Việt Văn Mới
Việt Văn Mới






Người Có Duyên Giữ Hồn Cốt Dân Tộc








Đó là thiếu tướng Hoàng Kiền. Hồi chưa ra mặt trận, ông là giáo viên cấp II trường làng tại xã Giao Thịnh, Giao Thuỷ, Nam Định. Sau sáu năm làm lính Trường Sơn, chiến đấu bên nước bạn Lào, năm 1976 ông được đi học tại học viện kỹ thuật quân sự, năm 1981 ra trường công tác tại phòng công binh quân chủng Hải quân. từ 1986-1989 ông giảng dạy tại học viên lục quân Đà Lạt. Từ 1989-1997 là trung đoàn trưởng trung đoàn công binh 83 hải quân. Từ 1997 đến 2007 ông là tham mưu phó, tham mưu trưởng rồi tư lệnh binh chủng công binh. Năm 2006 ông được phong hàm thiếu tướng và được giao nhiêm vụ làm giám đốc ban dự án đường tuần tra biên giới thuộc bộ tổng tham mưu- bộ quốc phòng từ năm 2007.

Nói về ông, với những năm đằm mình dưới nước biển mặn mòi ở đảo Bạch Long Vĩ, ở đảo lớn, đảo nhỏ, đảo nổi, đảo chìm - Trường Sa, những ngày nắng lửa mưa hàn, vượt qua núi cao vực thẳm rừng sâu của hàng chục ngàn km đường biên:

Từ Móng Cái rừng dương đến Cà Mau rừng đước ông đã nắm bắt được cái rộng dài, cao thấp, nông sâu hình hài đất nước, hồn cốt của dân tộc để rồi ông giám nhận cái nhiêm vụ lớn lao: tổ chức chỉ huy làm con đường tuần tra biên giới.

Đây là con đường dài đến 10.196 km, đi qua 25 tỉnh trên suốt chiều dài biên giới với các nước bạn Trung Quốc, Lào, CămpuChia. Khi đường được làm xong nó sẽ chiếm được nhiều giải nhất như: Một con đường bêtông dài nhất Việt Nam, Không chỉ có thế mà hiện tại còn là con đường bêtông dài nhất thế giới. Một con đường với thời gian thi công lâu nhất (30 năm theo kế hoạch). Một con đường khó khăn nhất, gian lan bất lợi nhất về mặt thi công cũng như kinh tế kỹ thuật.

Một con đường phục vụ cho việc tuần tra giữ gìn hình hài, hồn cốt , bảo vệ chủ quyền cương vực của tổ quốc, ngăn chặn sự xâm phạm trái phép, đi lại và buôn lậu tự do của những kẻ lạ mặt.

Một con đường, là phên dậu của tổ quốc, là tấm khiên chắn biên cương thực hiện ước mơ hàng nghìn đời nay của cả một dân tộc. Quan trọng là thế nhưng cũng phải vượt qua bao rào cản (của sự chậm hiểu ), bàn đi tính lại giữa bộ quốc phòng với các bộ chức năng liên quan phía nhà nước hàng chục năm. lúc thì bàn chỉ làm đường cấp phối, lúc lại có ý kiến bàn làm đường cấp phối nhưng phải đổ bêtông ở những đoạn dốc, khi lại có ý kiến bàn làm đường nhựa, tất cả các kiểu đường như vậy cũng đã được làm thử cả. Nhưng khi hiểu ra mục đích ý nghĩa chiến lược của con đường mang tính quân sự kết hợp quốc phòng với kinh tế và sự bảo vệ luận án quyết liệt của bộ quốc phòng thì con đường lịch sử này mới được Thủ tướng chính phủ phê duyệt và giao cho bộ quốc phòng đảm trách từ ngày 14-3-2007. Đó là con đường tuần tra biên giới rộng 5m, phần Bêtông mác 300 ở giữa nền đường rộng 3,5m có độ dầy 18cm trên toàn tuyến.

Chúng tôi được đi cùng thiếu tướng Hoàng Kiền giám đốc ban dự án để thị sát tuyến biên cương sưôt từ Lạng Sơn đến địa đầu Móng Cái, đây là tuyến đường đã có hàng 100km làm xong theo đúng thiết kế. Tuyến mà có con sông Kỳ Cùng chảy vào đất Việt rồi lại thu mình không biết chảy về đâu. Tuyến có con sông KaLong nước trong leo lẻo cứ vòng vèo uốn khúc làm biên giới giữa tỉnh Quảng Ninh và nước bạn Trung Hoa. Có đi , có đến mới thấy công sức của người lính bạt núi san đồi lấp vực để mở đuờng. Chúng tôi dừng lại ở nhiều cột mốc trị giá tiền tỉ thay cho cột mốc cũ làm bằng những phiến đá từ thời Pháp và nhà Thanh mà có thể di chuyển được.

Ngoài những cột mốc chính thì cứ 10km lại có một cột mốc phụ để định vị đường biên. nguyên tắc thiết kế con đường tuần tra biên giới là phải bám sát đường biên . Vì địa hình hiểm trở cũng có lúc đường phải tránh núi cao vực sâu nên trở thành vòng vèo nhưng khoảng cách cho phép lớn nhất không quá 1000m.Và những nơi có khoảng cách lớn như vậy thì lại làm đường xương cá đến tân nơi để tiện cho việc tuần tra. Điều này cũng giải thích luôn rằng: tử Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh có 1600km mà sao đường tuần tra biên giới lại dài đến như vậy. Cũng có chỗ đường biên của hai bên sát nhau (ảnh) Tác giả Đồng Ngọc Hoa và thiếu tướng Hoàng Kiền đúng trước quả núi có đường biên của hai nước sát nhau vòng theo sườn núi. Dọc chiều dài biên giơí từ Bắc vào Nam có đến 200 dơn vị thi công, thành phần đủ các quân binh chủng. Riêng đoạn từ Lạng Sơn –Móng Cái đã có đến sáu bảy đơn vị thi công đó là Lữ đoàn công binh 219 quân đoàn II, công ty Việt Bắc quân khu I, lữ đoàn công binh 575 quân khu I, công ty cổ phần đầu tư và xây lắp Tây hồ/ tổng cục công nghiệp quốc phòng, công ty 319 và công ty 327 quân khu III, đoàn 513 công binh... Phần thi công của các đơn vị ở đây cơ bản là đã phát tuyến thông đường. xe chúng tôi cũng đã đi được rồi nhưng có lúc phải ngoặt trái, vòng phải, xuống vực lên dốc như dựng đứng xe. Tôi chưa bao giờ say xe nhưng đi trên đường tuần tra biên giới lần này cũng phải nôn lao, đến chóng mặt. Thế mà tướng Kiền ngày nào cũng đi được, hết cung đường này đến chặng đường khác.

Không hiểu được bằng cách nào mà bộ đội đã đưa được đá 1X2 cm, cát vàng đã tập kết mỗi vị trí được tính hàng trăm hàng nghìn mét khối. Tướng Kiền cùng đi nói: “ khó khăn đấy nhưng phải cố”. Câu nói mà ngày xưa ông đã trả lời đô đốc tư lệnh hải quân Giáp Văn Cương ở đảo Trường Sa. Cũng chính vì phải cố nên ông đã đằm mình ở đảo chìm, đảo nổi đảo lớn đảo nhỏ để nghiên cứu, khảo sát vị trí xây dựng những công trình bảo vệ biển đảo tổ quốc một cách kiên cố. Thời ấy, vào những năm tám mươi của thế kỷ hai mươi, thật khó khăn trăm bề nơi đảo xa. ông phải nhờ bạn mình đi tàu viễn dương mua cho từ cái cưa cát sắt đến máy trộn bêtông, máy đầm, máy nén để đưa về đảo phục vụ cho việc thi công. Ngày nay cũng vậy, nói đến bộ đội thi công không phải là nước sông công lính giăng dài ra theo kiểu lấy thịt đè người để đào, để đắp. ông lo cho bộ đội từng loại máy kể cả máy cắt khe nứt là loại máy nhỏ nhất trở đi ông đã dặt sãn ở nhà máy quốc phòng, các đơn vị cứ đến đấy mà lấy. Đồng thời ông liên tục chủ trì các buổi tập huấn hướng dẫn sử dụng máy làm sao cho có hiệu quả kinh tế, liên tục tập huấn cho cán bộ cách làm đường bêtông cho đúng quy trình. Tôi cùng dự buổi ông tập huấn cho cán bộ ở công ty tư vấn giám sát Thái Bình Dương khi đi thăm mốc 61-68 ông nói: “Chưa có giáo trình nào dạy cách làm đường bêtông, đây là quy trình do ban dự án 47 viết ra được bộ quốc phòng ban hành trong toàn quân. Các đồng chí giám sát phải nắm cho kĩ mà làm việc, các đồng chí vào làm với bộ đội là học thêm được một bằng nữa,( bằng làm đường bêtông)”. Rồi ông còn chuyển thể quy trình làm đường thành văn vần, in thành sách phát cho các đơn vị đọc cho dễ nhớ, dễ thuộc. cũng trong chuyến đi cùng với thiếu tướng giám đốc ban, còn có đại tá Lê Trung Dũng phó giam đốc, đại tá Dương Hữu Sơn trưởng phòng thi công, tôi còn được dự buôỉ tướng Kiền tập huấn cho cán bộ đảm nhận các gói thầu ngay tại hiện trường, nơi đoàn 327 đang đổ bêtông. Ông tỷ mỷ, nghiêm khắc nhưng cũng ôn tồn giảng giải đến từng chi tiết như : cấp phối nền đường không dược quá 15./. đất, hạt đá phải có kích thước cho phép từ 0,5 đến 4 cm không được to, dụng cụ thí nghiêm như Phễu sụt, đúc mẫu, ép, cần ,không được dùng máy vận chuyển bêtông để trộn bêtông mà phải dùng máy trộn bêtông, trải giấy dầu lên mặt đường đúng quy cách, ke biên đúng, đủ chiều rộng mặt, đổ bêtông đủ độ dầy 18cm phải dùng đầm dùi đầm xiên góc 45độ sau đó dùng đầm bàn kéo lần lượt ngang , dọc rồi dùng đầm con lăn và lăn gạt phẳng, đợi cho se ráo mặt kéo con lăn tạo nhám mặt đường rồi dùng bao tải phủ lên mặt đường giữ nước và lấy ôdoa tưới nước lên mặt bao tải. Sau 7 tiếng phải cho máy cắt rãnh ( chống nứt tự do). Máy nén khí thổi sạch bụi rồi rót ma tít vào để chống nước xâm thực làm hỏng nền đường. Sau 12 ngày mới cho xe không tải chạy... Tôi nói với đại tá sơn đứng bên cạnh: Việc này đáng lẽ của anh, anh Sơn công nhận. Nhưng từ Nam ra Bắc đến dơn vị nào cũng vậy, tướng Kiền vẫn trực tiếp làm, vì lời nói của ông là mệnh lệnh, là chỉ thị, là pháp lý cho cả thi công và nghiệm thu công trình. Không chỉ có kĩ thuật làm đường mà những đọan có cầu cống, ngầm, hầm, đập tràn ông cũng tỷ mỷ, sát xao như vậy. Ông rất quan tâm đến người lính, ông chỉ thị ngay tại công trường cho thủ trưởng các đơn vị là ống lăn gạt phẳng nhẵn mặt đường, hai đầu phải có 2 vòng bi đỡ trục để cho hai người lính hai bên lề đường, kéo lăn cho nhẹ:

Ống lăn làm nhẵn mặt trên
Hai đầu kết cấu gắn liền vòng bi
nhẹ nhàng thao tác dời di
Giúp người lao động bớt đi nhọc nhằn.


Thơ Hoàng Kiền

Thật kĩ thuật làm đường ở đây còn nghiêm ngặt hơn đổ bểtông mái nhà. Tướng Hoàng Kiền nói: “ Mười năm sau không ai khen làm nhanh, không ai khen làm rẻ, họ chỉ chê đường chưa làm xong đã hỏng, các đồng chí đừng để mang tiếng đến bộ quốc phòng”. Đây là lời nhắc nhở, căn dặn nhẹ nhàng, tình cảm, kiên quyết hết sức nhân văn của thiếu tướng tư lệnh làm đường, vốn vẫn là cách nói của ông với cấp dưới, không nặng nề, không mệnh lệnh nhưng rất sâu sắc, thực hiên được còn là danh dự của các chiến sĩ, của các đơn vị làm đường. Theo thiếu tướng bật mí thì bước đầu nghiệm thu giá thành mỗi km đường đã hạ được hàng tỷ đồng (7tỷ/8,18tỷ) so với giá thành cho phép của nhà nước. Cứ duy trì được như vậy thì khi hoàn thanh con đường sẽ tiết kiệm dược hàng chục ngàn tỷ đồng.

Tướng Kiền vốn là con người trầm tính, nhìn bên ngoài không có vẻ cởi mở, lại khó gần nhưng không phải. Làm việc với ông tôi nhớ lại hồi mình làm bí thư cho đại tá Mai Hiền, đến khi tôi chuyển về Nam Định rồi thì một lần đại tá về tỉnh đội công tác vẫn hỏi tỉnh đội trưởng Đồng Ngọc Hoa đâu? rồi đại tá cho xe u-óăt xuống đơn vị nơi tôi đang giảng bài để đón về tỉnh đội ăn cơm tối với ông. Lại chuyện về một ông tướng nữa, đó là tướng Tô Ký, ông người Miền Nam một lần đi giải quyết vụ thương binh công thần gây rôí, ông nói chuyện với họ ngay tại sân kho xóm tôi, trước hết ông đưa ảnh vợ con ông ra cho mọi người xem rồi nói: Mình đi chiến đấu là để mang lại hạnh phúc cho nhân dân trong đó có mình, các đồng chí kể công với ai?...Tướng Kiền cũng vậy, ngồi ăn cơm ông bảo: các anh ăn thêm miếng nữa, đây là loại rau khấm khá, quê mình không có. Trong chuyến đi của chúng tôi có một nhà văn bị sốt cao, tôi mượn xe của ông để đưa bạn đi cấp cứu, sáng hôm sau gặp tôi sớm ông hỏi: đồng chí cấp cứu tối hôm qua đỡ chưa? Càng cấp cao họ lại càng tình cảm, tình cảm vẫn rất đời thường, có phải đâu cứ tướng thì “nói như ông tướng”.

Trên đường đi, có đoạn thi công xong đã nghiêm thu, có đoạn chỉ khoảng mươi mét dài cũng phải mất hàng chục tỷ đồng để kè suốt từ vực sâu lên cho đủ chiều rông mặt đường .

Đại bản doanh của tướng ở Hà Nội nhưng một năm ông chỉ ở đấy vài ba tháng những khi hội họp, nghiên cứu... Thời gian còn lai toàn ở công trường. Có lúc người ta thấy ông sáng ở Đồng Nai chiều đã về Đồng Tháp. Người ta còn nói xe không vượt lũ đẻ dưa ông đến công trường cho kịp được giờ họp ông đi xe ôm, mọi người ngơ ngác khi nghe ông quyết định như vậy. Tướng mà đi công tác bằng xe ôm thì thế giới có một.

Hỏi về hiệu quả kinh tế xã hội của con đường ông nhường thượng tá Nguyễn Việt Dũng đồn trưởng đồn biên phòng Bắc Xa Lạng Sơn báo cáo: Việc tuần tra bảo vệ biên giới được thuận lợi từ ngày có dự án 47 được hoàn thành. Đồn quản lý 33,6 km đường biên với 41 cột mốc, trước đây mỗi ngày chỉ kiểm tra được một cột mốc, hiện nay một ngày đã kiểm tra được tất cả các cột mốc. Thời điểm năm 1979 trên địa bàn có 3000 dân, sau đó có thời điểm chỉ còn 50 dân. Phải giữ dân và phải có dân trên địa bàn là nhiêm vụ đặt ra cho đồn biên phòng. Chính phủ đã đầu tư dự án 338 có hiệu quả. Con đường tuần tra biên giới trên địa bàn làm xong, kết hợp với việc làm đường xuống các thôn bản việc đi lại cho nhân dân vùng sâu vùng xa thuận lợi, điện đã kéo đến từng bản, hầu hết dân tham gia dự án trồng rừng. nhà nước giao đất giao rừng cho các hộ dân, nhân dân phấn khởi phối hợp với bộ đội bảo vệ đường biên. Các đơn vị tham gia dự án về với đồn, với dân như về với nhà mình. Thực sự: “Đồn là nhà, biên giới là quê hương , đồng bào các dân tộc anh em là ruột thịt”. Từ ngày có con đường dân đã lần lượt quay về, việc làm đường đã kéo được dân quay trở lại. Hiện có 299 hộ với 1327 khẩu. Bộ đội hoàn thành dự án trồng rừng giao rừng lại cho dân, dân hưởng lợi từ dự án có thu nhập bình quân năm qua mỗi hộ là 75 triệu đồng từ nhựa thông. Hiện nay số dân đang xin về ngày càng đông hơn.

Về với đoàn 327 chúng tôi đi qua đài tưởng niệm các liệt sĩ đồn biên phòng Pò Hèn hy sinh ngày 17-2-1979. Khi xuống xe vào thắp hương cho các anh thì trời đổ mưa như trút nước, tôi không thể ghi lại được tấm hình nào. Có lẽ hương hồn các anh bảo sao những người lính làm đường nay mới đến? Giá như hồi đó đã có con đường này thì...Tên 79 liệt sĩ hy sinh cùng ngày trong đó có hai liệt sĩ gái đã không có chăng? cho đến cuối tấm bia tính đến năm 1986 sao lại là 86 liệt sĩ cả thảy ở đây. Con số 1979 là 79 liệt sĩ, 1986 là 86 liệt sĩ cứ ám ảnh tôi trên suốt dọc đường về với Quảng Ninh.

Tại nhà khách đoàn 327 chúng tôi được biết đây là sư đoàn bộ binh trước đóng quân trên địa bàn Nam Định, Thái Bình, Hải Dương. Nay là các lâm trường 103,156,155,42và 27. Nhiệm vụ của các lâm trường vẫn là nhiệm vụ của người lính, là đội quân chiến đấu,công tác và lao đông sản xuất. Khi có chiến sự thì năm lâm trường này sẽ biến thành 5 trung đoàn mạnh. còn bây giờ là đội quân lao đông sản xuất, đội quân công tác,( công tác giúp dân). Đây là đoàn kinh tế quốc phòng đã được các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước như Lê Khả Phiêu, Trần Đức Lương, Trương Tấn Sang đến thăm. Cũng có thể gọi ngược lại đây là đoàn quốc phòng kinh tế 327. chúng tôi đến thì các đơn vị đang tổ chức hội thao quân sự, công việc thường kỳ hàng năm sau mỗi mùa huấn luyện. 327 cũng là đơn vị tham gia những gói thầu của đường tuần tra biên giới. Chính việc làm đường tuần tra biên giới, những đường xương cá đã xây dựng được cơ sở hạ tầng như điện đường trường trạm và nước sạch trong tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Việc làm đó đã kéo được cả địa phương vào cùng lồng ghép các dự án. Tỉnh Quảng Ninh đã đầu tư 250 tỷ, bộ đội đã trồng được 7000 hecta rừng cho dân, xây dựng được 16 bản mới sát biên và đã phải làm cho họ giàu hơn các bản bên trong, người dân đã yên tâm bám trụ. Trong công tác xây dựng nông thôn mới đoàn 327 đã được tỉnh Quảng Ninh tin tưởng giao đảm nhận 5/19 tiêu chí. mức đầu tư cho dự án kinh tế quốc phòng của tỉnh tính đến năm 2020 sẽ là 1000tỷ. Rõ ràng đường tuần tra biên giới đã được xã hội hoá, có hiệu quả về kinh tế xã hội thiết thực làm cơ sở vững chắc cho hiêụ quả về quân sự. Đúng như những câu thơ của thiếu tướng Hoàng Kiền:

A-B, gắn kết cung đường
Bê tông nhanh nối thông thương bản làng
Quốc phòng củng cố vững vàng
Kinh tế phát triển mở mang rộn lòng
Quân dân vui thoả ước mong
Cung đường kỳ tích sáng hồng Quảng Ninh.

Mượn mấy câu thơ của ông để kết thúc bài viết, câu nói “khó khăn đấy nhưng phải cố” của thiếu tướng đã từ bao năm nay lại được nhắc lại lúc này, lúc mà cả nước đang học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ, cái cố như Bác nói là: “Việc gì có lợi cho dân thì cố gắng làm.” Làm cho tôi cũng phải cố trong khi viết bài này, ngõ hầu cũng giới thiệu được với bạn đọc về một con đường lịch sử, đường tuần tra biên giới và vị tướng có duyên chỉ huy việc làm đường, cũng là có duyên trong việc giữ hồn cốt dân tộc.