cho chị thấy những cái kén sâu treo lủng lẳng dưới lá cà phê giảng giải: “Bướm từ đó chui ra, hút mật, giao hoan, đẻ trứng vào lá, trứng nở thành sâu...”. Hắn nói chưa hết câu, bất giác chị nhếch mép cười. Nhận ra, hắn díp mắt nhăn nhở: “Hỏi vớ hỏi vẩn!”, rồi lại vục mặt vào ngực chị hút chùn chụt mật ngọt ái tình.

Cũng vào mùa hoa năm đó có một người đến hỏi thuê vườn để đặt ong. Thâm tâm chị không thích những con ong, cho rằng bướm ong là loài bạc bẽo, hết mật hoa lại vỗ cánh bay đi. Chị hỏi ý kiến, hắn sáng mắt lên: “Cho thuê! Mất chó gì, vừa được tiền, vừa có người canh vườn hộ, vừa tăng cường khả năng thụ phấn cho hoa.”.

Người nuôi ong cất một cái chái nhỏ làm bếp, xếp những hộp ong xinh xinh thành hàng trong vườn nhà chị. Đêm, người ấy mắc võng, căng lên một tấm tăng giữa hai cây muồng của hàng rào chắn gió. Nghe tiếng ong râm ran, chị cảm thấy vui vui. Bầy ong say mật bay chếnh choáng. Chị cũng chếnh choáng say nghĩ đến một mùa quả bội thu.

Mùa quả chín. Chẳng biết có phải nhờ ong hay không mà năm đó cà phê sai quả quá. Quả chi chít đỏ mọng trĩu cả cành, chắc mẩm phải gấp rưỡi gấp đôi năm trước.

Nhưng hỡi ôi! Cà phê xuống giá! Một cân cà phê không bằng một cân sắn. Nhiều nhà điêu đứng hoảng loạn vì cà phê. Người ta kêu trời kêu đất. Hắn cũng nghiến răng chửi đời đen như mõm chó! Còn chị, chị chỉ thất vọng chứ không buồn. Chết là chết “những ông chủ đời mới” bỏ tiền ra thuê nhân công toàn bộ, cuối tuần mới rủ bạn bè cưỡi xe con mang theo bia lon rượu ngoại nhậu với thịt rừng như một thú chơi thời thượng. Vì thế nên khi hắn bàn “bán quách vườn về thị xã mua nhà”, chị đã không nghe. Hắn nổi khùng: “Cô là người không thức thời!”. Chị chỉ im lặng. Ngày còn là giám đốc nông trường, có lúc hắn đựơc đánh giá là năng động nhạy bén... Biết đâu hắn đúng? Biết đâu hắn bàn thế cũng là lo cho cái gia đình vừa gầy dựng lại?

Nhưng chị đã nhầm. Chị đã phải kêu lên một tiếng “trời ơi!” rồi ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, chị thấy người nuôi ong đang ngồi bên cạnh. Anh khẽ khàng: “Tôi thấy cháu Thương gọi mới chạy vào. Không hiểu có chuyện gì...”. Chị không đáp, đôi mắt mở to thất thần nhìn trần nhà. Chị cứ ngỡ hắn giận chị không chịu bán vườn nên bỏ đi mấy ngày. Ai ngờ, khi mở tủ mới biết hắn đã cuỗm đi toàn bộ số tiền chị giành dụm từ trước tới nay.

Khi hoa cà phê tàn là mùa hoa cao su nở. Đã hết mùa hoa cao su mà người nuôi ong chưa thể đi được như thoả thuận ban đầu. Chị ốm liệt giường. Bé Thương còn quá nhỏ. Chị hỏi trong lúc bàn tay anh run bắn trên trán chị: “Anh ở như vầy...còn đàn ong?...”. “Chị cứ yên tâm, chúng phải lấy mật xa hơn thôi. Khi nào chị khỏi tôi sẽ đi.”.

Anh khuyên chị không nên nằm nhiều. Nghe lời, mặc dù đầu óc còn váng vất, chị cũng cố trở dậy đi thơ thẩn trong vườn. Anh vắt mật ong cho chị uống, bảo mùa này mật tốt nhất vì đang mùa hoa đăk đốm. “Hoa đăk đốm ở đâu anh?”. “Cách đây khoảng bốn chục cây số đường chim bay.”. Tự dưng mắt chị cay xè. Bé Thương hồn nhiên hỏi: “Kìa sao mẹ khóc?”. “Mẹ thương những con ong, con à!...”. “Con ước vườn nhà mình thiệt là rộng, thiệt là nhiều hoa...”. “Để làm gì con?”. “Để những con ong không phải bay xa, mỏi cánh chết!”. Cả anh và chị đều bật cười trước câu trả lời vô tư ấy.

Chẳng biết tự bao giờ chị cảm thấy yêu những đàn ong. Mỗi sáng chị lại háo hức cùng anh mở những chiếc hộp để nghe tiếng ong xuất phát vần vũ như mưa. Rồi khi bầy ong đi hết, khu vườn ắng lặng, chị lại cảm thấy lòng trống trải.

Càng cuối mùa khô, bầy ong đi lấy mật càng xa. Chị đã rớt nước mắt khi thấy những con ong kiệt sức sau chặng đường tìm mật, lảo đảo bay xa tổ để chết, khỏi làm phiền đến bầy. Và chiều đó, khi mặt trời đỏ bầm chìm dần xuống núi, đàn ong mới trở về. Nhưng lạ thay, có những con ong không về tổ mà lừ đừ chuệnh choạng mãi, rồi lả tả rơi xuống sân nhà. Anh run run nhặt một con đặt lên lòng bàn tay. Con ong oằn mình một cái rồi duôi cánh chết đứ đừ. Từ bụng nó tiết ra một giọt mật đặc keo, xanh lét. Anh giật mình dùng ngón tay trỏ chấm giọt mật dị thường ấy bôi lên mu bàn tay. Một phút sau, nơi đó nổi lên những mụn đỏ li ti, bỏng rát. Mặt anh biến sắc: “Mật hoa độc!”.

Sáng hôm sau, mở cửa những hộp ong, chị giật mình nghe tiếng vỗ cánh lạ. Đàn ong xoay tròn như chong chóng xung quanh tổ rồi bốc dần lên cao. Anh đứng như ngây dại hồi lâu mới hốt hoảng cởi áo tung lên. Nhưng động tác kinh nghiệm ấy hôm nay vô vọng. Mở chiếc hộp thứ hai. Cũng vậy. Chị lo lắng hỏi: “Làm sao bây giờ, anh?”. Anh thở dài buồn bã: “Chắc phải đưa chúng đi thôi...”. Chị đề đoán: “ Chắc là chúng đói. Hay ta cho chúng ăn đường?”. Anh im lặng hồi lâu rồi khẽ lắc đầu. Chị cau mặt: “Mất có hai tổ ong mà anh tiếc à?”. Anh vẫn im lặng. Từ hai hốc mắt thâm quầng của anh rỉ ra hai giọt nước đỏ bầm như máu. Trong đời chị đã nhiều lần nhìn thấy nước mắt, nhưng chưa bao giờ thấy giọt nước mắt nào kì lạ như vậy. Nó đọng dai dẳng trên gò má đen xạm của anh. Tim chị nhói lên những nhịp đập khác thường. Bằng nhạy cảm đàn bà, chị biết anh sắp bỏ nơi này ra đi.

Sau trận ốm ròng rã mấy tháng liền, nhờ bàn tay chăm sóc của anh, nhờ mật ong rừng nguyên chất, chị dần tươi tỉnh lại. Đêm ấy, vâng, cái đêm cách đây đúng một năm, chị ngủ một giấc dài không mộng mị. Chợt chị thức giấc vì có tiếng sấm vọng ì ầm. Trong đêm trời đất chuyển mùa, chị cảm thấy tâm hồn tưởng đã tàn lụi bởi giông tố cuộc đời bỗng nhiên được đánh thức, như mầm cây bị vùi trong tro đất cựa mình khao khát vươn lên. Chị thốt lo cho anh. Nhỡ mưa xuống thì sao? Như có ai xui khiến, chị trở dậy khêu đèn rồi ngồi thừ ra nghĩ ngợi. Trời mỗi lúc một bức bối. Bé Thương đang ngủ, trán lấm tấm những hạt mồ hôi nhỏ óng ánh, đẹp tựa thiên thần. Chỉ cả quyết đứng dậy khẽ khàng bước ra vườn, đứng lặng trước chiếc võng buông mùng kín mít. Im lìm. Chân chị run bắn muốn khuỵu xuống. Chị ôm gốc cây muồng thở dốc không biết bao lâu nếu không có một ánh chớp rất gần. Tiếng sét nổ đanh đã hất nhào chị tới võng lay cuống quít: “Dậy... dậy...anh Thạo!”. Anh ngỡ ngàng ngồi dậy đưa tay dụi mắt: “Gì thế...chị?”. “Vào nhà, kẻo... mưa!”. “Ô, có mái che thế này, ướt làm sao được?”. Nghe anh trả lời thế, chị tủi thân bật khóc. Và trời mưa. Mưa xối xả. Mưa điên cuồng. Anh bật khỏi võng xô chị: “Vào nhà ngay! m lại thì chết!”. Mặc kệ. Chị cứ đứng thi gan cùng trời đất. Hai người gội mưa, đứng ngây dại nhìn nhau qua những lằn chớp nhóa nhoà không ngớt. Cuối cùng, nhận ra ánh mắt quyết liệt của chị, anh đã phải lập cập dìu chị vào nhà.

Người lo lắng lẽ ra phải là anh. Nhưng không. Chị cuống lên, bắt anh trút bỏ bộ áo quần sũng nước, cuống quít lau người cho anh. Lúc đó anh đứng đực giữa nhà, gối run nhong nhóc, răng va vào nhau lập cập. Và như một cái máy, anh ngoan ngoãn nằm xuống giường cho chị xoa dầu cạo gió. Bàn tay chị ban đầu còn ngập ngừng, lăn tăn, sau hối hả chà siết đến nóng ran trên người, rồi run rẩy dừng lại nơi ngực anh. Trong chị cồn lên một nỗi khát thèm mãnh liệt của bản năng mới hồi sinh. Bất chấp anh có đồng ý hay không, chị cứ kéo tuột anh vào vòng mê đắm. Đáp lại sự cuồng nhiệt như thuỷ triều cuồn cuộn, anh vẫn nằm ngay đơ trong vòng tay siết chặt của chị. Toàn thân anh căng cứng, nóng hừng hực như một ngọn núi lửa sắp sửa phun trào. Răng anh nghiến chặt đến bạnh quai hàm, yết hầu chạy lên chạy xuống như cố nuốt một vật gì tắc nghẹn trong cổ họng. Chị nhắm mắt lại, cảm thấy toàn thân tan rữa như một cây kem mướt mát. Đúng lúc đó, một cơn gió mạnh đã giật tung cánh cửa khép hờ. Mưa quất vào nhà ràn rạt. Anh bật dậy lao ra khỏi nhà như mũi tên rời cánh nỏ vút vào đêm mưa đen kịt.

Chị rã rời, hẫng hụt rơi tỏm vào vực thẳm ê chề. Chị đã nguyền rủa anh, nguyền rủa tính hèn nhát của anh, nguyền rủa cả cơn mưa gió vô tình. Mưa đã đẩy chị đến với anh rồi chính mưa lại giật anh ra khỏi vòng tay của chị.

Sáng hôm sau, anh gõ cửa sớm, tiếng gọi ngàn ngạt như hụt hơi. Chị giận dỗi trùm kín chăn để không nghe gì nữa. Mãi đến trưa, bé Thương chạy vào mếu máo: “Mẹ ơi, bác Thạo đi rồi!”, chị mới vùng dậy chạy ra. Khu vườn không còn những hộp ong trống trải tựa vườn hoang. Mấy con bướm đói ăn đang tranh nhau bâu vào những chiếc hoa mới nở quắt queo dị dạng. Vậy là chị đã đoán đúng. Anh tiếc bầy ong nên đã bỏ đi. Bầy ong quí hơn chị ư? Nỗi giận hờn đàn bà có cơ bùng phát. Chị vùng chạy đi lấy dao ra chặt điên dại vào hai cây muồng nơi anh mắc võng. Và...tay dao chị đã khựng lại ngang chừng. Trên chạc cây muồng có một bọc nilon. Chị mở ra và càng giận dữ. Tiền! Anh ta sòng phẳng tiền thuê vườn chứ gì? Chị không cần tiền. Cái chị cần là thứ khác cơ. Chị hất tung bọc tiền vào vườn cây. Những đồng tiền xanh đỏ tím vàng đủ loại bay tả tơi như bướm rụng. Và chị sững sờ. Một lá thư!

Chị đứng bàng hoàng giữa vườn cây im ắng mà nghe đâu đây những lời anh nói âm âm như của một người đã chết:

...Chị Tâm! Tôi ra đi không phải vì đàn ong đói mật, mà vì một lẽ khác. Tôi đã có vợ. Chắc chị bảo tôi lên giọng đạo đức chứ gì? Không, vợ tôi đã chết cách đây hai mươi năm, ngay trên bàn đẻ đứa con đầu tiên. Vợ tôi đã hét lên một tiếng kinh hoàng khi thấy đứa con của chúng tôi chỉ là một cục thịt toàn lông lá. Chắc chị đã hiểu rồi chứ? Tôi đã từng mắc võng ngủ dưới những cánh rừng hồi đêm còn xanh tốt, sáng ra đã trơ trụi bởi chất khai quang. Tôi là đàn ông nên không tránh khỏi lẽ thường tình. Tôi bỏ làng ra đi làm nghề nuôi ong với suy nghĩ: Cuộc sống nơi hẻo lánh sẽ giúp tôi tránh những quan hệ không nên có. Nhưng cuộc đời đã run rủi tôi gặp chị. Tôi sợ rằng nếu tôi ở lại, một khi không cầm được lòng thì tội cho chị quá!....

Chị khóc. Khóc ghê quá! Hai mẹ con ôm nhau khóc như mưa như gió. Bé Thương hỏi trong tiếng nấc: “Mẹ ơi... bao giờ bác Thạo về?”. Chị nín bặt. Biết trả lời con bé thế nào? Nhưng rồi như có linh tính mách bảo, chị tự tin trả lời con: “Đến mùa hoa năm sau con ạ!”.

Trong chị lớn dần một niềm tin mãnh liệt. Chị lao vào chăm sóc vườn cà phê với một động cơ cháy bỏng. Niềm mong đợi của chị cứ lớn dần, lớn dần. Và hình như cả những nụ hoa cà phê mới nhỏ như những mắt cua đã đỏ đau đáu chờ mưa như chị. Mãi cho đến hôm nay...

 

Một tràng sấm nổ ran. Bầu trời đêm như bức màn đen bị xé toạc ra làm trăm mảnh. Một làn gió mát rượi từ hướng núi Chưmomray thổi thốc vào nhà. Và tiếng mưa. Mưa rộn ràng reo. Chị đưa tay hứng nước từ giọt hiên vã lên mặt tận hưởng cảm giác hồn nhiên thời con gái. Mặc cho những bụi mưa li ti theo gió vào quấn quít quanh mặt, quanh hai cánh tay trần, mơn man cả khuôn ngực áo trễ tràng. Chị hân hoan đón mưa như những hàng cây trong vườn đang hoan hỉ. Chị sẽ đứng, đứng đến sáng nếu như trong giấc mơ bé Thương không ú ớ goị: “Mẹ ơi...bác Thạo...”. Chị bước những bước chân châng lâng đến giường ngả lưng dỗ con: “
...Ngủ ngoan đi con...bác Thạo sắp về!”. Chị dỗ con. Chị tự dỗ mình. Chị chìm vào giấc ngủ. Chị nghe có tiếng tí tách của nụ hoa cựa mình. Chị thấy hương hoa đã bắt đầu thoang thoảng. Rì rào...Rì rào...trong giấc mơ chị nghe có tiếng đàn ong mật bay về...



Tháng 6 - 2000




ĐỖ TIẾN THỤY


© Cấm trích đăng lại nếu không được sự chấp thuận của tác giả .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC